Tức là phải phát huy hiệu quả cao nhất trong hoạt động đầu tưtín dụng, nhằm đảm bảo việc cho vay có hiệu quả, thu hồi nợ và lãi đúng hạn, đảm bảohoạt động tín dụng là công cụ đắc lực tro
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại kinh tế mở và hội nhập như hiện nay, Việt Nam đang từng bướcbắt kịp với xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu Điều này đã giúp nước ta thu hẹpkhoảng cách với phần còn lại của thế giới, đồng thời mở ra nhiều cơ hội để phát triểnđất nước Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó, Việt Nam đã phải đối mặt với biết baokhó khăn, thử thách do những biến động từ nền kinh tế thế giới cũng như những vấn đềthuộc về nội tại của đất nước Vượt lên tất cả, nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững và
có những bước tiến lớn đáng được ghi nhận Để duy trì những thành quả đạt được vàtiếp tục mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nhu cầu về vốn trở thành một nhu cầu mang tínhquyết định Có vốn chúng ta mới thực hiện được quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngânhàng Thương mại với tư cách là trung tâm tài chính - tiền tệ, là trái tim của nền kinh tế
đã không ngừng nỗ lực để đáp ứng nhu cầu về vốn của toàn xã hội Do đó, việc mởrộng và nâng cao tỷ trọng cũng như chất lượng tín dụng trung và dài hạn - một công cụđắc lực về vốn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Là một bộ phận của Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng TMCP Quốc Tế ViệtNam cũng nằm trong dòng chảy chung đó Khi mà những đòi hỏi về vốn của nền kinh
tế càng lớn và sự cạnh tranh trong thương mại ngày càng cao, VIB nhận thấy cần phảinâng cao chất lượng trong hoạt động tín dụng nói chung và chất lượng trong cho vaytrung - dài hạn nói riêng Tức là phải phát huy hiệu quả cao nhất trong hoạt động đầu tưtín dụng, nhằm đảm bảo việc cho vay có hiệu quả, thu hồi nợ và lãi đúng hạn, đảm bảohoạt động tín dụng là công cụ đắc lực trong việc tài trợ nguồn vốn cho nền kinh tế.Thực tế, thời gian qua VIB đã có những chính sách để đẩy mạnh hoạt động tín dụngtrung - dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt động tín dụng ngắn hạntruyền thống
Trang 2Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam cùng vớinhững bộ phận khác trong cùng hệ thống đã lấy chủ trương này làm cốt lõi cho việckinh doanh tiền tệ của mình, đồng thời có những áp dụng linh hoạt phù hợp với địa bàn
mà Phòng Giao dịch hoạt động Tuy mới thành lập hơn hai năm, hoạt động tín dụngtrung - dài hạn của Phòng Giao dịch đã đạt được kết quả đáng khích lệ song vẫn còn đónhững bất cập cả về quy mô lẫn chất lượng Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng
của vấn đề trên, em đã chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB BANK ) ” để làm
báo cáo thực tập
2 Mục đích nghiên cứu
Từ những lí luận cơ bản về tín dụng trung và dài hạn ở NHTM, đề tài đưa ranhững phân tích, đánh giá về thực trạng nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn tại PhòngGiao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam trong thời gian qua, từ đó
đi tìm nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện và nâng cao chất lượng tíndụng trung và dài hạn tại đơn vị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàngTMCP Quốc Tế Việt Nam trong hai năm 2008, 2009
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn ở Phòng Giao dịchThủ Đức -Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo thực tập sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích, diễn giải, so sánh
3.4 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung nghiên cứu của báo cáothực tập gồm 3 chương sau:
Trang 3Chương 1: Tổng quan về hoạt động tín dụng trung và dài hạn
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung - dài hạn tại Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Với những gì thể hiện trong đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp này, em hy vọng
sẽ có một số ý kiến đóng góp thiết thực đến việc nâng cao hiệu quả chất lượng tín dụngtrung và dài hạn tại đơn vị em thực tập – Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàngTMCP Quốc Tế Việt Nam Do trình độ cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nênbài viết không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được sự chỉ bảo và đónggóp ý kiến của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này để báo cáo được hoàn thiện vàsâu sắc hơn
Qua đây, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo ở Đại họcKinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh và đặc biệt là Thầy giáo Thạc sĩNguyễn Anh Phong, người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thiện báo cáo này Em cũngcảm ơn toàn bộ các anh chị tại Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc TếViệt Nam, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian thực tập nghiên cứu đề tài
để em có thể hoàn thành báo cáo này
Trang 4TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN
1.1 Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người Tíndụng theo nghĩa la tinh là creditim - sự tín nhiệm, tin tưởng tên gọi này xuất phát từbản chất của quan hệ tín dụng Trong quan hệ tín dụng người cho vay sẽ cho người cầnvốn vay theo các điều kiện đã được thoả thuận trước như thời gian cho vay, thời gianhoàn trả, lãi suất tín dụng … Trong quan hệ đó người cho vay tin tưởng rằng người đivay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thoả thuận, làm ăn có lãi và có khảnăng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
Tín dụng được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng ta có thể tiếp cận vớimột khái niệm thông dụng nhất là: Tín dụng là quan hệ vay mượn được biểu hiện dướihình thái tiền tệ hoặc hiện vật dựa trên nguyên tắc người đi vay phải hoàn trả cho ngườicho vay cả nợ lẫn lãi sau một thời gian nhất định
Hiện nay, ngân hàng thương mại là người cho vay lớn nhất đối với các tổ chứckinh tế, và dân cư Vì thế, khi nói đến tín dụng chúng ta thường hiểu là tín dụng ngânhàng
Có thể định nghĩa tín dụng ngân hàng như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng chính là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng Nó ra đời
Trang 5thiện những vấn đề về khối lượng cho vay, thời hạn cho vay và phạm vi cho vay Với
tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xãhội bằng các hình thức như nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoặcphát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động trong xã hội Với tư cách là ngườicho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi có nhucầu thiếu vốn cần được bổ xung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.Khi mà tín dụng thương mại không thể giải quyết được những bất cập về lượng vốnthừa hay thiếu do chênh lệch thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêucủa các tổ chức, cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành mộtcách liên tục Ngân hàng với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ duy nhất có thể khắcphục được tồn tại trên do đặc thù của mình vừa là người cho vay, vừa đóng vai trò làngười đi vay
Như vậy, có thể nói tín dụng ngân hàng ngày nay đã và đang là nhân tố thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả củavốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường
1.1.2 Phân loại tín dụng
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng vàmục tiêu quản lý của NH Sau đây là một số cách phân loại phổ biến nhất:
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn
Đây là cách phân chia thông dụng nhất về tín dụng của ngân hàng Phân chiatheo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiếtđến tính an toàn và hiệu quả cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thờihạn tín dụng được phân chia thành:
Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ 1 năm trởxuống
Tín dụng trung hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 1
Trang 6Tín dụng dài hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn vay trên 5 năm.
