1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

an sinh giáo dục ở công ty Bảo Việt Nhận thọ Hà Nội

32 340 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề An Sinh Giáo Dục Ở Công Ty Bảo Việt Nhận Thọ Hà Nội
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hướng Dẫn
Trường học Tổng Công Ty Bảo Việt
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Chuyên Đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 174 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

an sinh giáo dục ở công ty Bảo Việt Nhận thọ Hà Nội

Trang 1

Lời mở đầu

Những năm gần đây, công cuộc đổi mới của Chính phủ với việc chuyểnnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng đã mở ra cơ hội kinhdoanh, làm ăn lớn cho các nhà đầu t nớc ngoài và góp phần đẩy nhanh tiến trình

t nhân hoá tại Việt Nam Một trong những vấn đề đang đợc các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế quan tâm là bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tàisản nói riêng do vai trò quan trọng của chúng trong việc bảo toàn vốn, hìnhthành tâm lý ổn định, an tâm cho ngời đợc bảo hiểm trong quá trình hoạt độngsản xuất kinh doanh

Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ViệtNam, nhất là từ khi thị trờng bảo hiểm đã chuyển từ "thị trờng của ngời bán"thành "thị trờng của ngời mua" Vấn đề nghiên cứu, cải tiến, áp dụng và triểnkhai các loại hình bảo hiểm mới đang trở thành một trong những chiến lợc quantrọng mà các công ty bảo hiểm sử dụng để cạnh tranh trên thị trờng

Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng nh những ai đang nghiên cứu, họctập trên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Hoả hoạn đã không còn xa lạ Tuynhiên, làm thế nào để hiểu thấu đáo, tờng tận cơ sở lý luận và thực tế triển khailoại hình này cho phù hợp với điều kiện Việt Nam mà vẫn đáp ứng đợc với nhucầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các doanh nghiệp đang là câu hỏi lớn đặt

ra với tất cả các công ty bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam Chính vì vậy, em đã

chọn đề tài Bảo hiểm hoả hoạn thực trạng - giải pháp đối với Tổng Công ty BảoR

Việt ” làm nội dung nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lý luận

đ-ợc áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc điểm riêng biệtcủa loại hình, cũng nh những công tác cần thiết trong việc triển khai nghiệp vụ.Ngoài ra, đề tài cũng dành một phần đề cập đến thực tế tình hình triển khainghiệp vụ tại Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam - công ty bảo hiểm đầu tiên tiếnhành loại hình bảo hiểm mới mẻ này trong những năm vừa qua

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, tôi đã nhận đợc sự giúp

đỡ tận tình thiết thực của Thầy giáo hớng dẫn và một số cán bộ công tác tạiPhòng Bảo hiểm Hoả hoạn và Kỹ Thuật thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Hà Nội.Xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Bản chuyên đề này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếmkhuyết trong biên tập và trình bày Rất mong đợc sự góp ý và phê bình của thàygiáo và các bạn đồng nghiệp

Trang 2

Chơng I Một số cơ sở lý luận về bảo hiểm hoả hoạn trong nền

kinh tế thị trờng

I Vài nét về lịnh sử bảo hiểm hoả hoạn

Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn lần đầu tiên ra đời trên thế giới là ở Đức năm

1591 mang tên Feuer Casse Một thời gian ngắn sau đó xuất hiên thêm vài Công

ty nữa nhng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17 Năm 1666 đẫ xẩy

ra một vụ Hoả hoạn khủng khiếp ở Lôn Đôn Vụ Hoả hoạn kéo dài năm ngày.Thiêu huỷ gần nh toàn bộ thành phố đã kích thích sự ra đời của bảo hiểm hoảhoạn Một nhà vật lý ngời Anh tên là NICHOLAS BARBEN chuyển nghạchsang lĩnh vực xây dựng trong thời gian xây dựng lại thành phố đã đồng thời cũngbắt đầu bảo hiểm hoả hoạn cho các ngôi nhà mới xây dựng Ban đâu ông điềukhiển Công ty theo kiểu Công ty t nhât nhng sau đó năm 1680 ông đổi thành

Trang 3

Công ty cổ phần mang tên là R The Fire Office R Một số Công ty khác cũng theo

đó ra đời trong đó có Hand in Hand năm 1696 và Sun Fire Office năm 1710

Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là Công ty bảo hiểm tơng hỗ,

do Benfamir Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752, mang tên làThe Philadenphia Contributionship chuyên bảo hiểm Hoả hoạn cho nhà cửa.Công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mỹ mang tên là The insurance company ofNoth America đợc thành lập năm 1792

Xuất phát từ nhu cầu thực tế Bảo hiểm hoả hoạn đã phát triển mạnh mẽ vàtrở thành nghiệp vụ truền thống với phí thu hàng năm rất cao ở Nhật, số phí bảohiểm hoả hoạn thu hàng năm 1993 là 1.017.008 triệu yên ( trên 10 tỷ đô la)chiếm 15,5% doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm phí nhân thọ

II Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm hảo hoạn

Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trungvật t, hàng hoá rất lớn, quy trình công nghệ ngày càng phức tạp và những loạimáy móc hiện đại sẽ đợc phổ biến hơn Trong khi đó, khoa học kỹ thuật an toànthờng đi sau, nguồn vốn sử dụng cho các biện pháp an toàn thờng rất thấp so vớivốn đầu t phát triển sản xuất thêm vào đó điều kiện tự nhiên ngày càng khắcnghiệt và đã khiến cho khả năng xảy ra rủi ro tai nạn nhiều hơn so với mức độthiệt hại về ngời và của nghiêm trong hơn

