Ngay từ ngày đầu mới thành lập và đi vào hoạt động, NHTMCP Á Châu đãđịnh hướng rõ khách hàng cá nhân là đối tượng khách hàng mục tiêu mà ngân hàngnhắm tới, bởi thế trong suốt 20 năm hoạt
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh hiện đại hoá công nghệ ngânhàng, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng và việc mở rộngmạng lưới giao dịch đã tạo điều kiện để phát triển các dịch vụ ngân hàng mới vàhiện đại Sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại đa tiện ích như:ATM, Internet Banking, Home Banking, PC Banking, Mobile Banking,… đã đánhdấu những bước phát triển mới của thị trường dịch vụ ngân hàng Việt Nam Dịch vụngân hàng bán lẻ đã bước đầu được tập trung quan tâm phát triển và khai thác, trong
đó không thể không kể đến hoạt động cho vay KHCN đang ngày càng được cácngân hàng đẩy mạnh trong tiến trình phát triển Theo số liệu thông kê cho thấy chovay cá nhân không phải là vấn đề mới lạ ở Việt Nam nhưng thực tế cho thấy tỷtrọng cho vay cá nhân chỉ chiếm khoảng 5% trên tổng dư nợ tín dụng trong khi con
số này ở các nước phát triển thường từ 40% đến 50% Mặt khác, Việt nam là nướccác thành phần kinh tế đang phát triển nên thị trường Việt Nam là là thị trường rấttiềm năng, là mảnh đất màu mỡ cho lĩnh vực cho vay cá nhân phát triển Vì vậy,nghiên cứu về cho vay KHCN có ý nghĩa quan trọng trong điều kiên hiện nay ởnước ta
Ngay từ ngày đầu mới thành lập và đi vào hoạt động, NHTMCP Á Châu đãđịnh hướng rõ khách hàng cá nhân là đối tượng khách hàng mục tiêu mà ngân hàngnhắm tới, bởi thế trong suốt 20 năm hoạt động và phát triển, Ngân hàng luôn khẳngđịnh vị thế là Ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam với một loạt các dịch vụ phongphú và đa dạng như cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay sinh hoạt KHCN, chovay du học, cho vay trả góp mua nhà,…
Phòng giao dịch ACB Nguyễn Thị Định đi vào hoạt động từ năm 2010, và
đã đạt được những kết quả khả quan, đóng góp vào thành công chung của toàn hệthống ngân hàng Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của ACB – PGDNguyễn Thị Định được triển khai khá thành công với sự đa dạng về sản phẩm cungcấp, dư nợ cho vay khách hàng cá nhân lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợcho vay của ACB – PGD Nguyễn Thị Định Tuy vậy, do PGD Nguyễn Thị Địnhmới thành lập được 3 năm nên so sánh với tổng dư nợ cho vay KHCN của toàn hệ
Trang 2thống ACB hay với dư nợ cho vay KHCN của ngành ngân hàng toàn địa bàn HàNội thì dư nợ cho vay đối với KHCN của ACB – PGD Nguyễn Thị Định thực sựvẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, chưa tươngxứng với vị thế của ACB Thêm vào đó, những tiêu chuẩn quá chặt chẽ, không linhhoạt về tín dụng và tài sản bảo đảm đã và đang làm cho ACB bỏ qua nhiều cơ hội
để cải thiện bảng cân đối kế toán và gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng.Thách thức trước mặt ACB là tìm những phương thức mới để cho vay nhiều hơnnữa, bằng cách cân bằng giữa việc mở rộng cho vay và phòng ngừa rủi ro, và đẩymạnh những thay đổi mà ACB bắt đầu thực hiện gần đây trong lĩnh vực ngân hàngKHCN và bán lẻ
Trước thực tế đó, việc tìm kiếm những giải pháp nhằm mở rộng cho vay đốivới KHCN tại ACB – PGD Nguyễn Thị Định là rất cần thiết Chính vì vậy, em đã
chọn đề tài “Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại NHTMCP Á Châu –
PGD Nguyễn Thị Định” làm đề tài chuyên đề.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG
CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế quen thuộc và từ lâu đã được địnhnghĩa một cách khá hoàn chỉnh Theo K.Max: “Tín dụng là quá trình chuyểnnhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng để sau một
Trang 3thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” Nhưvậy, về bản chất tín dụng là quan hệ vay mượn trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi vớicác đặc trưng là: có thời hạn, có tính hoàn trả và quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sựtin tưởng giữa người đi vay và người cho vay.
Tín dụng NHTM là hình thức phát triển cao của tín dụng Tín dụng NHTM
là một giao dịch về tài sản (tiền tệ hoặc hiện vật) giữa bên cho vay (NHTM) và bên
đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyểngiao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận,bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khiđến hạn thanh toán Để có thể thiết lập quan hệ tín dụng với ngân hàng, bên đi vaycòn phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã được thoả thuận và trongnhiều trường hợp phải có tài sản đảm bảo cho khoản vay Đây là những nguyên tắcquan trọng và cần thiết đối với hoạt động tín dụng nói riêng và đối với sự tồn tại,phát triển của ngân hàng nói chung
Trong khuôn khổ nghiên cứu của chuyên đề, tín dụng NHTM được hiểu làquan hệ cung ứng vốn của NHTM dành cho các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chứckhác trong nền kinh tế thông qua các khoản cho vay và phải đảm bảo tuân thủ cácnguyên tắc cơ bản của tín dụng Hoạt động tín dụng được thực hiện trên nguyên tắc
“đi vay để cho vay”, nghĩa là nguồn vốn mà ngân hàng cho khách hàng vay dựa trênnguồn vốn huy động của cá nhân, tổ chức khác là chủ yếu Với khả năng đáp ứngtốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng đang phát triểnngày càng mạnh mẽ và trở thành một kênh dẫn vốn vô cùng quan trọng trong hầukhắp các ngành, lĩnh vực kinh tế
1.1.2 Vai trò của tín dụng Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế
• Thứ nhất, tín dụng NHTM góp phần điều tiết các nguồn vốn trong nềnkinh tế, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh Tín dụng nói chung và tíndụng NHTM nói riêng thực hiện vai trò kết nối giữa tiết kiệm và đầu tư, khai tháccác khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội đưa nhanh vào sản xuất kinh doanh Thông quaviệc tập trung và phân phối lại vốn, tín dụng NHTM là trung tâm đáp ứng nhu cầuvốn to lớn của xã hội Các ngân hàng, tổ chức đặc biệt thực hiện việc kinh doanhtiền tệ, với lợi thế về quy mô, uy tín và sự hoạt động chuyên nghiệp của mình, có
Trang 4thể dễ dàng huy động các khoản tiền nhàn rỗi từ nhiều nguồn khác nhau trong nềnkinh tế, do đó cũng sẵn sàng đáp ứng được mọi nhu cầu vốn, dù lớn hay nhỏ, củacác cá nhân và tổ chức Tín dụng NHTM giúp các doanh nghiệp rút ngắn được thờigian tích lũy vốn, nhanh chóng mở rộng đầu tư Như vậy, tín dụng NHTM đóng vaitrò quan trọng trong việc thúc đẩy tái sản xuất mở rộng và tạo điều kiện tăng trưởngkinh tế
• Thứ hai, tín dụng NHTM góp phần cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân.Bằng những ưu tiên về lãi suất, thời hạn cho vay, mức cho vay đối với từng ngành,từng vùng kinh tế, tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các ngành, các vùng nàyphát triển thuận lợi hơn Tín dụng NHTM là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tếmũi nhọn, các ngành và vùng kém phát triển trong chiến lược phát triển kinh tế củađất nước, từ đó tạo điều kiện cho việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý
• Thứ ba, tín dụng NHTM cũng giúp cho Nhà nước quản lý và điềuhành hữu hiệu chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát thông qua việc kiểm soátlượng tiền cung ứng Ngoài ra, tín dụng NHTM còn góp phần tạo công ăn việc làm,nâng cao đời sống dân cư và ổn định trật tự xã hội Thông qua hoạt động cho vaytiêu dùng, tín dụng NHTM đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống vật chất của dân cư.Tín dụng NHTM cũng góp phần thực hiện các chương trình xã hội của Nhà nướcnhư cho vay xoá đói giảm nghèo, cho vay giải quyết việc làm, v.v… giúp cải thiệnđời sống người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ đó ổn định trật tự xã hội
1.1.2.2 Đối với các Ngân hàng thương mại
Tín dụng cho đến nay vẫn là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho cácNHTM Do đó nghiệp vụ tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của các NHTM Hoạt động tín dụng giúp ngân hàng đa dạng hoá cácloại hình sản phẩm, mở rộng thị phần, v.v … và nâng cao vị thế, uy tín của ngânhàng trong cạnh tranh
Với những vai trò vô cùng quan trọng đó, quản lý hoạt động tín dụngNHTM, mà cụ thể là quản lý chất lượng tín dụng phải luôn được các ngân hàng đặtlên hàng đầu
1.1.3 Các hình thức tín dụng Ngân hàng thương mại
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựatrên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề
Trang 5để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tíndụng Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
1.1.3.1 Dựa vào thời hạn cho vay
• Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến dưới 12tháng, mục đích bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhucầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
• Cho vay trung hạn: Là loại cho vay với thời hạn từ 12 tháng đến dưới
5 năm Các khoản cho vay này chủ yếu được dùng để đầu tư mua sắm tài sản cốđịnh, cải tiến hoặc đổi mới công nghệ, xây dựng các dự án quy mô nhỏ với thời gianthu hồi vốn nhanh, v.v …
• Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên.Mục đích sử dụng vốn vay tương tự như tín dụng trung hạn nhưng với quy mô lớnhơn và thời gian thu hồi vốn lâu hơn
1.1.3.2 Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
• Cho vay không bảo đảm: Là hình thức cho vay không có tài sản thếchấp, cầm cố cũng như không có sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà chỉ dựa trên uy tín
và năng lực của bản thân người vay
• Cho vay có bảo đảm: Là hình thức cho vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợcủa khách hàng vay được cam kết thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sảnhình thành từ vốn vay của người vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, nhằm tạo cơ sởkinh tế và pháp lý để ngân hàng có nguồn thu thứ hai trong trường hợp khách hàngkhông thanh toán được nợ vay
1.1.3.3 Dựa vào phương thức cho vay
• Cho vay từng lần: Đây là phương thức cho vay phổ biến dành chonhững khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên Việc giải ngân có thểđược tiến hành một lần hay nhiều lần căn cứ vào nhu cầu thực tế của khách hàngsong tổng số tiền giải ngân không vượt quá số tiền cho vay đã thoả thuận trong hợpđồng tín dụng
• Cho vay theo hạn mức tín dụng: Áp dụng đối với những khách hàng
có nhu cầu vay vốn ngắn hạn, thường xuyên và có mức độ tín nhiệm cao Trongthời gian duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng được rút vốn nhiều lần phù hợp vớinhu cầu sử dụng vốn thực tế, nhưng dư nợ tín dụng tại mọi thời điểm không vượtquá hạn mức tín dụng đã thoả thuận
Trang 6• Cho vay theo dự án: Ngân hàng sẽ giải ngân vốn vay một lần hoặcnhiều lần theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trong thời hạn giải ngân thoả thuận, vớimục đích thực hiện các dự án đầu tư cụ thể.
• Cho vay trả góp: Theo phương thức cho vay này, số tiền vay được trảthành nhiều kỳ hạn đều nhau với tổng số tiền trả nợ gốc và lãi của mỗi kỳ hạn làbằng nhau, trong đó số tiền trả lãi được tính trên dư nợ thực tế và số ngày thực tếcủa kỳ hạn trả nợ đó
• Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là loại cho vay mà TCTD thỏa thuậnbằng văn bản chấp thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán củakhách hàng
1.1.3.4 Dựa vào xuất xứ tín dụng
• Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng
• Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việcmua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toánnhư là: Chiết khấu thương mại, bao thanh toán
Bên cạnh các phương thức cho vay này, trên cơ sở nhu cầu thực tế và thoảthuận với khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các phương thức cho vay khác phùhợp với quy định của pháp luật Dựa theo các căn cứ khác, tín dụng ngân hàngthương mại còn có thể được phân chia thành nhiều hình thức khác
1.2 CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm cho vay KHCN
Cho vay KHCN là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng là
cá nhân: “Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhânquyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thoả thuận tronghợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng ” hay nói một cách đơn giản hơnthì cho vay khách hàng cá nhân là các khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các
cá nhân, hộ gia đình như: Phục vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng sửa chữa nhà,mua sắm vật dụng gia đình, mua xe cơ giới, du học, chữa bệnh…
1.2.2 Các hình thức cho vay KHCN
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, các khoản vay khách hàng cá nhân(KHCN) bao gồm hai hình thức: vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh
chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình
Trang 7b) Cho vay sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay phục vụ mục đích
bổ sung vốn sản xuất kinh doanh, đầu tư của cá nhân, hộ gia đình: bổ sung vốn lưuđộng, mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, đầu tư kinh doanh chứng khoán…
Đối với hai hình thức cho vay trên, thời gian cho vay có thể là ngắn hạn (thờihạn cho vay dưới 12 tháng), trung hạn (thời gian cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng)
và dài hạn (thời gian cho vay từ 60 tháng trở lên); phương thức cho vay có thể là:cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay thấu chi, riêng đối với các nhu cầu vay
bổ sung vốn lưu động thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh thìphương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được sử dụng khá phổ biến
• Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn kháchhàng và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
• Cho vay trả góp: Khi vay vốn khách hàng và ngân hàng thỏa thuậnxác định số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theonhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay
• Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng thỏathuận bằng văn bản chấp thuận cho việc khách hàng chi vượt số tiền tự có trên tàikhoản khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam vềviệc thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
• Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định
và thỏa thuận một mức dư nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian xácđịnh
Các biện pháp đảm bảo an toàn vay là yếu tố quan trọng trong việc xét duyệtcho vay của ngân hàng với khách hàng, hiện tại các ngân hàng xem xét cho vay vớikhách hàng dựa trên hai hình thức:
- Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản
thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba Tài sản đảmbảo cho khoản vay có thể là số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hóa, máymóc thiết bị, bất động sản…
- Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay không cần
đảm bảo tài sản mà dựa trên uy tín khách hàng Ngân hàng lựa chọn các khách hàng
có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với KHCN tại NHTM
Trang 81.2.3.1 Đối tượng
Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mụcđích sinh hoạt hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ giađình đó Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượngrất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗiKHCN là không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi môi trường kinh tế,văn hóa – xã hội Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn củaKHCN cũng khác nhau tùy thuộc vào tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thunhập, tập quán, thói quen KHCN của dân cư
1.2.3.3 Quy mô và số lượng các khoản vay
Thông thường quy mô mỗi khoản vay của KHCN thường nhỏ hơn các khoảnvay của doanh nghiệp Tuy vậy, ở các NHTM số lượng các khoản vay KHCNthường lớn, đặc biệt ở các NHTM hoạt động theo định hướng là ngân hàng bán lẻ
số lượng này là rất lớn, do đó tổng quy mô các khoản vay KHCN thường chiếm tỷtrọng lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng
1.2.3.4 Chi phí cho vay
Do các khoản vay KHCN thường có quy mô nhỏ, số lượng các khoản vaynày thường rất lớn nên các ngân hàng thường phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhânlực và công cụ) trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lýcác khoản vay do đó chi phí tính trên mỗi đồng cho vay KHCN thường lớn hơn cáckhoản vay doanh nghiệp
1.2.3.5 Lãi suất cho vay
Lãi suất của các khoản vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay khác củaNHTM Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay KHCN lớn, các khoản cho vayKHCN có mức độ rủi ro cao và KHCN thường kém nhạy cảm với lãi suất cho vay
do KHCN thường chỉ quan tâm đến số tiền được vay, thời hạn vay và số tiền phảitrả theo định kỳ và không xem lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyếtđịnh vay vốn Cả ba nguyên nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay KHCN thường cao
Trang 9hơn các khoản vay khác của NHTM Chẳng hạn, ở những nước có hoạt động chovay KHCN phát triển như Mỹ, lãi suất cho vay KHCN có thể cao gấp 3 đến 4 lần lãisuất cho vay DN, ở Việt Nam lãi suất cho vay KHCN thông thường cao hơn lãi suấtcho vay DN từ 1,2 đến 1,5 lần.
