Vai trò và sự phát triển của các loại hình bảo hiểm chủ yếu ở Việt Nam, vai trò cho việc an sinh xã hội
Trang 1Đề tài 5: Vai trò và sự phát triển của các loại hình bảo hiểm chủ yếu ở Việt Nam, vai trò cho việc an sinh xã hội và phát triển kinh tế?
A, Mở đầu:
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa đề phòng nhưng con người vẫn luôn luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro trong mọi lĩnh vực Các rủi ro xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân như môi trường, thiên nhiên, xã hội như: bão lụt, hạn hán, bệnh dịch, tai nạn … Tất cả mọi rủi ro đó đều đe dọa đến khả năng tài chính của mỗi cá nhân,những con người không may gặp tai nạn Để ngăn ngừa, khắc phục những rủi ro
đó người ta nghĩ đến việc đoàn kết cộng đồng, liên hợp nhiều người lại để chia sẻ mất mát với những con người kém may mắn đó Như vậy, xét trên diện rộng là cả cộng đồng thì hoạt động này tận dụng được tối đa mọi nguồn lực xã hội và lợi ích
xã hội thu được là rất lớn Do vậy, các công ty bảo hiểm xuất hiện
Ngày nay khi nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ ngày càng phát triển thi người ta còn biết đến bảo hiểm như các tổ chức phi ngân hàng mà trong đó nó thực hiện chức năng như một trung gian tài chính, tức là góp phần giải quyết hiện tượng thiếu thừa vốn diễn ra thường xuyên trong nền kinh tế, đảm bảo cho quá trình tuần hoàn vốn được diễn ra trôi chảy và nhanh chóng Qua vài điều sơ lược trên ta nhận thấy bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với con người, xã hội, nền kinh tế
Để biết cụ thể hơn về bảo hiểm cũng như vai trò và sự phát triển của bảo hiểm ở nước ta, các bạn hãy cùng với chúng tôi tìm hiểu về đề tài: “Vai trò và sự phát triển của các loại hình bảo hiểm chủ yếu ở nước ta Vai trò của các loại hình bảo hiểm cho việc an sinh xã hội và phát triển kinh tế”
B, Nội dung:
I, Giới thiệu chung về bảo hiểm:
1,Sự cần thiết của các dịch vụ bảo hiểm:
Thực tiễn cho thấy, tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là
cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng thế giới (WB) thì mỗi năm, thế giới có hơn 1,2 triệu người chết vì tai nạn giao thông đường bộ,
khoảng 50 triệu người khác bị thương trong các tai nạn đó Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc ở các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á, vẫn luôn thường trực xảy ra,
đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người Đặc biệt trận động đất và sóng thần kinh hoàng xảy
ra ở Nhật Bản vừa qua đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người,nhiều thành phố
bị xoá sổ,gây thiệt hại ước tính khoảng 180 tỷ đô la Ở Việt Nam cũng có rất nhiềunguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người Theo báo cáo sơ
bộ, trong mười một tháng năm 2010, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 12,6 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 10,4 nghìn người và làm bị thương 9,2 nghìn người Thiên tai xảy ra trong năm 2010 đã làm 355 người chết và mất tích; gần 600 người
bị thương; hơn 2,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 579 nghìn ngôi nhà bị
Trang 2sạt lở, tốc mái, ngập nước; 30 nghìn ha lúa và hoa màu bị mất trắng; trên 100 km
đê, kè và gần 1,9 nghìn km đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở và cuốn trôi; hơn 11 nghìn cột điện bị gãy, đổ Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2010 ước tính 11,7 nghìn tỷ đồng Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và pháttriển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm
2, Định nghĩa và bản chất của bảo hiểm:
a, Định nghĩa:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc
độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế…
- Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của
số ít
- Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
- Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người đượcbảo hiểm
- Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
b, Bản chất:
Bản chất của bảo hiểm: Là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên Quy luật số đông (the law of large numbers)
3, Lịch sử phát triển của bảo hiểm:
Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như các mức độ
và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình.Đầu tiên vào thế kỷ thứ V trước công nguyên, người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm
Trang 3Vào thế kỷ XIV, ở Floren Genoa nước Ý đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh.