Chỉ tính riêng hoả hoạn mỗi năm nớc ta xẩy ra hàng nghìn vụ Hoả hoạn

nổ, làm chết hoặc bị thơng hàng trăm ngời, thiệt hại về tài sản hàng chục tỷ

đồng Có những vụ Hoả hoạn làm thiêu huỷ hàng trăm nóc nhà, toàn bộ khu chợlớn hoặc cả một cơ sở sản xuất kinh doanh hàng chục tỷ đồng, làm cho hàngnghìn ngời không còn nhà ở hàng nghìn hộ kinh doanh phải điêu đứng vi mất hếttoàn bộ hàng hoá, tiền của , không còn chỗ kinh doanh làm cho hàng trăm côngnhân không còn nơi làm việc Số liệu thống kê về hoả hoạn ở Việt Nam của cụccảnh sát phòng Hoả hoạn chữa Hoả hoạn trong 5 năm 1998-2003 nh sau:

Bảng 1: Hoả hoạn ở Việt Nam trong năm 1998 - 2002

Năm Số

vụ

Thành phố

Nông thôn

Nhà nớc

Tập thể

T nhân

Liên doanh Chết

Thơng tật

Tài sản (tỷ

Trang 4

có một vài Công ty bảo hiểm hoả hoạn tại miền Nam trong thời kỳ Pháp thuộcsong sang năm 1975 do cơ chế bao cấp, nhà nớc đứng ra bù đắp mọi thiệt hại,bảo đảm tài chính cho các doanh nghiệp khi không may gặp rủi ro nên bảo hiểmnói chung và bảo hiểm hoả hoạn nói riêng không có mảnh đất phát triển Trong

điều kiên nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng hiên nay các doanh nghiệpphải tự chủ về nguồn tài chính, tham gia bảo hiểm tài sản mà cụ thể là bảo hiểmHoả hoạn vẫn là phơng án tối đa

Theo quy tắc bảo hiểm Hoả hoạn hiện nay vẫn sử dụng ở các Công ty bảohiểm trong nớc, ngời tham gia bảo hiểm có thể tham gia đăng ký bảo hiểm chonhững tài sản nh nhà của trang thiết bị hàng hoá, nguyên vật liệu củamình Ngoài Hoả hoạn là rủi ro chính họ còn đăng ký cho các rủi ro phụ nh nổ,giông bão, động đất nớc chảy hay rò rỉ tràn từ bể chứa đờng ống hoặc thiết bịchữa Hoả hoạn, xe cộ hay súc vật đâm vào Trong trơng hợp xẩy ra tổn thất, cácCông ty bảo hiểm bồi thờng cho những thiệt hại trực tiếp từ các nguyên nhân kểtrên và cả những chi tiết cần thiết hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản đợc bảohiểm trong và ngay khi chấy

Tuy nhiên Hoả hoạn không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến cho con ngời vàtài sản mà nó còn để lại những thiệt hại và tổn thât khổng lồ cho các doanhnghiệp Trên thực tế sau khi Hoả hoạn hoạt động sản xuất không thể phát triểntheo kế hoạch kinh doanh đặt ra, các doanh nghiệp sẽ mất khoản lợi nhuận donhà xởng, máy móc bị h hại Để tránh bị phá sản họ phải tiến hành các biện phápkhôi phục lại sản xuất Bên cạch việc duy trì chi trả tiền lơng cho nhân công vàthanh toán các chi phí cố định nh tiền thuê nhà xởng, khấu hao, điện nớc lãi xuấtngân hàng các doanh nghiệp còn phải thuê thêm nhân viên làm việc thêm giờ đểhoàn tất đơn đặt hàng tồn đọng Rõ ràng những khám phá này không đợc bồi th-ờng theo đơn bảo hiểm Hoả hoạn

Để đáp ứng đợc các khoản chi phí trên, nhiều doanh nghiệp đã sử dụngcác quỹ dự trữ, hoặc vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức cho vay khác, song cácphơng pháp này hoàn toàn thụ động Một biện pháp hiện nay đang khẳng địnhtính u việt với các nhà đầu t nớc ngoài đó là tham gia bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh Với loại hình này, các doanh nghiệp không những đợc bồi thờng tài chínhcho các khoản chi phí nói trên mà còn đợc bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mấtmát mà lẽ ra họ đợc mà không bị tổn thơng Nh vậy có thể nói rằng bảo hiểmhoả hoạn đã hạn chế tối thiểu mức ảnh hởng của các rủi ro tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp

Bằng việc đóng góp một khoản phí nhỏ ( thờng là một phần ngàn giá trịcủa tài sản) ngời đợc bảo hiểm có thể đầu t tối đa và triệt để nguồn vốn nhàn rỗicho phát triển hoạt động sản xuất, bởi họ không phải trích lập quỹ dự phòng tr-

Trang 5

ờng hợp xẩy ra rủi ro và quan trọng hơn, bên cạnh việc đợc bồi thờng khi xẩy ratổn thất họ có một tâm lý an tâm khi tiến hành công việc kinh doanh của mình.

Tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp còn đợc các Công ty t vấn về cácbiện pháp phòng trách tổn thất, tăng cờng biện pháp phòng Hoả hoạn chữa Hoảhoạn và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nhằm đảm bảo sự an toàn cao nhất

Bên cạnh việc mang lại lợi ích trên cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoảhoạn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế.Bời vì thông qua việc hớng dẫn các doangh nghiệp thực hiện những biện pháp antoàn, các Công ty bảo hiểm góp phần hạn chế tổn thất tai nạn giúp khách hàngcủa họ có điều kiện thúc đẩy mở rộng sản xuất nh mong muốn Mặt khác, mộtphần không nhỏ khoản phí thu đợc từ loại hình này đợc Công ty bảo hiểm đónggóp vào ngân sách nhà nớc để chính phủ sử dụng các mục đích xã hội

III Việc thực hiện bảo hiểm hoả hoạn ở Việt Nam

ở Việt Nam bảo hiểm hoả hoạn bắt đầu đợc thực hiện từ năm 1989 saukhi có quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989 của bộ trởng bộ tài chính banhành quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn Sau một thời gian thực hiện để phù hợp hơnvới tình hình thực tế, Bộ tài chính lại có quyết định số 142/TCQĐ ban hành quytắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 ban hành biểuphí và bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt với các mức phí tối đa thay chobiểu phí bảo hiểm hoả hoạn theo quyết định số 142/TCQĐ

Đến nay bảo hiểm hoả hoạn đã đợc thực hiện trong khắp cả nớc Nếu nhnăm 1991 số đơn vị hoả hoạn cấp ra mới chỉ có 413 thì tới năm 1994 con số này

đã lên tới 2000 giá trị tài sản năm 1991 là 1000 tỷ đồng thì năm 1992 trên 4000

tỷ, năm 1993 là 7000 và năm 1994 trên 14000 tỷ đồng Số tiền bảo hiểm phí

t-ơng ứng của các năm đó là 4,5 tỷ, 10,2 tỷ, 21,3 tỷ và 3902 tỷ Bảo việt cũng phảichi bồi thờng thiệt hại nhiều vụ Hoả hoạn lớn nh Công ty giầy Hiệp Hng trên 10

tỷ, Công ty dợc Đồng Tháp 4,5 tỷ đồng, chợ đồng xuân trên 8 tỷ đồng, Công tysản xuất và xuất khẩu sông Bé gần 18 tỷ đồng Có thể nói rằng bảo hiểm hoảhoạn đã dần dần đi vào tiềm thức của con ngời Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi tấtyếu của xã hội và ngày càng củng cố vững chắc vị trí quan trọng của mình trongcơ cấu chung của nghành bảo hiểm Việt Nam

Từ khi bắt đầu bảo hiểm hoả hoạn tới nay Tổng Công ty bảo hiểm ViệtNam đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nghiệp vụ, đã làm nhiều văn bản tài liệu hỡngdẫn Tuy nhiên số ngời trực tiếp tham gia tập huấn không phải là nhiều, tài liệuhớng dẫn cũng rải rác, không tập trung hơn nữa theo thời gian bản thân những tàiliệu đã ban hành trở nên lại lạc hậu đòi hỏi phải hoàn thiện bổ xụng thêm

Ngay cả quan điểm biện pháp thực hiên nghiệp vụ cũng có sự thay đổi cănbản Nếu nh trớc đây chúng ta tiến hành bảo hiểm trong điều kiên độc quyền thì

Trang 6

nay hoàn toàn ngợc lại chúng ta phải cạnh tranh với nhiều đối thủ trong và ngoàinớc, hiệu quả kinh doanh đã trở thành thớc đo quan trọng cho hoạt động củaCông ty Điều đó phải đòi hỏi các cán bộ nghiệp vụ, ngoài các phẩm chất kháccủa ngời bán hàng, phải hết sức nhanh nhậy trong việc đa ra các tỷ lệ phí có sứccạnh tranh nhng phải đáp ứng đúng chuẩn mực quy định để đảm bảo kinh doanh

có lãi và đáp ứng yêu cầu của nhà nhận tái bảo hiểm Đông thời cùng với việc

mở rộng kinh doanh, chúng ta cũng phải chú ý đến việc kiểm soát sự tích tụ rủi

ro, nhất là các rủi ro thiên tai nh bão, lũ lụt để tránh các trờng hợp tồn thất hàngloạt Trong việc giải quyết bồi thờng cũng phải đảm bảo chính xác, đúng điềukiện của đơn bảo hiểm và nhanh chóng hơn Mặt khác ngời bảo hiểm cũng phảităng cờng công tác quản lý rui ro, cùng với khách hàng làm tốt công tác hạn chếtổn thất

Xuất phát từ thực tế đó Công ty Bảo Việt đã khai thác tốt thị trờng bảohiểm trong nớc về lĩnh vực bảo hiểm hoả hoạn Do đó những năm gần đây doanh

số của phòng bảo hiểm hảo hoạn tăng từ đó làm tăng doanh thu của Công ty BảoViệt

IV Một số khái niệm cơ bản

1 Rủi ro có thể lựa chọn để bảo hiểm

Mỗi rủi ro có thể đợc nêu thành tên riêng Hầu hết các Công ty trên thếgiới đều chấp nhận áp dụng các phơng pháp tiêu chuẩn khi cấp đơn bảo hiểm và

lu trữ, sử dụng số liệu các rủi ro này đợc đa vào phụ lục của R Quy tắc bảo hiểmhoả hoạn và các rủi ro đặc biệt”