1.2.3.6 Rủi ro tín dụng
Các khoản cho vay KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng Sở
dĩ như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tuỳtheo tình trạng công việc và sức khoẻ của họ Trong hoạt động sản xuất kinh doanh,các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình
độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thịtrường bị hạn chế Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vaygặp tai nạn, khó khăn trong kinh doanh, phá sản Mặt khác, việc thẩm định vàquyết định cho vay KHCN thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ,không rõ ràng, các thông tin về cá nhân thường bị giấu kín, do đó chất lượng thẩmđịnh khách hàng không cao Điều này ảnh hưởng đến các quyết định cho vay củangân hàng Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thường được quản lý chặt chẽ
1.2.4 Quy trình cho vay đối với KHCN
Quy trình cho vay là trình tự các bước mà ngân hàng thực hiện cho vay đốivới khách hàng Quy trình cho vay phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp chovay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyếtcác vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng
Quy trình cho vay gồm 4 khâu cơ bản, theo trình tự: Thiết lập hồ sơ cho vay;Phân tích cho vay; Quyết định cho vay; Giám sát và quản lí cho vay
Hồ sơ tín dụng của một ngân hàng là tài liệu bằng văn bản, biểu hiện mốiquan hệ tổng thể của ngân hàng với khách hàng vay vốn Chất lượng tín dụng phụthuộc rất lớn vào sự hoàn chỉnh và chính xác của hồ sơ tín dụng Vì vậy, khi thiếtlập một hồ sơ tín dụng phải đảm bảo các yếu tố:
- Các thông tin cơ bản về khách hàng xin vay
- Thông tin về tài chính hiện tại của khách hàng xin vay
- Lịch sử tài chính của khách hàng xin vay
- Thông tin về mục đích vay vốn
- Phương hướng hoạt động kinh doanh trong tương lai của khách hàng
- Đánh giá nhận xét của ngân hàng về khách hàng
- Thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về việc vay vốn trả nợ
- Những thông báo của ngân hàng cho khách hàng
Trang 10Tùy vào từng loại cho vay, kỹ thuật cho vay và quy mô của khoản vay màNHTM quy đinh việc thiết lập bộ hồ sơ cho phù hợp Bộ hồ sơ cho vay thường baogồm các loại sau:
- Hồ sơ pháp lý bao gồm:
+ Các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự: xác
nhận hộ khẩu đối với hộ giá đình cá nhân ở nông thôn Sổ hộ khẩu đối với gia đình,
cá nhân ở đô thị
+ Giấy phép kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp
+ Giấy tờ hợp pháp hợp lệ được giao cho thuê quyền sử dụng đất, mặt nước(đối với hộ nông, lâm, ngư nghiệp)
+ Giấy phép đánh bắt thủy hải sản, đăng kiểm tàu thuyền
+ Hợp đồng hợp tác, chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn cho phéphoạt động (đối với tổ hợp tác)
+ Hồ sơ dự án đối với cho vay trung, dài hạn
+ Các giấy tờ khác cần thiết theo quy định của pháp luật
- Hồ sơ vay vốn có hai loại:
+ Đối với hộ vay không phải thực hiện thế chấp cầm cố bảo lãnh thì giấy đềnghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh
+ Đối với hộ phải thực hiện thế chấp cầm cố bảo lãnh thì hồ sơ vay vốn gồmcó: giấy đề nghị vay vốn, dự án, phương án sản xuất kinh doanh, hồ sơ đảm bảo tiềnvay theo quy định
- Các báo cáo về thẩm định, tái thẩm định
- Các loại thông báo như: thông báo từ chối cho vay, thông báo cho vay, thôngbáo gia hạn nợ, thông báo đến hạn nợ, thông báo nợ quá hạn, thông báo tạm ngừngcho vay, thông báo chấm dứt cho vay
- Báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay, báo cáo phân tích tình hình tài chính
- Sổ theo dõi cho vay và thu nợ
- Hợp đồng tín dụng hoặc sổ vay vốn
- Hợp đồng bảo hiểm tiền vay như hợp đồng cầm cố thế chấp tài sản, hợpđồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng,…
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các NHTM là lợi nhuận, song trên conđường tìm kiếm lợi nhuận tối đa đó, các NHTM luôn gặp phải một “rào cản” đó làrủi ro Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các NHTM đã áp dụng nhiều biện pháp, trong
đó có biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng số một là phải phân tích đánh giá một
Trang 11cách toàn diện khách hàng trước khi cho vay Nếu khách hàng được đánh giá là tốt,như có đủ tư cách trong kinh doanh, có năng lực tài chính đảm bảo, chấp hành tốtcác hợp đồng tín dụng trong quá khứ và có triển vọng phát triển trong tương lai,…thì sẽ được ngân hàng xem xét để cho vay Ngược lại, nếu khách hàng không đápứng được những vấn đề trên thì ngân hàng sẽ từ chối cho vay.
