1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường

68 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng No&PTNT Huyện Xuân Trường là một Chi Nhánh của ngân hàng No&PTNT tỉnh Nam Định, là mét trong những chi nhánh quan trọng trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp, vấn đề tăng trưởng bền vững đã

và đang được đặt ra hàng đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, đặc biệt là trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Với tỉ lệ chiếm 80-85% trên tổng thu nhập cho thấy các sản phẩm tín dụng có vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh, có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh doanh khác của NHNo&PTNT Huyện Xuân Trường

Với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và mối tương quan của hoạt động này với các hoạt động kinh doanh khác tại NHNo&PTNT huyện Xuân Trường, việc nghiên cứu đo lường và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công cuộc xây dựng phát triÓn bền vững của NHNo&PTNT huyện Xuân Trường

Nhận thức được tầm quan trọng trên của vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Giải

pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại

NHNo&PTNT huyện Xuân Trường” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp

CHƯƠNG 1 :NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DÔNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÕNG NGỪA, HẠN CHẾ RỦI RO

TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

Trang 2

CHƯƠNG 1

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT

ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1.Khái niệm NHTM

Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế

Theo luật Mỹ: NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch

vụ thanh toán

Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan như nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cung cấp các dịch vụ thanh toán

1.1.2 Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

 Tiền gửi của tổ chức kinh tế

a) Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng khách hàng có thể rót ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu cầu này

Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và hưởng các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng cao và nguồn vốn này có tính ổn định tương đối cao vì bao giờ các tổ chức kinh tế cũng duy trì Ýt nhất ở một số dư nhất định Đối với nguồn vốn này ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp nhưng chi phí phi lãi rất cao Đó là chi phí mua

và vận hành ATM, chi phí phục vụ

Trang 3

b) Tiền gửi có kỳ hạn : là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng mà

có sự thoả thuận về thời hạn trong đó khách hàng không được rút trước hạn

Đây là nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu và ngân hàng phải trả lãi cao hơn hơn tiền gửi không kỳ hạn Đây là nguồn vốn có tính ổn định rất cao nhưng thường có thời hạn ngắn vì đây là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng

 Tiền gửi của cá nhân và hộ gia đình

a) Tiền gửi không kỳ hạn

Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn là chủ yếu và hưởng các dịch vụ của ngân hàng Đối với nguồn vốn này chi phí trả lãi ngân hàng bỏ ra không đáng kể nhưng chi phí trả lãi rất cao Ở các nước phát triển thì tỷ trọng nguồn vốn này rất cao nhưng các nước đang phát triển thì tỷ trọng này lại rất thấp do người dân chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ của ngân hàng Nguồn vốn từ tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân, hộ gia đình có tính ổn thấp do nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không ổn định, khi cần khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào do đó ngân hàng phải chuẩn bị sẵn một khoản tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng

b) Tiền gửi có kỳ hạn

Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay Nguồn vốn này có tính ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả lãi rất cao cho nguồn vốn này

 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá

Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu

tố không thể thiếu được Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động

Trang 4

đến lãi suất cho vay Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn luôn tìm các biện pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của mình Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới

có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng đã ra đời Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6 12 tháng Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm

Việc phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống

 Huy động vốn qua đi vay

a) Vay TCTD khác

Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể vay TCTD khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng Chi phí của nguồn vốn này thường cao và thời gian sử dụng thường ngắn Các ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức: vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn

Trang 5

1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

a/ Hoạt động cho vay : Hướng cơ bản trong sử dụng và khai thác các

nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là cho vay Hoạt động cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách như : Mục đích, thời hạn, hình thức đảm bảo, phương pháp hoàn trả và nguồn gốc khách hàng

* Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì khoản mục tín dụng được chia thành :

+ Cho vay có bảo đảm : là hoạt động quan trọng của ngân hàng Cho vay có bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể nào

đó Vật thế chấp có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như : Bất động sản, biên nhận ký gửi hàng hoá, máy móc thiết bị, cổ phiếu Yêu cầu cơ bản của những vật thế chấp là có thể bán được Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho vay phải được đảm bảo là nhằm tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro, mất mát trong trường hợp người vay không muốn hoặc không thể trả nợ khi đến hẹn

Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản vay vì một trong những

lý do chính là sự yếu kém về mặt tài chính của người vay sự yếu kém này có thể được biểu hiện thông qua một vài yếu tố bao gồm nợ nần chồng chất, quản lý yếu kém và lợi nhuận thấp Người vay trong điều kiện tài chính như vậy có thể tạo uy tín bằng việc thế chấp các tài sản Cho vay có bảo đảm cũng tạo tâm lý yên tâm cho ngân hàng Khi người vay đem cầm cố các tài sản mang quyền sở hữu của mình thì người vay sẽ có ý thức hoàn trả nợ Kỳ hạn của mỗi khoản vay cũng ảnh hưởng đến việc khoản vay đó có cần được bảo đảm hay không Khi kỳ hạn cho vay dài, rủi ro trong việc không hoàn trả tăng lên thì các khoản cho vay càng cần có sự bảo đảm

Khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có người bảo đảm trả thay thì khi đến hạn tài sản cầm cố, thế chấp có thể là động sản và cũng có thể

là bất động sản

+ Cho vay không bảo đảm : Khác với cho vay bảo đảm, cho vay không bảo đảm được dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của người vay lợi tức có thể được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây Trong hoạt động ngân hàng một số khoản vay lớn nhất được thực hiện dựa trên một cơ sở không bảo đảm Một số công ty được các ngân hàng xem là người vay chủ

Trang 6

yếu, trong nhiều trường hợp họ được hưởng lãi suất ưu đãi và không cần bảo đảm Những công ty Êy có danh tiếng trên thị trường, có cách quản lý hiệu quả, có các sản phẩm và các dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận

ổn định và với một tình hình tài chính vững mạnh Họ sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính của mình để ngân hàng nắm rõ tình hình tài chính và sự tiến bộ của họ để ngân hàng cung cấp các khoản cho vay không đảm bảo

Các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất được vay không cần bảo đảm, nhiều tác nhân cũng được hưởng đặc quyền Êy Những người

có nhà riêng, có công ăn việc làm ổn định, hoạt động trong các công sở

* Căn cứ theo các phương pháp hoàn trả thì khoản mục tín dụng được phân chia thành :

+ Các khoản cho vay hoàn trả một lần :

Những khoản cho vay hoàn trả một lần thường là những khoản cho vay thẳng, nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối cùng Những khoản lãi có thể được trả vào những thời điểm khác nhau hoặc trả khi đáo hạn Đối với khoản cho vay hoàn trả một lần, việc hoàn trả khi đáo hạn trở thành một gánh nặng đối với khách hàng Những khoản cho vay hoàn trả một lần thường là những khoản cho vay ngắn hạn

+Các khoản cho vay hoàn trả nhiều lần:

Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi việc hoàn trả theo những thời điểm nhất định

Cho vay hoàn trả nhiều lần thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt

kỳ hạn thực hiện hợp đồng Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành một gánh nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp toàn bộ khoản vay được trả một lần Đối với nhiều người có khoản cho vay hoàn trả nhiều lần ví dụ như các khoản trả góp đóng một vai trò như một phương tiện tích luỹ Nó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn

* Căn cứ theo kỳ hạn thì khoản mục tín dụng được phân chia thành : + Cho vay ngắn hạn :

Các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn 1 năm hoặc Ýt hơn , cho vay ngắn hạn được thực hiện trong một thời gian nhất định dưới 1 năm hoặc trên

cơ sở theo yêu cầu Cho vay theo yêu cầu là khoản vay không có kỳ hạn nhất

Trang 7

định và phải được trả khi khách hàng có yêu cầu vào bất cứ lúc nào Cho vay theo yêu cầu của người vay ở vào một vị thế rất linh hoạt và có thể trả nợ trong một thời gian rất ngắn

Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ mang tính thời vụ về vốn luôn chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất kinh doanh

+Cho vay trung và dài hạn :

Việc quy định về thời gian cho các khoản vay trung và dài hạn theo những quy định riêng của từng quốc gia Theo quy định của nước ta , những khoản vốn cho vay từ 1 năm đến 5 năm được coi là trung hạn, những khoản vốn cho vay từ 5 năm trở lên được coi là dài hạn Những khoản cho vay này thường có giá trị lớn và người vay thưòng dùng để đầu tư, mở rộng sản xuất,nâng cấp tài sản cố định

Vốn trung hạn và dài hạn là một nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh

sự tăng trưởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển

b/ Hoạt động đầu tƣ :

Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp Ngân hàng Thương mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho Ngân hàng Thương mại Ngân hàng Thương mại có thể đầu tư vốn mua chứng khoán ngắn hạn của chính phủ Những chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho Ngân hàng Thương mại , vừa góp phần vào việc cân bẳng thu chi ngân sách thường xuyên ; đồng thời góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân

Ngân hàng Thương mại còn được phép đầu tư vốn để mua cổ phiếu và trái phiếu của các doanh nghiệp , qua đây những Ngân hàng thương mại lớn tham gia vào việc thành lập quản lý các doanh nghiệp Tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất định , không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay

1.1.2.3 Hoạt động trung gian

NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư,tức chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi có nhu cầu

Trang 8

sử dụng.Với chức năng này NHTM làm cầu nối giữa cá nhân và tổ chức có thu nhập lớn hơn chi dùng với những cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt trong chi tiêu, hay thu nhập không bù đắp nổi nhu cầu chi tiêu nên họ cần bổ xung vốn

Ngoài trung gian tài chính,NHTM còn là trung gian thanh toán.Ngân hàng thay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và ngoài nước.Để thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm, ngân hàng dùng nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như:séc chuyển tiền, uỷ nhiệm chi, bù trừ qua NHNN hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu v v bằng các biện pháp kỹ thuật như:thư, điện tín, hệ thống máy tính điện

tử v v

1.1.3 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế

Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế ngày càng quan trọng nó được thể hiện qua các vai trò sau :

Thứ nhất : Ngân hàng thương mại là nơi tập trung vốn tạm thời nhận

rồi trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển tiền thành tư bản để đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường hiệu quả hoạt động của tiền vốn Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một cách tạm thời Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất Trong khi đó những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Chính vì vậy Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng

là cầu nối giữa cung và cầu về vốn Ngân hàng là một điạ chỉ tốt nhất mà những người dư thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả nhất

và ngược lại cũng là một nơi sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các

cá nhân và doanh nghiệp

Thứ hai : Hoạt động của các Ngân hàng thương mại góp phần tăng

cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Ngân hàng thương mại với địa vị là một trung gian tài chính thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cung và

Trang 9

cầu về vốn trên thị trường tiền tệ đã góp phần đẩy nhanh hoạt động của nền kinh tế, đem lại thuận lợi cho hoạt động của các cá nhân và tổ chức Những cá nhân và tổ chức đã giảm được các khoản chi phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, và ngoài ra có thể vân dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình Việc vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu và có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi và trả vốn cho ngân hàng Việc lập phương án sản xuất tối ưu do doanh nghiệp lập ra phải qua sự kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của ngân hàng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể sảy ra

Ngược lại những cá nhân và tổ chức dư thừa về vốn có thể yên tâm đem gửi tiền của mình vào ngân hàng vì ngân hàng là một địa chỉ có thể bảo quản tiền vốn một cách an toàn và hiệu quả tốt nhất Khách hàng có thể yên tâm về

sự an toàn và khả năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình bất cức lúc nào muốn Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách thấp hơn so với việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực như : mua cổ phiếu, đầu tư vào kinh doanh nhưng việc gửi tiền vào ngân hàng là có hệ số an toàn cao nhất Thêm vào đó những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng như : chuyển tiền, thanh toán hộ, các dịch vụ tư vấn sẽ tạo thêm thuận tiện cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình

Tất cả những hoạt động của ngân hàng là cơ sở giúp cho việc tăng cường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung

Thứ ba : Ngân hàng thương mại thông qua những hoạt động của mình

góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như : ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi xuất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối, ổn định và tăng trưởng kinh tế Với các công cụ mà Ngân hàng trung ương dùng để thực thi chính sách tiền tệ như : Chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng trung ương đối với Ngân hàng thương mại: lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị trường tự do Thì các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia Các Ngân hàng thương mại có thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường mở qua đó góp phần chống lạm phát

và ổn định sức mua của đồng nội tệ

Trang 10

Thứ tƣ : Ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thức hiện

việc phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh

tế đồng đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia Các vùng kinh tế khác nhau thì có sự phát triển khác nhau Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên Do đó vấn đề đặt ra

là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động điều chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này

Thứ năm : Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nước

và thế giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới Với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động của các Ngân hàng thương mại được mở rộng và thúc đẩy cho việc

mở rộng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước Với hoạt động rộng khắp của mình, các ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh

Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà nền kinh tế trong nước có

sự thâm nhập vào thị trường quốc tế và tăng cường khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế giới

1.2.TÍN DỤNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.2.1 TÍN DÔNG

1.2.1.1 Khái niệm

Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay

là ngân hàng và các dịnh chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Trang 11

Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều, và ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay

Nghiệp vô kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh, trong đó có chi phí bù đăp rủi ro tín dụng, và các chi phí khác

1.2.1.2 Phân loại tín dụng

Phân loại theo thời gian (thời hạn cho vay)

- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp

và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân

- Tín dụng trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ một đến năm năm

và thường được sử dụng cho vay để mua sắm tài sản cố định, cải tiếnvaf đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có thời gian thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên năm năm và thường được sử dụng để cấp vốn cho doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động xây dựng

cơ bản, đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng quy mô sản xuất

Phân loại theo mục đích sử dụng vốn

- Cho vay kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng (mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng…) phục

vụ cho nhu cầu sinh hoạt

Phân loại căn cứ vào tài sản đảm bảo

- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức cho vay không cần có tài sản đảm bảo, hoạt động cấp tín dụng chỉ dựa trên uy tín của khách hàng

Trang 12

- Tớn dụng có đảm bảo: Là hình thức cho vay mà khách hàng muốn nhận được khoản tín dụng của ngân hàng cần phải có tỡa sản đảm bảo hoặc cần có

sự bảo lãnh của bên thứ 3

Phân loại theo hình thức

- Cho vay: Là việc ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tín dụng, đồng thời kèm theo một bản cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định

- Chiết khấu giấy tờ cú giỏ(cho vay thế vốn): Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của giấy tờ có gia trừ đi phần thu nhập mà ngân hàng được hưởng

- Cho thuê tài chinch: Là một hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn thông qua việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản và cho khách hàng thuê lại theo những thừa thuận nhất định, sau đó khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi cho khách hàng

- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đó

1.2.1.3 Vai trò của tín dụng

- Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những người cần vốn để mở rộng kinh doanh, tiờu dựng… Trờn cơ sở huy động nguồn vốn trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến hành cho vay với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh

- Tớn dụng ngõn hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào phát triển, ngân hàng sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực đó

Trang 13

Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận được vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó phát triển

- Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên tục và phát triển một cách rất nhanh chúng, cỏc doanh nghiệp luôn luôn đứng trước yêu cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại Để thực hiện được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc, kỹ thuật thay nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là nơi cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp

- Tớn dụng ngõn hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nước tăng cường quản lý vĩ mô nền kinh tế

- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình

mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và phát triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên thế giới trong đó có nước ta

1.2.2 RỦI RO TÍN DỤNG

1.2.2.1 KHÁI NIỆM RỦI RO TÍN DỤNG

Nước ta, trong công cuộc phát triển kinh tế, vấn đề về vốn trở thành một vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp bách Thị trường ngân hàng kinh doanh là thị trường có nhiều rủi ro nhất Rủi ro có thể xảy ra trong bất kỳ một nghiệp

vụ nào với những mức độ khác nhau Tuy nhiên, việc tìm ra một phương pháp thực hiện các nghiệp vụ có thể hoàn toàn loại trừ được rủi ro và có thể đảm bảo được một kết quả tài chính nhất định là một việc không thể thực hiện được Chúng ta chỉ có thể lường trước và hạ thấp rủi ro đến mức thấp nhất

Trang 14

Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng dễ xảy ra rủi ro nhất

vì hoạt động tín dụng là hoạt động thường xuyên và chủ yếu nhất của ngân hàng

Sau khi nghiên cứu hoạt động của NHTM và khái niệm về tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chúng ta có thể đi đến một khái niệm

về rủi ro tín dụng ngân hàng như sau:

"Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện các biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu đến hoạt động như mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập của ngân hàng"

Những biến cố trong rủi ro tín dụng bao gồm: Cho vay không thu hồi được nợ, thiếu vốn để chi trả cho khách hàng gửi tiền (Mọi hoạt động tín dụng đều chứa đựng những rủi ro không loại trừ bất kỳ một loại hình tín dụng nào đồng thời nó có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc đặc biệt trong tín dụng thương mại Hoạt động tín dụng cũng là một loại hình kinh doanh, lúc nào cũng tiềm Èn những rủi ro) Tuy nhiên, rủi ro tín dụng ngân hàng có những nét riêng biệt với những rủi ro tín dụng thương mại Rủi ro tín dụng thương mại được giới hạn trong phạm vi hàng hoá còn tín dụng ngân hàng là tín dụng bằng tiền