Dùng áp dụng mẫu đơn bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tiêuchuẩn của thị trờng bảo hiểm Lôn Đôn (standard Fire and Special Perils Policy)hay (Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt” của Việt Nam thì rủi rochính đợc bảo hiểm thì cũng là bảo hiểm hoả hoạn Rủi ro A còn có rủi ro B- nổ,C- máy bay và rơi vào, E- nổi loạn bạo động dân sự đợc coi là các rủi ro phụ.Các rủi ro phụ đó không đợc bảo hiểm riêng mà chỉ có thể bảo hiểm cùng với rủi

ro hoả hoạn Các rủi ro phụ đó cũng không đợc bảo hiểm một cách tự động màchỉ đợc bảo hiểm khi khách hàng yêu cầu với điều kiện phải đóng thêm phí vàphải đợc ghi rõ trong giấy yêu cầu và giấy chứng nhận bảo hiểm

Dới đây chúng ta sẽ xem xét một số rủi ro cơ bản dễ gây hiểu lầm còn cácrủi ro khác thì hiểu theo tên gọi của chúng

 Hoả hoạn

Rủi ro này thực chất bao gồm 3 phần: Hoả hoạn, sét và nổ

 Hoả hoạn: Trong đơn bảo hiểm Hoả hoạn tiêu chuẩn không định nghĩa rõthế nào là hoả hoạn vì ngời ta hiểu nó theo nghĩa thông dụng nghĩa là sẽ đ-

ợc coi là hoả hoạn nếu có đủ 3 yếu tố sau đây

Trang 7

- Phải thực sự có phát lửa

- Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng

- Về vật chất đám lửa phải bất ngờ ngẫu nhiên với ngời đợc bảo hiểm chứkhông phải là cố ý có chủ định của họ hoặc đồng loã của họ Tuy nhiênhoả hoạn đợc xẩy ra do bất cẩn của ngời đợc bảo hiểm vẫn thuộc phạm vi

đợc bồi thờng

Khi có đầy đủ 3 yếu tố trên và co thiệt hại về vật chất do những nguyênnhân đợc coi là hợp lý gây ra những thiệt hại đó đợc bồi thờng dù cho là bị Hoảhoạn

Mặc dù không đợc nêu rõ trong đơn bảo hiểm nhng thiệt hại do hoả hoạn

ở đây bao gồm có:

- Thiệt hại do khói mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi thuộc trách nhiệmbảo hiểm

- Thiệt hại do nớc dùng để chứa Hoả hoạn

- Thiệt hại do phá rỡ để ngăn chặn Hoả hoạn lan

- Thiệt hại do việc thực hiện nhiệm vụ chữâ Hoả hoạn

- Thiệt hại mà ngời đợc bảo hiểm phải gánh chịu do việc bảo vệ tài sản vàkiểm soát sự phát triển của ngọn lửa

Tuy vậy hoả hoạn ở đây loại trừ:

- Nổ ro ảnh hởng của hoạ hoạn

- Động đất ngầm

- Tài sản bị phá huỷ hay h hỏng do

+ Do bị lên men hoặc toả nhiệt

+ Quá trình sử lý bằng nhiệt

Việc loại trừ này nhằm thống nhất khái niệm hoả hoạn đợc dùng trongtoàn bộ đợn vị bảo hiểm bằng những rủi ro phụ riêng biệt

 Nổ: Theo rủi ro hoả hoạn, phạm vi bảo hiểm bao gồm:

Các trơng hợp hoả hoạn do nổ ngẫu nhiên đợc bảo hiểm nh vậy ở đây chỉ

có những thiệt hại do nổ mà không gây Hoả hoạn vấn đề còn lại là:

- Tổn thất và thiệt hại do nổ nhng không gây chay thì không đợc bồi thờngtrừ trơng hợp nổ nồi khơi khí phục vụ cho sinh hoạt, với điều kiện vụ nổ

đó không phải do các nguyên nhân bị loại trừ

- Tổn thất do chay xuất phát từ nổ thì đợc bồi thờng với điều kiện là sự nổkhông phải do các nguyên nhân bị loại trừ

- Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ Hoả hoạn: Thiệt hại ban đầu doHoả hoạn đợc bồi thờng nhng những tổn thất do hậu quả của nổ thì không

 Sét: Theo khái niệm thông thờng đợc áp dụng trong đơn bảo hiểm là ngời

đợc bảo hiểm sẽ đợc bồi thờng khi tài sản bị phá huỷ trực tiếp do sét hoặc

Trang 8

bị sét đánh gây Hoả hoạn Tuy nhiên, cũng theo khái niệm thông thờng thìsét đánh mà không phát lửa hoặc khônng pha huỷ trực tiếp tài sản thìkhông thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thờng.

ở đây cần lu ý trừ khi trừ khi tia sét phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện đợc bồithờng, còn tia sét làm thay đổi dòng điện dẫn tới thiệt hại cho thiết bị điện thìkhông đợc bồi thờng

2 Cụm rủi ro

Một nhóm những ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài trời ở liền kề nhau trongmột khu vực, tách biệt với những ngôi nhà kho tàng ngoài trời khác về khônggian

Các ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài trời đợc coi là tách biệt nhau về khônggian nếu khoảng cách giữa chúng là khoảng cách tối thiểu Khoảng cách tốithiểu là khoảng cách tính bằng chiều cao của ngôi nhà cao nhất hoặc vợt quá20m nếu tài sản là loại dễ Hoả hoạn và qua 10m nếu tài sản là loại không Hoảhoạn hoặc khó Hoả hoạn Khoảng cách trên 20m đợc coi là tách biệt về khônggian

- Đợc ngăn cắt bằng tờng chông Hoả hoạn

- Trần làm bằng vật liệu không Hoả hoạn

4 Tơng ngăn Hoả hoạn

Là tờng ngăn Hoả hoạn để chia ngôi nhà hoặc kho ngoài trời thành nhiều

đơn vị rủi ro

Đặc điểm xây dựng của tờng ngăn Hoả hoạn:

- tờng ngăn Hoả hoạn phải có giới hạn chiu lửa ít nhất 90 độ

- Phải đợc xây kín các tầng và không đợc so le nhau

- Nếu mái nhà là loại khó Hoả hoạn thì tờng ngăn Hoả hoạn phải cách máinhà ít nhất là 30m

Trang 9

- Nếu có các cấu kiện khác nằm trong tờng ngăn Hoả hoạn phân độ dầy cònlại cũng phải đảm bảo giới hạn chịu lửa tối thiếu

- Không đợc để vật liệu cấu kiện dễ Hoả hoạn vắt nganh qua tờng ngăn Hoảhoạn

- Tờng ngăn Hoả hoạn phải xây cách những lỗ hở trên mái ít nhất 5m

V Đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trongcông tác quản lý rủi ro Có làm tốt công công việc đánh giá rủi ro thì mới có thểthực hiện đựơc công tác quản lý rủi ro Đối với ngời khai thác bảo hiểm việc

đánh giá rủi ro sẽ giúp họ quyết định có nhận bảo hiểm hay không, mức phí baonhiêu Tài liệu về định giá rủi ro coi nh báo cáo của họ trong hồ sơ về kháchhàng, nó cũng là tài liệu để báo cáo cho các nhà nhận bảo hiểm và cũng là cơ sở

đối chiếu khi giải quyết bồi thờng

Nếu việc điều tra đánh giá rủi ro đợc thực hịên một cách đầy đủ, kỹ lỡng,kết hợp với bảng hỡng dẫn tính phí hoặc sử dụng chơng trình tính phí bảo hiểmtrên máy vi tính, cán bộ khai thác hoàn toàn có thể tính toán ngay đợc một cáchchính xác tỷ lệ phí Điều này giúp cho việc chủ động, nhanh chóng trong khaithác, trách đợc tình trạng phải tham khảo, hỏi han, tốn kém mất thời giờ

Trang 10

Chơng II Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn

tại Bảo Việt

I Thị trờng bảo hiểm Việt Nam - Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn

Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) đợc thành lập từngày 15.1.1965 theo Quyết định số 179/CP ngày 17.12.1964 của Thủ tớng Chínhphủ, là doanh nghiệp nhà nớc duy nhất hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm.Bảo Việt có nhiệm vụ thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ sự đóng góp, tham giabảo hiểm của các đơn vị sản xuất kinh doanh

Từ năm 1981, Bảo Việt đã thành lập các công ty chi nhánh ở các tỉnh, địaphơng để tiến hành các dịnh vụ bảo hiểm Hoạt động của các chi nhánh khôngnhững giúp Bảo Việt triển khai bảo hiểm trên phạm vi cả nớc mà còn hình thànhmột mạnh lới đảm bảo an toàn tài chính cho toàn bộ ngời đợc bảo hiểm

Trong hơn 30 năm qua, ở Việt nam từ "bảo hiểm" đồng nghĩa với "BảoViệt " và ngợc lại lúc nào ngời ta cũng nghĩ rằng chỉ duy nhất có một công tybảo hiểm hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó có lý do của nó Ngoài sựhiện diện và đóng góp của Bảo Việt đối với nền kinh tế, xã hội và với mỗi gia

đình, trong suốt thời gian qua không thấy nói đến một tên công ty bảo hiểm nàokhác.Với đờng lối mở của của nhà nớc, trong cơ chế thị trờngthì việc Nhà nớcdộc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm ( kể cả trên danh nghĩa) là điều khó có thểchấp nhận Chính vì thế nên ngày 18-12-1993 Nghị định 100/CP của Chính Phủ

đã ra đời cho phép các doanh nghiệp trong nớc cũng nh nớc ngoài đợc thành lậpcác công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, mở chi nhánh công ty n-

ớc ngoài tại Việt Nam

Tại Bảo Việt, các nghiệp vụ bảo hiểm nh bảo hiểm thân tàu, bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu đã đợc tiếnhành từ lâu và đã trở thành những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống Song đếnnăm 1989, Bảo Việt mới chính thức triển khai bảo hiểm Hoả hoạn theo Quyết

định 06/TCQĐ của Bộ Tài chính

Năm 1990, trên cả nớc đã có 16 công ty bảo hiểm tiến hành nghiệp vụnày Tuy nhiên nhìn chung mới chỉ bảo hiểm cho các nghành xăng, dầu còn lạiphần lớn các tài sản, các nhà máy, xí nghiệp, công xởng, hệ thống khách sạn từNam ra Bắc trị giá nhiều tỷ đồng vẫn cha đợc bảo hiểm Có nhiều nguyênnhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến việc ngành bảo hiểm cha triển khai đ-

ợc toàn diện Nguyên nhân cơ bản là chúng ta đã quá quen với cơ chế bao cấp,Hoả hoạn và rủi ro xảy ra đã có Nhà nớc bù đắp thiệt hại còn các doanh nghiệp

Trang 11

thuộc các thành phần kinh tế khác thì cha có thói quen tham gia bảo hiểm tàisản Bên cạnh đó về chủ quan, công tác tuyên truyền, vận động thu hút kháchhành của nghành bảo hiểm còn nhiều hạn chế.

Sau một năm thực hiện, một yêu cầu cấp bách đợc đặt ra là phải có quy

định chung hớng dẫn về bảo hiểm Hoả hoạn Vì vậy ngày 2 5.1991, Bảo Việt đãban hành Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt áp dụng trên cả nớc.Nghiệp vụ này ngày càng khẳng định đợc vị trí quan trọng của nó đặc biệt là saukhi Hội đồng bộ trởng ra quyết định số 332/ HĐBT ngày 23 10 1991 về việc bảotoàn, phát triển vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nớc Bên cạnh đó,thông t số 82/TC/CN hớng dẫn cụ thể việc thực hiện quyết định trên của HĐBT :

" Để tránh các trờng hợp không bảo toàn đợc vốn do nguyên nhân khách quan

nh thiên tai, rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh tránh các trờng hợp phải

xử lý giảm vốn và đa lỗ vào doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải mua bảohiểm tài sản để tạo nguồn bù đắp cho các thiệt hại đó tại các công ty bảo hiểmViệt nam Khoản chi về bảo hiểm đợc hạch vào giá thành hoặc chi phí lu thôngcủa doanh nghiệp Nhà nớc sẽ không cho ghi giảm vốn trong trờng hợp tài sản bịtổn thất vì những rủi ro mà công ty bảo hiểm trong nớc triển khai loại hình bảohiểm tơng ứng "

II Các hoạt động trong bảo hiểm hoả hoạn

Cũng giống nh bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảo hiểmHoả hoạn gồm các bớc cơ bản sau:

1 Công tác khai thác bảo hiểm

Đây là bớc đầu tiên và không thể thiêú trong nghiệp vụ bảo hiểm Côngtác khai thác đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển một công ty Kháchhàng sẽ không mua bảo hiểm nếu họ không biết rằng mua bảo hiểm họ sẽ đợclợi gì Do đó mà công việc tuyên truyền, quảng cáo trong bớc này là cần thiết và

nó càng trở nên đặc biệt quan trọng đồi với nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn nghiệp vụ mà cha có tập quán ở nớc ta

-1.1 Tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tiếp cận khách hàng

Hàng năm Bảo Việt kết hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan nh:cảnh sát PCCC, đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, các Bộ, nghành để tuyên

Trang 12

truyền về ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm Hoả hoạn Qua đó mới có thể thuyếtphục đợc khách hàng mua bảo hiểm.

Mặt khác, công ty cử cán bộ xuống từng xí nghiệp, đơn vị kinh doanh đểgiải thích, vận động mua bảo hiểm chứ không thụ động ngồi chờ khách hànghoặc chỉ gửi các công văn, quy tắc cho họ trả lời vì khách hàng rất ngại đọc Mộtphần vì khó hiểu, một phần vì không nhận thức đợc hết ý nghĩa, tác dụng củabảo hiểm

Cán bộ bảo hiểm cần chủ động đến gặp khách hàng, cùng họ đi thăm cơ

sở sản xuất, nghiên cứu quy trình sản xuất của họ , chỉ cho họ thấy những rủi ro

mà họ có thể gặp phải và những hậu quả của nó Cán bộ bảo hiểm giải thích rõcho khách hàng khi tham gia bảo hiểm họ đợc gì và mất gì, ớc tính số phí mà họphải trả, giải đáp những vấn đề mà họ còn thắc mắc, cha hiểu rõ, gây cho họlòng tin và nhu cầu tham gia bảo hiểm Kinh nghiệm cho thấy rằng, hớng tuyêntruyền vận động nên tập trung vào những đối tợng "ăn nên làm ra ", có của ăncủa để Vì thế, Bảo Việt đã chú ý đến các đơn vị, doanh nghiệp lớn có khả năngtài chính khai thác nh : Công ty liên doanh về các thiết bị viễn thông COMVIK

đã mua bảo hiểm với số tiến bảo hiểm là 19000000 $, mức phí là 47500 $ ; công

ty liên doanh INDOCHINA CERAMIC sản xuất vật liệu xây dựng, trang thiết bịnội thất đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $

Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán bộkhai thác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phơng tiện thông tin đại chúng(báo chí, phát thanh, truyền hình ) đồng thời phải có sự phối hợp với các ngânhàng, cơ quan khác để nắm bắt đợc đối tợng

1.2 Đánh giá rủi ro

Công tác đánh giá rủi ro đợc tiến hành sau khi khách hàng gửi giấy yêucầu bảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra với các đối t -ợng bảo hiểm Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợp tơng ứng với các rủi

ro mà công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm

Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thờng công ty bảo hiểm sẽ gửi chokhách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi) Qua phần trả lời kháchhàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác định đợc bậc chịu lửa củacông trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC đợc trang bị, đội cứu hoả, bảo vệ ),hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh doanh dịch vụ (với đơn vị kinhdoanh dịch vụ), mức độ nguy hiểm với các tài sản để trong kho, cửa hàng, từ đóxác định mức phí thích hợp

Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánh giárủi ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ đếnlàm việc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực tế kỹ hơn, hớng

Trang 13

dẫn khách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, cùng cộng tác với cảnhsát PCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC, phơng tiện chuyên môn (kháchhàng cần những phơng tiện PCCC nào, bố trí ở đâu, với số lợng là bao nhiêu ).Cuối cùng trên cơ sở đánh giá rủi ro, cán bộ khai thác sẽ thoả thuân với kháchhàng về tỷ lệ phí sẽ áp dụng.