Để phân tích đánh giá khách hàng, ngân hàng dựa vào các tài liệu sau đây:
- Tài liệu thuyết minh về việc vay vốn như kế hoạch hoặc phương án sản xuấtkinh doanh, giấy phép kinh doanh, xuất nhập khẩu, các hợp đồng cung cấp – tiêuthụ sản phẩm
- Các tài liệu kế toán để đánh giá khả năng tài chính của khách hàng như: bảngtổng kết tài sản, bản thuyết minh về tình hình công nợ, bản giải trình về kết quảkinh doanh, bản phân tích chi tiết về lỗ, lãi
- Các tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng
Ngoài ra ngân hàng còn đưa vào các thông tin khác như: việc phỏng vấn trựctiếp người vay, thông tin qua hồ sơ lưu trữ về người vay tại ngân hàng, thông tin từcác doanh nghiệp có quan hệ kinh tế với người vay, v.v… ngoài ra thì các NHTMcũng tập trung phân tích, đánh giá những mặt sau đây:
+ Năng lực pháp lí của khách hàng
Khách hàng vay vốn phải có tư cách pháp nhân, đây là điều kiện tiên quyết
để ngân hàng xem xét cho vay nhằm xác định trách nhiệm trước pháp luật về việchoàn trả nợ vay
Đối với các cá nhân phải là những người có đầy đủ năng lực pháp lý và nănglực hành vi, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn với ngân hàng cho vay, ngân hàngkhông chấp nhận cho vay những người như: đang trong thời gian chấp hành án, bịtòa án cấm kinh doanh, những người bị tâm thần
+ Uy tín của người vay vốn
Đây là yếu tố hết sức quan trọng mà ngân hàng cần phải đánh giá Phần lớncác thông tin về khách hàng đều đã được ngân hàng biết đến Đối với một kháchhàng cũ, những giao dịch trước đó của ngân hàng với họ sẽ đưa lại một lượng lớnthông tin về tính trung thực, các nguồn tài chính và năng lực của khách hàng, thôngtin về tính nghiêm túc trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tính ổn định trong sảnxuất kinh doanh Đối với khách hàng mới, phần nhiều phụ thuộc vào sự giới thiệu,
Trang 12vào các doanh nghiệp khác có quan hệ với khách hàng đó, vào thông báo thưc trạng
từ ngân hàng khác
+ Phân tích tình hình tài chính của khách hàng:
Đánh giá tình hình tài sản của khách hàng: Đối với hộ gia đình, hoặc
cá nhân KHCN ngân hàng yêu cầu các thông tin về tình hình kinh doanh, tài sản cánhân, lương và các khoản thu nhập khác Các thông tin về tài sản cho thấy quy mô,chất lượng tài sản, khả năng quản lý của khách hàng, rất quan trọng đối với quyếtđịnh cho vay Hơn nữa, tài sản (tất cả hoặc một phần) của khách hàng luôn được coi
là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ khi khách hàng mất khảnăng thanh toán
Đánh giá các khoản nợ: Nợ của người vay có thể được phân chia theo
nhiều tiêu thức khác nhau
Về thời gian, gồm nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn), nợ trung và dài hạn (vaytrung và dài hạn); ngân hàng còn xem xét các khoản nợ đến hạn trong năm (cáckhoản nợ ngắn, trung và dài hạn phải trả trong năm) và các khoản nợ phải trả trongcác năm sau Nếu khoản cho vay của ngân hàng phải trả trong năm thì các khoản nợđến hạn và ngân quỹ trong năm của khách hàng là hai yếu tố chính tạo nên quyếtđịnh của ngân hàng Ngân hàng cũng quan tâm tới nợ quá hạn và các nguyên nhân
Phân tích luồng tiền: Nhiều khách hàng tạo ra lợi nhuận trong quákhứ, thậm chí có khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai Tuy nhiên việc trả nợngân hàng lại liên quan chặt chẽ tới thu nhập và tích lũy của người vay (ví dụ chovay KHCN, nguồn trả nợ là các khoản thu nhập bằng tiền của người vay, kỳ hạn thu
nợ có thể lệch pha với các khoản thu của người vay) Trong khi lợi nhuận là chỉ tiêuquan trọng phản ánh khả năng sinh lời, trên thực tế, tỷ lệ dòng tiền/tổng các khoản
nợ là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với việc dự đoán các vấn đề tín dụng trong tươnglai
Sử dụng các tỷ lệ: Sau khủng hoảng 1929 – 1932, rất nhiều các nhàngân hàng phát hiện ra rằng họ không thu được nợ (và như vậy là không có khảnăng chi trả) ngay cả khi họ cho vay các khoản vốn lưu động phù hợp
Các điều kiện kinh tế: Các kết quả phân tích trên cho ngân hàng thấymột phần quá khứ và hiện tại của khách hàng Điều ngân hàng quan tâm hơn là khảnăng trong tương lai của khách hàng, có thể là trong mấy tháng hoặc mấy năm
Trang 13Thời hạn càng dài, dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động của các điều kiệnkinh tế Thiên tai, các thay đổi bất thường trong đời sống chính trị, khủng hoảngkinh tế vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành, hộ kinh doanh, các rủi ro củacác cá nhân… làm thay đổi các tính toán ban đầu, dẫn đến giảm hoặc mất khả năngtrả nợ của khách hàng Tổn thất của khách hàng dẫn đến tổn thất của ngân hàng chỉtrong gang tấc.
Khi tiếp nhận một hồ sơ vay vốn do khách hàng gửi tới, đặc biệt là kháchhàng mới quan hệ với ngân hàng thì cán bộ tín dụng phải điều tra phân tích kỹlưỡng những thông tin do khách hàng cung cấp Đây là yếu tố quyết định chất lượngtín dụng Việc phân tích tín dụng phải làm rõ được hai vấn đề cơ bản là xác nhậnthông tin do khách hàng cung cấp và khám phá những thông tin mới do cán bộ tíndụng thu thập về khách hàng từ các ngân hàng đã có quan hệ tín dụng với kháchhàng xin vay, từ các bạn hàng của khách hàng xin vay, từ các cơ quan quản lý và từcác thông tin đại chúng
Việc phân tích tín dụng trước hết do cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vayvốn của khách hàng có trách nhiệm đối chiếu danh mục hồ sơ theo quy định xem cóđảm bảo đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ không? Sau đó báo cáo trưởng phòng tín dụng vàtrưởng phòng tín dụng cử người thẩm định điều kiện vay vốn
Nội dung thẩm định như sau:
án sản xuất kinh doanh của khoản vay sản xuất kinh doanh, mục đích sử dụng vốnvay, thu nhập thực tế của khoản vay tiêu dùng cá nhân… nếu ngân hàng thấy kháchhàng có khả năng thực hiện được thì tiến hành tính toán xác định nhu cầu vốn vay
và khả năng trả nợ của khách hàng
Căn cứ vào kết quả thẩm định tính khả thi của kế hoạch sản xuất kinh doanhcủa dự án, phương án của khoản vay phục vụ sản xuất kinh doanh, mục đích sử
Trang 14dụng vốn và thu nhập cá nhân của khoản vay tiêu dùng cá nhân để đánh giá khảnăng trả nợ gốc và lãi của khách hàng trong kỳ kế hoạch.