Về cơ sở pháp lý có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luật đầutiên trong ngành bảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm
1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558 Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa
Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII cùng với sự ra đời của phương thức sản xuấtTBCN thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội
Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn, đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000 căn hộ trong đó có hơn 100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thểcứu trợ được, sau đó những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồngchia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng ra thành lập những công ty hỏa hoạn: Fire Office(1667), Hand and Hand(1696)…Lúc đó công ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực hàng hải mãi đến thế kỷ XX mới chuyển sang hoạt động cả lĩnh vực nội địa và tái bảo hiểm
Ở Việt Nam, chưa có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác bảo hiểm xuất hiện ở Việt Nam khi nào mà chỉ phỏng đoán là vào năm 1880 do hội bảo hiểm ngoại quốc như: Anh, Pháp, Thụy Sĩ… đã để ý đến Đông Dương Vào năm 1926, chi nhánh đầu tiên của công ty Franco-Asietique đã được mở tại Việt Nam Đến năm 1929 mới có Công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô Từ năm 1952 về sau, hoạtđộng bảo hiểm mới được mở rộng dưới những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài Ở miền Bắc Việt Nam, ngày 15/01/1965 công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…
II, Vai trò và sự phát triển của các loại hình bảo hiểm ở Việt Nam:
1, Một số loại hình bảo hiểm ở Việt Nam:
1.1 Bảo hiểm xã hội:
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH:
a, Khái niệm : BHXH là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho
Trang 4những người lao động làm công ăn lương trong xã hội đó Trong các cơ chế của các hệ thống an sinh xã hội thì BHXH là trụ cột quan trọng nhất.
b Bản chất: Bản chất của BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thunhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ
sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện
1.1.2 Vai trò của BHXH:
BHXH được coi là mạng lưới đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống an sinh
xã hội (ASXH), BHXH là 1 trụ cột trong hệ thông ASXH, do vậy sự vững chắc của hệ thống ASXH của 1 quốc gia được phản ánh qua chính sách BHXH của quốc gia đó
BHXH điều tiết các chính sách trong hệ thống ASXH, BHXH,ưu đãi xã hội,cứu trợ xã hội là những nội dung của chính sách ASXH,do đó đều là những chính sách
xã hội quan trọng của mỗi quốc gia Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,cùng
bổ sung và hộ trợ cho nhau, tất cả đều góp phần ổn định cuộc sống cho mỗi người trong xã hội, từ đó góp phần làm ổn định xã hội
1.2 Bảo hiểm y tế:
1.2.1 Khái niệm, đối tượng, phạm vi của BHYT:
a, Khái niệm: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhằm đảm bảo chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho nhưng người tham gia BHYT khi họ ốm đau bệnh tật bằng nguồn qũy BHYT
do sự đóng góp theo chu kỳ của người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân.BHYT là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi
ốm đau
b Đối tượng:
Theo Điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số
63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của Chính phủ, bảo hiểm y tế (BHYT) bắt buộc được áp dụng với những đối tượng sau:
- Người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) có thời hạn
từ đủ 3 tháng trở lên và HĐLĐ không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang
- Cán bộ, công chức, viên chức theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức
- Người đang hưởng chế độ hưu trí, hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH) hằng tháng
- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật
- Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ
sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam đang hưởng trợ cấp hằng tháng
- Đại biểu Quốc hội đương nhiệm không thuộc biên chế Nhà nước và biên chế của các tổ chức chính trị - xã hội; đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp không thuộc biên chế Nhà nước hoặc không hưởng chế độ BHXH hằng tháng
Trang 5- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng
và cán bộ xã già yếu nghỉ việc đang hưởng phụ cấp hằng tháng từ nguồn ngân sách Nhà nước
