Vào năm 1954 Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc sau đây gọi KDB được thành lập theo Đạo luật Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc với mục đích cung cấp và quản lý vốn cho các ngành công nghiệp chủ c
Trang 1Trình bày những hiểu biết của bạn về ngân hàng phát triển của Mỹ và ngân hàng phát triển của Hàn Quốc
PHẦN I: NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN HÀN QUỐC
1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Cuối Thế chiến II, Liên Xô và Mỹ phân chia bán đảo từ vĩ tuyến 38 và xây dựng ở 2 miền Triều Tiên hai thể chế nhà nước khác nhau Liên Xô xây dựng nhà nước Cộng sản tại miền bắc, còn tại miền nam, Mỹ cho tổ chức bầu
cử Tổng thống Năm 1949, hai bên cùng rút khỏi Triều Tiên vào để lại tham vọng thống nhất đất nước theo những cách thức khác nhau của cả hai miền
Sang năm 1950, chiến tranh bùng nổ giữa 2 miền của bán đảo Triều Tiên và diễn biến phức tạp với sự can thiệp của Mỹ, Trung Quốc và viện trợ của Liên Hợp Quốc Từ tháng 7/1951 bắt đầu cuộc thương thuyết ngừng bắn giữa hai bên và cuộc chiến Triều Tiên lâm vào bế tắc tới tận năm 1953 mới tìm được lối thoát Ngày 27/7/1953 được đánh dấu kết thúc chiến tranh Triều Tiên với một thoả thuận ngừng bắn mà không bên nào có thể tuyên bố chiến thắng
Sau chiến tranh, Hàn Quốc bắt đầu bắt tay vào xây dựng lại đất nước nhưng đất nước rơi vào tình trạng hết sức khó khăn: cơ sở hạ tầng bị chiến tranh tàn phá nặng nề,tình hình chính trị luôn trong tình trạng căng thẳng Vào năm
1954 Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc (sau đây gọi KDB) được thành lập theo Đạo luật Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc với mục đích cung cấp và quản lý vốn cho các ngành công nghiệp chủ chốt để hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp Hàn Quốc và nền kinh tế quốc gia
Quá trình phát triển
Sau nửa thế kỉ kể từ khi thành lập, KDB đã trung thành thực hiện vai trò của nó như một ngân hàng Chính phủ, dự đoán và đối phó với những thay đổi trong môi trường kinh tế và tài chính Ở mỗi giai đoạn,các thành tựu đã đạt được là:
Những năm 1950s: KDB thực hiện các hoạt động hỗ trợ phục hồi nền kinh tế quốc gia, như khôi phục các cơ
sở sản xuất công nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh Triều Tiên, ưu tiên hỗ trợ các ngành công nghiệp chủ chốt như điện, than, xi măng trong công cuộc xây dựng kinh tế độc lập
Giai đoạn 1960s-1970s: KDB tiến hành xây dựng hệ thống tài chính phát triển bền vững, tăng cường cung
cấp kinh phí cho các ngành: công nghiệp năng lượng, hóa học nặng, và các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu Năm 1955, KDB phát hành với số lượng lớn Trái phiếu tài trợ công nghiệp (IBFs) và sang đầu những năm 60 bắt đầu cung cấp các dịch vụ tài chính mới như: bảo lãnh phát hành chứng khoán, bảo lãnh trái phiếu, vay vốn nước ngoài
Những năm 1980s, KDB tiếp tục duy trì tài trợ các ngành công nghiệp, hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô và điện
tử bằng cách cung cấp vốn dài hạn, mở rộng huy động vốn độc lập thông qua việc phát hành IFBs và huy động từ các nguồn vốn nước ngoài
Những năm 1990s: Cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, bảo đảm khả năng cạnh tranh quốc tế và tiến bộ
của cơ cấu công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao bao gồm cả chất bán dẫn và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp
Bước sang thế kỷ 21, KDB thực hiện những chính sách tài chính mới:
- Mở rộng và đa dạng hóa nguồn cung vốn công nghiệp và phát triển ngành công nghiệp năng lượng
Trang 2- Hỗ trợ thực hiện các chính sách của Chính phủ trong đó bao gồm phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển kinh tế đồng đều ở các vùng địa phương
- Giải quyết các bất ổn tài chính và kinh tế thông qua vai trò lãnh đạo và đại diện trong tái cấu trúc công ty và quỹ đầu tư nước ngoài
- Hoàn thành dịch vụ ngân hàng quốc tế với các mảng kinh doanh chính: Ngân hàng hợp tác, Ngân hàng Đầu
tư, Ngân hàng quốc tế, Tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách hàng
2 CƠ CẤU TỔ CHỨC
Trang 3CÁC PHÒNG BAN:
Ban lãnh đạo ngân hàng
- Hội đồng quản trị
- Ban giám đốc
- Ban quản lý rủi ro
Trang 4- Ban kiểm soát
- Kiểm toán viên
Trong đó, ban lãnh đạo cao nhất là hội đồng quản trị mà người đứng đầu là Chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành và các phó chủ tịch, COO KDB chỉ có 1 Chủ tịch và 1 kiểm toán viên Chủ tịch của ngân hàng là chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc
+ Chủ tịch của KDB là chủ tịch của Đại hội đồng cổ đông Chủ tịch của NH là người đại diện cho ngân hàng
và là người chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động của NH
Trong trường hợp chủ tịch NH không có khả năng đảm nhận trách nhiệm của mình thì Phó chủ tịch thứ nhất
sẽ thay quyền và trách nhiệm để thực hiện Trong trường hợp cả chủ tịch và Phó chủ tịch thứ nhất không thể thực hiện nhiệm vụ của mình vì những lí do bất khả kháng thì 1 Phó chủ tịch khác sẽ thay quyền và trách nhiệm thực hiện
+ Phó chủ tịch thứ nhất và các phó chủ tịch khác được Chủ tịch chỉ định từ các giám đốc thường trực sau khi được sự đồng ý của Ban giám đốc
+ Ban giám đốc điều hành của KDB gồm 9 thành viên trong đó bao gồm Chủ tịch và kiểm toán viên của KDB Các thành viên trong ban giám đốc điều hành gồm thành viên thường trực và không thường trực, trong đó không ít hơn
3 giám đốc không thường trực
+ Các giám đốc thường trực là những người trợ giúp cho chủ tịch và phạm vi trách nhiệm của họ được quyết định bởi ban giám đốc
+ Các tiêu chuẩn của một giám đốc không thường trực: là người có kiến thức chuyên môn về kinh tế, tài chính, quản trị kinh doanh, kế toán kiểm toán, có kinh nghiệm thực tế và có mối quan hệ rộng
+ KDB có thể có một Phó chủ tịch điều hành để hỗ trợ cho Chủ tịch Người này không phải là một giám đốc điều hành và được chủ tịch chỉ định với sụ đồng ý của ban giám đốc
+ Kiểm toán viên có thể tham dự cuộc họp của ban giám đốc, đưa ra ý kiến nhưng không được quyền biểu quyết Kiểm toán viên thực hiện kiểm tra và kiểm soát các hoạt động cũng như kế toán của KD, đưa ra ý kiến đối với Ban giám đốc về các vấn đề trên, cũng như có thể tiến cử một kiểm toán viên bên ngoài
Chủ tịch, các giám đốc điều hành và kiểm toán viên được bầu ra từ Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại điều lệ của KDB Tuy nhiên, Chủ tịch có thể được chỉ định từ các giám đốc điều hành
Nhiệm kì của mỗi thành viên trong ban lãnh đạo Ngân hàng là không quá 3 năm
CÁC BỘ PHẬN TỔ CHỨC
+ Secretariat (Ban thư kí)
+Compliance Department (Phòng giám sát)
+Corporate Banking Division (Bộ phận khách hàng doanh nghiệp)
Phòng khách hàng doanh nghiệp 1,2,3,4
+Regional Banking Division ( Bộ phận khu vực)
Phòng khách hàng khu vice, Trụ sở chính của các khu vice, Các chi nhánh trong nước
+Consumer Banking Division (Bộ phận khách hàng)