Cuối cùng khi kết thúc bước thẩm định, cán bộ tín dụng phải đưa ra lời nhậnxét đánh giá về nhu cầu vay vốn và nói rõ có đồng ý cho vay hay không cho vay,mức cho vay, thời hạn cho vay và biện pháp đảm bảo tiền vay cũng như các đề xuấtkhác có liên quan
- Thẩm định đảm bảo nợ vay:
Để đảm bảo an toàn vốn vay đòi hỏi khách hàng khi vay vốn phải có đảmbảo nợ vay dưới hình thức thế chấp, cầm cố tài sản hoặc bảo lãnh của người thứ ba.Những tài sản dùng để thế chấp, cầm cố, vay vốn ngân hàng phải được cán bộ ngânhàng thẩm dịnh về điều kiện tài sản dùng để thế chấp, cầm cố, xem tài sản đó cóthuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay vốn không? Tài sản đó có bị cấm lưuthông trên thị trường không? Tài sản đó giá cả có ổn định không? Bán có dễ dàngkhông? Phải thẩm định người bảo lãnh có đủ điều kiệu để bảo lãnh hay không?Người bảo lãnh phải có đủ năng lực pháp lý, năng lực tài chính, có uy tín đối vớingân hàng, trên thị trường và xã hội
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cho vay Trênthực tế những yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt, việc quyết định cho vay được thựchiện một cách dễ dàng Đối với khoản vay nhỏ ngân hàng thường giao quyền chocán bộ tín dụng quyết định Đối với những khoản vay lớn thuộc quyền quyết địnhcủa hội đồng tín dụng Trường hợp này cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vayvốn có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và thẩm định các điềukiện vay vốn của hồ sơ, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra được ý kiến
có nên cho vay hay không cho vay và lập tờ trình trình hội đồng tín dụng Trên cơ
sở hồ sơ vay vốn và tờ trình của nhân viên tín dụng, hồi đồng tín dụng xem xétkiểm tra lại hồ sơ vay vốn và tờ trình để ra quyết định cho vay hay không cho vay
Dù quyết định cho vay là của nhân viên tín dụng hay hội đồng tín dụng, thì cũngphải đưa ra trong vòng một thời gian ngắn nhất, đảm bảo tính kịp thời cho kháchhàng Nếu hồ sơ vay vốn bị từ chối thì cũng phải thông báo cho khách hàng lý do từchối cho vay Nếu yêu cầu vay vốn được chấp thuận thì cán bộ tín dụng cùng kháchhàng tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo tiền vay (nếu có) Cóthể có những trường hợp hội đồng tín dụng quyết định cho vay nhưng có sự thay
Trang 15đổi về thời hạn cho vay, số tiền cho vay… Đây cũng chính là kết quả của quá trìnhthẩm định, tái thẩm định hồ sơ vay vốn.
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi tiền vay phát ra cho đếnkhi khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng và đầy đủnhững cam kết thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với đặc điểm hoạt độngcủa ngân hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng vốn của khách hàng Nội dung kiểmtra bao gồm:
vốn theo quy định
Cán bộ tín dụng được phân công phụ trách khách hàng nào thì phải lập hồ sơkinh tế theo dõi sát tình hình hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính, đặc biệt làtình hình công nợ, tình hình quan hệ vay vốn với ngân hàng và các tổ chức tín dụngkhác của khách hàng đó, nhằm kịp thời tham gia ý kiến với khách hàng để lựa chọnphương án kinh doanh sản xuất tối ưu, đồng thời để cung cấp cho giám đốc ngânhàng những thông tin cần thiết về khách hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết định Đểđảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng, ngân hàng cần khai thác mọi nguồnthông tin để biết được thực trạng về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình vay nợ
ở các tổ chức tín dụng khác của khách hàng Thông qua đó mà ngân hàng có thểnhận biết chính xác về khách hàng và để có cơ sở quyết định cho vay một cáchđúng đắn
Trong quá trình cho vay ngân hàng phải kiểm tra những nội dung sau:
- Kiểm tra mục đích, đối tượng vay vốn, kiểm tra mức vay và thời hạn xin vaycủa dự án
- Kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ vay vốn của lần vay đó như: Hợp đồngcung cấp nguyên vật liệu, giá cả, phương thức và chứng từ thanh toán, hồ sơ và giátrị tài sản thế chấp cầm cố hay bảo lãnh
Công việc kiểm tra sau khi cho vay được tiến hành từ khi ngân hàng phát tiền vay cho đến khi thu hết nợ Sau khi phát tiền vay trong một thời gian nhất định cán bộ tín dụng kiểm tra việc sử dụng tiền vay tại trụ sở kinh doanh của khách hàng,theo các nội dung đã thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng đã được ghi trong
Trang 16hợp đồng tín dụng Ngân hàng theo dõi các khế ước còn dư nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn.
Định kỳ cán bộ tín dụng phải kiểm tra và phân tích nợ để phát hiện nợ quáhạn, nợ khó đòi để đề nghị các biện pháp xử lý thích hợp nhằm lành mạnh hóa quan
1.3 MỞ RỘNG CHO VAY KHCN CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm mở rộng cho vay KHCN của NHTM
Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân là việc Ngân hàng Thương mại tăngcường sử dụng các nguồn lực của mình nhằm mục đích gia tăng dư nợ cho vay từ
đó gia tăng thu nhập từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng cho vay KHCN
1.3.2.1 Gia tăng tỉ trọng dư nợ cho vay KHCN trong tổng dư nợ của ngân hàng
Tỷ trọng dư nợ KHCN trong tổng dư nợ của NHTM ở thời điểm được xác định:
1.3.2.2 Sự gia tăng về quy mô và tăng trưởng tốc độ cho vay
Dư nợ cho vay KHCN là tổng lượng tiền mà NHTM đã cho KHCN vay tính
tại một thời điểm nhất định Việc mở rộng cho vay KHCN được phản ánh thông qua
sự gia tăng về quy mô và tốc độ tăng dư nợ KHCN
Sự gia tăng về quy mô dư nợ cho vay KHCN được xác định theo công thức :
Sự gia tăng quy mô dư nợ Dư nợ cho vay KHCN Dư nợ cho vay KHCNKHCN năm(t) cuối năm (t ) cuối năm (t-1)
-
=
Trang 17Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay KHCN năm (t) tăng so với năm (t-1) làbao nhiêu Khi chỉ tiêu này tăng lên tức là số tiền NHTM đã cho vay qua các năm
đã tăng lên
Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay KHCN được xác định:
Chỉ tiêu tốc độ Dư nợ cho vay cuối năm (t) – Dư nợ cho vay cuối năm (t-1) tăng trưởng dư nợ = - x 100%cho vay KHCN Dư nợ cho vay cuối năm (t)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ gia tăng dư nợ cho vay KHCN qua các năm.Tuy vậy khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá sự mở rộng cho vay KHCN của mộtNHTM người ta thường xem xét chỉ tiêu này trên cơ sở cơ sở so sánh với tốc độtăng trưởng dư nợ cho vay KHCN bình quân của ngành Nếu tốc độ tăng trưởng chovay KHCN của một NHTM cao hơn tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay KHCNchung của ngành thì chứng tỏ hoạt động cho vay KHCN của NHTM đó thực sựđược mở rộng Đối với một chi nhánh NHTM, ngoài việc so sánh với chỉ tiêu tăngtrưởng dư nợ bình quân của ngành ngân hàng trên địa bàn hoạt động, người tathường đánh giá việc mở rộng cho vay KHCN thông qua việc so sánh chỉ tiêu tăngtrưởng dư nợ của chi nhánh NHTM với chỉ tiêu dư nợ bình quân của NHTM đó
1.3.2.3. Giảm tỉ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay KHCN
Tỷ lệ nợ xấu KHCN = Dư nợ xấu KHCN / Dư nợ cho vay KHCN
Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay KHCN là chỉ tiêu chính phản ánh chất lượngtín dụng của một ngân hàng Theo Quyết Định 493/2005/QĐ-NHNN ngày22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam (gọi tắt là Quyết định 493): nợ xấuđược quy định là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5
• Nợ nhóm 3( nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày
- Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn
đã cơ cấu lại
- Các khoản nợ được Tổ chức Tín dụng (TCTD) đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn, các khoản nợ này được TCTD đánh giá là
có khả năng thất thu một phần gốc và lãi
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6 của Quyết định 493
• Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cầu lại
- Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao
Trang 18- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6 của Quyết định 493.
• Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lý
- Các khoản nợ cơ cầu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn
đã cơ cầu lại
- Các khoản nợ được các TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, 4 điều 6 của Quyết định 493
Như trên đã đề cập, việc mở rộng cho vay KHCN phải đi đôi với việc nângcao chất lượng tín dụng Các NHTM không thể chỉ mở rộng cho vay mà khôngquan tâm đến tỷ lệ nợ xấu NHTM chỉ có thể tiếp tục mở rộng cho vay khi việc mởrộng này không làm tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
1.3.3. Sự cần thiết mở rộng cho vay KHCN
1.3.3.1 Tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay:
Kinh tế xã hội nước ta hiện đang trong tình trạng có nhiều khó khăn, do cảkhách quan và các yếu kém, mất cân đối nội tại của nền kinh tế Hai vấn đề lớn làtình trạng nợ xấu và mức tồn kho tăng cao, làm cho sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng Tuy nhiên, khi nhìn vào triển vọng kinh
tế trung và dài hạn và đối chiếu với các mục tiêu điều hành chính sách kinh tế thì cóthể thấy kinh tế đang chuyển biến đúng hướng mục tiêu Như đã biết, mục tiêu quantrọng đề ra là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, và đó là cơ sở quan trọng
để bảo đảm an sinh xã hội Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giảipháp thắt chặt tiền tệ và chi tiêu ngân sách chặt chẽ suốt từ năm 2011 đến nay, tìnhhình lạm phát (với ý nghĩa là tăng giá)đã được kiểm soát
1.3.3.2 Sự cần thiết mở rộng cho vay KHCN tại Việt Nam hiện nay:
Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanhchóng của công nghệ thông tin, 2012 được đánh giá là năm về dịch vụ ngân hàngbán lẻ, tăng cường tiếp cận với nhóm khách hàng cá nhân, doanh nghiệp nhỏ vàvừa
Trang 19Các NHTM Việt Nam đã bắt đầu quan tâm đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụngnhững tiến bộ của khoa học công nghệ vào khai thác thị trường bán lẻ, tăng cườngtiếp cận với khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa Khi chuyển sang bán
lẻ, ngân hàng sẽ có thị trường lớn hơn, tiềm năng phát triển tăng lên, và có khả năngphân tán rủi ro trong kinh doanh, bắt đầu từ sự nắm bắt các cơ hội có được từ cácthị trường mới, từ việc áp dụng công nghệ và sử dụng hệ thống tạo ra nhiều sảnphẩm dịch vụ mới, phương thức phân phối hiệu quả, tăng cường mối quan hệ giữakhách hàng với ngân hàng
Việc mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói riêng và hoạt độngbán lẻ nói chung sẽ góp phần làm tăng thị phần của các NHTM, đưa hình ảnh củangân hàng đến gần hơn với khách hàng, cung cấp cho khách hàng danh mục sảnphẩm đa dạng, phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng:
- Đối với NHTM, cho vay KHCN giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách
hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi từ dân cư cho ngân hàng.Bên cạnh đó, cho vay KHCN tạo điều kiện cho NHTM đa dạng hóa hoạt động kinhdoanh, từ đó tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng
- Đối với khách hàng, cho vay KHCN của NHTM là một phương thức hữu
hiệu để giải quyết những nhu cầu cấp bách về vốn cho các cá nhân và hộ gia đình,góp phần cải thiện mức sống của khách hàng khi họ chưa có đầy đủ khả năng chitrả, thanh toán ở hiện tại
- Đối với nền kinh tế, cho vay KHCN có vai trò quan trọng trong việc kích cầu
từ đó tạo yếu tố kích thích sản xuất phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế Việc mở rộng và cho vay một cách có hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo sự an sinhcho xã hội
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay KHCN
1.3.4.1 Nhân tố chủ quan
Tổ chức hoạt động cho vay KHCN của NHTM có ảnh hưởng lớn đến kết quảcho vay cũng như khả năng mở rộng cho vay KHCN của NHTM đó, ở các NHTMkhác nhau, việc tổ chức hoạt động cho vay KHCN cũng rất khác nhau Một sốNHTM hoạt động cho vay KHCN không được tổ chức riêng biệt mà chỉ được coi làmột phần của mảng hoạt động cho vay nói chung của NHTM Ngược lại, ngày naytại nhiều NHTM hoạt động cho vay KHCN đã được tổ chức chuyên môn hoá tức là
Trang 20mỗi khâu trong hoạt động cho vay KHCN được các bộ phận chuyên trách thực hiện.
Và điều dễ dàng nhận thấy là tại các NHTM có tổ chức chuyên môn hoá trong hoạtđộng cho vay KHCN thì hoạt động cho vay này có nhiều cơ hội được mở rộng vàphát triển
Trong hoạt động ngân hàng, công nghệ và trình độ quản lý đóng một vai tròquan trọng, ngân hàng luôn là những tổ chức có được những công nghệ tiên tiếnnhất và trình độ quản lý hiện đại nhất trong nền kinh tế Công nghệ của ngân hàng
là các phần mềm và phần cứng của thiết bị thông tin được dùng trong ngân hàng.Với công nghệ hiện đại như các máy tính, máy ATM, hệ chương trình quản lý ngânhàng giúp cho các ngân hàng đơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch,bảo mật thông tin cho khách hàng tốt hơn
Khi đề ra chiến lược phát triển cho vay KHCN các ngân hàng phải quan tâmtới công nghệ và trình độ quản lý của mình, nó sẽ tạo nên những thuận lợi hay khókhăn cho ngân hàng Nếu ngân hàng có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại sẽ làmột yếu tố thúc đẩy phát triển cho vay KHCN: rút ngắn thời gian cho vay đối vớimỗi cá nhân, tạo được uy tín, sự tin tưởng đối với khách hàng… qua đó làm tăngdoanh số cho vay, gia tăng lợi nhuận Khi đề ra chiến lược phát triển ngân hàngphải đánh giá lại trình độ công nghệ và quản lý của mình ở mức nào, khi so sánhvới các ngân hàng cạnh tranh và trình độ phát triển công nghệ ngân hàng trên thếgiới Các ngân hàng phải phát triển công nghệ và nâng cao năng lực quản lý để có thểgiành chiến thắng trong thị trường đem lại nhiều lợi nhuận, thị trường cho vay đối vớiKHCN
Hoạt động cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ phức tạp và bao gồmnhiều công đoạn Ngoài sự trợ giúp của các trang thiết bị và công nghệ, yếu tố conngười được xem là rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của hoạtđộng cho vay Một NHTM muốn mở rộng được hoạt động cho vay KHCN cần phải
có đội ngũ nhân viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp ở tất
cả các khâu từ nghiên cứu phát triển sản phẩm, tiếp thị, thẩm định, phân tích tíndụng đến các khâu quản lý và thu hồi nợ Việc chú trọng phát triển nguồn nhân lựctốt trong các công đoạn cho vay đảm bảo cho NHTM có được các sản phẩm chovay phù hợp, đáp ứng được đa dạng các nhu cầu vay vốn của khách hàng, đảm bảo
Trang 21cho việc xử lý hồ sơ vay vốn của khách hàng nhanh chóng, an toàn, hạn chế rủi ro,đảm bảo khả năng thu hồi nợ tốt.