1.2.2.2 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng

1.2.2.2.1 Nhóm dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng

- Nhúm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng

+ Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục

+ Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng

Trang 15

+ Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có sự giải thích rõ ràng Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý

do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn

+ Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn, thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn

+ Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công

nợ chậm hơn dự kiến Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá dự kiến Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuờ, bỏn hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại

+ Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng Có dấu hiệu sử dụng nhiều khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện

- Nhúm các dấu hiệu liên quan đến tình hình hoạt động của khách hàng + Cũng như nhúm cỏc dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với khách hàng, nhúm cỏc dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín dụng nhưng với tốc độ chậm hơn Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự

Trang 16

quản lý chặt chẽ, sâu sắc của cán bộ tín dụng Nó cũng đòi hỏi các giải pháp

và chiến lược xử lý có tính dài hạn hơn Biểu hiện cụ thể như sau:

 Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức

dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng

 Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức

độ hoạt động của khách hàng Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng rất hiện đại Thay đổi thường xuyên tổ chức của Ban điều hành Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị, điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý

 Xuất hiện dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng từ bỏ các hợp đồng có giá trị vừa và nhỏ nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao

dể tìm kiếm các hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có tên tuổi dù lợi nhuận thu về có khả năng thấp hơn, sẵn sàng cắt bỏ lợi nhuận để đạt được các hợp đồng lớn, theo đuổi chiến lược mượn thương hiệu

 Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: mải mê theo đuổi một sản phẩm không thích hợp về mặt thời gian và năng lực hiện tại mà không chú

ý đến các yếu tố khác

 Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến việc đầu tư dự án không có hiệu quả Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi chưa hội đủ các điều kiện chín muồi

 Những thay đổi từ chính sách của Nhà Nước, đặc biệt là tác động của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu, thay đổi các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ giá, lãi suất, thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng

1.2.2.2.2 Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng

- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví dụ : đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực

tế, đánh giá khách hàng chỉ thông qua thông tin tĩnh do khách hàng cung cấp

Trang 17

mà thiếu đi các thông tin động và các thông tin nhạy cảm từ cỏc kờnh thông tin khác, bỏ qua các nghi ngờ được phản ánh qua cấu trúc và cơ cấu của số liệu khi phân tích các dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che dấu việc đảo nợ của khách hàng thông qua việc cấp đều đặn, thường xuyên và liên tục các khoản vay mới hay che dấu nợ quá hạn thông qua việc điều chỉnh kỳ hạn và gia hạn

nợ tràn lan, vô lối, thiếu căn cứ xác thực…

- Cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như sát nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ Chi nhánh lên công ty con hạch toán độc lập Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng, không xác định rõ lịch trả đối với từng khoản vay, cố ý thoả hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi ro.Chớnh sỏch tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo để kẽ hở cho khách hàng lợi dụng Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của Ngân hàng Có khuynh

hướng cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao

1.2.2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO TÍN DỤNG

1.2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan

a, Môi trường pháp lí

- Sự kém hiệu quả trong quản lý của cơ quan pháp luật các cấp: Trong những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định liên quan đến hoạt động tín dụng

Trang 18

ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm trễ và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập như thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện về chất lượng Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp với đà phát triển của xã hội Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm được đổi mới Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử

lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn trặn và phòng ngừa rủi ro vi phạm Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập Do vậy mà

có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh cáo, có biện pháp ngăn trặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề sảy ra rồi mới can thiệp

Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động đó quỏ một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nối thông tin với trang Web – CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục trặc, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại TP.HCM Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế

Trang 19

trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu các ngân hàng

cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng

b Các yếu tố thị trường

- Là do sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới (tỷ giá, giá cả, lãi suất ) Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp ( nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia cụng, vốn nhất nhậy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu Ngoài ra, các nghành xuất khẩu cũng gặp không ít khó khăn bởi bị khống chế về hạn nghạch và các doanh nghiệp trong nước còn gặp phải nhiều khó khăn bởi bị khốn chế hạn ngạch và các doanh nghiệp trong nước còn bị kiện bán phá giá (nghành thủy sản) không chr xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước cũng gặp không ít khó khăn khi mà chúng

ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO bởi sự cạnh tranh găy gắt và quy luật đào thải của thị trường

- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế Qỳa trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nhiệt của thị trường Bên cạch đó, bản thân

sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

Trang 20

- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các ngành có khả năng thu được lợi nhuận cao với mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó dẫn tới sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hóa lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia trong khi một số ngành khác lại có điều kiện để phát triển

+ Trình độ của người lãnh đạo, điều hành kém hiệu quả, không uy tín trong giới kinh doanh, thiếu sáng suốt và chủ động trong qua trình ra quyết định

Trang 21

trong sản xuất kinh doanh, khi gặp tình huống khó khăn không xoay sở được dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ phá sản

+ Quản lí vốn không hợp lí dẫn đến khả năng thanh toán của những thời kì thấp gây nên không trả được do vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn do

đó đến hạn không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng

+ Gặp khó khăn trên thị trường cung cấp nguyên vật liệu hoặc thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ làm giá thành tăng cao không thu được lợi nhuận dự kiến hay bị kéo dài thời gian do đó khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng

đủ và đúng hạn

+ Do tình trạng tham nhòng, gian lận diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh làm thiệt hại lớn đến chất lượng hoạt động doanh nghiệp

+ Rủi ro đạo đức, khách hàng cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng qua nhiều hình thức, thực hiện công ty ma, hoá đơn khống …