Thời hạn tín dụng được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi trong hợpđồng tín dụng Đó là thời hạn cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng Haythời hạn tín dụng còn được hiểu là thời hạn được tính từ lúc đồng vốn đầu tiên củangân hàng được phát ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng phải thu về Các ngânhàng căn cứ vào mục đích xin vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh để xác định thời hạnvay của các khoản tín dụng
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thức cho vay
Căn cứ vào hình thức cho vay có các loại tín dụng sau:
Chiết khấu là việc Ngân hàng Thương mại ứng trước tiền cho khách hàngtương ứng với giá trị của thương phiếu sau khi đã trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng
để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn Về mặt pháp lý thì Ngân hàng không phải
là nhà cho vay với chủ sở hữu thương phiếu và chỉ là hình thức trao đổi trái quyền
Cho vay là việc Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng với sự cam kết kháchhàng phải hoàn trả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định với mức lãi suất cam kết.Đây là hoạt động truyền thống của NHTM, hình thành ngay từ buổi đầu sơ khai củacác NH Đồng thời cho vay cũng là hoạt động sinh lời cao nhất cho các NHTM
Bảo lãnh là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thaykhách hàng của mình khi khách hàng của mình không có khả năng trả nợ Mặc dùkhông phải xuất tiền ra, song Ngân hàng vẫn thu được lợi từ khách hàng nhờ uy tín củamình
Cho thuê đó là việc Ngân hàng đứng ra bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàngthuê theo những điều kiện nhất định Sau thời gian đó khách hàng phải trả cả gốc lẫnlãi cho Ngân hàng
1.1.2.3 Căn cứ theo tài sản đảm bảo
Nếu căn cứ vào tài sản đảm bảo ta có các loại hình tín dụng sau:
Trang 7Tín dụng đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc sử dụng tài sản
mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợcho ngân hàng Tín dụng đảm bảo được áp dụng đối với các khách hàng có độ rủi rocao như khách hàng mới hay những khách hàng có tình hình tài chính không tốt
Tín dụng không có tài sản đảm bảo đó là loại hình tín dụng mà khách hàng cónhu cầu vay vốn với một hạn mức nhất định mà không cần tài sản đảm bảo Loại hìnhnày áp dụng đối với những khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chínhvững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn củangười vay
1.2 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHTM
1.2.1 Khái niệm tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung - dài hạn là việc NH hay các tổ chức tín dụng khác cho các tổchức, cá nhân vay trung - dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,kinh doanh, dịch vụ và đời sống Trong đó, thời hạn của tín dụng trung - dài hạn đượcxác định như sau:
Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại hình tín
dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm Loại tín dụng này
được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất…
Nói chung, tín dụng - trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố địnhcủa khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật củadoanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mởrộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường
1.2.2 Hình thức tín dụng trung và dài hạn
Trang 8Cho vay đầu tư dự án là hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của các ngânhàng thương mại Việt Nam hiện nay Các dự án được tài trợ thường có hai hình thứcphổ biến là:
Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm cải tạo, khôi phục, mở rộng, thay thế tàisản cố định Trong hình thức này, nguồn vốn của Ngân hàng tham gia vào dự án tươngđối lớn, thời gian tín dụng của dự án không dài, các dự án này thường có quy mô vừa
và nhỏ Các dự án loại này đã và đang được ngân hàng tài trợ có hiệu quả
Hình thức tín dụng trung dài hạn nhằm để đầu tư xây dựng theo dự án mới, đổimới kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh Khi tham gia vào hình thức này nguồn vốn của ngân hàng tham gia thường nhỏhơn nguồn vốn tự có của chủ đầu tư, thời gian của dự án thường dài
Các NH sẽ tiến hành thẩm định dự án để quyết định phần vốn vay và xác địnhkhả năng hoàn trả của doanh nghiệp
1.2.2.2 Cho thuê tài chính
Thuê mua tài chính là một phương thức tín dụng trung - dài hạn trên cơ sở hợpđồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khihết thời hạn thuê, khách hàng có thể thuê tiếp hoặc mua lại theo các thoả thuận tronghợp đồng thuê Trong thời hạn thuê các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng
Có rất nhiều lợi ích từ cho thuê tài chính đối với NH Tuy nhiên, loại hình nàychỉ phát huy ưu thế khi hội đủ một trong những điều kiện sau:
Loại hình cho thuê tài chính phải hưởng được lợi ích từ lá chắn thuế
Hợp đồng cho thuê tài chính phải giảm tính không chắc chắn về khoản giá trịcòn lại của tài sản
Các chi phí giao dịch có khả năng cao hơn để mua một tài sản và cái giá phảitrả của tài trợ chúng bằng nợ hoặc bằng vốn cổ phần thì cao hơn so với đi thuê tài sản
Trong đó, khoản lợi về thuế là một lý do quan trọng nhất để thuê tài chính
1.2.2.3 Thấu chi
Trang 9Hình thức thấu chi có nghĩa là ngân hàng chấp thuận cho khách hàng đượcquyền chi vượt số dư trên tài khoản tiền gửi với những điều kiện nhất định Chi phí cơbản đối với người vay là lãi suất đánh vào số dư thấu chi ngày Người vay nói chungchỉ phải trả lãi số tiền đã sử dụng vì không có yêu cầu số dư bồi thường và cho tronggiai đoạn số tiền bị lấy đi Vì lý do đó, chi phí hữu hiệu của một khoản nợ thấu chi làlãi suất được định ra trên số dư thấu chi.