Trang 5Phòng phát triển khách hàng
+Investment banking Division (Bộ phận đầu tư)
Phòng đầu tư, Phòng phát triển khu vice, Phòng cơ cấu lại doanh nghiệp, Viện nghiên cứu KDB, Viện định giá công nghệ KDB
+International Banking Division (Bộ phận ngân hàng quốc tế)
Phòng ngân hàng quốc tế, Phòng tài chính thương mại, Các chi nhánh nước ngoài, Trung tâm giao dịch ( sở giao dịch), Phòng giao dịch
+Capital Markets Division (Bộ phận thị trường vốn)
Phòng vốn nợ, KDB PE, Phòng hợp nhất và sáp nhập, Dịch vụ tư vấn KDB, Phòng dịch vụ cải tiến kinh doanh
+Planning & Administration Division (Bộ phận quản lí và kế hoạch)
Phòng kế hoạch, Phòng hiệp hội pháp luật, Phòng nhân sự, Phòng quan hệ công chúng, Phòng dịch vụ tổng hợp , Phòng kiểm soát an ninh
+ Risk Management ( Bộ phận quản lí rủi ro)
Phòng quản lí rủi ro, Phòng đánh giá lại các khoản nợ, Trung tâm xem xét lại các khoản tín dụng
+Finance Division (Bộ phận tài chính)
Phòng kế hoạch tài chính, Phòng kế toán tài chính, Phòng giao dịch tài chính
+Pension & Trust Centre (Trung tâm ủy thác và…)
Phòng ủy thác, Phòng lương kinh doanh
+Project Finance Centre (Trung tâm lập tài chính dự án)
Phòng lập dự án tài chính 1, Phòng lập dựa án tài chính 2
+ IT centre (Trung tâm công nghệ thông tin)
Phòng hệ thồng thông tin, Phòng hệ thống ngân hàng cốt lõi, Phòng hệ thống ngân hàng điện tử
3 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KDB
a Báo cáo kết quả kinh doanh:
Bảng 1.1: Báo cáo kết quả kinh doanh rút gọn 3 năm gần nhất
Đơn vị tính: Tỷ won
- Lợi nhuận thuần hoạt động tài chính 1.605 897 804
Trang 6Lợi nhuận quá trình hoạt động 1.290 6 890
(Nguồn: Báo cáo thường niên KDB 2010, 2009)
Ngân hàng có lợi nhuận sau thuế tăng liên tục và đều đặn trong vòng 3 năm, đến chủ yếu từ các khoản lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính (chiếm gần 60%) Lợi nhuận phi tài chính từ: chênh lệch giá chứng khoán (chiếm
tỷ lệ lớn nhất, từ các công cụ tài chính phái sinh, từ phí và hoa hồng, cổ tức được chia…
Ta xét cụ thể các khoản doanh thu và chi phí tài chính trong bảng sau đây:
Bảng 1.2: Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính 3 năm gần nhất
Đơn vị tính: Tỷ won
(Nguồn: Báo cáo thường niên KDB 2010, 2009)
Như vậy thu nhập tài chính của ngân hàng đến chủ yếu từ các khoản lãi vay và xu hướng tăng dần trong 3 năm (chiếm tỷ trọng lần lượt là 63,66%; 69,36% và 76,66%) Lợi tức đến từ các chứng khoán mà ngân hàng nắm giữ cũng mang lại thu nhập cao cho ngân hàng, gấp hơn 10 lần phần thu nhập từ lãi các TCTD và thu nhập tài chính khác Trong khi đó, chi phí tài chính lại chủ yếu do ngân hàng trả lãi trái phiếu huy động vốn (từ 60 – 70%) Các khoản ngân hàng trả lãi tiền vay và tiền gửi thấp hơn và có xu hướng giảm qua các năm, chứng tỏ đây không phải là các nguồn huy động vốn chính của KDB
b.Bảng cân đối kế toán:
Bảng 1.3: Bảng cân đối kế toán rút gọn KDB ngày 31/12 3 năm gần nhất
Đơn vị tính: Tỷ won
I/ Tổng tài sản
1/ Tiền mặt và tiền gửi TCTD khác
2/ Chứng khoán
3/ Khoản cho vay
4/ Tài sản khác (công cụ phái sinh, TSCĐ)
113.205
4.363 28.201 69.893 10.749
122.333
2.965 31.664 74.785 12.918
157.613
4.437 53.403 76.066 23.707
Trang 7II/ Tổng nguồn vốn
1/ Nợ phải trả
- Tiền gửi
- Tiền vay
- Nghĩa vụ khác
2/ Vốn chủ sở hữu
(Vốn cổ phần, Thặng dư vốn, Lợi nhuận giữ lại, AOCI)
113.205
96.977 18.930 66.808 11.239 16.228
122.333
107.223 13.936 80.688 12.599 15.111
157.613
141.897 16.769 100.485 26.643 15.716
