Dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hoá rực rỡ đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh to lớn để dân tộc ta làm nên những kỳ tích trong lịch sử. Hiện nay chúng ta đang thực hiện xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm xây dựng nước ta ngày càng giầu đẹp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy bản sắc văn hoá của dân tộc ta là gì? Định hướng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như thế nào, với ý nghía đó hôm nay các đồng chí nghiên cứu chủ đề
Trang 1MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hoá rực rỡ đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh to lớn để dân tộc ta làm nên những kỳ tích trong lịch sử Hiện nay chúng ta đang thực hiện xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm xây dựng nước ta ngày càng giầu đẹp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vậy bản sắc văn hoá của dân tộc ta là gì? Định hướng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như thế nào, với ý nghía đó hôm nay các đồng chí nghiên cứu chủ đề
BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HOÁ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
Trang 2I BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HOÁ.
1 Một số khái niệm liên quan.
a) Văn hoá cổ truyền
Là toàn bộ thành tựu văn hoá(bao gồm những tác phẩm, giá trị, chuẩn mực, hoạt động…) được những thế hệ trước, thời đại trước sáng tạo ra
VD: Ở nước ta thế kỷ XV có tác phẩm “Bình ngô đại cáo”, của Nguyễn Trãi là thành tựu văn hoá cổ truyền của dân tộc ta
b) Văn hoá truyền thống:
Là những thành tựu ưu tú trong kho tàng văn hoá cổ truyền được giữ gìn
và các thế hệ sau kế thừa, phát triển lên một trình độ mới, xem đó là bảo vật, nền tảng, khuôn mẫu của hiện tại
VD: Dân ca quan họ Bắc Ninh hay hát xoan ở Phú Thọ
c) Truyền thống văn hoá của dân tộc
Phản ánh thói quen của một dân tộc biết lưu giữ, kế thừa và chuyển giao những giá trị văn hoá tiêu biểu cho các thế hệ mai sau
VD: Truyền thống “lá lành đùm lá rách” của người Việt hay truyền thống
“tôn sư trọng đạo”, truyền thống hoà hiếu với các dân tộc khác trên thế giới
d) Bản sắc dân tộc
Là những tinh hoa về mọi phương diện, mang tính bền vững và tiêu biểu cho một cộng đồng dân tộc, đồng thời cũng mang tính riêng độc đáo của mỗi cộng đồng dân tộc là cái không thể vay mượn của dân tộc khác
VD: Dân tộc ta có bản sắc là cần cù, chịu thương, chịu khó, đoàn kết gắn
bó thuỷ chung, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
e) Toạ độ văn hoá dân tộc
Là quan điểm của lịch đại và đồng đại để định hình văn hoá dân tộc, bao gồm không gian văn hoá dân tộc, thời gian văn hoá dân tộc và chủ thể văn hoá dân tộc
VD: Văn hoá Hoà Bình ở nước ta có cách đây khoảng 1 vạn năm
2 Khái niệm bản sắc văn hoá dân tộc của văn hoá.
Khái niệm:
Trang 3Bản sắc dân tộc của văn hoá là một trong những khía cạnh bản chất của văn hoá, là cái gốc rễ, cái định hình riêng có được tổng hợp nên từ những tinh tuý của cả cộng đồng dân tộc, được coi như dấu hiệu đặc trưng cho bộ ren di truyền về mặt tinh thần để nhận diện dân tộc giữa cộng đồng nhân loại
Từ khái niệm đã chỉ rõ:
- Đó là kết quả mối liên hệ lâu dài giữa cộng đồng với tự nhiên và tiến trình lịch sử xã hội trước hết biểu hiện thành bản sắc dân tộc của dân tộc
VD: Di tích Hòn vọng Phu nó còn biểu hiện sự thuỷ chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam từ hàng ngàn năm nay