Nh vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó yêucầu cán bộ bảo hiểm không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải có sựnăng động, tận tình và cẩn thận.Trong bảo hiểm Hoả hoạn, khâu đánh giá rủi ro

là khâu quyết định trong việc cấp đơn bảo hiểm cũng nh việc đa ra mức phí phùhợp

1.3 Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm (đơn bảo hiểm)

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn, công ty bảo hiẻm sẽ cấp giấychứng nhận bảo hiểm cho khách hàng sau khi họ đã chấp nhận mức phí Giấychứng nhận bảo hiểm Hoả hoạn bao gồm :

- Số đơn bảo hiểm

- Tên, địa chỉ ngời đợc bảo hiểm

- Ngành sản xuất kinh doanh

- Những rủi ro đợc bảo hiểm

- Tài sản dợc bảo hiểm

- Tổng giá trị tài sản

- Số tiền bảo hiểm

- Chi phí dọn dẹp hiện trờng

Giấy chứng nhận bảo hiểm cần đợc lập thành bốn bản : Một bản trao chokhách hàng, một bản cho tài vụ, một bản lu và một bản cho Tổng công ty.Hiệnnay Bảo Việt cũng quy định phạm vi mức phân cấp khai thác cho từng công ty.Nếu đối tợng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trong phạm vi đó thì công ty chỉ cầngửi một bản giấy chứng nhận Nếu vợt quá mức phân cấp, trớc khi cấp giấychứng nhận cho khách hàng, các công ty cần gửi hồ sơ cho Tổng công ty xemxét và quyết định

1.4 Bổ sung tài sản đợc bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí

Trang 14

Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sản đợcbảo hiểm sau khi đã đợc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Các công ty cần xemxét kỹ yêu cầu thay đổi nh : giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnh hởng đến tỷ lệ phí

để từ đó tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểm cho thích hợp Bản bổsung sửa đổi cũng đợc lập thành bốn bản trao cho các bộ phận nói trên

Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đối tợngbảo hiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăng cờng công tácnày Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ để theo dõi việc đóng phícủa khách hàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khi thời hạn bảo hiểm sắp hết

1.5 Hoa hồng

Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng Đây

là một khoản chi đợc tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo hiểm Khoảnhoa hồng này, công ty trả cho ngời trực tiếp đứng ra tham gia bảo hiểm hoặc trảcho ngời môi giới nhằm động viên khuyến khích họ nhiệt tình công tác, thu hútthêm nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm Đây cũng là một hình thức tạo dựngmối quan hệ lâu dài với khách hàng.Từ năm 1995, để tạo tính chủ động, linhhoạt trong hoạt động, khoản chi hoa hồng đợc tính vào chi quản lý nghiệp vụ

Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạt độngkinh doanh bảo hiểm Thực hiện tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho các công ty bảohiểm mở rộng và chiếm lĩnh thị trờng

2 Công tác giám định tổn thất

Khâu giám định tổn thất có vị trí quan trọng đối với công tác bồi thờng.Các giám định viên bảo hiểm có nhiệm vụ xác định : nguyên nhân rủi ro cóthuộc phạm vi bảo hiểm hay không, giá trị thiệt hại thực tế là bao nhiêu

2.1 Điều tra tai nạn

Nhận đợc thông báo tai nạn, giám định viên bảo hiểm sẽ xuống ngay hiệntrờng để nắm tình hình và điều tra tai nạn Mục đích của việc điều tra tai nạn làthu nhập các bằng chứng và sự kiện Trên cơ sở đó giải đáp các câu hỏi: tai nạn

đã xảy ra nh thế nào, ở đâu, khi nào, vì sao Muốn vậy trong quá trình điêù tra,giám định viên phải thu thập hai loại thông tin : các tang vật và lời khai của nhânchứng

- Tang vật: Là bất cứ một việc gì có liên quan giúp cho việc xác địnhnhững sự việc liên quan đến tai nạn Hầu hết các tang vật đều có thể tìm thấy ởhiện trờng hay cũng có thể tìm thấy ở nơi sửa chữa bị h hại

- Lời khai của nhân chứng: Là những lời kể, những câu trả lời của cácnhân chứng thờng là những ngời có mặt ở nơi hiện trờng khi xảy ra tai nạn Lờikhai của nhân chứng cũng giúp cho việc xác định những vấn đề có liên quan đếntai nạn Ngời bảo hiểm cần có những khả năng phân tích tìm ra những lời khai

Trang 15

xác thực vì các lời khai của nhân chứng thờng khác nhau và có khi mâu thuẫnvới nhau.

Ngoài việc tiếp xúc, trao đổi, hỏi chuyện với các nhân chứng, giám địnhviên cần gặp gỡ, trao đổi với ngời đợc bảo hiểm, với công an PCCC Qua đó,nguyên nhân Hoả hoạn, đánh giá sơ bộ và khái quát mức độ thiệt hại

2.2 Đề xuất các biện pháp hạn chế tổn thất

Thông thờng sau khi gặp hoả hoạn, ngời đợc bảo hiểm rất hoang mang vàlúng túng không biết phải làm gì Vì vậy trên cơ sở xem xét hiện trờng và songsong với việc điều tra tai nạn, giám định viên bảo hiểm phải góp ý kiến với ngời

đợc bảo hiểm các biện pháp hạn chế tổn thất nh sau:

- Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại

- Rào kín những nơi mà ngời ngoài có thể đột nhập vào

- Bơm rút nớc cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản

để tránh tài sản h hỏng thêm

- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,

Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra đợc nguyên nhângây Hoả hoạn Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫn đến hoảhoạn Cuối cùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độ thiệt hại và lậpbiên bản giám định Biên bản giám định sẽ đợc trình lên công ty một bản vàTổng công ty một bản

3 Công tác bồi thờng

Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chất quantrọng đối với ngời làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảm thông sâu sắctới các nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng Phẩm chất đó phải đợc thể hiện

đặc biệt rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồi thờng Giải quyết bồi thờngtốt có nghĩa là giải quyết nhanh và đúng - đây là nhiệm vụ số một của ngời làmcông tác bồi thờng và là một trong những biện pháp tuyên truyền có hiệu quảnhất, làm tăng uy tín của công ty và có ảnh hởng tích cực tới khâu khai thác bảohiểm

Đảm bảo đợc mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thờng, cán bộcông ty cần thực hiện tốt những bớc sau:

3.1 Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm

Nhận đợc hồ sơ đòi bồi thờng, ngời bảo hiểm phải kiểm tra, xem xét hồ sơ

có đầy đủ và hợp lệ không Trờng hợp hồ sơ thuộc trách nhiệm bảo hiểm nhngcha đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời và ngày trả lời kháchhàng Sau đó, cán bộ bồi thờng xem xét đối chiếu với quy tắc bảo hiểm và vănbằng hớng dẫn của Tổng công ty để xác định trách nhiệm bảo hiểm Cụ thể :khiếu nại có nằm trong phạm vi thoả thuận bảo hiểm không; có điểm loại trừ nào

Trang 16

tác động và ảnh hởng đến khiếu nại đó không; có điều kiện bảo hiểm nào bị viphạm làm vô hiệu hoá hoặc thu hẹp phạm vi đợc bảo hiểm của khiếu nại không ?

3.2 Xác định mức độ thiệt hại

Chức năng chính của công tác bảo hiểm là bồi thờng những thiệt hại thực

tế xảy ra cho ngời tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh chongời đợc bảo hiểm Xác định đúng giá trị thiệt hại mới đảm bảo việc bồi thờngthực sự đem lại hiệu quả cho ngời đợc bảo hiểm.Việc xác định giá trị thiệt hại đ-

ợc tiến hành trên nguyên tắc : phải xác định ngay tại thời điểm và địa điểm xảy

ra tổn thất Trên cơ sở biên bản giám định về mức độ thiệt hại cùng các biên lai,chứng từ xác minh kèm theo các hồ sơ khiếu nại, cán bộ bồi thờng sẽ xác định đ-

ợc mức thiệt hại thực tế của từng đối tợng bảo hiểm

3.3 Xác định số tiền bồi thờng

Nếu hồ sơ khiếu nại đã hợp lệ, đầy đủ, tổn thất đã đợc xác định là thuộcphạm vi bảo hiểm và tính toán đợc số tiền thiệt hại thì ta có thể tiến hành xác

định số tiền bồi thờng

Số tiền bồi thờng xác định dựa trên các cơ sở sau :

- Giá trị thiệt hại thực tế

- Số tiền bồi thờng (là giới hạn trên của số tiền bồi thờng)

- Mức miễn thờng: sẽ không phải bồi thờng nếu tổn thất bằng hoặc nhỏhơn mức miễn thờng Nếu tổn thất lớn hơn mức miễn thờng thì phải trừ đi mứcmiễn thờng (trong trờng hợp áp dụng mức miễn thờng có khấu trừ)

Trớc khi tính toán số tiền bồi thờng, ngời đợc bảo hiểm cần xem xét sốtiền khách hàng đòi bồi thờng là bao nhiêu Nếu số tiền đó bằng hoặc nhỏ hơnmức miễn thờng thì không cần tính toán mà có thể trả lời ngay cho khách hàng

là tổn thất không đợc bồi thờng vì nằm trong phạm vi mức miễn thờng Nếu tổnthất lớn hơn mức miễn thờng thì phải tính chi tiết mức độ thiệt hại

Cụ thể:

* Đối với bảo hiểm Hoả hoạn:

Số tiền bảo hiểm

Số tiền bồi thờng = Giá trị thiệt hại 

Giá trị bảo hiểm

3.4 Lập hồ sơ bồi thờng, giải quyết bồi thờng và khiếu nại

Trên cơ sở tính toán đợc số tiền bồi thờng nh trên, cán bộ bồi thờng sẽ lập

hồ sơ bồi thờng và trình lên lãnh đạo Tổng công ty xét duyệt bồi thờng Sau khi

có quyết định của lãnh đạo, cán bộ bồi thờng sẽ thông báo cho khách hàng cụthể về mức bồi thờng, thời gian, địa điểm công ty bảo hiểm chi trả số tiến đócũng nh các giấy tờ cần thiết mà họ phải có Nếu khách hàng chấp nhận thì việcbồi thờng sẽ đợc chuyển cho phòng kế toán-tài vụ

Ngày đăng: 27/03/2013, 08:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w