1.2.2.4 Bảo lãnh trung và dài hạn
Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay chochủ đầu tư, đứng trả nhập thiết bị máy móc, thiết bị với thời hạn ít nhất là một nămtrong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với nhà xuất khẩu.Hình thức này được áp dụng khi chủ đầu tư không đủ khả năng trả nợ ngay một lần Họ
ký hợp đồng với bên xuất khẩu xin trả nợ dần theo giá trị của thiết bị hàng năm dưới sựbảo lãnh của ngân hàng Hình thức này rất có lợi cho chủ đầu tư vì họ không phải bỏ ramột khoản tiền lớn để mua máy móc thiết bị mà khoản tiền nay sẽ được trả dần theomột chuỗi niên kim khi các máy móc này sinh lời Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư khôngthực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho nhà xuất khẩu thì ngân hàng bảo lãnh phải đứng ratrả nợ thay cho chủ đầu tư, lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của nhà đầu tư
1.2.3 Đặc điểm tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung – dài hạn thường có những đặc điểm sau:
1.2.3.1 Vốn đầu tư lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm
Nếu như tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu động của doanhnghiệp và được hoàn trả trong thời hạn ngắn (dưới 1năm) thì tín dụng trung dài hạnphần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của doanhnghiệp Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài.Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào
Trang 10thường gắn với tài sản cố định, vốn cố định Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trongsuốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạtđộng và đạt kết quả, dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm.
1.2.3.2 Độ rủi ro cao
Do khối lượng vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi
ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao hơn so với các khoản vay ngắn hạn Kếtquả của một dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Sự phân tích và xác địnhcủa ngân hàng về các rủi ro này là có hạn Các ngân hàng cũng không thể khắc phụchết được các rủi ro này Khi khoản cho vay dài hạn thời gian đầu tư dài, có rất nhiều sựthay đổi trong môi trường kinh tế: Như những thay đổi về chính sách, thị trường, thiêntai, chiến tranh… Khiến cho dự án bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn
1.2.3.3 Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung – dài hạn lớn
Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tư mongđợi càng nhiều Không nằm ngoài quy luật này các khoản tín dụng trung dài hạn củangân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn Biểu hiện cụ thể đó
là lãi suất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn rất cao Có đặc điểm này là do để
bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạtđộng cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro
1.2.4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính cho vay vốn trung và dài hạnnhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống Nó là mộttrong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu và chiếm một phần lớn hoạtđộng trong các NHTM Song tín dụng trung và dài hạn không chỉ đơn thuần ảnh hưởngđến hoạt động của NH, nó có tác động đến tất cả các bên tham gia và đến cả toàn nênkinh tế Vai trò tín dụng trung và dài hạn là rất lớn, khi nói đến ảnh hưởng của nó đến
Trang 11nền kinh tế như thế nào, ta thường nhìn nhận từ 3 phía: Các Ngân hàng, các doanhnghiệp, và từ nền kinh tế
1.2.4.1 Đối với nền kinh tế
Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, tiền
tệ là công cụ phục vụ đắc lực cho mọi hoạt động kinh tế xã hội Một chu kỳ kinh tếthường bắt đầu từ tiền và cũng kết thúc bằng tiền Vì vậy, việc làm thế nào để chu kỳnày được diễn ra một cách liền mạch là rất quan trọng đối với quá trình tái sản xuất mởrộng Với chức năng là trung gian tài chính, các NH sẽ tập trung được nguồn vốn dưthừa, tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, đồng thời sử dụng lượng vốn đó cho các tổchức, cá nhân có nhu cầu vay Từ đó, nó góp phần làm cho chu kỳ kinh tế không bịgián đoạn và nền kinh tế nhờ đó mà tăng trưởng
Tín dụng trung và dài hạn góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn Do tập trung được
vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng trung - dài hạn góp phần đẩynhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Các khoản cho vaycung cấp cho các ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều rộng, đầu tư cótrọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu hợp lý và khaithác triệt để các nguồn lực để tập trung phục vụ sản xuất Nắm trong tay nguồn vốnlớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ phát triển các công trình, các dự án, tạo được hiệu quảkinh tế bền vững, lâu dài góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã địnhhướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện để phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại Trong thời đại hội nhập như hiện nay, hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng
để phát triển kinh tế Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh hàng hóa xuất
Trang 12nhân tố quyết định đầu tiên cho quá trình này Lúc này NHTM sẽ là trợ thủ đắc lực vềvốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu Ở các nước đang phát triển nhưnước ta, để thực hiện được các chính sách phát triển kinh tế cần thiết phải thu hút vàtiếp nhận các khoản viện trợ ban đầu, vay nợ của các nước phát triển thông qua cáchình thức tín dụng quốc tế Từ đó tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư vốn làmđộng lực cho sự tăng trưởng kinh tế.