- Thân nhân sĩ quan quân đội nhân dân đang tại ngũ; thân nhân sĩ quan nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân
- Các đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng
- Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên và người cao tuổi được ưu đãi theo Pháp lệnh Người cao tuổi
- Người nghèo theo quy định của Chính phủ
- Cựu chiến binh thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ
- Lưu học sinh nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cấp học bổng
- Người lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đã nêu trên làm việc theo HĐLĐ có thời hạn dưới 3 tháng, khi hết hạn HĐLĐ mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc hoặc giao kết HĐLĐ mới đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đó thì phải tham gia BHYT bắt buộc
BHYT tự nguyện được áp dụng đối với mọi đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia BHYT, kể cả đối tượng tham gia BHYT bắt buộc nhưng muốn tham gia BHYT tự nguyện để hưởng mức dịch vụ BHYT cao hơn đối với người tham gia BHYT bắt buộc
c Phạm vi BHYT:
- Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội của mọi quốc gia trên thế giới do chính phủ tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của mọi tầng lớp trong xã hội
để thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm;
- Người tham gia bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro về sức khỏe được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiều mức khác nhau tại các cơ sở y tế;
- Một số loại bệnh mà người đến khám bệnh được ngân sách nhà nước đài thọ theoquy định; cơ quan bảo hiểm y tế không phải chi trả trong trường hợp này
1.2.2 Vai trò của BHYT:
- BHYT giúp ổn định cuộc sống cho người lao động lúc ốm đau,tại nạn…sớm khỏe trở lại và cũng như sớm có việc làm
- BHYT là 1 công cụ đắc lực của Nhà nước góp phần vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân 1 cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm ngân sách Nhà nước bảo đảm ASXH bền vững
1.3 Bảo hiểm thất nghiệp:
1.3.1,Vài nét về bảo hiểm thất nghiệp:
a, Sự ra đời và phát triển của BHTN:
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và bước vào hội nhập với kinh tế thế giới, bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế - xã hội, thì tình trạng thất nghiệp đang là một trong những vấn đề nan giải và hết sức bức xúc
Hàng năm có từ 1,1 đến 1,2 triệu người bước vào tuổi lao động, nhưng khả năng thu hút lao động của nền kinh tế lại có hạn Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới, sắp xếp doanh
Trang 6nghiệp nhà nước, một bộ phận không nhỏ lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau bị mất việc làm, đời sống rất khó khăn, ảnh hưởng đến trật tự an sinh xã hội Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc Bên cạnh đó bảo hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp Có thể khẳng định, bảo hiểm thất nghiệp là một biện pháp hỗ trợ người laođộng trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của bảo hiểm thất nghiệp là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định.
b, Đối tượng của BHTN:
Theo dự thảo Nghị định bảo hiểm thất nghiệp, người lao động là công dân Việt Nam làm việc trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể; làm việc cho cơ quan, tổ chức, cho cá nhân nướcngoài hoạt động trên lãnh thổ và sử dụng lao động Việt Nam , có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12-36 tháng, đều thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp Theo dự thảo, loại hình bảo hiểm thất nghiệp này có sự tham gia của 3 bên là Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động
c, Phạm vi bảo hiểm của BHTN (ĐK hưởng trợ cấp thất nghiệp)
Người thất nghiệp được hưởng các chế độ Bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ 3 điều kiện sau:
+ Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi bị mất việc
làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của Pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của Pháp luật về cán bộ, công chức ;
+ Đã đăng ký với Trung tâm GTVL thuộc Sở LĐ TBXH khi bị mất việc làm,
chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc ;
+ Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với Trung
tâm GTVL thuộc Sở LĐ TBXH theo quy định
d, Nguồn quỹ và mức trợ cấp thất nghiệp:
- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ
- Các nguồn thu hợp pháp khác
* Mức trợ cấp: Mức trợ cấp thất nghiệp quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP được hướng dẫn thực hiện như sau:
Trang 7- Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, côngchức.