Hoạt động Marketing là hoạt động giới thiệu, quảng bá và xây dựng hìnhảnh của ngân hàng cũng như các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp Đâycũng là hoạt động quan trọng góp phần mở rộng hoạt động cho vay của NHTM Từhoạt động Marketing, khách hàng có thể hiểu về ngân hàng cũng như các sản phẩmdịch vụ ngân hàng cung cấp Hoạt động Marketing nếu được thực hiện tốt sẽ manglại nhiều khách hàng cho ngân hàng và từ đó hoạt động cho vay KHCN sẽ được mởrộng
1.3.4.2 Nhân tố khách quan
a) Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay nói chung củaNHTM và hoạt động cho vay KHCN nói riêng Tác động của môi trường kinh tếđối với hoạt động cho vay KHCN của NHTM là tác động thuận chiều, tức là khinền kinh tế phát triển thì hoạt động cho vay KHCN cũng được mở rộng, cho vayKHCN sẽ bị thu hẹp khi nền kinh tế đi vào suy thoái hoặc trong giai đoạn khó khăn
Xét trên khía cạnh của các NHTM, khi nền kinh tế suy thoái rủi ro trong hoạtđộng cho vay tăng, do đó các NHTM tăng cường thực hiện nhiều biện pháp hạn chếrủi ro: thắt chặt các điều kiện cho vay, quản lý chặt chẽ các khoản vay, tăng cườngtheo dõi, thu hồi nợ, điều này hạn chế việc mở rộng cho vay nói chung và cho vayKHCN nói riêng
b) Môi trường văn hóa – xã hội
Môi trường văn hoá xã hội cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động chovay KHCN tại các NHTM Sự tác động của môi trường văn hoá xã hội có thể là tácđộng tích cực – kích thích sự phát triển hoặc tác động tiêu cực - hạn chế sự pháttriển của của hoạt động cho vay KHCN Một số yếu tố văn hoá xã hội có thể tácđộng đến hoạt động cho vay KHCN bao gồm: Yếu tố về nhân khẩu học, thói quenKHCN, trình độ dân trí, phong tục tập quán,
Tuy nhiên, yếu tố trình độ dân trí, tập quán và thói quen KHCN lại là yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay KHCN Chẳng hạn, ở thành thịnhu cầu KHCN thường cao hơn khu vực nông thôn do đó mà nhu cầu vay KHCNcũng lớn hơn Mỹ là quốc gia có thị trường KHCN lớn, phần lớn dân cư Mỹ đã sửdụng vốn vay NHTM để tài trợ cho nhu cầu KHCN của mình, chính vì vậy thị
Trang 22trường cho vay KHCN của Mỹ được đánh giá là lớn nhất thế giới và có tốc độ tăngtrưởng cao hàng năm Tại Việt Nam, hai thị trường Hà Nội và Thành Phố Hồ ChíMinh (TPHCM) là hai thị trường KHCN lớn và cũng là hai thị trường cho vayKHCN lớn của cả nước Tuy vậy quy mô thị trường và tốc độ phát triển cho vayKHCN tại Thành Phố Hồ Chí Minh lớn hơn nhiều so với thị trường tại Hà Nội, điềunày là do tập quán và thói quen sử dụng vốn vay NHTM trong KHCN của hai khuvực này là khác nhau.
c) Các yếu tố từ phía khách hàng vay vốn
Đây là yếu tố quyết định đến việc cho vay của NHTM Các NHTM có cho vay hay không phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm của từng khách hàng vay vốn Khi thẩm định và xét duyệt cho vay các NHTM thường xem xét đến các yếu tố sau từ mỗi khách hàng:
Nhu cầu vay vốn của khách hàng: NHTM chỉ có thể xem xét cho vay đối
với những khách hàng có nhu cầu vay vốn phù hợp với chính sách cho vay củamình
• Uy tín (Character) là ý thức trách nhiệm hoàn trả lại khoản vay của
người vay Vì không có một phương pháp định lượng chính xác nào để đánh giá uytín nên NHTM sẽ kiểm tra những khoản nợ của người vay trước đây, xem xétnhững báo cáo tín dụng, và trình độ học vấn cũng như kinh nghiệm kinh doanh củangười vay Các vấn đề khác liên quan đến cá nhân người vay và trình độ, kinhnghiệm của người vay cũng sẽ được xem xét
toán các khoản vay hay không Vì đây là nguồn cơ bản để người vay trả các khoảnvay, NHTM muốn biết chính xác kế hoạch trả nợ của người vay trong tương lai.NHTM sẽ xem xét luồng tiền trong kinh doanh, thời gian chi trả, và khả năng chi trảthành công khoản vay
• Vốn (Capital) là tiền của người vay đã đầu tư và chi tiêu này cho biết
người vay sẽ thua lỗ bao nhiêu khi công việc kinh doanh không thành công NHTMmuốn người vay thế chấp tài sản riêng và chịu trách nhiệm về rủi ro tài chính khivay vốn Ngân hàng NHTM xem xét chỉ số nợ của người vay để hiểu được tỷ lệ nợtrên tổng đầu tư của khách hàng
thức khác người vay có thể đảm bảo với NHTM Nếu lượng tiền của người vay
Trang 23không đủ trả nợ, NHTM vẫn được đảm bảo bằng nguồn thanh toán khác Nếu ngườivay không trả được nợ, NHTM sẽ thu hồi và thanh lý máy móc thiết bị, nhà xưởng,các khoản phải thu, hàng tồn kho Hợp đồng cho vay nên xác định cẩn thận nhữngmục được coi là khoản thế chấp Trong một số trường hợp NHTM có thể yêu cầubên bảo lãnh thứ ba ký giấy bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán khoản vay nếu ngườivay (bên được bảo lãnh) không thể trả nợ.