1.2.4.2 Đối với doanh nghiệp
Tín dụng trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, quy mô thị trường Khi mà sự vận động của nền
kinh tế là không ngừng, lượng hàng hóa sản xuất ra càng nhiều, nhu cầu của con ngườingày một nâng cao thì doanh nghiệp cần thiết phải mở rộng quy mô để đảm bảo cho sựtồn tại và phát triển của mình Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề có thể thựchiện trong một sớm một chiều mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọngnhất là nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn Doanh nghiệp có thể huy độngnguồn vốn từ nhiều nguồn như là nguồn vốn tự tích lũy, từ thị trường chứng khoán…Nhưng kênh huy động vốn nhiều nhất và quan trọng nhất là vay từ các NH Với nhữnglợi thế đặc thù, tín dụng trung - dài hạn trở thành nguồn tài trợ quan trọng và chủ yếugiúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và mở rộng chiếm lĩnh thịtrường mới
Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất Vấn đề này là hết sức ý nghĩa đối với các doanh
nghiệp, nó giúp doanh nghiệp sẽ thích nghi với tình hình biến động của thị trường,đồng thời hoạt động của doanh nghiệp trở nên hiệu quả và ngày càng hoàn thiện hơn.Thực tế, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, xây dựng nhàxưởng, máy móc, đổi mới công nghệ để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượngsản phẩm và giảm chi phí tới mức tối thiểu Đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam hiệnnay, nhu cầu về vốn xây dựng cơ bản là rất lớn trong khi các DN không tích lũy được
Trang 13nhiều, thị trường tài chính còn lắm bất cập thì nguồn vay trung - dài hạn từ các NH trởthành sự lựa chọn chính của các DN.
Tín dụng trung và dài hạn còn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn và chớp cơ hội kinh doanh Khi tiến hành một dự án, nguồn vốn
chính là yếu tố quyết định Các doanh nghiệp nếu không có đủ vốn , thì dự án đầu tư đó
sẽ không được tiến hành Thông thường thì các doanh nghiệp sẽ không thể có đủ mộtkhối lượng vốn lớn, dài hạn để theo đuổi dự án đầu tư Như thế thì sẽ bỏ qua những cơhội tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp Lúc này, để theo đuổi mục đích của mình,các doanh nghiệp sẽ tìm đến NH để đảm bảo có một nguồn tài trợ lâu dài cho dự án.Tín dụng trung - dài hạn giúp doanh nghiệp thỏa mãn lượng vốn đầu tư và chớp các cơhội kinh doanh Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tại NHTM, họ
có thể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian quy địnhtrong hợp đồng tín dụng khi họ không cần đến vốn trung dài han nữa Ngược lại khidoanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì cóthể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ
1.2.4.3 Đối với ngân hàng
Tín dụng trung dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng Hoạt động chủ yếu của
một NHTM là thu hút nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội và phân phối nó dưới hìnhthức cho vay để tạo lợi nhuận NHTM thường có 3 nghiệp vụ chính: huy động vốn, chovay và hoạt động trung gian Trong đó cho vay vẫn là hoạt động cơ bản nhất và manglại lợi nhuận chính cho NH Tín dụng trung - dài hạn là một hình thức của tính dụng
NH và là hoạt động mang tính chiến lược của NHTM Với những khoản tín dụng trung
và dài hạn có quy mô lớn và lãi suất cao, thời gian dài, tín dụng trung và dài hạn manglại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng Do vậy tín dụng trung và dài hạn mang lại thunhập chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của Ngân hàng Thương mại từ trước đến
Trang 14 Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chính là ngân hàng đang tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai Tín dụng trung - dài hạn đã
tạo điều kiện cho các NH mở rộng phạm vi hoạt động của mình, khẳng định vị thế, vaitrò của mình trong nền kinh tế Nó là công cụ hiệu quả để tạo mối quan hệ với kháchhàng trong tương lai, củng cố lòng trung thành với khách hàng truyền thống, đồng thờitạo mối quan hệ với các khách hàng mới Chính vì thế mà các NH đã không ngừng đadạng hóa hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách hàng, thời hạn vay để có thể đứngvững trong nền kinh tế thị trường có quá nhiều sự cạnh tranh giữa các NH
Tín dụng trung và dài hạn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huy động thừa tại mỗi NHTM Đồng thời là cách để Ngân hàng gọi vốn từ nền kinh
tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp Vì vậy cần phải nâng cao chất lượngtín dụng trung và dài hạn để giải quyết vấn đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả,thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt động của mình, tăng cường khả năng cạnhtranh với các Ngân hàng khác
1.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động của NHTM