- Trưòng hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thờigian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp do không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định thì 6 tháng liền kề để tính mức trợ cấp thất nghiệp
là bình quân của 6 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
* Thời gian hưởng trợ cấp BHTN:
- Ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
- Sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
- Chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;
- Mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên
1.3.2 Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam và sự cần thiết của BHTN:
a, Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam
Tỷ lệ thất nghiệp tính chung cho lực lượng lao động ở nước ta trong thời gian qua
là thấp.Tỷ lệ thất nghiệp năm 2003 là 2,25%, 3 năm tiếp theo có xu hướng giảm đinhưng không dáng kể, và đến năm 2007 tăng lên 2,52%.Tại cuộc họp báo ngày 31/12/2010, Tổng cục thống kê cho biết, lực lượng lao động trong độ tuổi của nước ta năm 2010 khoảng 46,21 triệu người, tăng 2,12% so với năm 2009 Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 là 2,88%
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị năm 2010 là 4,43%, giảm 0,17% Tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn là 2,27%, tăng 0,02% so với năm ngoái
Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%, giảm 1,11% so với 2009
Trong đó, khu vực thành thị là 2,04%, giảm 1,29%, khu vực nông thôn là 5,47%, giảm 1,04% so với 2009
Sở dĩ tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động thấp, là do nước ta có tới khoảng 76% lực lượng lao động làm việc ở nông thôn Phần lớn họ là nông dân vàcác hộ lao động cá thể nhỏ, nên hầu như ít có khả năng xảy ra thất nghiệp Còn lại chỉ có khoảng 17% lao động làm việc trong khu vực làm công ăn lương là có khả năng xảy ra thất nghiệp Chính vì vậy, xét về tỷ lệ thất nghiệp tính riêng cho khu vực thành thị và nông thôn,tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn
Thất nghiệp không chỉ là sự lãng phí mà còn làm cho thu nhập, sức mua có khả năng thanh toán của dân cư thấp, ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế trong nước,
Trang 8cũng như việc “gọi” các nhà đầu tư nước ngoài Thất nghiệp làm cho tỉ lệ nghèo cao và sự phân hóa giàu nghèo tiếp tục gia tăng Thất nghiệp cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội do “nhàn cư vi bất thiện”, trở thành vấn đề bức bối mà nhiều gia đình cũng như cộng đồng phải tốn nhiều tiền của, công sức để khắc phục.
b, Sự cần thiết của BHTN:
Khi người lao động bị mất việc làm thì họ bị mất nguồn thu nhập từ lao động Vì vậy, một trong những giải pháp tích cực là đầu tư để tạo ra chỗ làm việc mới Tuynhiên điều này không phải lúc nào cũng có thể làm được mà nhiều khi bơm thêm tiền vào nền kinh tế vốn đang không mạnh có thể lại dẫn đến lạm phát và khủng hoảng kinh tế, càng làm trầm trọng hơn tình trạng thất nghiệp Có một giải pháp khác để bảo vệ người lao động tránh được những hụt hẫng khi bị mất việc làm là
xã hội cần tạo cho họ một khoản thu nhập bù đắp khoản thu nhập bị mất thông quabảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ giúp góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc
Chỉ riêng trong năm 2010, ở Việt Nam mức thu bảo hiểm thất nghiệp đạt 4.800 tỷ đồng Tổng số người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 6,6 triệu người Ngoài ra, đang có tới 190.000 người tiếp tục đăng ký tham gia bảo hiểm thất nghiệp và 156.000 người đã có quyết định được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.1.4 Bảo hiểm thương mại:
1.4.1 Bảo hiểm tài sản:
a,Khái niệm: Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm mà đối tượng là giá trị tài sản.Bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm ra đời từ lâu, với mục đích bảo vệ tình hình tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi không may tài sản của họ bị tổn thất, mất mát vì nhiều lý do khác nhau
b,Các sản phẩm bảo hiểm tài sản:
(1) Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt:
Là nghiệp vụ bảo hiểm những thiệt hại do cháy và các rủi ro tương tự khác hay các rủi ro đặc biệt như: động đất,sóng thần,núi lửa…gây ra cho các đối tượng bảo hiểm
* Đối tượng áp dụng: Bất động sản: Nhà cửa,máy móc,thiết bị…thuộc loại hình sản xuất kinh doanh hay công trình xây dựng Các động sản : tài sản liên quan đến người được bảo hiểm và các tài sản,hàng hoá khác
(2) Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản: áp dụng với tài sản có trên và trong phạm vi thuộc quyền sở hữu, quản lý, trông nom,, kiểm soát của người được bảo hiểm
(3) Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp: Áp dụng với tài sản, thời gian gián đoạn
kinh doanh do các thiệt hại về tài sản
(4) Bảo hiểm hoả hoạn nhà tư nhân: Áp dụng với nhà ở tư nhân và mọi tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng, trông coi, kiểm soát của Người được Bảo hiểm.(5) Bảo hiểm tiền:
* Đối tượng áp dụng
Tiền mặt, ngân phiếu, các loại tiền tệ, giấy tờ có giá, séc, phiếu chuyển tiền, các loại tem thư hiện hành, thẻ tín dụng, hóa đơn bán hàng, tem thu nhập, công trái, hối phiếu, giấy hẹn trả tiền, tem và phiếu miễn thuế hoặc các chứng từ đền bù hoặc
Trang 9các công cụ có thể đổi thành tiền, tất cả thuộc sở hữu của Người được bảo hiểm hoặc được Người được bảo hiểm thừa nhận trách nhiệm.