+ Điều đó làm cho văn hoá về bản chất là không hội nhập theo kiểu nhất thể hoá, nhưng lại rất uyển chuyển trong dung hợp các giá trị chung để tự làm giầu
+ Quá trình giao lưu văn hoá là quá trình các dân tộc tự toả sáng, tự xem xét, phát triển những giá trị vốn có của mình và tiếp thu những giá trị văn hoá của các dân tộc khác
VD: Với nước ta trong quá trình giao lưu văn hoá với Trung Quốc, ta tiếp thu những giá trị tốt đẹp của văn hoá Trung Quốc đồng thời cũng “gạn đụng khơi trong”để làm giầu văn hoá dân tộc ta
+ Bản sắc dân tộc của văn hoá không tồn tại biệt lập, đối lập với tính nhân loại và tính nhân loại của văn hoá cũng chỉ được bộc lộ thông qua nền văn hoá mang bản sắc riêng của từng dân tộc nhất định
- Tính thống nhất và tính đa dạng của văn hoá đều dẫn đến hình thành, tôn tạo bản sắc dân tộc của văn hoá
+ Nếu phủ định tính thống nhất thì nền văn hoá chỉ là sự hỗn độn những bản sắc cá nhân mà không có bản sắc dân tộc
+ Nếu tước bỏ tính đa dạng văn hoá thì chỉ có thứ văn hoá chung chung, trìu tượng
VD: Các lễ hội cồng chiêng (Tây Nguyên), tục bắt vợ của người Mông ở Tây Bắc là những sự đa dạng của văn hoá các dân tộc thiểu số nằm trong bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam
Trang 4- Nói đến bản sắc dân tộc của văn hoá là nói tới mối quan hệ văn hoá dân tộc với văn hoá nhân loại
Bởi vì: Văn hoá nhân loại là sự kết tinh, tập hợp của văn hoá các dân tộc trên thế giới hình thành đến ngày nay, còn văn hoá dân tộc Việt Nam là sự tiếp thu có chọn lọc, sự giao lưu với văn hoá các dân tộc khác trên thế giới và là một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại
- Bản sắc dân tộc của văn hoá luôn được hình thành trội nhất, bền vững nhất
- Tính đa dạng của văn hoá trước hết phản ánh tính đa dạng của các lứa tuổi, giới, ngành nghề, tính đa dạng của các đối tượng người dân, đồng thời còn phản ánh tính đa dạng trong sắc thái văn hoá vùng và truyền thống tộc người
VD: Đờn ca tài tử chỉ có của người miền tây Nam Bộ hay lễ hội đua thuyền chỉ có ở người Khơ Me Nam Bộ
+ Nhưng dù đa dạng đến đâu, các giá trị văn hoá đều hướng tới các tiêu chí mang tính thống nhất
VD: Đều làm giầu truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, không lai căng, sao chép văn hoá của các dân tộc khác
+ Bản sắc dân tộc của văn hoá còn phát huy những tiềm năng văn hoá đa dạng của mọi người và sắc thái vùng của từng địa phương
VD: Điệu hát xoan ở vùng trung du (Phú Thọ) hay hát chèo ở vùng đồng bằng sông Hồng
- Bản sắc dân tộc của văn hoá và truyền thống văn hoá dân tộc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ không thể tách rời
+ Bản sắc dân tộc của văn hoá là “sợi chỉ đỏ” liên kết và xuyên suốt truyền thống văn hoá dân tộc
+ Truyền thống văn hoá dân tộc là dòng chẩy liên tục vừa đào sâu, vừa
mở rộng và phát triển không ngừng bản sắc dân tộc của văn hoá
II BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM
1 Những nhân tố cơ bản quy định bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam
Trang 5a) Địa văn hoá Việt Nam: Vành đai văn hoá Đông Nam Á
- Văn hoá Việt Nam nằm ở khu vực cư trú của người Bách việt và mở rộng về phía nam, thu hẹp về phía bắc như ngày nay
+ Nước ta nằm ở trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, cùng với các quốc gia khác sinh tụ trên một khu vực địa lý-cư dân có chung một nền tảng văn hoá lấy sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu
+ Tuy siện tích nước ta không lớn, nhưng nước ta có cả khí hậu nhiệt đới gió mùa và khí hậu biển rất tghuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
VD: Siện tích nước ta là 331.212 km2 và 1 triệu km2 vùng biển đặc quyền kinh tế, có 3260 km bờ biển là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa
- Việt Nam được coi là một Đông Nam Á điển hình + Các sắc thái văn hoá núi, biển, đồng bằng đều hiện diện tại Việt Nam, mặt khác bởi vị trí trung tâm đầu cầu, nước ta có điều kiện giao lưu với văn hoá bên ngoài và tiếp thu có chọn lọc văn hoá các nước xung quanh
VD: Phật giáo khi du nhập vào nước ta thì nhanh chóng được người Việt tiếp thu phù hợp với truyền thống, bản sắc con người Việt Nam có điểm khác Phật giáo tại Thái Lan, Ấn Độ(cách ăn mặc)…
b) Sử-văn hoá Việt Nam: dựng nước gắn liền với giữ nước
Đi tìm cội nguồn truyền thống bản sắc văn hoá dân tộc chính là tìm về lịch sử đất nước, con người dân tộc Việt Nam
- Với nền văn hoá Việt Nam, thời gian văn hoá dân tộc tính từ khi hình thành những cộng đồng người đầu tiên sống trên lãnh thổ nước ta
+ Qua khảo cổ học tại Núi Đọ, Hang Gòn, Dầu Dây…có thể khẳng định người Việt cổ đã có mặt ở đây từ thời đồ đá cũ cách đây chừng 30-50 vạn năm + Lịch sử văn hoá dân tộc Việt Nam đã hình thành từ thời tối cổ, qua các
thời kỳ cổ-trung đại đến ngày nay, được kết nối thành truyền thống và không ngừng tự làm giầu qua các thời đại lịch sử
Trang 6- Dân tộc Việt Nam có lịch sử văn hoá lâu đời mà chủ thể văn hoá đầu tiên chính là cộng đồng người Lạc Việt(một trong những bộ phận trung tâm của người bách việt cổ)
+ Đó là cư dân cổ xưa nhất ở nước ta đã dựng nên nước Văn Lang mở ra thời đại các Vua Hùng và dựng nên truyền thống văn hoá Hùng Vương rực rỡ
+ Là sản phẩm của sự nghiệp dựng nước đi đôi với giữ nước, văn hoá Việt Nam đồng thời là một trong những động lực cơ bản nhất của sự nghiệp ấy bằng đạo lý, bằng truyền thống nhân văn, bằng sức mạnh đại đoàn kết và cả chiều sâu tâm linh
- Sự liên kết cộng đồng dân tộc là nền tảng nhân hoà để khai thác thiên thời, địa lợi Tạo ra sức mạnh khắc phục mọi trở ngại, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và các đội quân xâm lược hung hãn
VD: Chống chọi với lũ lụt, hạn hán, đất nở hay chống chọi với các đội quân xâm lược hùng hậu của các đế chế Trung Quốc
c) Kinh tế - văn hoá Việt Nam: Sản xuất nông nghiệp văn minh lúa nước
- Lúa nước là cây bản địa của Việt Nam và Việt Nam là một trung tâm xuất hiện sớm nhất nghề lúa nước cách đây khoảng 1 vạn năm, gắn liền với việc
di cư từ vùng cao xuống đồng bằng châu thổ Sông Hồng
+ Người Việt từ thế hệ này qua thế hệ khác phải đổ bao công sức để kiến tạo nên một hệ thống đê điều, mương máng tưới tiêu để trồng lúa nước
VD: Hệ thống đê Sông Hồng đắp từ thời Lý-Trần
+ Sự đối mặt với cuộc sống đồng nghĩa đối mặt với trời, đất và nước do vậy sớm hình thành nguyên lý Mẹ trong tâm thức văn hoá dân tộc: Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ lúa và bao trùm tất cả là Mẹ Tổ quốc
- Cùng với những tác động tích cực, nhân tố kinh tế-văn hoá cũng làm nẩy sinh những tác động tiêu cực chi phối đời sống vật chất và tinh thần của người dân
+ Sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, công cụ sản xuất thủ công, giản đơn tạo tình trạng năng xuất thấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên
Trang 7VD: Ở Bắc Bộ nước ta thời trước ruộng đất chia nhỏ, sản xuất biệt lập giữa các vùng miền, năng xuất phụ thuộc vào yếu tố thiên nhiên là nhiều
+ Người dân nông thôn còn bộc lộ tâm lý tiểu nông, tư tưởng an phận thủ thường, bằng lòng với nghèo đói, tù túng, thiếu đột phá
VD: Tâm lý đố kỵ, ganh gét lẫn nhau…vẫn còn tồn tại đến ngày nay
d) Chính trị - văn hoá Việt Nam: trong thế ứng xử với văn hoá nước ngoài
- Nền văn hoá dân tộc Việt Nam phát triển trong sự giao lưu trong nhiều quốc gia dân tộc trong lịch sử nhất là đối với Trung Quốc
+ Hai nước có quan hệ láng giềng, hoà bình hữu nghị nhiều tộc người đã qua lại và sinh sống ở cả hai quốc gia
+ Do Trung Quốc thôn tính nước ta trong hơn một nghìn năm, âm mưu đồng hoá nước ta cả về chính trị và văn hoá
VD: Từ năm 179 TrCN-năm 938 thời kỳ Bắc thuộc nước ta trở thành quận, huyện của chúng
* Về hệ tư tưởng: Nho giáo cùng với chữ Hán được đưa vào và trở thành chỗ dựa của chính quyền phong kiến Việt Nam, chi phối cả về giáo dục, đạo đức, văn chương
* Về thể chế Nhà nước: khi nước ta giành được độc lập nước ta tiếp thu thể chế nhà nước phong kiến Trung Quốc đang là hình mẫu đương thời
VD: Từ thế kỷ X – giữa XIX các triều đai Phong kiến Việt Nam đều xây dựng nhà nước TW tập quyền giống Trung Quốc
* Về phong tục, tập quán, lễ nghi:một số cách ăn, ở, mặc, chào hỏi, lễ tết, hiếu hỷ của người Hán được du nhập vào nước ta theo chân những đội quân xâm lược
- Trong quá trình giao lưu văn hoá với bên ngoài người Việt Nam đã có cách ứng xử phù hợp là ứng xử chính tri-văn hoá
+ Chúng ta đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá Trung Quốc làm giầu bản sắc văn hoá dân tộc mình
VD: Chữ Hán khi vào nước ta cha ông ta đã cải biến thành chữ Nôm
+ Quá trình đó văn hoá nước ta tác động trở lại mạnh mẽ với văn hoá Hán
Trang 8e) Xã hội – văn hoá Việt Nam: văn hoá làng xã
- Văn hoá làng, xã ở nước ta trên cơ sở văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước, làng gắn liền với nước cho nên gọi là làng nước
+ Ở đồng bằng thành các làng, miền núi thành các bản, buôn,thực tế như một quốc gia thu nhỏ, khép kín
VD: Ở làng có lệ làng, hương ước riêng, “phép vua thua lệ làng”
+ Làng cũng được coi như một gia đình lớn, và nhiều khi trên thực tế đồng nhất với gia tộc vì phần đông thường là bà con họ hàng thân thiết
- Làng, xã có rất nhiều cái chung như: cây đa, bến nước, sân đình…tạo nên sự gắn bó suốt cuộc đời từng con người với làng nước, nên tình cảm đặc biệt
“đất lề quê thói” tình làng nghĩa xóm “tắt lửa tối đèn có nhau” là nơi nẩy sinh lòng yêu nước
+ Làng xã Việt Nam là nơi hình thành nếp sống kỷ cương, đạo lý, là cái nôi của văn hoá dân gian, là nơi sản sinh lưu giữ và phát triển văn hoá dân tộc
VD: Các trò chơi chọi gà, đánh cờ tướng, hát chèo…trong các lễ hội làng + Làng xã là nơi phát huy sức mạnh đoàn kết cộng đồng, trở thành pháo đài giữ nước
- Tuy nhiên làng xã Việt Nam còn những hạn chế như :
+Tính khép kín, tâm lý ngại giao lưu, chậm tiếp nhận nhân tố mới, rễ nẩy sinh tình trạng bảo thủ, trì trệ và các hiện tượng cục bộ địa phương, thói gia trưởng, kèn cựa
+ Văn hoá làng xã thấp, bởi người nông dân an phận thủ thường, còn phát sinh nhiều thủ tục rườm rà, tập tục thói quen lạc hậu
VD: Các lễ cưới, đám ma, đám giỗ…gây tốn kém, lãng phí tiền của nhân dân tại các địa phương
Tóm lại: qua tìm hiểu những nhân tố văn hoá dân tộc Việt Nam cho chúng
ta thấy sự thống nhất đa dạng trong đời sống văn hoá nó chẩy suốt thành mạch nguồn xưa và nay tạo nên dấu ấn văn hoá Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam
2 Những nét tiêu biểu trong bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam
Trang 9Bản sắc dân tộc cảu văn hoá Việt Nam là sự kết tinh của tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cốt cách của con người Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử Những nét tiêu biểu trong bản sắc dân tộc của văn hoá là
a) Lòng yêu nước:
Đối với con người Việt Nam yêu nước đã trở thành truyền thống, sức mạnh thiêng và niềm tự hào lớn nhất của cả cộng đồng dân tộc, tâm niệm yêu nước thương nòi như một nguyên tắc sống hàng đầu
Là dòng sữa tinh thần nuôi dưỡng bản sắc dân tộc của văn hoá, truyền thống yêu nước Việt Nam có cội nguồn sâu xa từ lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước như một tất yếu khách quan
- Cơ sở hình thành lòng yêu nước:
+ Nước ta “rừng vàng biển bạc” nhưng cũng chứa đựng bão giông, nắng lửa, lụt lội, do khí hậu khăc nghiệt mang đến Nên nhân dân ta đã phải đoàn kết chống chọi với thiên tai gây ra để mà sống và tồn tại Do vậy người Việt đã từ rất sớm đã đắp đê, trị thuỷ
VD: Do vị trí nằm bên bờ biển Đông hàng năm chúng ta hứng chịu hơn chục cơn bão lớn nhỏ, năm 2013 cả nước hứng chịu 14 cơn bão gây bao nhiêu thiệt hại cho nhân dân ta nhất là khúc ruột Miền Trung
+ Truyền thống yêu nước còn được bắt nguồn và nhân lên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, nước
ta phải thường xuyên bị các thế lực ngoại bang xâm lược, muốn tồn tại dân tộc
ta phải đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù
VD: Thời kỳ Bắc thuộc tiêu biểu các cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Phùng Hưng, Mai Thúc Loan
Thời kỳ giành độc lập tiêu biểu các chiến công chống quân Tống của Lý Thường Kiệt, chống quân Nguyên của Trần Hưng Đạo, quân Minh của Lê Lợi-Nguyễn Trãi, quân Thanh của Quang Trung…
- Truyền thống yêu nước Việt Nam thể hiện ở rất nhiều phương diện:
Trang 10+ Tình yêu quê hương đất nước: đối với người Việt Nam quê hương thật nặng tình, nặng nghĩa, không chỉ đơn thuần là nơi ăn ở, sinh sống mà còn là thành quả văn hoá của bao thế hệ lập nên và giữ gìn
VD: Người Việt hiện nay ở nước ngoài đến ba, bốn thế hệ vẫn đau đáu nhớ về “nơi chôn rau, cắt rốn”, “quê cha, đất tổ”
+ Truyền thống yêu nước Việt Nam còn được thể hiện ở ý chí tự lực, tự cường, niềm tự hào, tự tôn dân tộc nỗ lực xây dựng quê hương, nhớ về cội nguồn, gét thói lai căng, mất gốc
b) Tư tưởng nhân văn:
- Cơ sở hình thành
+ Xuất phát từ đặc điểm là dân tộc Việt Nam phải thường xuyên chống chọi với thiên tai khắc nghiệt và chống ngoại xâm
+ Mối quan hệ với tình yêu nước thương nòi thể hiện: đạo lý làm người được coi là điểm tựa, lý tưởng sống của cộng đồng, lòng nhân ái của người Việt thật lớn vừa sâu sắc, chí tình, chí lý
VD: “ Tư tưởng thương người như thể thương thân” “lá lành đùm lá rách”
“công cha, nghĩa mẹ” “anh em như thể tay chân”
+ Dân tộc ta cũng kiên quyết lên án những kẻ sấu “ác giả, ác báo”, và luôn thuỷ chung son sắt trước sau như một trong cộng đồng và với bạn bè thế giới
- Người việt có đức tính quý trọng người lao động và quý trọng thành quả lao động
+ Người Việt coi người lao động là vốn quý, là ngọn nguồn sáng tạo ra mọi của cải vật chất
VD: Tư tưởng “người sống đống vàng” “người làm ra của, chứ của không làm ra người”
+ Người Việt đặc biệt quý trọng thành quả lao động, coi đó cao hơn các giá trị khác, và ngày nay được nâng lên tầm cao mới
VD: “tấc đất, tấc vàng” “của một đồng, công một nén” “ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”