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng trung - dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thịtrường Ngoài việc chạy đua về số lượng sản phẩm làm ra, các doanh nghiệp đã khôngngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình NHTM cũng là một doanh nghiệp,kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với những khoản tín dụng là sản phẩm, nó cũng cầnphải quan tâm đến chất lượng Tuy nhiên, với đặc thù là một ngành kinh tế đặc biệt, cóliên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác thì chất lượng tín dụng của NH có những đặctrưng riêng
Ta có thể hiểu chất lượng tín dụng là mức độ đáp ứng yêu cầu của khách hàng(cả người vay lẫn người cho vay tiền), phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội và
Trang 15điều kiện đặc thù của bản thân ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngânhàng.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đặp được chi phí vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
Chất lượng tín dụng được thể hiện qua nhiều tiêu chí khác nhau như: mức độ antoàn vốn tín dụng, mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường kinh
tế, khả năng thu hút khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện Ngoài ra chất lượng tíndụng còn được thể hiện qua hiệu quả hoạt động của các dự án vay vốn sản xuất kinhdoanh, tình trạng xoá đói giảm nghèo và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Như đã phân tích ở trên, chất lượng tín dụng trung – dài hạn quyết định đến sựtồn tại và phát triển của NH.Vì thế, để xem xét tín dụng của ngân hàng tốt hay xấu,đang ở vị trí nào là rất quan trọng, từ đó có thể đưa ra những hướng đi tiếp theo chotương lai Khi đánh giá chất lượng tín dụng nói chung và chất lượng tín dụng trung –dài hạn nói riêng, người ta thường xét ở nhiều khía cạnh để đảm bảo có được một kếtquả chân thực nhất Đứng trên góc độ ngân hàng, chất lượng tín dụng trung - dài hạnthường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định lượng, bên cạnh những chỉ tiêu địnhtính thông thường Sau đây là một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung - dàihạn thường được sử dụng là:
1.3.2.1 Chỉ tiêu lợi nhuận
Mục tiêu của tất cả các ngân hàng nói chung là có thể tối đa hóa lợi nhuận củamình Do đó, lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng trung -dài hạn
Trang 16Lợi nhuận từ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài hạncủa ngân hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung - dài hạn mang lại bao nhiêuđồng lợi nhuận Bất kỳ một khoản tín dụng nào sẽ không được đánh giá là chất lượngcao nếu không mang lại lợi nhuận thực tế cho NH Trong thị trường cùng điều kiện vàrủi ro như nhau thì chỉ tiêu này càng lớn càng có lợi
Một chỉ tiêu khác liên quan tới lợi nhuận là:
Lợi nhuận từ tín dụng trung dài hạn
Tỷ lệ lợi nhuận =
Tổng lợi nhuận của NH
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạn vàotoàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng Tỷ lệ cao phản ánh chất lượng tíndụng khả quan nhưng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt với nguy cơrủi ro tiềm tàng
Trang 17Hệ số sử dụng vốn cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn trung dài hạn huy độngđược để cho vay trung dài hạn là cao hay thấp NH có thể sử dụng nguồn vốn trung -dài hạn và một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn Chỉ tiêu nay phảnánh hiệu quả tín dụng Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH sử dụng nguồn vốn huyđộng được càng hiệu quả.
1.3.2.3 Chỉ tiêu vòng quay vốn
Doanh số thu nợ trung dài hạn Vòng quay của vốn =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng tín dụngđược bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới Vòng quay của vốn càng lớn thì càngtốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và chứng tỏ nguồn vốn trung -dài hạn ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu quả Ngược lại, nếu vòng quay của vốncàng nhỏ thì việc thu nợ của ngân hàng là kém và nguồn vốn trung - dài hạn mà ngânhàng đã đầu tư hoạt động kém hiệu quả
1.3.2.4 Chỉ tiêu dư nợ
Dư nợ tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu dư nợ =
Tổng dư nợ tín dụng
Trang 18Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung và dài hạn cho biết dư nợ trung và dài hạn chiếm baonhiêu % trong tổng dư nợ Nếu tỷ lệ này càng cao chứng tỏ NH đang cho vay trung -dài hạn nhiều, ngược lại thì NH đang cho vay ngắn hạn nhiều hơn Thông qua chỉ tiêunày chúng ta có thể so sánh giữa các NH với nhau để thấy được thế mạnh của NH này
so với NH khác
Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ đánh giá một phần chất lượng cho vay trung - dàihạn của NH, nhưng chưa phản ánh được bản chất của chất lượng cho vay trung và dàihạn là tốt hay xấu Muốn làm được điều này, chúng ta cần xem xét đến tính an toàn,lành mạnh và khả năng sinh lời của các khoản vay trung và dài hạn
1.3.2.5 Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Nợ quá hạn của tín dụng trung dài hạn Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ an toàn và khả năng thu hồi vốn của hoạtđộng tín dụng trung - dài hạn Nó cho biết tổng dư nợ trung và dài hạn có bao nhiêu %
nợ quá hạn
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ–NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số18/2007/QĐ - NHNN ngày 25/04/2007 sửa đổi Quyết định 493 của NHNN ra đời banhành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD tronghoạt động NH của TCTD đã đánh giá chính xác hơn chất lượng cho vay của cácNHTM Theo những quyết định trên thì dư nợ của các NHTM được chia thành 5 nhóm,
nợ quá hạn là thuộc nhóm 2, 3, 4 và 5 theo cách phân loại nợ như đã nêu ở phần trên.Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho cả hệ thống thì các NH phải tính dự phòng cho cảnhóm 1
Dự phòng cụ thể cho cac khoản vay và ứng trước tai thời điểm kết thúc kỳ kếtoán (Ngày 31/12/2008) được xác định dựa trên cac tỷ lệ dự phòng sau đây đối với các
Trang 19khoản cho vay tại ngày 30/11/2008 sau khi đã trừ đi giá trị tài sản thế chấp đã đượcđịnh giá tại ngày này:
3 Nợ dưới tiêu chuẩn Quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày 20%
4 Nợ nghi ngờ Quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày 50%
5 Nợ có khả năng mất
vốn
Quá hạn trên 360 ngày 100%
Dự phòng chung cho các khoản cho vay và ứng trước, các khoản ứng trướcđược Ngân hàng trích lập theo tỷ lệ 0.75% trên giá trị thuần các khoản đó
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì tính an toàn của khoản vay càng thấp, khả năngmất vốn của NH càng lớn, từ đó làm giảm đến thu nhập của NH, ảnh hưởng đến sự tồntại và phát triển của NH Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng làcao, NH thực hiện tốt các bước cho vay, thu đầy đủ gốc và lãi của các khoản vay, giảmđược chi phí trong việc quản lý nợ quá hạn
Thông thường tỷ lệ này được coi là cao hay thấp cần được so sánh với tỷ lệchung của ngành và tỷ lệ chấp nhận của chính NH
Tỷ lệ nợ quá hạn < 3% có thể coi là mức độ an toàn của NH tương đối cao
Tỷ lệ nợ quá hạn 3% - 5% được coi là bình thường
Tỷ lệ nợ quá hạn > 5% cho thấy hoạt động cho vay của NH hàm chứa nhiềurủi ro, đặc biệt tỷ lệ này > 7% thì chất lượng cho vay của NH được đánh giá là yếukém
Trang 20Từ chỉ tiêu này, ta xét đến một chỉ tiêu nữa là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ trungdài hạn:
Nợ xấu của tín dụng trung – dài hạn Chỉ tiêu nợ xấu =
Tổng dư nợ tín dụng trung dài hạn
Nợ xấu chính là nợ quá hạn khó đòi Định nghĩa nợ xấu của Việt Nam tại Quyếtđịnh 493/2005/QĐ-Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nướcnhư sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4(nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”.Ta có thể hiểu nợ xấu là các khoản nợquá hạn có thời gian cơ cấu lại hơn 90 ngày hoặc là các khoản nợ vẫn còn trong thờihạn cam kết nhưng khách hàng vay bị mất khả năng thanh toán hoặc ngân hàng cónhững bằng chứng xác thực chứng minh được mức độ rủi ro tăng cao cho khoản tíndụng hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắcchắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ
Tuy nhiên, thật khó có thể phân biệt rạch ròi giữa nợ xấu và nợ quá hạn Chúngđều là các khoản tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng mà khách hàng cókhả năng không thực hiện được đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng và ẩn chứacác rủi ro tín dụng theo các cấp độ khác nhau Về cơ bản, ta có thể phân biệt giữ haikhoản nợ này:
Nợ quá hạn là các khoản nợ mà khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa
vụ trả nợ cụ thể ở đây là quá hạn về mặt thời gian và không được cơ cấu lại các khoản
nợ Toàn bộ số dư nợ gốc sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn Có thể xác định chắc chắn, cụthể, đơn giản tại mọi thời điểm qua hệ thống sổ sách chứng từ và hồ sơ tín dụng tạingân hàng của khách hàng
Trang 21 Nợ xấu = Nợ quá hạn được cơ cấu lại hơn 90 ngày + các khoản nợ của kháchhàng mất khả năng thanh toán ở hiện tại hoặc chắc chắn trong tương lai + Nợ quá hạndưới 90 ngày nhưng có bằng chứng chắc chắn về mất hoặc suy giảm khả năng thanhtoán Nợ xấu khó xác định do phụ thuộc vào bằng chứng trong quá trình sản xuất kinhdoanh cũng như khả năng thanh toán của khách hàng.
Rõ ràng tỷ lệ nợ xấu càng cao thì sẽ tác động không tốt đến hoạt động của NH
Nợ xấu có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của NH và nếu có quá nhiều nợ xấu sẽ có thểlàm cho NH phá sản Các NH đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản nợ xấu đểlàm tăng hiệu quả tín dụng trung - dài hạn
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN
TẠI PHÒNG GIAO DỊCH THỦ ĐỨC – NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT
NAM (VIB BANK)
Trang 222.1 Tổng quan về Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
2.1.1 Tổng quan sơ lược về Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc tế - VIBBank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 18 /09/1996 theo Quyết định số 22/QĐ/NH5ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm Ngân hàng Ngoại Thương Việtnam, Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, các cá nhân vàdoanh nhân hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế
Từ khi bắt đầu hoạt động với số vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam với
23 thành viên, Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển thành một trong những ngân hàngthương mại cổ phần dẫn đầu thị trường Việt Nam
Ngân hàng Quốc Tế hoạt động trên 3 lĩnh vực chủ yếu là Dịch vụ Ngân hàngDoanh nghiệp, Dịch vụ ngân hàng Cá nhân và Dịch vụ Ngân hàng định chế Cơ cấuquản lý hệ thống của Ngân hàng Quốc Tế được xây dựng theo hướng tập trung chophép đưa ra được quyết định trong thời gian ngắn nhất, đảm bảo đồng nhất chất lượngdịch vụ và quản lý rủi ro hiệu quả
Tháng 8/2004, để đáp ứng cho những thay đổi trong thời kỳ mới, dưới sự nhấttrí cao của Hội đồng Quản trị và Ban điều hành, Ngân hàng Quốc Tế đã thực hiện cuộctái thiết cơ cấu triệt để nhằm tạo dựng những giá trị mới Có thể nói với những địnhhướng chiến lược đúng đắn cùng với công tác điều hành thống nhất, đặc biệt là nỗ lựccống hiến của toàn thể cán bộ nhân viên đã tạo ra sức mạnh để VIB Bank vượt quanhững khó khăn, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh để phát triển bền vững
Sau 13 năm hoạt động, đến 31/12/2009, vốn điều lệ của Ngân hàng Quốc Tế đạtmức 2.400 tỷ đổng; Tổng tài sản đạt xấp xỉ 91.600 tỷ đồng, tăng 164% so với năm2008; Tổng vốn huy động đạt trên 58.000 tỷ đồng, tăng 138% so với năm 2008; Lợi
Trang 23nhuận trước thuế đạt trên 836.000 tỷ đồng, tăng 263% so với năm 2008; Tổng dư nợđạt xấp xỉ 46.500 tỷ đồng, tăng 138% so với năm 2008 Tính đến cuối năm 2009, sốlượng đơn vị kinh doanh của VIB là 115 chi nhánh/phòng giao dịch trên cả nước
Đây là thành tích xuất sắc của cả hệ thống VIB đạt được trong điều kiện thịtrường năm 2009 với nhiều biến động, rủi ro, các ngân hàng cạnh tranh quyết liệt vàVIB luôn phải dồn nhiều nguồn lực để từng bước triển khai Chiến lược kinh doanhmới, Chiến lược tái định vị thương hiệu cũng như thực hiện nhiều dự án nhằm xâydựng nền tảng phát triển lâu dài của mình Kết quả này một lần nữa khẳng định nănglực và sức vươn lên của cả hệ thống VIB, đảm bảo mục tiêu vừa tăng trưởng tốt, vừathực hiện cải tổ quan trọng chuẩn bị cho tương lai phát triển mạnh mẽ và bền vững củaVIB
2.1.2 Tổng quan sơ lược về Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Phòng Giao dịch Thủ Đức là một đơn vị còn rất trẻ trong hệ thống Ngân hàngTMCP Quốc Tế Việt Nam Sự ra đời này là kết quả tất yếu do sự nỗ lực mở rộng phạm
vi hoạt động cũng như phạm vi ảnh hưởng của những nhà lãnh đạo VIB, mục tiêu đưaVIB trở thành một trong 3 NHTM đứng đầu cả nước Phòng Giao dịch Thủ Đức thànhlập vào cuối năm 2007, cho tới nay thì PGD chỉ có hơn hai năm hoạt động Chính điều
đó, PGD đã gặp phải một số khó khăn nhất định trong thời gian đầu Tuy nhiên, với độingũ cán bộ tâm huyết, gắn liền với PGD từ những ngày đầu thành lập, họ đã từng bướcđưa VIB Thủ Đức trở thành một địa điểm tin cậy cho các khách hàng ở phạm vi ThủĐức cũng như của các khu vực lân cận Đây là một nỗ lực đáng được ghi nhận
Phòng Giao dịch Thủ Đức là PGD thuộc Chi nhánh Quận 2 - Ngân hàng Quốc
Tế Việt Nam có tất cả 1 trưởng phòng và 7 nhân viên PGD có 2 bộ phận cơ bản làphòng dịch vụ khách hàng và phòng tín dụng Phạm quy hoạt động của PGD là: Mở tàikhoản tiền gửi thanh toán, và thực hiện các giao dịch thanh toán trong nước cho khách
Trang 24hiện cho vay, bảo lãnh cho các cá nhân, doanh nghiệp trong hạn mức cho phép thuộcthẩm quyền phê duyệt của Trưởng Phòng Giao dịch Chức năng riêng của từng bộphận:
Trưởng Phòng Giao dịch chịu trách nhiệm điều hành, quản lý chung toàn bộhoạt động của PGD, trực tiếp quản lý mảng hành chính nhân sự, quan hệ khách hàng,kiểm tra nội bộ, tổ chức nhân sự thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của PGD.Trưởng Phòng Giao dịch sẽ là người trực tiếp phổ biến những kế hoạch từ các cấp caohơn và có nhiệm vụ báo cáo tình hình hoạt động của PGD cho các cấp đó Phạm quythẩm quyền của Trưởng Phòng Giao dịch chỉ được ký kết, phê duyệt các hợp đồng chovay, bảo lãnh không quá 500 triệu đồng Trong trường hợp mà các khoản cho vay, bảolãnh này vượt quá Mứt phê duyệt của Trưởng Phòng Giao dịch thì PGD phải trình lênGiám đốc Chi nhánh để xem xét giải quyết
Phòng dịch vụ khách hàng: Mở tài khoản, thực hiện thanh toán cho cáckhách hàng là tổ chức kinh tế, các công ty và cá nhân; Thực hiện nghiệp vụ huy độngvốn bằng cách nhận tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam; Quản lý hệ thốngmáy rút tiền tự động; Thực hiện các giao dịch Thẻ tín dụng (Visa, Master Card…);Quản lý lượng vốn huy động được; Thực hiện công tác kế toán cho PGD …
Phòng tín dụng: Bao gồm 2 bộ phận là giao dịch tín dụng và quản lý kháchhàng Bộ phận giao dịch tín dụng có nhiệm vụ thực hiện việc kinh doanh tiền tệ thôngqua nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ Ngân hàng đối với các cá nhân và tổ chức, phù hợpquy định và thẩm quyền của PGD; Đảm nhận tư vấn cho khách hàng trong hoạt độngtín dụng; Tổ chức lập kế hoạch hàng tháng, quý năm cho PGD… Bộ phận quản lýkhách hàng chịu trách nhiệm về mặt tìm kiếm, thu hút khách hàng, tiếp xúc kháchhàng, marketing khách hàng; Tham mưu cho Trưởng Phòng Giao dịch để đưa ra cácchính sách đối với khách hàng để đạt hiệu quả cao nhất; Quản lý hồ sơ khách hàng;Thực hiện công tác thẩm định tài sản đảm bảo cùng với Trưởng Phòng Giao dịch…
Trang 252.1.3 Tình hình hoạt động của Phòng Giao dịch Thủ Đức - Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
2.1.3.1 Tăng trưởng tài sản
Tài sản tăng trưởng chứng tỏ quy mô hoạt động của đơn vị kinh doanh được mởrộng PGD Thủ Đức trong vòng hai năm qua cũng đã nỗ lực mở rộng phạm vi hoạtđộng của mình, thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng tổng tài sản Năm 2008, tổng tài sảncủa PGD là 267.07 tỷ đồng Năm 2009, tổng tài sản đạt được là 761.15 tỷ đồng, tăng185% so với năm 2008, hoàn thành kế hoạch đề ra
2.1.3.2 Tăng trưởng huy động vốn
Nguồn vốn là yếu tố đầu vào trong hoạt động kinh doanh của NHTM, nó có vaitrò rất quan trọng quyết định đến sự thành công của NH Do đó, Ngân hàng Quốc Tếnói chung và VIB Thủ Đức nói riêng đã không ngừng chú trọng phát triển công tác huyđộng vốn Năm 2008, tổng vốn huy động được của PGD là 184.3 tỷ đồng Sang năm
2009, tổng vốn huy động tăng lên 160% so với năm 2008, tức 479.18 tỷ đồng, vượt chỉtiêu kế hoạch đề ra Trong đó, nguồn vốn huy động được của PGD chủ yếu là nhận tiềngửi tiết kiệm từ dân chúng bằng đồng Việt Nam
2.1.3.3 Tăng trưởng tín dụng
Hoạt động kinh doanh chủ yếu ở các NHTM là tín dụng VIB cũng không phải
là ngoại lệ Hoạt động này chiếm tới 75% lợi nhuận của toàn hệ thống Tại PGD ThủĐức, dư nợ tín dụng năm 2008 đạt 152.12 tỷ đồng; Năm 2009 dư nợ đạt 372.69 tỷđồng, tăng 145% so với năm 2008, hoàn thành kế hoạch đề ra Trong đó, tín dụng cánhân là chủ yếu chiếm 80% dư nợ tín dụng của PGD
Như vậy, tình hình hoạt động của PGD Thủ Đức là rất tốt, đạt kết quả tăng trưởng cao sau hơn 2 năm hoạt động Lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng 215% so với năm 2008, tức tăng từ 1.77 tỷ đồng lên 5.58 tỷ đồng
Trang 26Mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ những tháng cuối năm 2008 kéo dài đến năm 2009, VIB ở Thủ Đức lại là đơn vị còn non trẻ, nhưng những thành tích đang đạt được chứng tỏ đội ngũ cán bộ ở đây đã định hướng đúng hoạt động của mình PGD Thủ Đức đã đạt được hiệu quả hoạt động cao và dần khẳng định được vị thế của mình so với các NHTM khác trong khu vực Thủ Đức.
Biểu đồ 1: Tăng trưởng tổng tài sản – Huy động – Dư nợ
Trang 27của hệ thống và phù hợp với những quy định của NHNN Sau đây là một số chính sáchtín dụng trung và dài hạn quan trọng trong năm 2009:
Điều kiện vay vốn của khách hàng: KH có năng lực Pháp luật dân sự, nănglực hành vi dân sự đầy đủ và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; Mụcđích sử dụng vốn của KH là hợp pháp; KH phải có đủ khả năng tài chính để trả nợ gốc,lãi; Thực hiện đúng thủ tục về đảm bảo tiền vay theo quy định của Pháp luật và VIB
Lãi suất cho vay: VIB Thủ Đức áp dụng lãi suất trần theo quy định NHNNđối với các khoản vay kinh doanh, vay tiêu dùng áp dụng lãi suất thỏa thuận điều chỉnhtheo 1 kỳ hạn nhất định kể từ thời điểm giải ngân đối với các khoản cho vay trung, dàihạn Lãi suất này được xác định bằng cách lấy lãi suất điều chuyển vốn kinh doanh cho
12 tháng cộng với biên độ sinh lời tối thiểu (Phụ lục 1, 2) Lãi suất cụ thể được ghitrong Khế ước nhận nợ từng lần phù hợp với thỏa thuận của khách hàng và PGD tronghợp đồng tín dụng
Hạn mức tín dụng: VIB có quy định rất cụ thể về hạn mức tín dụng trung –dài hạn của NH.Hạn mức theo từng khối kinh doanh: Dư nợ tín dụng trung/ dài hạnKhối Khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ tối đa là 22.6%, Khối Khách hàng Doanhnghiệp lớn và Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tối đa là 7.4%, Khối Kháchhàng Cá nhân tối đa là 16% so với tổng dư nợ toàn hệ thống Hạn mức tín dụng theo kỳhạn vay: Dư nợ cho vay trung hạn tối đa 13% tổng dư nợ cho vay toàn Hệ thống; Dư
nợ cho vay dài hạn tối đa 33% tổng dư nợ cho vay trên toàn hệ thống
Tài sản đảm bảo: Những tài sản được sử dụng làm TSĐB là động sản, bấtđộng sản, giấy tờ có giá Để đảm bảo tính an toàn cho hệ thống, các TSĐB sẽ được NHtiến hành định giá với giá trị thấp hơn giá trị thị trường Tỷ lệ cho vay/ TSĐB sẽ daođộng từ 70 – 90% tùy theo xếp loại của TSĐB và xếp loại của KH
Một hồ sơ cho vay bao gồm 4 loại: Hồ sơ vay vốn : Tài liệu chứng minhnhu cầu vay vốn, sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ và đề nghị vay vốn của KH; Hồ sơ
Trang 28Hồ sơ kinh tế: Tài liệu chứng minh về khả năng tài chính, hoạt động sản xuất kinhdoanh và đời sống của KH; Hồ sơ đảm bảo tiền vay: Tài liệu chứng minh về tài sảnđảm bảo tiền vay.
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Phòng Giao dịch Thủ Đức – Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam
Quy mô tín dụng trung - dài hạn
Chỉ tiêu thể hiện quy mô tín dụng đó là doanh số cho vay Quy mô của tín dụngtrung dài hạn sẽ được thể hiện qua chỉ tiêu doanh số cho vay và dư nợ tín dụng trungdài hạn
Bảng 1: Cơ cấu cho vay theo kỳ hạn
100%
58.71%
41.29%
372.69213.37159.32
100%
57.25%
42.75%