(6) Bảo hiểm trộm cướp:
* Đối tượng áp dụng:Tài sản để trong nhà hoặc phần ngôi nhà.
(7) Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau mọi rủi ro tài sản:
* Đối tượng áp dụng: Các đơn vị sản xuất kinh doanh
(8) Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau hoả hoạn và rủi ro đặc biệt: áp dụng với
các đơn vị sản xuất kinh doanh
(9) Bảo hiểm mọi rủi ro văn phòng:
* Đối tượng áp dụng: Toà nhà và tài sản bên trong toà nhà
1.4.2 Bảo hiểm con người:
a, Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm con người:
Con người là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, nhưng trong quá trình lao động sản xuất do tiến bộ khoa học hiện đại và tác động của môi trường làm việc, con người không tránh khỏi những rủi ro tai nạn ốm đau già yếu, mất việc làm … vẫn luôn tồn tại và tác động đến đời sống con người Để khắc phục hậu quả của rủi
ro nhằm đảm bảo cho cuộc sống con người, đă có nhiều biện pháp được áp dụng như: phòng tránh cứu trợ tiết kiệm … nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá là một trong những biện pháp hiệu quả kịp thời giúp người lao động có thể góp phần đảmbảo cuộc sống của họ khi những rủi ro đó xảy ra BHYT,BHXH thực chất cũng là bảo hiểm con người và đã xuất hiện từ lâu, song phạm vi đảm bảo cho các rủi ro vẫn còn quá hẹp.Con người vẫn luôn quan tâm đến những vấn đề khác nảy sinh trong cuộc sống Chẳng hạn như :Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì người ta càng có điều kiện để chăm lo cho bản thân
và gia đình Ngoài BHYT BHXH các dịch vụ bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại ra đời là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp dân
cư trong xã hội
Bảo hiểm con người là một trong ba loại hình của BHTM, là hình thức bổ sung cho BHXH BHYT nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho mọi thành viên trong xã hội những rủi ro tai nạn bất ngờ đối với than thển, tính mang, sự giảm sút hoặc mất thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia
.b) Tác dụng của bảo hiểm con người:
Thứ nhất, góp phần ổn định đời sống nhân dân, là chỗ dựa tinh thần cho người
được bảo hiểm.Tham gia bảo hiểm con người sẽ phần nào giải quyết được những khó khăn do rủi ro gây ra Công ty bảo hiểm sử dụng quỹ bảo hiểm để trợ cấp hoặcbồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ ổn định tài chính và đời sống từ đó góp phần ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Thứ hai, góp phần ổn định tài chính và sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp,
tạo lập mối quan hệ gần gũi, gắn bó giữa người lao động và người sử dụng lao động Tùy theo đặc điểm ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh các chủ doanh
nghiệp thường mua bảo hiểm sinh mạng bảo hiểm tai nạn… cho người làm công
và những người chủ chốt trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống và tạo ra
Trang 10sự lôi cuốn gắn bó ngay cả trong những lúc doanh nghiệp gặp khó khăn Tránh chodoanh nghiệp sự bất ổn về kinh tế khi mất người làm công chủ chốt.