từng địa phương, từng quốc gia Liệu thu nhập của người vay có thể bị ảnh hưởng?Nếu nền kinh tế bị suy thoái, liệu thu nhập của người vay có giảm mạnh hay không,hoặc có thể không bị ảnh hưởng Những khách hàng có thu nhập ổn định không bịảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế thì thông thường sẽ được các NHTM ưu ái hơn
d) Các yếu tố cạnh tranh
Cho vay KHCN là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong chiến lược bán lẻcủa các NHTM, do đó sự cạnh tranh trong hoạt động này của các NHTM ngày càngtrở nên gay gắt Các NHTM cạnh tranh với nhau thông qua việc nghiên cứu và triểnkhai các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng điều kiện và đốitượng cho vay, giảm lãi suất cho vay, Việc cạnh tranh này một mặt có tác động
mở rộng thị trường cho vay do nhiều nhu cầu vay vốn của KHCN được “đánh thức”bởi việc quảng bá, tiếp thị của các NHTM nhưng mặt khác nó làm cho thị trườngnày bị chia sẻ ra bởi nhiều ngân hàng, dẫn đến việc mở rộng cho vay ở mỗi NHTM
sẽ trở nên khó khăn Ngoài sự cạnh tranh trong hệ thống các NHTM, hoạt động chovay KHCN của các NHTM còn bị cạnh tranh bởi các công ty tài chính, công ty tíndụng và cả chính những đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ như các siêu thị, các đơn
vị kinh doanh đồ gia dụng, công ty sản xuất và kinh doanh xe hơi, các công ty kinhdoanh bất động sản, thông qua các chương trình hỗ trợ tài chính cho ngườiKHCN
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY KHCN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
Á CHÂU – PGD NGUYỄN THỊ ĐỊNH
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU – PGD NGUYỄN THIĐỊNH
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (Asia Commercial Bank, gọi tắt là
“ACB”) là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam
và được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt
Trang 24Nam (NHNN) cấp ngày 24 tháng 04 năm 1993 và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủyban Nhân dân TP Hồ Chí Minh cấp ngày 13 tháng 05 năm 1993 Giấy phép hoạtđộng được cấp cho thời hạn hoạt động là 50 năm với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷđồng Ngày 04 tháng 06 năm 1993, ACB chính thức đi vào hoạt động với tên gọiNgân hàng Thương mại Cổ Phần Á Châu Hội sở chính của Ngân hàng đặt tại số
442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngân hàng ACB với kinh nghiệm và uy tín thương hiệu từ 20 năm phát triểnvượt bậc, là ngân hàng mạnh của ngành ngân hàng Việt Nam với tổ chức vận hànhvững mạnh, năng lực tài chính dồi dào, được tin tưởng và hỗ trợ chặt chẽ từ các bênliên quan
Kể từ năm 2011 ACB đã bắt đầu thực hiện Định hướng Chiến lược pháttriển giai đoạn 2011 – 2015 Định hướng này có nền tảng là ACB cần tận dụng cácthời cơ trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam để tiếp tục củng cố, nâng cao vịthế và xây dựng ACB trở thành một định chế tài chính ngân hàng hàng đầu ở Việt
Nam, thực hiện thành công sứ mệnh là Ngân hàng của mọi nhà, là địa chỉ đầu tư
hiệu quả của các cổ đông, là ngân hàng tận tụy phục vụ khách hàng, cung cấp chokhách hàng sản phẩm, dịch vụ chất lượng hàng đầu, là nơi thuận lợi phát triển sựnghiệp và cuộc sống của tập thể cán bộ nhân viên, là đối tác đáng tin cậy trong cộngđồng tài chính ngân hàng, và là thành viên có nhiều đóng góp cho cộng đồng xã hội
Với phương châm hành động “Tăng trưởng nhanh – Quản lý tốt – Hiệu quảcao” ACB quyết tâm và nỗ lực phấn đấu để đến năm 2015 trở thành một trong bốnngân hàng có quy mô lớn nhất, hoạt động an toàn và hiệu quả ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội cũng như nhu cầu tín dụngngày càng tăng cao của khách hàng, năm 2010 ACB đã quyết định thành lập và đivào khai trương PGD Nguyễn Thị Định địa chỉ số 52 Nguyễn Thị Định, phườngNhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, trực thuộc ngân hàng ACB chi nhánh HàNội Đây là đơn vị thứ 274 trong hệ thống các chi nhánh và phòng giao dịch củaACB trên toàn quốc Với sự thuận lợi của địa bàn cùng đội ngũ nhân viên trẻ năngđộng, nhiệt tình và có trình độ cao thì PGD đã và đang khẳng định vị trí cũng như
uy tín của mình trên địa bàn hoạt động, góp phần vào sự phát triển của Ngân hàngACB nói riêng và của Tập đoàn nói chung
Trang 25Trải qua 3 năm hoạt động, PGD Nguyễn Thị Định cũng đã có sự phát triểnkhông ngừng về các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, trang thiết bị, công nghệ, phầnmềm hỗ trợ nghiệp vụ không ngừng được đổi mới và nâng cao, góp phần làm choquy trình nghiệp vụ và vấn đề quản lí trở nên đơn giản, thuận tiện, chuyên nghiệphơn Ngoài ra, tình hình kinh doanh cũng rất khả quan và đã có những bước pháttriển nhanh, bền vững, an toàn mang lại hiệu quả cao.
Hiện nay, PGD Nguyễn Thị Định cùng với 25 nhân viên của mình đang nỗlực đem đến cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất, góp phần củng cố
và khẳng định cho phương châm hoạt động của ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Châu “ ACB – Ngân hàng của mọi nhà”
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của PGD Nguyễn Thị Định
Vì quy mô còn nhỏ nên cơ cấu tổ chức của PGD Nguyễn Thị Định khá đơn giản với 3 bộ phận chủ yếu là bộ phận giao dịch và ngân quỹ, bộ phận hành chính
và bộ phận kinh doanh Sơ đồ sau sẽ thể hiện rõ cơ cấu tổ chức các phòng ban của phòng giao dịch Nguyễn Thị Định:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PGD Nguyễn Thị Định
Giám đốc
BP Hành chính BP Kinh doanh
KSV giao dịch
Trưởng BP giao dịch và ngân
quỹ
PFC - 01
PFC - 02 RA
KSV tín dụng
CSR vận hành(CSR – VH)
Kiểm ngân
Thủ quỹ Teller
Trang 26(Nguồn: Bộ phận hành chính PGD Nguyễn Thị Định )
Giám đốc sẽ trực tiếp điều hành mọi hoạt động của phòng giao dịch và các
bộ phận dưới quyền tham gia giúp giám đốc việc quản lí và vận hành kinh doanhtheo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao
Bộ phận hành chính giúp cho giám đốc trong việc điều động, khen thưởng,
kỷ luật tạm thời Quản lí xây dựng mua sắm cơ bản, mua sắm tài sản, thực hiện hợpđồng về điện, nước, điện thoại
Bộ phận giao dịch và ngân quỹ quản lí toàn bộ các tài khoản của khách hàng
và các tài khoản nội bộ trong ngoài bảng kế toán : mở tài khoản tiền gửi, thanhtoán Công việc chủ yếu của bộ phận ngân quỹ là thu – chi tiền, quản lý kho tiền
và quỹ, tài sản thế chấp và các chứng từ có giá
Bộ phận kinh doanh tập trung những hoạt động chính của ngân hàng, quyếtđịnh phần lớn kết quả kinh doanh của ngân hàng Nhiệm vụ chủ yếu là cho vay đốivới các thành phần kinh tế theo quy định, theo dõi các hợp đồng tín dụng
Về trình độ chuyên môn : 85% số người có trình độ đại học, số còn lại là caođẳng và trung cấp
2.1.3 Kết quả hoạt động và những thành tựu đạt đước của PGD Nguyễn Thị Định giai đoạn 2010 – 2012
Hoạt động kinh doanh
- Nhận tiền gửi bằng VND, ngoại tệ, vàng;
- Cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và KHCN;
- Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chuyển tiền nhanh Western Union;
- Thu đổi ngoại tệ;
- Các dịch vụ thẻ quốc tế và thẻ nội địa (ACB Card);
- Các dịch vụ ngân hàng khác
Ngoài ra, PGD Nguyễn Thị Định còn được kết nối trực tuyến với Hội sở vàtất cả các chi nhánh trong hệ thống Ngân hàng Á Châu Khách hàng của PGDNguyễn Thị Định có thể gửi tiền và rút tiền ở bất cứ nơi nào trong toàn hệ thống