(Nguồn: Báo cáo thường niên KDB 2010, 2009)
Nguồn vốn ngân hàng huy động được chủ yếu không phải từ tiền gửi (Deposit) mà là các khoản tiền vay do huy động từ trái phiếu (Borrowing from Payable Bonds) Các khoản cho vay chiếm tỷ lệ cao trong tổng tài sản (trên 60%) Trong đó các khoản cho vay bằng nội tệ (chiếm trên 62%), tập trung vào các lĩnh vực: sản xuất kinh doanh (tỷ trọng lớn nhất – xấp xỉ 60%); ngân hàng và bảo hiểm; giao thông và truyền thông (2 lĩnh vực có tỷ trọng gần bằng nhau và chiếm tổng số gần 20% khoản cho vay); quản trị công; cung cấp điện nước (cả 2 lĩnh vực chiếm khoảng 10%
số tiền ngân hàng cho vay) Xem xét chất lượng các khoản vay qua bảng sau:
Bảng 1.4: Phân loại nợ và trích lập dự phòng của KDB 3 năm gần nhất
Đơn vị tính: Tỷ won
(Nguồn: Báo cáo thường niên KDB 2010, 2009)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy các khoản tín dụng chủ yếu là nợ tốt, tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 trở xuống) chiếm
tỷ lệ không cao (chỉ từ 1-2%) Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm 2009 chưa đạt yêu cầu do chỉ bảo hiểm được 82.8%, song năm 2010 tỷ lệ này đã tăng lên tới 121,4% Sự tăng trưởng bền vững của KDB còn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Bảng 1.5:Hệ số an toàn vốn và các chỉ tiêu ROA, ROE 3 năm gần nhất của KDB
Trang 8ROA 0,9% 0,5% 0,24%
(Nguồn: Báo cáo thường niên KDB 2010, 2009)
Tỷ trọng lợi nhuận ròng trên tổng tài sản và trên vốn chủ sở hữu tăng đều đặn qua các năm cho thấy ngân hàng đang hoạt động hiệu quả Hệ số an toàn vốn CAR (vốn tự có/tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro) tăng liên tục qua 3 năm, năm 2010 đạt 17,6%, hệ số an toàn vốn cấp 1 đạt 16,5%, vượt xa quy định về tỷ lệ này trong Basel II (hệ số an toàn vốn 8% trong đó vốn cấp 1 chiếm 6%) và vượt cả quy định Basel III sẽ được áp dụng năm 2013 (CAR 16%, trong đó vốn cấp 1 là 12%) cho thấy được KDB đã đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Bảng 1.6: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ rút gọn 3 năm gần nhất của KDB
Đơn vị tính: Triệu won
(Nguồn: BCTN KDB 2010, 2009, 2008)
Qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ, ta có thể thấy dòng tiền cuối kỳ của KDB luôn dương, song có xu hướng giảm dần trong 3 năm do dòng tiền ròng từ hoạt động đầu tư chảy ra từ hoạt động đầu tư (investing activities cash flow) mà các nghiệp vụ đầu tư vốn (equity method investments) nắm giữ 20 – 25% cổ phiếu của các công ty khác Dù dòng tiền
từ hoạt động đầu tư năm 2010 âm khá lớn (-32.390 triệu won) song được bù lại từ dòng tiền ròng từ hoạt động kinh doanh chảy vào (29.172 triệu won) lấy chủ yếu từ cổ tức được chia (38.446 triệu won) và thuế thu nhập phải nộp được hoàn lại - Income taxes payable (145.512 triệu won)
4 HOẠT ĐỘNG CỦA KDB
a Tổng quan
Phương thức hoạt động của Ngân hàng phát triển Hàn Quốc được quy định trong nhiều văn bản như: “The Korea Development Bank Act”, “The operating Manuals in Compliance with the Korea Development Bank Act”,
“The Articles of Incorporation of the Korea Development Bank”…Trong các văn bản pháp luật này, đáng chú ý có những vấn đề cơ bản sau:
- Phương thức cho vay (Theo Điều 3 – chương II – The operating Manuals in Compliance with the Korea
Development Bank Act): KDB được cho vay trên cơ sở chứng thư (deed), chứng phiếu (thương phiếu, kỳ phiếu, lệnh phiếu, hối phiếu) (note), chiết khấu chứng phiếu hoặc thấu chi.