Tóm lại nguyên nhân rủi ro tín dụng chính từ phía khách hàng là việc làm ăn, kinh danh kém hiệu quả, muốn duy trì hoạt lại tiếp tục vay vốn của ngân hàng, chủ yếu trông chờ vào nguồn vốn của ngân hàng do vốn tự có của doanh nghiệp là rất nhỏ

b Từ phía ngân hàng

Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng là rất đáng kể và quan trọng Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt,cố tình làm sai…mặt khác nhân viên ngân hàng phải tiếp cận với nhiều nghành nghề, nhiều vùng thậm chí với nhiều quốc gia do đó để cho vay tốt họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi trường mà khách sống, phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến người vay… hơn nữa họ tiếp xúc với tiền bạc thương xuyên và khối lượng lớn

dễ bị đồng tiền cám dỗ Như vậy để hạn chế được rủi ro tín dụng ở mức tối đa cầm phải đào tạo và tự đào tạo cán bộ nhân viên tín dụng một cách liên tục và toàn diện cả về học vấn và đạo đức

Trang 22

Ngoài ra chính sách cho vay của ngân hàng thiếu rõ dàng và không phù hợp của bộ máy quản lí như chế độ tín dụng, các quy định về thế chÊp…Trong qua trình cho vay thiếu sự giám sát hoạt động kinh doanh, quá tin tưởng vào những khách hàng quen rất dễ tạo nên rủi ro tín dụng

Có thể thấy nguyên nhân rủi ro tín dụng xuất phát từ ngân hàng là nguyên nhân xuất phát đầu tiên dẫn đến một số nguyên nhân khác của rủi ro tín dụng,

do đó cần phải chú trọng ngay từ khâu xét duyệt cho vay

1.2.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng

Cũng như mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể

bị mất vốn Nhưng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong kinh doanh ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà cũn gõy tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội Cụ thể:

- Rủi ro xảy ra tạo cho ngân hàng những tổn thất về mặt tài chính

Bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng gây ra những tổn thất về tài chính cho ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng Nếu thu không đủ chi ngân hàng sẽ bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn ngân hàng có thể bị phá sản

Rủi ro và tổn thất tài chính là điều khó tránh khỏi trong việc tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao thì có thể xảy ra rủi ro lớn Điều đó đặt ra cho các ngân hàng là phải cân nhắc lựa chọn phương

án kinh doanh nhằm đạt được cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận với rủi ro và tổn thất

- Rủi ro xảy ra làm giảm uy tín của ngân hàng

Những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của công chúng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính Các thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn có ảnh hưởng bất lợi đến niềm tin của công chúng Khi dân chúng thiếu tin tưởng vào khả năng kinh doanh của ngân hàng, hoặc nghi ngờ ngân hàng mất khả năng thanh toán, họ sẽ đồng loại rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng, dẫn đến việc đổ bể tài chính hoặc phá sản của ngân hàng

Trang 23

- Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũn gõy tác động xấu đến nền kinh

tế - xã hội

Các thua lỗ của ngân hàng nếu nghiêm trọng có thể làm cổ đông mất vốn đầu tư, những người gửi tiền mất đi nhữn khoản tiết kiệm mà suất đời mới có được Tình trạng tài chính xấu của một ngõ hàng còn tạo ra sự nghi ngờ của những người gửi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của toàn

hệ thống ngân hàng, gây tác động xấu đến tình hình tài chính của các ngân hàng khác, kéo theo phản ứng dây truyền và phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính

1.2.2.5 CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ

Nợ quá hạn Tổng dư nợ Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu Để có thể đánh giá được một cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải quyết các khoản nợ quá hạn Bởi vì, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải quyết nợ quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ sất thấp Và ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi

ro tín dụng

- Chỉ tiêu: Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn

Nợ quá hạn khó đòi

Tổng nợ qua hạn

Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, được xác định

là không có khả năng thu hồi Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn thấp, nguy cơ mất vồn cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp

- Tỷ lệ nợ quá hạn ròng

Trang 24

- Khả năng bui đắp rủi ro

Khả năng bù đắp rủi ro (%) = Dự phòng rủi ro x 100

Nợ xấu

Dự phòng rủi ro là số tiền ngân hàng đó trớch lập dựa trên kết quả phân loại nợ Mục đích là để hạn chế tổn thất cho ngân hàng khi có rủi ro xảy ra Chỉ tiêu này cho thấy khả năng bù đắp tổn thất của ngân hàng nếu khách hàng không trả được nợ, tỷ lệ này càng cao thì khả năng bù đắp rủi ro của ngân hàng càng tốt Tỷ lệ này tốt nhất với ngân hàng là lớn hơn hoặc bằng 1

1.2.3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.2.3.1 Xây dựng chiến lƣợc quản trị rủi ro

Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Trong điều kiện nền kinh tế thị trường bién động phức tạp, đòi hỏi mỗi ngân hàng cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bời vì

đó là “kim chỉ nang” cho hoạt động tín dụng Một chiến lược rõ ràng, chính

Trang 25

xác trong dự báo đảm bảo cho bản thân các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và xử lý những rủi ro tín dụng có thể xảy ra Nó góp phần định hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao Nhất là trong điệu kiện hội nhập của nền kinh tế với khu vực và thế giới Chiến lược này có thời hạn trong thời gian dài, nó quyết định đến sự tồn tại của cả ngân hàng, bởi vì hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ lớn trong hoạt động ngân hàng

1.2.3.2 Xây dựng chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản: Lợi nhuận, an toàn và lành mạnh Một chính sách tín dụng hợp lý phải được xây dựng dưa trên những căn cứ sau:

- Nguồn vón của ngân hàng, bao gồm cả vốn huy động, và vốn chủ sở hữu Dựa vào quy mô nguồn vốn, ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư , loại hình cho vay phù hợp

- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, điều này ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng của thị trường Do đó ngân hàng cần phải có sự phù hợp thống nhẩt đối với các điểu chỉnh vĩ mô của Chính phủ

- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động của ngân hàng trên những khu vực thị trường nhất định Chính những nhân tố này sẽ phát huy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

- Căn cứ vào những phân tích, dự báo rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Đây là những phân tích mang tính chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ngoài nước, điển hình lã những phân tích dự báo về tình hình tài chính tiền tề như lãi suất, lạm phát, ngoại tệ…

1.2.3.3 Thực hiện tốt công tác phân tích tín dụng và xác định mức độ rủi

ro tín dụng

Trang 26

Thực hiên phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đánh giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách hàng vay

Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trong và sau khi cho vay Đó là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản vay nhằm đảm bảo tính chính xác, tính kinh tế của đồng vốn tín dụng đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả Quá trình này chỉ chấm dứt khi khoản vay được hoàn trả đúng thời han và đầy đủ Công tác này có vai trò quyết định trong việc khoản vay có sinh lòi hay không, qua dố đảm bảo chu kỳ đồng vốn của ngân hàng từ huy động đến cho vay đến thu nợ, hoặc có đảm bảo được mục đích kinh doanh của ngân hàng hay không Không chỉ có tác dụng trong công tác cấp vốn của ngân hàng mà còn góp phần vào công tác quảng bá thương hiệu của bản thân ngân hàng, được thể hiện qua thủ tục cho vay không rườm rà, thái độ phục vụ tận tình, trách nhiệm cho dù có vay được vốn hay không

1.2.3.4 Thực hiện đầy đủ khâu đảm bảo tín dụng

Các yêu cầu TSĐB của ngân hàng với mục đich nhằm hạn chế rủi ro trong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng vay vốn về việc thanh toán gốc và lãi khi đến hạn Tuy nhiên việc thực hiên hình thức bảo đảm tiền vay nào là phụ thuộc vào tình hình của khách hàng, và của bản thân ngân hàng cho vay

Để hạn chế rủi ro tín dụng thì khâu đảm bảo tín dụng cần phải lưu ý những vấn đề sau:

- Đối với cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản

+ Cần đánh giá chính xác tính sở hữu tài sản, có trong tình trạng tranh chấp hay không?

+ Đánh giá tính thị trường của tài sản hiện tại và tương lai, xác định rõ mức độ hao mòn của tài sản trong thời hạn đảm bảo

+ Trình tự thủ tục tiến hành phải phù hợp với quy định của pháp luật và

của ngành

- Đối với cho vay có bảo lãnh

Trang 27

+ Đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính và ý thức sẵn sàng thanh toán của ngưòi bảo lãnh

+ Đảm bảo quy đinh về thủ tục bảo lãnh

1.2.3.5 Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng

Cán bộ tín dụng phải theo sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng có đúng mục đích không và để kiểm tra việc bảo quản vật tư hàng hóa hình thành

từ vốn vay, tình hình TSĐB, tiến độ thực hiện dự án… có thực hiện đúng theo hợp đồng hay không

Hơn nữa, mục đích của việc giám sát tín dụng là để phát hiện ra những rủi ro tiềm Èn, giúp cho ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản

nợ có vấn đề, qua đó có thể hạn chế được những rủi ro không cần thiết

1.2.3.6 Xử lý hiệu quả nợ quá hạn

Để có thể xử lý được nợ quá hạn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi

ro có thể xảy ra đối với ngân hàng, bản thân các ngân hàng cần phải ý thức được rằng những khoản nợ quá hạn là những khoản nợ vay có vấn đề, cho nên phải có quyết định kịp thời, hoặc là tiếp tục gia hạn nợ nếu đánh giá người vay vẫn còn khả năng trả nợ Nhưng như thế này khả năng rủi ro tín dụng vẫn cồn rất cao, hoặc là thanh lý, thu hồi khoản nợ trước hạn Đây là những quyết định rất quan trọng, nó cho thấy ngân hàng có thể bị rủi ro hay không

Việc tiến hành xử lý hay không thì phải tiến hành qua những khâu sau: + Phải có hành động ngăn ngừa các khoản vay có khả năng quá hạn như lập kế hoạch gặp khách hàng, gặp gỡ khách hàng, lập phương án ngăn ngừa rủi ro và kiểm tra các phương án khắc phục

+ Nếu ngăn ngừa không thành công ngân hàng thực hiện các biện pháp thông qua bộ phận truy hồi tài sản với phương án cụ thể hoặc là khai thác, hoặc là thanh lý

1.2.3.7 Phân tán rủi ro tín dụng

Trang 28

Đây là động tác mà mỗi ngân hàng bắt buộc phải duy trì trong suốt cả quá trình quản lý tín dụng Yêu cầu các ngân hàng phải tôn trọng các giới hạn trong cho vay ( 15% VTC), dựa trên những đánh giá về TSĐB ( 70% giá trị TSĐB), thực hiện đồng bộ với chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt động kinh doanh và yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm cho các tài sản hình thành từ vốn vay và TSĐB Không nên tập trung cho vay quá nhiều vào một loại đối tượng, một ngành, một địa bàn, cần phải đa dạng hoá danh mục cho vay nhằm mục đích đa dạng hoá rủi ro, tăng cường khả năng xử lý linh hoạt các tình huống có thể xảy ra Đồng thời cũng cần phải sử dụng nghiệp vụ cho vay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác

1.2.3.8 Sử dụng các công cụ ngoại bảng

Đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của ngân hàng, nó không những có thể hạn chế được rủi ro mà còn có thể mang lại được lợi nhuận cho ngân hàng Đòi hỏi sử dụng côn cụ thị trường phái sinh phải có hệ thống, bao gồm các công cụ quyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi

Trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh, mỗi ngân hàng cần phải đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh dựa trên những phân tích đánh giá về tình hình biến động của thị trường tiền tệ Đây là biện pháp quản lý cấp cao trong hoạt động ngân hàng Hiện nay xu hướng giải quyết rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng bằng các công cụ phái sinh đang ngày càng phổ biến, và rất hiệu quả Nhưng nó cũng có tính hai mặt, nếu

dự đoân phân tích sai về thị trường sẽ dẫn tới rủi ro cao hơn vừa cả rủi ro về tín dụng mà còn rủi ro trong khả năng thanh toán các khoản lỗ do kinh doanh các công cụ này gây ra

Tóm lại, trên đây là những khái quát về rủi ro tín dụng Có thể nói rằng tín dụng là một hoạt động rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhưng lại chứa đựng rất nhiều rủi ro, nó không chi gây thiệt hại, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội Xuất phát từ những phân tích, đánh giá về bản

Trang 29

chất, dấu hiệu, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, các ngân hàng sẽ lựa chọn các hiải pháp thích hợp để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục thành công rủi ro

Để có thể đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm hạn chế rủi

ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Xuân Trường, thì chúng ta cần phải hiểu rõ hơn về thực trang rủi ro tín dụng tại Chi nhánh

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

NHNO&PTNT HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

2.1.1 Khái quát về chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân Trường

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Nam Định là

một trong NHTM quốc doanh lớn của cả Nước NH có mạng lưới tổ chức rộng lớn bao gồm trụ sở chính đặt tại Thành phố Nam Định , cùng với 9 chi nhánh ngân hàng phân bổ rộng khắp trong phạm vi cả Tỉnh Trong đó, Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân Trường là một trong những chi nhánh hoạt động có hiệu quả cao, có được vị trí quan trọng trong toàn hệ thống NHNo & PTNT Tỉnh Nam Định

2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân Trường

Trang 30

Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân Trường là một đơn vị thành viên của

NHNo & PTNT Tỉnh Nam Định , tiền thân là Chi nhánh NHNo & PTNT

huyện Xuân Thuỷ thuộc NHNo & PTNT Tỉnh Nam Định, trực thuộc Bộ tài

chính Cùng với sự chuyển mình của đất nước, NHNo & PTNT huyện Xuân

Trường cũng trải qua những bước thăng trầm Năm1997 do thay đổi của

UBND Tỉnh tách huyện Xuân Thuỷ thành hai huyện do đó thành lập Ngân

hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Xuân Trường 2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân

Trường

Trong thời gian qua với sự chỉ đạo sát sao của NHNo & PTNT Tỉnh

Nam Định , ban lãnh đạo Chi nhánh NHNo & PTNT Huyện luôn đổi mới cơ

cấu lại tổ chức cho phù hợp với yêu cầu của nền KTTT Từ chỗ chỉ có một

nơi giao dịch đến nay ngoài trụ sở chính khang trang hiện đại đặt tại khu Thị

trấn Xuân Trường, Chi nhánh đã mở thêm 3 phòng giao dịch (Xuân

Kiên,Xuân Đài và Hành Thiện) và có mạng lưới tín dụng và đại lý huy động

vốn được phân bổ rộng khắp trên địa bàn Huyện

Nguồn nhân lực của NH hiện có 60 người được đào tạo ở các trường

ĐH, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước, với tuổi đời bình

quân 30 tuổi, được biên chế ở các phòng ban, NH cấp 3 khu vực

Hiện nay Chi nhánh có Ban Giám đốc gồm có 1 Giám đốc và 2 Phó

Giám đốc được giao trách nhiệm quản lý và điều hành một số phòng ban nhất

định và chịu trách nhiệm trước Giám đốc

Các phòng ban chính của Chi nhánh hiện nay gồm có:

Ngoài số phòng ban trên, Chi nhánh còn có phòng giao dịch đặt tại

các Ngân hàng cấp 3 một số quỹ tiết kiệm khác

Các phòng trên có mối quan hệ chặt chễ với nhau, phối hợp với nhau

để thực hiện tốt các hoạt động của NH Cơ cấu tổ chức của các phòng ban

ngày càng được cải tiến để ngày càng phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ của

một NH đa năng, hiện đại và ngày càng có nhiều sản phẩm mới, đáp ứng

được các nhu cầu của khách hàng trong cơ chế thị trường

Trang 31

Cơ cấu phòng ban của Chi nhánh được sắp xếp theo các nhóm và

được miêu tả qua sơ đồ sau :

Sơ đồ bộ máy tổ chức của NHNo & PTNT huyện Xuân Trường

sự

Tổ kiểm tra kiểm toán nội

bộ

PGD Xuân Kiên

Giám đốc

+ P.Tín dụng + P.Nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp

+ P.Thẩm định

+ P.Hành chính quản trị

+ P.Tín dụng + P.Nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp + P.Thẩm định

+ P.Hành chính quản trị

Tổ

Tổ tín

Tổ Ngân

Tổ Tiếp

Tổ

Kế

Trang 32

2.1.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh của NHNo & PTNT huyện Xuân Trường

* Từ khi thành lập NHNo & PTNT huyện Xuân Trường không hoàn toàn là

một NHTM mà chỉ là một kiểu NH quốc doanh có nhiệm vụ nhận vốn từ Ngân

sách và tiến hành cấp phát vốn cho xây dựng cơ bản cho vay vốn ngắn hạn phục vụ

thi công xây lắp và cho hộ nông dân vay vốn phát triển làm ăn, Chi nhánh NHNo

& PTNT huyện Xuân Trường có nhiệm vụ huy động các nguồn vốn ngắn hạn,

trung hạn và dài hạn từ các thành phần kinh tế, các TCTD, các DN, dân cư bằng

VND để tiến hành các hoạt động cho vay đối với mọi tổ chức, mọi thành phần KT

và dân cư

* Hiện nay NH hoạt động kinh doanh như một Ngân hàng thương mại những

lĩnh vực kinh doanh chính nh-:

- Huy động vốn: Với hoạt động mở TK và nhận tiền gửi tiết kiệm của tất

cả các tổ chức và dân cư trong và ngoài nước

+ Mở TKTG không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng VND, và ngoại tệ

+ Nhận TGTK không kỳ hạn và có kỳ hạn

+ Phát hành các loại chứng chỉ TG, kỳ phiếu và trái phiếu NH

+ Các hình thức huy động vốn khác như: tiếp nhận vốn tài trợ, vốn uỷ thác

đầu tư từ NHNN và các tổ chức Quốc Tế, Chính Phủ của các Nước và các cá

nhân

- Tín dông

+ Cho vay NH bằng VNĐ đối với các tổ chức Kinh tế, các cá nhân và hộ gia

đình thuộc mọi thành phần KT

+ Đối với những dự án có quy mô lớn và thời hạn hoàn vốn dài

+ Bảo lãnh: Thực hiện nghiệp vụ này dưới nhiều hình thức đa dạng và phong

phó

- Thanh toán quốc tế: Thực hiện nghiệp vụ TT duới hình thức:

+ Chuyển tiền điện tử

+ Chuyển tiền kiều hối

-Thực hiện các dịch vụ kinh doanh tiền

Trang 33

- Dịch vụ thanh toán điện tử:

Được thực hiện nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi nhờ hệ thống máy

tính được nối mạng nội bộ

- Dịch vụ tư vấn và quản lý tài chính tiền tệ:

Đại lý NH, dịch vụ bảo hiểm, quản lý tiền vốn và các dự án đầu tư phát triển theo yêu cầu của KH

- Đầu tư:

Với nhiều năm xây dựng và trưởng thành cùng hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam, chi nhánh NHNo & PTNT huyện Xuân Trường đã có bước phát triển trở thành chi nhánh NHTM nhà nước trên địa bàn có qui mô, tổng tài sản, nguồn vốn,

an toàn trong tín dụng và hiệu quả kinh doanh, liên tục trong nhiều năm xếp loại xuất sắc trong toàn hệ thống, được trao tặng nhiều giải thưởng , có hệ thống quản lý chất lượng an toàn cao

2.1.2 Tình hình hoạt động của chi nhánh NHNN&PTNT huyện Xuân Trường

2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là đi vay để cho vay nên công tác huy động vốn

là một nhiệm vụ tiên quyết trong hoạt động kinh doanh cũng như hiệu quả tín dụng của ngân hàng Muốn mở rộng hoạt động tín dụng của mình thì ngân hàng cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn Nó là hoạt động cơ bản đánh giá hiệu quả các chính sách huy động vốn, cơ cấu huy động vốn của mỗi ngân hàng Bất kỳ ngân hàng nào cũng đều rất chú trọng đến hoạt động này

Nhận thức được tầm quan trọng này nên ngay từ khi mới tái lập NHNo&PTNT huyện Xuân Trường đã có nhiều cố gắng trong việc khơi nguồn huy động vốn Ngân hàng thu hút được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, mang lại thu nhập cho họ, đồng thời ổn định mở rộng quy mô tín dụng với các thành phần kinh tế nói chung và các hộ nông dân nói riêng Ngân hàng đã đa dạng hóa nhiều hình thức huy động vốn của mình như: nhận tiền gửi với nhiều thời hạn khác nhau, phát hành kỳ phiếu để thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, các loại tiền gửi thanh toán của khách hàng, linh hoạt điều hành lãi suất trong phạm vi cho

Trang 34

Trong đó:

Nội tệ 213.060 267.491 415.816 54.431 25,55 148.325 55,45 Ngoại tệ 1.374 1.609 1.846 235 17,1 255 15,85

Nguồn số liệu báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Xuân

Trường năm 2009-2011

Trong những năm 2009, 2010,2011 tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, lạm phát tăng cao gây ảnh hưởng tới tâm lý người gửi tiền, dẫn đến ảnh hưởng đến nguồn vốn huy động của của toàn bộ hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, giá vàng liên tục tăng mạnh làm cho khách hàng thích nắm giữ vàng hơn gửi tiền vào ngân hàng điều này gây khó khăn cho việc huy động vốn Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo linh hoạt của ban giám đốc ngân hàng trong Ên định các lãi suất và kỳ hạn phù hợp với tâm lý khách hàng, mở rộng mạng lưới, tăng tiện Ých dịch vụ, đổi mới phương thức thanh toán, phong cách phục vụ với những cố gắng của tập thể CBCNV mà trong những năm vừa qua, nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT huyện Xuân Trường đều tăng trưởng với tỷ lệ khá tốt Qua số liệu 3 năm 2009, 2010,2011 tổng nguồn vốn huy động tăng cả về

Ngày đăng: 30/10/2014, 22:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ  máy tổ chức của NHNo & PTNT huyện Xuân Trường - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Sơ đồ b ộ máy tổ chức của NHNo & PTNT huyện Xuân Trường (Trang 31)
Bảng 1: Tình hình huy động vốn - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 1 Tình hình huy động vốn (Trang 34)
Bảng 2: Tình hình cho vay, thu nợ, dư nợ tại NHNo&PTNT huyện Xuân  Trường - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 2 Tình hình cho vay, thu nợ, dư nợ tại NHNo&PTNT huyện Xuân Trường (Trang 37)
Bảng 3. Kết quả hoạt động thanh toán giai đoạn 2009 - 2011 - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 3. Kết quả hoạt động thanh toán giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 39)
Bảng 5. Kết quả hoạt động tài chính trong giai đoạn 2009 - 2011 - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 5. Kết quả hoạt động tài chính trong giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 41)
Bảng 7:Phân tích nợ quá hạn theo thành phần kinh tế và theo thời hạn  (so với tổng dư nợ) - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 7 Phân tích nợ quá hạn theo thành phần kinh tế và theo thời hạn (so với tổng dư nợ) (Trang 44)
Bảng 8: Phân tích nợ quá hạn theo khả n ng thu hồi - giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại nhno& ptnt huyện xuân trường
Bảng 8 Phân tích nợ quá hạn theo khả n ng thu hồi (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w