Thứ ba, bảo hiểm con người còn là một công cụ hữu hiệu để huy động những
nguồn vốn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội Quỹ bảo hiểm được hình thành từ sự đóng góp dưới hình thức phí bảo hiểm của ngưới tham gia bảo hiểm Mỗi người tham gia chỉ phải đóng một khoản tiền nhỏ,số tiền này được công ty tập hợp lại trong quỹ bảo hiểm khi có càng nhiều người tham gia bảo hiểmthì quy mô của quỹ ngày càng tăng lên Điều này tạo điều kiện quan trọng để công
ty bảo hiểm tạo nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế
Thứ tư, góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn
việc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra mộtnếp sống đẹp…
Thứ năm, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.Hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế phát triển làm tăng them giá trị sản lượng cho các ngành, từ đó tăng nguồn đóng góp cho ngân sách nhà nước.Mặt khác cũng nhờ có bảo hiểm mà ngân sách không phải trợ cấp khắc phục hậu qủa của những rủi ro bất ngờ(trừ những trường hợp rủi ro có tính thảm họa và
xã hội rộng lớn), do đó ngân sách nhà nước càng có thêm điều kiện để phát triển kinh tế xã hội
c, Bảo hiểm nhân thọ:
- Khái niệm: Bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng giữa một cá nhân và một công
ty bảo hiểm nhân thọ để bảo hiểm cho bản thân mình hoặc người thân, hoặc giữa một tổ chức với công ty bảo hiểm nhân thọ để bảo hiểm cho nhân viên của mình với mục đích là đảm bảo an toàn tài chính cho người tham gia bảo hiểm
- Các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản:
+ Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong
Bảo Hiểm Tử Kỳ: Bảo kiểm tử kỳ là loại hình bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp Người được bảo hiểm tử vong trong một thời hạn nhất định, theo đó Công ty bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho Người thụ hưởng, nếu Người được bảo hiểm
tử vong trong thời hạn được thỏa thuận trong Hợp đồng Trên cơ sở Số tiền bảo hiểm trên một đồng phí bảo hiểm phải trả, để hướng tới Quyền lợi bảo hiểm tử vong cao thì mua bảo hiểm tử kỳ là cách cho phép phải trả phí bảo hiểm thấp nhất Bảo Hiểm Trọn Đời : Bảo hiểm trọn đời là loại hình bảo hiểm nhân thọ cho trường hợp Người được bảo hiểm tử vong vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó Loại hình này đem lại sự bảo đảm trọn đời cho người đượcbảo hiểm trên phí bảo hiểm định kỳ cố định
+ Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống:
Bảo Hiểm Sinh Kỳ : Bảo hiểm sinh kỳ chỉ trả quyền lợi bảo hiểm vào ngày đáo
hạn nếu Người được bảo hiểm còn sống
Bảo Hiểm Niên Kim: Bảo hiểm niên kim là loại hình bảo hiểm nhân thọ cho
trường hợp Người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn
đó Công ty bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho Người thụ hưởng theo thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm Có hai thời kỳ: thời kỳ tích lũy (khi phí bảo
Trang 11hiểm được phân bổ vào tài khoản) và thời kỳ niên kim (khi Công ty bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm).
+ Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm nhân thọ có quyền lợi bảo hiểm được chi trả một lần vào cuối thời hạn hợp đồng (ngày đáo hạn) hoặc khi Người được bảo hiểm tử vong Thời gian đáo hạn điển hình thường là 10, 15, 20 năm hoặc đến một giới hạn tuổi nhất định
d, Bảo hiểm con người phi nhân thọ:
- Đặc điểm chủ yếu: Hậu quả của rủi ro mang tính chất thiệt hại, thường quy định
độ tuổi cho người được BH, thời hạn BH ngắn và thường triển khai kết hợp với nghiệp vụ BH khác trong cùng một hợp đồng BH
- Một số nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ :
+ Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
Mục đích: Góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân người bị tai nạn và gia đình Tạo điều kiện thuận lợi cho những người làm ở những ngành nghề thường xảy ra tai nạn được BH như khai thác, xây dựng…
Đối tượng tham gia: Người từ 18 đến 60 tuổi, thể chất và tinh thần bình thường Phạm vi BH: Tai nạn chết người hoặc gây thương tật
Trường hợp loại trừ: Người được BH vi phạm pháp luật, hành động cố ý gây tai nạn, ảnh hưởng của chất kích thích, ngộ độc, trúng gió, động đất, núi lửa, nhiễm phóng xạ và chiến tranh
Thời hạn BH: thường là 1 năm
+ Bảo hiểm tai nạn hành khách :
Mục đích : Góp phần ổn định cuộc sống của hành khách và gia đình họ Tạo điều kiện cho chính quyền địa phương khắc phục hậu quả kịp thời