- Lãi suất áp dụng: (Theo Điều 4- chương II – The operating Manuals in Compliance with the Korea
Development Bank Act)
Trang 9- Lãi suất cho vay do Giám đốc quyết định.
- Khi không trả được nợ đúng hạn, người đi vay sẽ phải chịu lãi suất phạt (default interest), lãi này cũng do giám đốc
quyết định
Tiền gốc và tiền lãi sẽ không được miễn hoặc giảm trừ một phần hoặc toàn bộ ngoại trừ một trong các trường hợp sau:
- Việc giảm trừ hoặc miễn lãi phạt đối với khoản vay của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần mà chính phủ hoặc KDB có cổ phần chính, tổ chức công được nhận định là không thể tránh khỏi
- Việc giảm trừ và miễn trừ lãi của khoản vay được nhận định là không thể tránh khỏi để bình thường hóa hoạt động
kinh doanh của người vay hoặc làm thanh khoản món vay phi hoạt động (non-performing loans).
- Việc giảm trừ và miễn trừ lãi của khoản vay được nhận định là không thể tránh khỏi cho việc tạo điều kiện cho kế hoạch phục hồi của doanh nghiệp
- Việc giảm trừ hoặc miễn trừ lãi của khoản vay được nhận định là không thể tránh khỏi cho việc tiếp quản từ bên thứ
ba do KDB quản lý
- Việc giảm trừ và miễn trừ lãi của khoản vay được nhận định là không thể tránh khỏi cho việc bình thường hóa hoạt động của doanh nghiệp trong trường hợp có thảm họa tự nhiên và các trường hợp tạm thời khác
Khi KDB miễn trừ lãi phạt thì trong thời gian từ ngày trả lãi trước và sau tính lãi như bình thường, sau đó tiếp tục áp dụng lãi phạt
Như vậy KDB có những quy định về việc giảm lãi suất do một số điều kiện khách quan như thiên tai, phá sản, nhu cầu cắt giảm chi phí để tiến hành tái sản xuất của doanh nghiệp
b Hoạt động của KDB
Theo Điều 18 (The operating Manuals in Compliance with the Korea Development Bank Act) KDB có thể
thực hiện một số hoạt động chủ yếu sau:
1 Cho vay hoặc chiếu khấu chứng phiếu
2 Nhận mua chứng khoán, bảo lãnh chứng khoán hoặc đầu tư chứng khoán Trong đó số tiền bảo hiểm - bảo lãnh không vượt quá 2 lần tổng vốn thực góp của KDB và số tiền dự trữ trong chương 1 điều 43 luật này
3 Bảo đảm cho các khoản nợ
4 Các phương pháp huy động vốn
- Huy động tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn
- Phát hành trái phiếu tài chính công nghiệp (Industrial Finance Bonds IFB), các loại chứng khoán và công cụ
nợ khác
- Vay mượn trong nước từ chính phủ, Ngân Hàng Trung ương Hàn Quốc, các tổ chức tài chính khác, tuy nhiên nghĩa vụ của KDB với chính phủ bị lệ thuộc vào các khoản nợ khác của KDB để tiến hành hoạt động của mình
- Vay vốn nước ngoài
5 Giao dịch trong nước và trên thị trường hối đoái
Trang 106 Cung cấp dịch vụ bao gồm xem xét, lên kế hoạch, phân tích, thẩm định, hướng dẫn, kiểm toán liên quan đến tính khả thi về kinh tế và kỹ thuật của các dự án được điều hành và giao phó bởi chính phủ, tổ chức công cộng, tổ chức tài chính hoặc các doanh nghiệp khác
Trong các nguồn huy động vốn của KDB, đáng chú ý có phát hành trái phiếu tài chính công nghiệp, với mục