Đối tượng BH: tính mạng và tình trạng sức khoẻ của hành khách trên phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách
Phạm vi BH: rủi ro, thiên tai, tai nạn bất ngờ
Thời hạn hiệu lực: thời gian hợp lý để thực hiện hành trình
Phí BH tính vào giá vé :Phí BH tính trên 1km/ hành khách.Hoặc phí BH tính theo
tỷ lệ trên giá cước vận tải
1.4.3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
* Khái niệm: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại chính sách mà là mua để cung cấp bảo hiểm cho dân sự quy định theo pháp luật Chính sách bảo hiểm tráchnhiệm dân sự có sẵn trong nước như Anh và được mua bởi các câu lạc bộ khác nhau, thể thao các đội và các chuyên gia Một chính sách sẽ phải trả cho thiệt hại
là kết quả của việc thực hiện các yêu cầu bảo hiểm và thực hiện chống lại một bảo hiểm, trong khi chính sách có hiệu lực Điều này bao gồm yêu cầu trách nhiệm dân
sự xảy ra như là kết quả của bất kỳ hoạt động nghề nghiệp
* Bảo hiểm trách nhiệm (Liability Coverage): Có bảo hiểm trách nhiệm dân sự bảo
vệ từ nhiều loại trách nhiệm như trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm và trách nhiệm nghề nghiệp Công trách nhiệm bao gồm thiệt hại về tài sản phát sinh trong hoạt động của một nhóm hoặc tổ chức Sản phẩm trách nhiệm bao gồm thương tích hay thiệt hại mà các kết quả từ sản phẩm đã được bán ra Chuyên
Trang 12nghiệp bồi thường bao gồm các lỗi và thiếu sót như đưa ra lời khuyên xấu hoặc không hành động khi thích hợp
* Các loại Khiếu nại (Types of Claims): Bảo hiểm cho nhiều loại yêu cầu được cung cấp bởi bảo hiểm trách nhiệm dân sự mà đã được mua bởi một doanh nghiệp hoặc nhóm Một loại bao gồm các yêu cầu bồi thường thương tích duy trì bởi một bên thứ ba, là kết quả của thiết bị bị lỗi Một loại yêu cầu bồi thường là khi một cá nhân đã bị thương khi theo hướng dẫn hoặc tư vấn Khiếu nại cũng có thể xảy ra khi gia súc thoát và gây thương tích khi cửa của một địa chủ đã được mở lại
* Cung cấp phạm vi bảo hiểm (Coverage Provided): Các chi phí thanh được cung cấp bởi một chính sách bảo hiểm trách nhiệm dân sự được chứa trong phần trách nhiệm dân sự của chính sách Điều này bao gồm các loại hình trách nhiệm pháp lý
đã được bảo hiểm và những gì loại thiệt hại được trả bởi chính sách Thiệt hại bao gồm tuyên bố rằng kết quả từ hoạt động kinh doanh, bảo hiểm và tuyên bố rằng được thực hiện theo pháp luật dân sự trừ trường hợp loại trừ về chính sách Bảo hiểm này cũng cung cấp cho bất kỳ chi phí pháp lý xảy ra
* Các loại trách nhiệm pháp lý (Types of Liability): Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm có thể xảy ra cho một bên thứ ba hoặc là kết quả của một hành động của bảo hiểm Trách nhiệm pháp lý có thể xảy ra như là kết quả của thương tích đã được duy trì bởi bất kỳ người nào hoặc bên thứ ba và tài sản của mình sự cố khác liên quan đến trách nhiệm xâm phạm và phiền toái Hành động của người được bảo hiểm có thể bao gồm vu khống hoặc phỉ báng đó không phải
là cố ý và xảy ra từ những lời khuyên hoặc hướng dẫn được cung cấp bởi một chuyên nghiệp
* Loại trừ (Exclusions): Doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp bảo hiểm trách nhiệm dân sự thường có nhiều loại trừ được bao gồm về chính sách một Loại trừ một chính sách có thể bao gồm bất kỳ kiến thức trước khi có thể dẫn đến một yêu cầu bồi thường và bất kỳ khiếu nại được thực hiện bởi các nhân viên của một doanh nghiệp loại trừ các hành vi khác bao gồm cam kết cố ý của người được bảo hiểm
và tuyên bố từ một tổ chức được kiểm soát bởi đồng bảo hiểm này
2, Vai trò chung của các loại hình bảo hiểm:
2.1, Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế:
- Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất: Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác
dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm
đã ra đời Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra,
và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thườngcho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất – kinh doanh Theo số liệu mới nhất của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, toàn thị trường bảo hiểm đã giải quyết bồi thường 3.540 tỉ đồng, chiếm 35,9% doanh thu, trong đó, các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao gồm: AIG 70,4%, Bảo Minh 57,8%, QBE 49%
Ví dụ: Ngày 10/03/2011, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) đã tiến hành