đích tạo nguồn tài chính cần thiết cho hoạt động, đảm bảo thực hiện mục tiêu của một ngân hàng phát triển Chi tiết của trái phiếu tài chính công nghiệp được quy định trong chương VI, The Articles of Incorporation of the Korea Development Bank
c Vai trò của KDB trong tình hình kinh tế hiện nay
Về bối cảnh
Các công ty trong nước chịu tác động kép từ suy giảm cầu nhập khẩu của nước ngoài và cầu tiêu dùng trong nước (Cầu tiêu dùng, xuất khẩu giảm) Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đối mặt với khó khăn riêng trong môi trường này do khó huy động vốn trực tiếp KDB đã tham gia thị trường với tư cách là một ngân hàng chính sách, đảm bảo thanh khoản cho các SMEs có tiềm năng tăng trưởng và thu lời trở lại Cùng thời gian đấy, KDB đã hoàn thành vai trò truyền thống như là một nhà ổn định thị trường bằng cách hợp tác với các giải pháp kích thích của chính phủ
Hoàn thành trách nhiệm như một ngân hàng chính sách
KDB đã đầu tư 2000 tỷ won vào quỹ bình ổn thị trường trái phiếu, với chức năng là cung cấp tài chính cho các công ty có hiệu suất cao mà đối mặt với tình huống thiếu tính thanh khoản tạm thời Điều này làm bình ổn thị trường trái phiếu quốc gia và giảm credit spreads
KDB còn tham gia chương trình “fast-track” của hệ thống ngân hàng để chống đỡ nền tài chính của SMEs
Để đáp ứng mục tiêu của chương trình về việc ra quyết định nhanh chóng, KDB lập một đội đặc biệt hỗ trợ thanh khoản SMEs và thành lập đội thanh tra 24 h sẵn sàng giải quyết các vấn đề về tài chính
Một công cụ mạnh hơn để chống lại khủng hoảng là “Creditor Bank Group Agreement”, khu vực ngân hàng cung cấp các giúp đỡ có chọn lọc cho các công ty đủ yêu cầu ở lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng và đóng tàu, trong khi vẫn tiến hành tái cấu trúc các doanh nghiệp hiện tại một cách nhanh chóng
Thực hiện hiệu quả chương trình quản lý tình trạng thiếu thanh khoản
KDB tăng danh mục cho vay SME từ 8.000 tỷ won lên 10.000 tỷ won, cung cấp tài chính cho đầu tư thiết bị
và vốn lưu động KDB còn tiến hành chương trình “KDB Future star Program” với nguồn vốn 1000 tỷ won để cung cấp tài chính 1 cách chọn lọc cho các công ty SMEs với tiềm năng hồi phục lớn Một khoản giúp đỡ trị giá 30 tỷ won còn hướng tới đối tượng các doanh nghiệp mới mở Thêm vào đó, bất kỳ SME nào xin bù đắp khoản tiền gửi, vay đều được nhận khoản hỗ trợ đó để giảm chi phí tài chính của các công ty này
Đáp ứng nhu cầu của một ngân hàng chính sách trong thời điểm khủng hoảng
Trong năm 2009, KDP kỳ vọng cung ứng 11000 tỷ won vào quỹ phát triển cơ sở hạ tầng để ổn định nền kinh
tế, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng KDB còn tiếp tục trực tiếp tài trợ chính sách cho các SMEs đổi mới và giúp
đỡ các dự án phát triển khu vực Điểm nhấn riêng nằm trong đầu tư ngành công nghiệp xanh để giúp đỡ khu vực tư nhân thành những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng trong tương lai
Một ví dụ: 7000 tỷ won đóng góp của Ngân hàng trong năm 2009 vì vậy được rót vào 6 mục đầu tư chiến lược sau: