Hội thảo tập hợp được hơn 70 bài viết của các nhà khoa học, cán bộ quản lý và các nhà giáo đánh giá về thực tiễn công tác thiết bị dạy học TBDH ở cấp Trường, Phòng, Sở và Bộ GD&ĐT, chia
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
-
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
TP.HCM, tháng 11 năm 2011
Trang 3MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Phần 1 Thực trạng quản lý, sử dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông 7
1 Thiết bị dạy học hiện đại dưới góc nhìn đổi mới phương pháp dạy học
PGS.TS Ngô Minh Oanh 9
2 Tình hình sử dụng thiết bị dạy học ở trường tiểu học và trường trung học cơ sở
PGS.TS Vũ Trọng Rỹ và các cộng sự 14
3 Thực trạng, chất lượng và hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông hiện nay CN Nguyễn Thị Thu Hà 40
4 Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo giáo viên ở
trường Cao đẳng Bến Tre ThS Phan Thanh Sử, ThS Phạm Văn Luân 48
5 Đề xuất giải pháp quản lý và khai thác thiết bị dạy học hiệu quả ở trường phổ thông
ThS Hồ Sỹ Anh 53
6 Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại – từ đèn đỏ đến đèn xanh
ThS Nguyễn Thạc San 65
Phần 2 Kinh nghiệm sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học ở trường phổ thông 73
1 Vài kinh nghiệm sử dụng tốt đồ dùng dạy học vào việc giảng dạy phân môn Tập đọc
ở Tiểu học Trần Ngọc Hải 75
2 Sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học lớp 1,2,3 Nguyễn Thị Lẽ 86
3 Kinh nghiệm sử dụng có hiệu qủa Lược đồ - Bản đồ trong dạy học môn Địa lý lớp 5
Trần Thị Khuê 99
4 Sử dụng thiết bị dạy học trong bộ môn Hóa học CN Phạm Ngọc Thảo 104
6 Một số kinh nghiệm về khai thác hiệu quả trang thiết bị hiện đại trong đào tạo giáo
viên Sinh học tại Trường ĐHSP - Đại học Đà Nẵng TS Võ Văn Minh 119
7 Mô hình dạy học sử dụng công nghệ hiện đại ở đại học Scripps, Hoa Kỳ và các giải
pháp cho các trường học ở Bến Tre Ssoliss Montufar, ThS Phạm Văn Luân 125
Phần 3 Kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 133
1 Bài giảng điện tử trong mô hình dạy học với sự hỗ trợ của máy tính và máy chiếu
TS Võ Đình Bảy CN Phạm Văn Danh 135
2 Hệ thống hỗ trợ dạy học trực tuyến môn Toán, CN Lý Phát Hải Linh 243
3 Xây dựng tiến trình logic phát triển trí tuệ học sinh với sự hỗ trợ của máy tính trong
dạy học Vật lý ThS.Lương Thị Lệ Hằng 156
Trang 44 Sự hỗ tợ phương tiện nghe nhìn trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông
TS Phạm Tấn Ngọc Thụy 164
5 Ứng dụng phần mềm Crocodile Physics trong dạy học Vật lý phổ thông
ThS Trần Khánh Trinh 175
6 Thiết kế và sử dụng E-book chương ”Nitơ” Hóa học lớp 11 THPT chương trình nâng
cao ThS Võ Văn Duyên Em 186
7 Sử dụng phần mềm Articulate Studio’09 xây dựng bài học trực tuyến (E-learning)
ThS Tống Xuân Tám và CN Trần Thị Trúc Đào 203
8 Phần mềm dạy Hóa học hữu cơ đôminô có trí thông minh nhân tạo góp phần đổi mới
phương pháp dạy học ở trường phổ thông ThS Phạm Minh Tân 214
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Nhằm mục đích đánh giá công tác thiết bị dạy học giai đoạn đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông hơn mười năm qua, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời đề xuất giải pháp đầu tư, quản lý và khai thác thiết bị dạy học một cách hiệu quả
ở trường phổ thông, Viện nghiên cứu Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí
Minh tổ chức hội thảo khoa học: “Khai thác thiết bị dạy học hiện đại phục vụ dạy học ở trường phổ thông”
Hội thảo tập hợp được hơn 70 bài viết của các nhà khoa học, cán bộ quản lý và các nhà giáo đánh giá về thực tiễn công tác thiết bị dạy học (TBDH) ở cấp Trường, Phòng, Sở và Bộ GD&ĐT, chia sẻ kinh nghiệm sử dụng TBDH vào đổi mới phương pháp dạy và học, kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong dạy học, đồng thời đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả TBDH trong giai đoạn mới
Trong Kỷ yếu này, thứ tự các bài viết được sắp xếp theo các chủ đề:
Phần 1: Thực trạng quản lý, sử dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông
Phần 2: Kinh nghiệm sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học ở trường phổ thông Phần 3: Kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Ban tổ chức Hội thảo xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo đã gửi bài viết tới Hội thảo và toàn thể quý vị đại biểu về tham dự hội thảo Những ý kiến đóng góp của các đại biểu sẽ góp phần quyết định sự thành công của Hội thảo
Do khuôn khổ của kỷ yếu có hạn, Ban tổ chức Hội thảo không thể đăng hết các bài của các tác giả gửi đến Viện Nghiên cứu Giáo dục rất mong sự cộng tác của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục và các nhà giáo trong việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục
Tháng 11/2011 BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
Trang 9THIẾT BỊ DẠY HỌC HIỆN ĐẠI DƯỚI GÓC NHÌN ĐỔI MỚI
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
PGS.TS Ngô Minh Oanh1
Với những thành tựu của khoa học kỹ thuật và sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông hiện đại, đa dạng, các phương tiện dạy học nói chung và các thiết
bị dạy học nói riêng đã được đưa vào sử dụng trong dạy học ngày càng có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học trong nhà trường
Quá trình dạy học là một quá trình truyền thông (communication) được thiết lập giữa người phát (thầy giáo) và người thu (học sinh) trong đó, những thông điệp (kiến thức) được chuyển tải từ thầy giáo đến học sinh để đạt được mục đích của quá trình dạy học Quá trình truyền thông dưới góc độ mô hình công nghệ được biểu hiện bằng các thuật ngữ “thông điệp”, “đầu ra”, “đầu vào”… để chỉ quá trình truyền đạt kiến thức từ người giáo viên đến học sinh Quá trình trên không thể thực hiện được nếu như không có các phương tiện để chuyển tải thông tin, mà các phương tiện
đó trong bối cảnh hiện nay là không thể thiếu được các thiết bị dạy học nói chung và các thiết bị hiện đại nói riêng Trước yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học hiện nay, thiết bị dạy học có một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học
1 Trước hết, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học gắn với việc sử
dụng các thiết bị dạy học hiện đại thì việc đổi mới quan niệm về trật tự bộ ba: kiến thức, kỹ năng và thái độ tình cảm là việc làm cần thiết Trước đây, chúng ta vẫn thường quan niệm chức năng nhiệm vụ của quá trình dạy học trước hết là phải trang
bị kiến thức, rồi mới đến rèn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ tình cảm, tức là thông qua “dạy chữ” để “dạy người” Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển từng ngày, từng giờ thì trật tự truyền thống cần phải có sự thay đổi Trật tự mới sẽ là: Thái độ - Kỹ năng - Kiến thức, hoặc là Kỹ năng –Thái độ - Kiến thức Sự thay đổi trật tự mới này hoàn toàn không phải xem nhẹ việc cung cấp kiến thức mà là một quan niệm linh hoạt phù hợp với sự phát triển của khoa học - công nghệ cho phép cung cấp nhiều thiết bị dạy học hiện đại và hiệu quả Sự thay đổi này xuất phát từ thực tế tri thức nhân loại không ngừng được sáng
Trang 10
tạo theo cấp số nhân mà thời gian ngồi trên ghế nhà trường của học sinh là có hạn Không để cho những nội dung dạy học bất biến, người thầy vừa phải cung cấp cho học sinh một dung lượng kiến thức phù hợp, phong phú, đa dạng, hấp dẫn thông qua các phương tiện dạy học, lại vừa phải luôn cải tiến, tinh giản và hiện đại hóa kiến thức Những đòi hỏi cao của quá trình đổi mới nội dung dạy học đặt ra yêu cầu người thầy giáo phải cần đến sự hỗ trợ của thiết bị dạy học hiện đại chứ không thể giữ mãi lối cung cấp tri thức truyền thống bằng lời và bằng các văn bản Về lĩnh vực giáo dục thái độ, tình cảm đối với học sinh, nếu học sinh có một thái độ tốt, say mê
và có khát vọng học tập, có phương pháp và kỹ năng sử dụng khai thác những thông tin mới về môn học thông qua các thiết bị dạy học hiện đại thì kiến thức tiếp nhận được sẽ không ngừng tăng lên và luôn được hiện đại hóa Như vậy, thiết bị dạy học
đã trở thành một phương tiện không thể thiếu để giúp người học tự học, tự tìm đến kiến thức theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay: dạy học là dạy phương pháp học
Từ quan niệm về bộ ba nói trên, chúng ta thấy, hệ sơ đồ truyền thống “mục tiêu
- nội dung - phương pháp - phương tiện” cũng cần có sự thay đổi quan niệm về trật
tự của nó Trong hệ sơ đồ trên, ta vốn thường quan niệm cái trước quyết định và chi phối cái sau, cái sau được quy định và lựa chọn bởi cái trước, tức là mục tiêu quyết định nội dung, nội dung quyết định phương pháp, phương pháp quyết định phương tiện Cũng cần phải khẳng định rằng, quan niệm đó vẫn phù hợp và đúng đắn nhưng cần phải linh hoạt và mềm dẻo hơn trong quan niệm về trật tự của chúng Trong giai đoạn hiện nay, khi người học có ý thức, có phương pháp và phương tiện thì có thể tìm đến được tri thức Trong trường hợp này, phương tiện dạy, học đóng vai trò làm phong phú thêm nội dung kiến thức và ở mức độ cao hơn sẽ góp phần điều chỉnh nội dung và cả mục tiêu dạy, học phù hợp
Như đã nói, dạy học là một hoạt động truyền thông, hoạt động dạy học của người thầy giáo được coi là có hiệu quả khi trong một thời gian cho phép, có thể phát ra một lượng thông tin phong phú liên quan đến môn học, đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học Trong từng trường hợp cụ thể, người thầy giáo phải biết lựa chọn
“kênh” thông tin phù hợp để chuyển tải một lượng thông tin phong phú và hấp dẫn Thông tin được truyền tải qua các thiết bị dạy học hiện đại chắc chắn sẽ gây được hứng thú nhiều hơn bài học được viết dưới dạng văn bản hay chỉ được trình bày thông qua một kênh duy nhất bằng lời nói Thiết bị dạy học hiện đại sẽ có lợi thế lớn trong việc cung cấp thông tin thông qua việc tác động một lúc đến nhiều giác quan
Trang 11của người học (thính giác, thị giác, xúc giác, khứu giác…) giúp cho việc tiếp nhận tri thức được hấp dẫn, sâu sắc và bền vững
Như vậy, thiết bị dạy học nói chung và thiết bị dạy học hiện đại nói riêng đã góp phần thay đổi quan niệm và hoạt động thực tiễn của quá trình đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học trong trường học
2 Về thiết bị dạy học, chúng ta có thể hiểu, đó là tổng thể những máy móc,
dụng cụ…được sử dụng cho hoạt động dạy học trong nhà trường Và thiết bị dạy học hiện đại chính là những máy móc hiện đại được sử dụng trong quá trình dạy học Thiết bị dạy học nói chung và thiết bị dạy học hiện đại nói riêng là một phần của phương tiện dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên sử dụng làm khâu trung gian nhằm tác động vào đối tượng dạy học Phương tiện dạy học trong đó có thiết bị dạy học có chức năng khởi động, dẫn chuyền và làm tăng hiệu quả tác động của người thầy đến học sinh Trong các phương tiện dạy học thì thiết bị dạy học là một phương tiện dạy học được con người sáng tạo, sản xuất để đưa vào phục vụ cho quá trình dạy học cho hiệu quả cao trong hoạt động dạy học
Các thiết bị dạy học hiện đại được sử dụng trong nhà trường có thể kể là các động cơ máy móc tối tân hiện đại; hệ thống máy móc sử dụng công nghệ thông tin; các máy quay phim, chụp hình sử dụng kỹ thuật số… Các thiết bị dạy học hiện đại hiện nay phổ biến nhất là các thiết bị dựa vào công nghệ, kỹ thuật hiện đại dưới dạng máy tính, và các máy móc phục vụ cho truy cập Internet để khai thác thông tin Bên cạnh thiết bị máy chiếu Overhead projector, việc sử dụng máy tính để trình chiếu với phần mềm Powerpoint thường được các giáo viên sử dụng phổ biến trong quá trình lên lớp
Việc sử dụng các động cơ máy móc hiện đại (mô phỏng), các phương tiện trình chiếu, các phương tiện ghi hình, ghi âm… đã tạo nên những tiện ích to lớn cho quá trình dạy học Việc sử dụng các thiết bị nói trên tạo nên sự hấp dẫn sinh động cho giờ học, giúp người thầy tác động có hiệu quả hơn đến người học và học sinh cũng
có thể tự mình tiếp cận với kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Bên cạnh các bài giảng điện tử, việc ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng các thư viện điện
tử và Internet đã giúp giáo viên và học sinh tiếp cận được với một nguồn tri thức vô cùng to lớn để hiểu biết về một môn học Giáo viên tùy theo những nội dung dạy
Trang 12học, đối tượng người học và tính năng tác dụng của từng thiết bị dạy học hiện đại cụ thể mà sử dụng có hiệu quả nhất cho hoạt động dạy học
3 Qua thực tiễn dạy học ở nhà trường, việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện
đại không phải lúc nào cũng đem lại những kết quả như mong muốn do những điều kiện chủ quan và khách quan
Thứ nhất, trong điều kiện kinh phí hạn hẹp như hiện nay, không phải trường
phổ thông nào cũng có thể được trang bị những thiết bị dạy học hiện đại, nhất là những trường vùng sâu vùng xa, những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn Đây là một rào cản không dễ dàng khắc phục trong việc sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại trong các trường học phổ thông
Thứ hai, thực tiễn dạy học hiện nay cho thấy khi được trang bị những phương
tiện dạy học hiện đại, không phải giáo viên nào cũng có thể sử dụng được và sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học hiện đại Vì thế, nâng cao trình độ, khả năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại cho đội ngũ giáo viên phổ thông là một yêu cầu cấp thiết
Thứ ba, quá trình sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại, bên cạnh những ích lợi
thì sự lạm dụng các thiết bị dạy học hiện đại cũng làm cho việc khai thác, phát huy hiệu quả các thiết bị trong quá trình dạy học bị hạn chế Một ví dụ như việc sử dụng bài giảng điện tử trong quá trình lên lớp, nếu không sử dụng hợp lý thì sẽ biến việc trình bày kiến thức có sẵn bằng lời nói bằng việc trình bày kiến thức có sẵn bằng trình chiếu, thay đọc-chép bằng chiếu-chép
Thứ tư, việc kết hợp một cách hợp lý, linh hoạt trong việc sử dụng các thiết bị
dạy học hiện đại với các phương pháp và phương tiện dạy học khác sẽ phát huy tối
đa năng lực sáng tạo của người giáo viên trong quá trình dạy học
Tóm lại, sử dụng thiết bị hiện đại phục vụ dạy học ở trường phổ thông là một đòi hỏi và cũng là một xu thế tất yếu trong bối cảnh khoa học kĩ thuật không ngừng phát triển Để phát huy được ưu thế của những thiết bị dạy học hiện đại trong hoạt động dạy học, giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
sư phạm, kĩ thuật sử dụng máy móc, thiết bị cùng với sự nhạy bén, sáng tạo của mình thì mới đạt được kết quả như mong muốn
Trang 13Tài liệu tham khảo
1 Vũ Quốc Chung, Nguyễn Văn Khải, Cary J.Trexler…(2011), Tài liệu hướng
dẫn Tăng cường năng lực sư phạm cho giảng viên các trường đào tạo giảng viên THPT và Trung cấp chuyên nghiệp, NXB Giáo Dục, HN
2 Đỗ Ngọc Đạt (1997), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, NXB Đại học
Quốc gia HN
3 Tô Xuân Giáp (1998), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục, HN
4 I Kharlamov (1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, NXB
7 Jean - Marc Denommeù & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp
sư phạm tương tác (Bộ ba: Người dạy – Người học - Môi trường), NXB
Thanh niên – Tạp chí Tri thức & Công nghệ, HN
8 Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường,
NXB Đại học Sư phạm, HN
9 Phan Trọng Ngọ (Chủ biên, 2000), Vấn đề trực quan trong dạy học, Tập I,
NXB Đại học quốc gia, HN
10 V Okôn (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề, NXB Giáo dục,
HN
11 Viện NCGD, Trường ĐHSP thành phố HCM (2005), Kỷ yếu Hội thảo “Nâng
cao chất lượng dạy và học trong trường phổ thông nhờ sự hỗ trợ của thiết bị
và phần mềm dạy học”
Trang 14TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
PGS.TS Vũ Trọng Rỹ và cộng sự 2
Thực hiện nhiệm vụ Bộ GD&ĐT giao, năm 2008 Viện Khoa học giáo dục Việt
Nam đã lập một nhóm nghiên cứu để khảo sát ở 6 tỉnh về tình hình sử dụng TBDH ở
trường tiểu học, THCS Dưới đây là nội dung báo cáo kết quả điều tra khảo sát thực
tế
I Khái quát về điều tra khảo sát thực tế
1 Mục đích điều tra khảo sát thực tế
Qua điều tra khảo sát thực tế đánh giá tình hình sử dụng TBDH ở trường tiểu
học và THCS trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, SGK mới, từ đó đề
xuất phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường phổ thông
2 Nội dung khảo sát thực tế
- Tình hình sử dụng TBDH
+ Tình hình sử dụng TBDH của giáo viên và học sinh
+ Khả năng đáp ứng của hệ thống TBDH đã cung ứng đối với các yêu cầu của
Chương trình, SGK mới
+ Điều kiện đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả hệ thống TBDH
+ Công tác quản lý sử dụng TBDH ở nhà trường
- Tình hình bảo quản hệ thống TBDH ở trường tiểu học và THCS
3 Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực tế
Để có được các thông tin khách quan, chuẩn xác về các nội dung trên, nhóm
nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
- Phỏng vấn gián tiếp các đối tượng qua các bảng hỏi
- Phỏng vấn trực tiếp, tọa đàm với một số đối tượng (cán bộ quản lý giáo dục
các Sở, Phòng giáo dục, hiệu trưởng, giáo viên)
- Tiến hành trắc nghiệm giáo viên và học sinh về khả năng sử dụng TBDH
2
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 15- Dự giờ lên lớp của giáo viên
- Quan sát thực địa
4 Địa bàn điều tra, khảo sát
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra khảo sát ở 6 tỉnh đại diện cho các vùng miền khác nhau của đất nước: Hà Nội, Hoà Bình, Quảng Bình, Gia Lai, Long An và
TP Hồ Chí Minh Ở mỗi Tỉnh, thành phố, nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra khảo sát 2 huyện, mỗi huyện khảo sát ở 2 trường tiểu học, 2 trường THCS
Như vậy, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra khảo sát ở 24 trường tiểu học
và 24 trường THCS thuộc 12 huyện, Thị của 6 tỉnh, TP trực thuộc T.W, đại diện cho các vùng miền khác nhau
5 Đối tượng khảo sát
- Đối tượng được phỏng vấn gián tiếp bằng phiếu hỏi:
+ 329 giáo viên tiểu học, 393 giáo viên THCS
+ 324 hiệu trưởng tiểu học và hiệu trưởng THCS
+ 1.252 học sinh tiểu học và 1.481 học sinh THCS
- Tọa đàm trực tiếp với 24 hiệu trưởng trường tiểu học và 24 hiệu trưởng trường THCS về tình hình trang thiết bị và sử dụng TBDH
- Tọa đàm với lãnh đạo của 12 phòng giáo dục về công tác TBDH
- Tiến hành trắc nghiệm về năng lực sử dụng TBDH của 209 giáo viên tiểu học
về các môn Kỹ thuật và Toán, 138 giáo viên THCS về các môn Địa lý, Sinh học, Hóa học, Vật lý
- Tiến hành trắc nghiệm về kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học của 2.362 học sinh lớp 9-THCS về 4 môn Lý, Hóa, Sinh và Địa lý
- Đã tiến hành dự giờ lên lớp của 86 giáo viên tiểu học và 101 giáo viên THCS
II Kết quả điều tra khảo sát
1 Tình hình sử dụng thiết bị dạy học
Tình hình sử dụng TBDH được xem xét trên các khía cạnh: TBDH có được sử dụng hay không được sử dụng; được sử dụng với tần suất cao hay thấp và hiệu quả
Trang 16sử dụng trong quá trình dạy học đạt đến mức độ nào Qua điều tra khảo sát cho thấy, tình hình sử dụng TBDH ở trường tiểu học và ở trường THCS có nhiều điểm khác nhau đáng kể Do đó dưới đây trình bày tình hình sử dụng TBDH riêng ở từng cấp học
1.1 Tình hình sử dụng thiết bị dạy học ở trường tiểu học
Bảng 1 Mức độ sử dụng TBDH (qua phiếu hỏi 329 giáo viên)
TT Loại hình TBDH Chưa bao giờ Thỉnh thoảng Thường xuyên
Qua phiếu hỏi 1.252 học sinh tiểu học cho thấy mức độ sử dụng 4 loại hình TBDH chủ yếu ở nhà trường tiểu học (tranh, ảnh, bản đồ; mô hình, mẫu vật; dụng cụ thí nghiệm; băng đĩa ghi tiếng, hình) là rất khác nhau tùy thuộc vào môn học Tranh, ảnh, bản đồ là loại hình được sử dụng thường xuyên ở hầu hết các môn học (Toán, Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử - Địa lý, Mỹ thuật, Đạo đức) Dụng cụ thí nghiệm được sử dụng thường xuyên ở môn khoa học Mô hình, mẫu vật được sử dụng thường xuyên ở môn Khoa học, kỹ thuật, Lịch sử, Mỹ thuật Băng đĩa tiếng, hình được sử dụng thường xuyên ở môn Âm nhạc (Bảng 2)
Trang 17Bảng 2 Mức độ sử dụng TBDH theo các môn học qua ý kiến của HS tiểu học (tỉ lệ %)
Thiết bị Mức độ Toán Tiếng
Việt
Khoa học
Kỹ thuật
L.Sử Địa lý
Âm nhạc
Mĩ thuật
Đạo đức
Thể dục
thoảng
42.7 45.5 36.2
38.6 24.9 42.2 30.1 36.0 47.5 Thường
thoảng
23.1 14.0
48.1 20.9 21.0 16.1 14.6 13.9 12.8 Thường
thoảng
44.1 44.3
35.0 23.2 41.1 28.5 29.7 26.9 26.9 Thường
thoảng
13.7 27.1
20.1 14.0 23.4 25.1 13.8 21.7 17.9 Thường
số tiết học đã sử dụng TBDH chiếm từ 25-50%; 30,1% số giáo viên có số tiết học đã
sử dụng TBDH chiếm từ 51-75%; 52,7% số giáo viên có số tiết học đã sử dụng TBDH chiếm trên 75% (Bảng 3)
Trang 18Bảng 3 Ý kiến của giáo viên về tỉ lệ % số tiết học đã sử dụng TBDH so với số tiết học cần sử dụng TBDH
Hòa Bình Hà Nội Quảng
1.1.1.2 Về kỹ năng và phương pháp sử dụng TBDH của giáo viên
Qua phiếu hỏi 191 hiệu trưởng trường tiểu học cho thấy các hiệu trưởng đánh giá cao mức độ sử dụng thành thạo TBDH của giáo viên Chỉ có 8,9% số hiệu trưởng cho rằng giáo viên sử dụng TBDH chưa thành thạo, 80,1% số hiệu trưởng cho rằng giáo viên sử dụng TBDH tương đối thành thạo và 11,0% số hiệu trưởng cho rằng các giáo viên sử dụng TBDH thành thạo (Bảng 4)
Bảng 4 Hiệu trưởng tiểu học đánh giá chung về mức độ thành thạo
trong sử dụng TBDH của giáo viên Mức độ
Trang 19thành thạo trong sử dụng TBDH của đồng nghiệp rất khả quan: 0,9% là chưa thành thạo; 48,8% là tương đối thành thạo, 50,6% là thành thạo Kết quả đánh giá của hiệu trưởng, tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp của giáo viên không mâu thuẫn với kết quả quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu qua dự giờ lên lớp Nhóm nghiên cứu dự
86 tiết học, trong đó có 77 tiết giáo viên sử dụng TBDH Để đánh giá kỹ năng và phương pháp sử dụng TBDH của giáo viên, nhóm nghiên cứu dựa vào 4 tiêu chí: Kỹ năng sử dụng TBDH; Khai thác thông tin từ TBDH; Kích thích hứng thú học tập của học sinh nhờ sử dụng TBDH; Tổ chức cho học sinh tự lực, chủ động hoạt động chiếm lĩnh tri thức Với mỗi tiêu chí có 4 mức độ: kém, trung bình, khá, tốt Ví dụ:
Mức tốt: Thao tác đúng quy trình kĩ thuật, thành thục, đảm bảo thành công
Về khai thác thông tin TBDH:
Kém: Chỉ lưu ý HS đến một thông tin nào đó, nhiều thông tin bỏ qua
Trung bình: Lưu ý HS đến một số thông tin cơ bản
Khá: Tận dụng hầu như tất cả các thông tin có trong TBDH để phục vụ bài giảng
Tốt: Hướng dẫn HS khai thác hết các thông tin có trong TBDH
Về kích thích hứng thú học tập ở HS:
Mức kém: Để HS ở trạng thái thụ động, thiếu nhiệt tình học tập
Mức trung bình: HS chăm chú nghe GV giảng giải, minh họa
Mức khá: Nói chung HS hào hứng với việc sử dụng TBDH, chăm chú nghe
GV giảng giải, một số tích cực trả lời câu hỏi của GV
Trang 20Mức tốt: Phần lớn HS hào hứng, tích cực tham gia trả lời câu hỏi của GV hoặc thao tác với TBDH, phát hiện ra các thông tin từ TBDH
Về tổ chức hoạt động cho HS chiếm lĩnh tri thức:
Mức kém: HS thụ động nghe GV giảng giải
Mức trung bình: Có cho HS quan sát hoặc sử dụng TBDH để trả lời các câu hỏi của GV
Mức khá: GV sử dụng TBDH, hướng dẫn HS quan sát, đàm thọai để đi đến nhận xét, kết luận
Mức tốt: GV cho HS thao tác với TBDH theo cá nhân hoặc nhóm tự phát hiện thông tin, rút ra nhận xét, thảo luận, trao đổi đi đến kiến thức mới
Kết quả quan sát được trình bày ở Bảng 5
Bảng 5 Đánh giá kỹ năng và phương pháp sử dụng TBDH của giáo viên
qua dự giờ Kém Trung bình Khá Tốt
2 Mức độ khai thác thông tin từ TBDH 0% 13,5% 26,9% 59,6%
3 Kích thích hứng thú học tập của học sinh 0% 9,4% 22,6% 68%
4 Tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực 0% 9,4% 26,4% 64,2%
Từ Bảng 5 có thể rút ra kết luận là theo 4 tiêu chí về hiệu quả sử dụng TBDH trong quá trình dạy học thì phần lớn (trên 80%) giáo viên sử dụng có hiệu quả thiết
bị dạy học: sử dụng thành thạo, biết khai thác thông tin trong TBDH, biết sử dụng TBDH để kích thích hứng thú học tập của học sinh, biết tổ chức cho học sinh hoạt động với TBDH để chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên, qua dự giờ nhóm nghiên cứu cũng thấy, ở một số tiết học phương pháp sử dụng TBDH còn hạn chế, có hiện tượng lạm dụng TBDH (sử dụng quá nhiều, sử dụng phương tiện nghe nhìn trong trường hợp không cần thiết)
Để đánh giá kĩ năng sử dụng TBDH của GV, nhóm nghiên cứu còn tiến hành trắc nghiệm 63 GV về sử dụng TBDH Toán lớp 3, 70 GV về sử dụng TBDH Toán lớp 4, 97 GV sử dụng TBDH tiếng Việt lớp 4; kết quả được trình bày ở Bảng 6, Bảng 7
Trang 21Bảng 6 Kết quả trắc nghiệm GV và kĩ năng sử dụng TBDH môn Toán lớp 3 và lớp
4
TT Câu hỏi
Kết quả trả lời Đầy đủ Không
Như vậy, kết quả trắc nghiệm GV tương đối phù hợp với kết quả quan sát qua
dự giờ GV Trong báo cáo của các Sở giáo dục và Đào tạo mà nhóm nghiên cứu đến khảo sát đều đánh giá tốt tình hình sử dụng TBDH ở các trường tiểu học Bảng 8 dưới đây cho kết quả đánh giá của các Sở GD và ĐT
Trang 22Chƣa bao giờ
1 Cả lớp quan sát và nghe GV giải thích tranh ảnh,
5 Làm việc cá nhân hoặc theo nhóm với mô hình,
mẫu vật để tìm thông tin
6 Làm thí nghiệm cá nhân hoặc theo nhóm 39,9% 42,2% 17,9% Qua Bảng 9 cho thấy tình hình sử dụng TBDH của HS trên lớp hoàn toàn phụ thuộc vào GV Nói chung, HS chỉ quan sát GV sử dụng TBDH, ít có cơ hội tự làm thí nghiệm theo cá nhân hoặc theo nhóm
Trang 23Về kỹ năng sử dụng TBDH của học sinh (các bộ thiết bị dạy học dành cho HS) được đánh giá qua phiếu hỏi 329 giáo viên như sau:
67,9% ý kiến giáo viên cho rằng nhìn chung học sinh có kỹ năng sử dụng TBDH dành cho HS là khá, 22,9% đánh giá ở mức tốt, chỉ có 8,6% đánh giá ở mức trung bình và 0,6% đánh giá ở mức kém Kỹ năng sử dụng TBDH ở học sinh chủ yếu là kỹ năng sử dụng các bộ TBDH thực hành dành cho cá nhân (bộ TBDH Toán,
bộ TBDH tiếng Việt) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả quan sát qua dự giờ
1.1.3 Về điều kiện đảm bảo TBDH được sử dụng
TBDH có được đưa vào sử dụng hay không không chỉ phụ thuộc vào bản thân giáo viên mà còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác
Trường phải có cơ sở vật chất (phòng ốc, tủ giá, điện v.v…) phù hợp; phải có cán
bộ chuyên trách về TBDH; lãnh đạo nhà trường phải có sự quản lý chặt chẽ, động viên, khuyến khích giáo viên; giáo viên phải được bồi dưỡng về chuyên môn v.v…
Về các điều kiện đảm bảo để TBDH được sử dụng ở các trường tiểu học qua tập hợp ý kiến của 191 hiệu trưởng được trình bày ở Bảng 11
Bảng 11 Các điều kiện đảm bảo để TBDH được sử dụng Các điều kiện Số trường có %
Trang 24Kết quả trên cũng phù hợp với kết quả quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu tại 24 trường tiểu học 100% số trường đều có một phòng đựng TBDH, trong phòng đều có hệ thống tủ, giá giúp cho giáo viên dễ lấy và cất đi Một số trường chuẩn quốc gia ngoài phòng chứa TBDH còn có phòng chức năng Nhiều trường có tủ đựng TBDH ngay trong lớp Tuy nhiên số trường có cán bộ chuyên trách về TBDH rất ít Trong 24 trường đến khảo sát chỉ có 4 trường có cán bộ chuyên trách, còn lại
là giáo viên kiêm nhiệm Nhóm nghiên cứu cũng đã quan sát thấy ở 100% số trường đều có sổ theo dõi mượn và trả TBDH Khi tọa đàm với lãnh đạo của các trường đều thấy các trường chú ý đến việc sử dụng TBDH, khuyến khích giáo viên sử dụng TBDH như đưa việc sử dụng TBDH vào tiêu chuẩn thi đua, đánh giá giờ dạy của giáo viên; cấp kinh phí cho giáo viên làm đồ dùng dạy học, tổ chức thi đồ dùng dạy học tự làm; thao diễn giờ dạy tốt với việc sử dụng TBDH v.v
1.1.4 Kết luận chung về tình hình sử dụng TBDH ở trường tiểu học
1 Ở cấp tiểu học, TBDH được cung cấp đủ so với bản danh mục TBDH của
Bộ Tuy nhiên so với yêu cầu của CT, SGK mới vẫn chưa đáp ứng đầy đủ, một số loại hình TBDH như tranh ảnh giáo khoa, băng đĩa ghi hình, ghi tiếng rất cần nhưng lại rất thiếu
2 Nhìn chung TBDH đều được sử dụng khá thường xuyên vào quá trình dạy học
3 Kỹ năng và phương pháp sử dụng TBDH của số đông giáo viên là tốt Giáo viên biết sử dụng đúng kỹ thuật, biết khai thác thông tin từ TBDH, biết dùng TBDH làm phương tiện kích thích hứng thú học tập ở học sinh và tổ chức cho học sinh hoạt động với TBDH tự lực chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận nhỏ giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng TBDH, chưa biết khai thác tối đa thông tin từ TBDH, sử dụng TBDH chỉ với hình thức minh họa và đôi khi lạm dụng TBDH bằng cách sử dụng quá nhiều hoặc khi không cần thiết sử dụng
4 TBDH ở tiểu học nói chung là đơn giản và chủ yếu là các bộ TBDH dành cho HS, do đó kỹ năng sử dụng TBDH của học sinh nhìn chung là khá tốt Các em
sử dụng khá thành thạo các bộ TBDH dành cho cá nhân
5 Điều kiện đảm bảo cho TBDH được sử dụng đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn còn hạn chế, cần tiếp tục được tăng cường (nhất là phòng ốc và cán bộ chuyên trách)
Trang 25Bảng 12 Mức độ sử dụng TBDH của giáo viên THCS
TT Loại hình TBDH Mức độ sử dụng TBDH của giáo viên THCS
Chưa bao giờ Thỉnh thoảng Thường xuyên
Khi hỏi về tỉ lệ % số tiết học giáo viên đã sử dụng TBDH được kết quả là: 5,5% số giáo viên tự đánh giá có sử dụng TBDH dưới 25%; 8,3% số giáo viên có số tiết học đã sử dụng TBDH chiếm từ 25-50%; 27,9% số giáo viên có số tiết học đã sử dụng TBDH chiếm từ 51-75%; 58,3% số giáo viên có số tiết học đã sử dụng TBDH chiếm trên 75%
Kết quả này tương đối phù hợp với quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu Qua
dự giờ của 101 giáo viên về các môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng anh, Công nghệ, Âm nhạc cho thấy, trong số 101 tiết học có 2 tiết ôn tập là không sử dụng TBDH, còn lại 99 tiết dạy bài mới hoặc thực hành thì
90 tiết (chiếm trên 90%) có sử dụng TBDH, chủ yếu ở các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Âm nhạc và Công nghệ
Qua phiếu hỏi 1481 học sinh THCS cho thấy mức độ sử dụng TBDH tuỳ thuộc vào loại hình TBDH và môn học (Bảng 13) Với loại hình tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ thì 76,8 % số học sinh xác nhận được sử dụng thường xuyên ở môn Địa lý, 61,2% số học sinh xác nhận được sử dụng thường xuyên ở môn Sinh vật, 57,9% ở môn Lịch
Trang 26sử, 49,0% ở môn Mỹ thuật Với loại hình dụng cụ thí nghiệm, 76,4% số học sinh xác nhận được sử dụng thường xuyên ở môn Vật lý, 72,8% ở môn Hóa học, 35,6% ở môn Sinh học Với loại mô hình, mẫu vật 52,1% số học sinh xác nhận được sử dụng thường xuyên ở môn Sinh vật, 32,8% ở môn Vật lý, 26,7% ở môn Hóa học, 34% ở môn Mỹ thuật, 24,9% ở môn Công nghệ Với loại hình băng đĩa, hình, tiếng 55,4%
số học sinh xác nhận được sử dụng thường xuyên ở môn Ngoại ngữ, 41,8% ở môn
Âm nhạc, rất ít được sử dụng thường xuyên ở các môn khác Tình hình này rất phù hợp với đặc thù của môn học: đối với khoa học tự nhiên thì dụng cụ thí nghiệm, mô hình, mẫu vật được sử dụng với tần suất lớn hơn; đối với khoa học xã hội thì tranh ảnh, bản đồ, băng đĩa ghi hình, ghi tiếng được sử dụng với tần suất lớn hơn
Bảng 13 Mức độ sử dụng TBDH theo môn học (qua ý kiến học sinh) Tỉ lệ %
thoảng 33.5 37.0 41.5 17.1 36.2 39.9 33.2 41.7 41.9 39.5 38.4 27.0 32.2 Thường
thoảng 51.7 21.8 21.3 17.3 11.9 35.4 24.7 11.0 9.6 10.2 15.4 10.4 11.9 Thường
thoảng 39.4 38.1 32.5 35.2 22.8 35.0 24.4 13.6 15.0 12.6 38.0 14.2 15.2 Thường
xuyên
52.1 32.8 26.7 18.6 15.0 24.9 15.1 3.8 7.2 7.3 34.0 10.5 10.6 Không bao
giờ 73.4 83.0 79.8 81.2 83.6 87.0 83.4 0 18.9 86.1 85.9 37.8 89.8
Trang 27Băng đĩa Thỉnh
thoảng 21.3 10.8 12.9 12.2 11.9 9.5 12.9 0 25.8 9.5 9.3 20.4 6.1 Thường
xuyên
5.3 6.2 7.3 6.6 4.5 3.5 3.7 0 55.4 4.4 4.8 41.8 4.1
Có nhiều lí do giải thích vì sao giáo viên không sử dụng TBDH thường xuyên Qua phiếu hỏi 133 hiệu trưởng cho thấy: 23,8% số hiệu trưởng được hỏi cho rằng thiếu TBDH; 33,08% cho rằng chất lượng TBDH kém; 54,1% cho rằng cơ sở vật chất của nhà trường chưa đủ để đáp ứng; 24,06 % cho rằng TBDH khó sử dụng, thí nghiệm khó thành công; 27,8% cho rằng thiếu thời gian chuẩn bị
1.2.1.2 Về phương pháp và kỹ năng sử dụng TBDH
Để đánh giá kỹ năng và phương pháp sử dụng TBDH của giáo viên khi dự giờ lên lớp, nhóm nghiên cứu đưa ra 4 tiêu chí: Kỹ năng sử dụng TBDH; Khai thác thông tin từ TBDH; Kích thích hứng thú học tập của học sinh; Tổ chức cho học sinh
tự lực, chủ động hoạt động chiếm lĩnh tri thức Với mỗi tiêu chí có 4 mức độ: Kém, trung bình, khá, tốt như đã trình bày ở mục 2.1.1.2
Kết quả quan sát của nhóm nghiên cứu cho thấy có tới 20% số giáo viên còn lúng túng khi sử dụng TBDH, chỉ có 27,5% số giáo viên sử dụng thành thạo TBDH (trong khi đó giáo viên tự đánh giá: chưa thành thạo:1,0%, rất thành thạo 51,6%) Đồng thời với việc dự giờ, nhóm nghiên cứu còn tiến hành trắc nghiệm giáo viên về
sử dụng TBDH ở 4 môn: Vật lí, Hóa học, Địa lí, Sinh học, đây là những môn học có nhiều TBDH Kết quả trắc nghiệm được trình bày ở Bảng 14
Bảng 14 Kết quả trắc nghiệm giáo viên Môn Yếu
(từ 35-4,9 điểm)
Trung bình (từ 5-6,4 điểm)
Khá (6,5-8,0 điểm)
Giỏi (trên 8,0 điểm)
Trang 28Phân tích các bài trắc nghiệm môn Hóa học cho thấy đa số giáo viên bước đầu nắm được kỹ thuật sử dụng TBDH hóa học như tranh ảnh, thí nghiệm đơn giản Với các thí nghiệm phức tạp hơn, nhiều giáo viên còn lúng túng hoặc không biết cách để thí nghiệm thành công Ví dụ, có đến 17,1% giáo viên chưa nắm chắc được kỹ thuật thực hiện thành công thí nghiệm sắt tác dụng với lưu huỳnh Nhiều giáo viên chưa biết được kỹ thuật khử hiện tượng phụ khi điện phân v.v Qua bài trắc nghiệm môn Sinh học cho thấy chỉ có 56% số giáo viên biết sử dụng kính hiển vi Còn qua bài trắc nghiệm môn Vật lí cho thấy 61,9% giáo viên không nắm được thứ tự các thao tác khi tiến hành thí nghiệm nghiên cứu mạch điện mắc nối tiếp và mạch điện mắc song song; 42,9% không biết sử dụng dụng cụ nào khi tiến hành thí nghiệm xác định điện trở của một dây dẫn bằng Ampekế và Vonkế
Theo đánh giá của các hiệu trưởng và tự đánh giá của GV thì kết quả lại khác Qua phiếu hỏi 129 hiệu trưởng THCS cho thấy các hiệu trưởng đánh giá tương đối cao kỹ năng sử dụng TBDH của giáo viên 69,0% số hiệu trưởng đánh giá kỹ năng sử dụng TBDH của giáo viên ở mức tương đối thành thạo, 20,1% đánh giá ở mức độ thành thạo (riêng ở Hà Nội tới 35%) Chỉ có 10,9% số hiệu trưởng đánh giá
kỹ năng sử dụng TBDH của giáo viên ở mức chưa thành thạo (riêng Hòa Bình lên tới 34,8%) (Bảng 15)
Bảng 15 Hiệu trưởng THCS đánh giá mức độ thành thạo sử dụng TBDH của GV Mức độ Hòa
tự như tự đánh giá 36% cho rằng giáo viên sử dụng TBDH thành thạo; 63,8% đánh giá ở mức tương đối thành thạo, chỉ có 0,3% đánh giá là chưa thành thạo
Trang 29Kết quả đánh giá của hiệu trưởng, tự đánh giá và đánh giá đồng nghiệp của giáo viên có sự chênh lệch đáng kể về mức độ thành thạo và chưa thành thạo trong
sử dụng TBDH Kết quả đánh giá có sự khác biệt với kết quả quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu qua dự giờ lên lớp và qua trắc nghiệm giáo viên
Sự khác biệt về kết quả đánh giá kỹ năng sử dụng TBDH của giáo viên giữa nhóm nghiên cứu với hiệu trưởng và giáo viên tự đánh giá có thể được lí giải là nhóm nghiên cứu đánh giá khách quan hơn, quan niệm đầy đủ hơn về “chưa thành thạo” và “thành thạo” trong sử dụng TBDH, còn giáo viên quan niệm không rõ ràng
về “chưa thành thạo” và “thành thạo” do đó đánh giá thiếu chính xác
Sự chưa thành thạo trong sử dụng TBDH của một bộ phận đáng kể giáo viên có nhiều nguyên nhân Theo tự đánh giá của GV, nguyên nhân chủ yếu là giáo viên chưa được tập huấn hoặc tập huấn chưa đạt yêu cầu về sử dụng TBDH (37,4%số giáo viên được hỏi ý kiến tán đồng với nguyên nhân này); nguyên nhân là TBDH không phù hợp hoặc quá khó chỉ có 10,2% số giáo viên tán đồng; nguyên nhân là giáo viên thiếu ý thức rèn luyện sử dụng chỉ có 4,4% số giáo viên tán thành (Bảng 16) Theo nhóm nghiên cứu còn có nguyên nhân nữa rất quan trọng là GV chưa được đào tạo, rèn luyện trong trường sư phạm
Bảng 16 Lí do chưa thành thạo trong sử dụng TBDH
Trang 30giờ Vật lí lớp 9 bài “Từ phổ-đường sức từ” (Trường THCS Thị trấn Yên Viên, Hà Nội) học sinh rất lúng túng khi làm thí nghiệm tạo từ phổ của nam châm
Nhận xét trên của nhóm nghiên cứu qua dự giờ lên lớp khá phù hợp với ý kiến của học sinh qua phiếu hỏi trả lời câu hỏi trong các tiết học có sử dụng TBDH học sinh được tham gia những hoạt động nào, kết quả cho thấy:83,3% số học sinh cho rằng thường xuyên cả lớp quan sát và nghe thầy, cô giải thích tranh, ảnh, bản đồ, mô hình, mẫu vật; 65,2% nói rằng thường xuyên cả lớp quan sát giáo viên làm thí nghiệm; 42,4% số học sinh nói là chưa bao giờ hoặc thỉnh thoảng mới được sử dụng
mô hình, mẫu vật để tìm thông tin; 49% chưa bao giờ hoặc thỉnh thoảng được tự làm thí nghiệm theo nhóm
Trong khi đó, học sinh tỏ ra rất hứng thú với các tiết học có sử dụng TBDH Qua 1481 phiếu hỏi học sinh cho thấy 82,2% thích tiết học có sử dụng tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ; 82,2% thích tiết học có sử dụng mô hình, mẫu vật; 92,3% thích tiết học có tiến hành các thí nghiệm; 82,5% thích tiết học có sử dụng băng, đĩa ghi tiếng, ghi hình Đồng thời học sinh cũng nhận thấy rõ tác dụng của việc sử dụng TBDH trong quá trình học tập 96,9% học sinh thừa nhận việc sử dụng TBDH trong giờ học gây hứng thú học tập ở các em; 87,1% xác nhận TBDH giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức mới; 95,1% nói rằng nhờ có sử dụng TBDH mà các em hiểu và ghi nhớ bài nhanh hơn (Bảng 17)
Bảng 17 Tác dụng của TBDH đối với học sinh
TT Tác dụng Tỉ lệ
3 Giúp em hiểu và ghi nhớ bài nhanh hơn 95.1%
Để đánh giá trình độ kỹ năng sử dụng TBDH của học sinh, nhóm nghiên cứu
đã sử dụng các phương pháp: phỏng vấn gián tiếp 393 giáo viên; tiến hành trắc nghiệm 598 học sinh lớp 9 về môn Sinh học, 607 học sinh về môn Hóa học, 586 học sinh về môn Vật lí, 557 HS về môn Địa lí và quan sát khi dự giờ lên lớp
Theo đánh giá của giáo viên (qua phiếu hỏi 370 giáo viên) thì trình độ kỹ năng
sử dụng TBDH ở học sinh: kém 1,1%; trung bình 21,6%; khá 69,2%; tốt 8,1% Sở dĩ
kỹ năng sử dụng TBDH ở học sinh còn kém hoặc ở mức trung bình vì: học sinh
Trang 31chưa cố gắng, thiếu ý thức rèn luyện (52,2% ý kiến); thời gian trên lớp không đủ cho học sinh thực hành (8,4% ý kiến); TBDH khó sử dụng đối với học sinh (11,0% ý kiến)
Qua trắc nghiệm học sinh về kỹ năng sử dụng TBDH ở 4 môn (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí) cho thấy, kết quả thu được khác biệt rất nhiều so với sự đánh giá của giáo viên Trình độ kỹ năng sử dụng TBDH xếp loại yếu và kém chiếm tỉ lệ cao
từ 25,4% (môn Hóa học) đến 73,5% (môn Địa lí); xếp loại giỏi chiếm tỉ lệ thấp từ 0% (môn Địa lí) đến 28,5% (môn Hóa học) (Bảng 18)
Bảng 18 Trình độ kỹ năng sử dụng TBDH của HS qua trắc nghiệm
Môn Kém
(Dưới 3,5 điểm)
Yếu (từ 35-4,9 điểm)
Trung bình (từ 5-6,4 điểm)
Khá (6,5-8,0 điểm)
Giỏi (trên 8,0 điểm)
đồ (phương hướng trên bản đồ, ký hiệu bản đồ…) nên thứ tự tiến hành các thao tác không đúng, chưa vận dụng được kiến thức vào đọc một bản đồ, lược đồ cụ thể ở môn Hóa học, nhiều học sinh chưa biết cách lắp bình thu khí ô xy trong một thí nghiệm điều chế ô xy; không biết cách thực hiện kỹ thuật đốt nóng ống nghiệm trong thí nghiệm điều chế ô xy; nhiều học sinh không nhận diện được 2 bộ dụng cụ điều chế Hydro và thu khí bằng hai cách và không biết cách thu khí Hydro Đối với môn Sinh học, kết quả trắc nghiệm cho thấy việc sử dụng TBDH của học sinh còn nặng về hình thức, nói chung chưa đạt yêu cầu Ở môn Vật lí, kết quả trắc nghiệm cho thấy có tới 69,9% học sinh không vẽ được sơ đồ mạch điện của thí nghiệm tìm hiểu về sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn; 30,7% thực hiện không đúng thứ tự các thao tác của thí nghiệm này; 16,0%học sinh không biết mắc mạch điện thí nghiệm để kiểm tra công thức tính điện trở tương đương của đoạn mạch gồm 2 điện trở mắc song song; 35,1% không biết các
Trang 32mắc mạch điện thí nghiệm tìm hiểu sự phụ thuộc của điện trở vào tiết diện của dây dẫn
2.2.3 Các yếu tố đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả TBDH ở trường THCS
Cũng như ở trường tiểu học, ở trường THCS, TBDH có được đưa vào sử dụng
và sử dụng có hiệu quả hay không không chỉ phụ thuộc vào bản thân người sử dụng
- giáo viên và học sinh, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: cơ sở vật chất của nhà trường, cán bộ chuyên trách về TBDH, công tác quản lý của nhà trường
2.2.3.1 Về cơ sở vật chất của nhà trường
Qua tập hợp ý kiến của 133 hiệu trưởng trường THCS của 12 huyện, quận thuộc 6 tỉnh thành phố cho thấy tình hình trường, lớp của các trường THCS hiện nay chưa tạo điều kiện tốt cho việc sử dụng TBDH vào quá trình dạy học Phần lớn các trường đều có phòng chứa TBDH, có hệ thống tủ, giá để TBDH, tuy nhiên, các phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, phòng nghe nhìn nhiều trường còn chưa có (Bảng 19)
Trang 33Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở GD & ĐT trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố, 100% số trường có phòng chứa TBDH, nhưng tỉ lệ số trường có phòng bộ môn hoặc phòng thí nghiệm thực hành không phải là cao, trừ TP Hồ Chí Minh (Bảng 20) Như vậy, các trường THCS hiện nay chủ yếu mới có phòng chứa TBDH, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng TBDH
Bảng 20 Phòng chức năng ở trườngTHCS Tỉnh/Thành phố Tỷ lệ trường có
phòng bộ môn
Tỷ lệ trường có phòng thí nghiệm dùng chung
Tỷ lệ trường có kho chứa TBDH
Qua phiếu hỏi 133 hiệu trưởng THCS của 12 huyện, quận thuộc 6 tỉnh, thành phố cho thấy 128 trường (chiếm 96,2%) có cán bộ chuyên trách về TBDH Song cán
bộ chuyên trách ở đây không đồng nhất với phụ tá thí nghiệm Phần lớn họ là người trong biên chế của trường được phân công theo dõi, mua sắm, bảo quản TBDH chứ không phải là phụ tá, giúp đỡ giáo viên trong việc chuẩn bị TBDH và tiến hành thí nghiệm, tuyệt đại đa số chưa được đào tạo Quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu ở
24 trường THCS cho phép nhận xét như vậy, trừ một vài trường
Tình trạng thiếu phụ tá thí nghiệm là phổ biến ở các trường THCS, cản trở rất nhiều việc sử dụng TBDH
Trang 342.2.4 Về công tác quản lý TBDH ở nhà trường
Theo báo cáo của các Sở GD &ĐT và 12 phòng giáo dục, trong những năm gần đây, kể từ khi bắt đầu triển khai đại trà chương trình, sách giáo khoa mới, công tác TBDH được đặc biệt quan tâm từ Sở GD & ĐT đến phòng GD và trường
Ở cấp Sở GD &ĐT, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của chính phủ, của Bộ
GD & ĐT, Sở GD& ĐT đã tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố kiện toàn Ban chỉ đạo cấp tỉnh thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung và công tác thiết bị nói riêng Các Sở đều có công văn quy định về việc quản lí, bảo quản sử dụng TBDH Các phòng chức năng của Sở phối hợp với các phòng giáo dục tổ chức các lớp bồi dưỡng về sử dụng TBDH cho giáo viên Sở tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc cung ứng, bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường Các Sở GD
& ĐT như Sở GD & ĐT Gia Lai đã xây dựng mô hình mẫu về bảo quản, sử dụng TBDH, tổ chức cho cán bộ quản lý phòng giáo dục và trường đến tham quan, rút kinh nghiệm áp dụng tại đơn vị mình
Ở cấp Phòng Giáo dục, ngay từ khi bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (năm học 2002-2003), nhiều phòng đã thành lập Ban chỉ đạo công tác TBDH: lập kế họach cung ứng TBDH trình chính quyền, tổ chức các chuyên đề về sử dụng TBDH trong quận, huyện, tổ chức các đợt tập huấn cho giáo viên về sử dụng TBDH; ra các văn bản hướng dẫn các trường việc cung ứng, bảo quản và sử dụng TBDH; tổ chức kiểm tra, thanh tra việc cung ứng, bảo quản và sử dụng TBDH ở các trường
Ở các trường, nhìn chung, hiệu trưởng chăm lo đến việc quản lý hệ thống cơ sở vật chất-TBDH hơn trước Nội dung quản lý CSVC-TBDH bao gồm: tổ chức xây dựng hệ thống CSVC-TBDH của nhà trường, tổ chức sử dụng có hiệu quả CSVC-TBDH vào quá trình giáo dục-dạy học; tổ chức bảo quản hệ thống CSVC-TBDH để
sử dụng lâu dài Trường nào cũng có một phó hiệu trưởng đặc trách về vấn đề này Qua tọa đàm của nhóm nghiên cứu với BGH của các trường cho thấy các trường rất quan tâm và có nhiều sáng kiến trong công tác quản lý cơ sở vật chất nói chung, thiết bị dạy học nói riêng Để TBDH được sử dụng có hiệu quả các trường đều có các biện pháp hành chính đi đôi với khuyến khích động viên giáo viên như đề ra những quy định trong hoạt động chuyên môn buộc giáo viên phải tích cực sử dụng TBDH, tổ chức sinh hoạt chuyên đề về sử dụng TBDH trong từng tổ chuyên môn,
Trang 35đồng thời khuyến khích động viên giáo viên bằng khen thưởng Xem xét thực tế, nhóm nghiên cứu đều thấy trường nào cũng có sổ sách theo dõi TBDH được cung ứng hàng năm, có sổ theo dõi việc mượn trả TBDH của từng giáo viên Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra việc bảo quản và sử dụng TBDH của trường và công tác TBDH luôn luôn là một nội dung trong các cuộc họp sơ kết, tổng kết hàng năm của trường Để làm phong phú hệ thống TBDH của trường, hầu như trường nào cũng tổ chức, động viên giáo viên tự làm đồ dùng dạy học Có thể khẳng định, ở hầu hết các trường THCS, công tác TBDH được đặc biệt quan tâm, do đó TBDH được bảo quản tương đối tốt và được đưa vào sử dụng Ở những trường nhóm nghiên cứu đến khảo
sát không có tình trạng TBDH “đắp chiếu để đấy”
2.2.5 Kết luận chung về tình hình sử dụng TBDH ở trường THCS
1 Lần đầu tiên TBDH được cung cấp khá đầy đủ theo danh mục TBDH tối thiểu do Bộ GD & ĐT ban hành và cơ bản đã được sử dụng vào quá trình dạy học
Tình trạng TBDH được cung ứng “đắp chiếu để đấy” hầu như không có Đại bộ
phận giáo viên thường xuyên sử dụng TBDH đặc biệt là các loại hình tranh ảnh, bản
đồ, dụng cụ thí nghiệm Tình trạng dạy chay đã được hạn chế rất nhiều Học sinh được sử dụng TBDH nhiều hơn trước, nhưng thụ động quan sát vẫn khá phổ biến
Lý do cơ bản của việc không thường xuyên sử dụng TBDH là cơ sở vật chất của nhà trường chưa đủ để đáp ứng và chất lượng của TBDH chưa đảm bảo
2 Phương pháp và kỹ năng sử dụng TBDH của giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục THCS Một bộ phận đáng kể còn rất lúng túng khi sử dụng TBDH, chưa biết khai thác và tận dụng hết thông tin ở TBDH, chưa chú ý sử dụng TBDH kích thích hứng thú học tập của học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của các em Nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là giáo viên chưa được bồi dưỡng, tập huấn một cách đầy đủ về sử dụng TBDH
và ngay trong quá trình học tập ở trường sư phạm cũng chưa được chú ý rèn luyện
về phương pháp, kĩ năng sử dụng TBDH
3 Kỹ năng sử dụng TBDH của học sinh còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục THCS Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do học sinh không được rèn luyện vì ít có cơ hội sử dụng TBDH Trong giờ học, học sinh chủ yếu thụ động quan sát sự trình diễn của giáo viên, mặc dù các
Trang 36em hứng thú với việc sử dụng TBDH trong quá trình học tập và nhận thấy rõ tác dụng của nó
4 Có sự chênh lệch về trình độ kĩ năng sử dụng TBDH của GV giữa các loại trường và giữa các vùng miền Với các trường đạt chuẩn quốc gia, những trường ở thành phố lớn hay những vùng kinh tế phát triển, có sự quan tâm, quản lí chặt chẽ và
có sự khuyến khích động viên thì trình độ kĩ năng sử dụng TBDH cao hơn hẳn
5 Điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho việc sử dụng TBDH còn hạn chế Những năm qua mới chú ý tới việc tăng cường hệ thống TBDH ở các trường mà chưa tính tới việc nâng cấp trường sở để tạo điều kiện cho việc sử dụng TBDH
6 Ở các trường THCS hầu như chưa có cán bộ phụ tá thí nghiệm được đào tạo, tình hình này cản trở rất lớn đến việc sử dụng TBDH
7 Công tác TBDH đã được các cấp quản lý từ Sở đến các trường quan tâm chỉ đạo Đây là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng TBDH Tuy nhiên, việc tổ chức bồi dưỡng tập huấn GV về TBDH còn hạn chế, chưa có hiệu quả
III Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường phổ thông
Hiệu quả sử dụng là mục đích cuối cùng của toàn bộ công tác TBDH Sản xuất, cung ứng TBDH cho các nhà trường là để sử dụng chúng vào mục đích giáo dục-dạy học Kết quả điều tra, khảo sát thực tế ở 6 tỉnh thành phố cho thấy hiệu quả sử dụng TBDH chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Hiệu quả sử dụng TBDH được hiểu là kết quả việc sử dụng TBDH mang lại so với yêu cầu đặt ra đối với việc sử dụng TBDH Sử dụng TBDH trong quá trình dạy học phải đáp ứng được 5 yêu cầu sau:
1 Sử dụng TBDH phải đảm bảo cung cấp cho HS thông tin về các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu đầy đủ và chính xác, làm cho HS hiểu sâu và nắm chắc kiến thức
2 Sử dụng TBDH phải đảm bảo nâng cao tính trực quan của dạy học, mở rộng khả năng tiếp cận các đối tượng, hiện tượng
Trang 373 Sử dụng TBDH phải đảm bảo kích thích hứng thú học tập ở HS, thoả mãn nhu cầu nhận thức của HS
4 Sử dụng TBDH đảm bảo nâng cao nhịp độ nghiên cứu tài liệu học tập của
HS
5 Sử dụng TBDH phải đảm bảo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, tạo điều kiện để HS hoạt động tự lực chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng
Như ở phần trên của báo cáo đã nêu rõ, hiệu quả sử dụng TBDH ở các nhà trường tiểu học và THCS khi triển khai thực hiện chương trình, SGK mới còn thấp
do nhiều nguyên nhân
Thứ nhất, việc cung cấp TBDH cho các nhà trường không kịp thời, thường
chậm, năm học đã bắt đầu được hai ba tháng, thậm chí hết học kì 1, nhà trường mới nhận được TBDH, do đó, nhiều TBDH không được sử dụng vào dạy học trong năm học đó
Thứ hai, chất lượng của nhiều TBDH không đảm bảo yêu cầu về mặt khoa học
sư phạm, độ bền chắc Chất lượng TBDH kém dẫn đến tình hình sử dụng TBDH không thành công, thậm chí còn gây nguy hiểm cho GV và HS, do đó, không thể đáp ứng được 5 yêu cầu nêu ở trên
Thứ ba, các điều kiện để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả vào quá trình
dạy học còn nhiều hạn chế: các trường hầu như mới chỉ có kho chứa TBDH, chưa có phòng thí nghiệm, phòng bộ môn; hầu hết các trường không có phụ tá thí nghiệm được đào tạo cẩn thận, trong công tác quản lí chưa có những giải pháp tạo ra động lực sử dụng TBDH ở GV và HS
Thứ tư, phương pháp và kĩ năng sử dụng TBDH của đại bộ phận GV còn thấp
Trường sư phạm chưa chú trọng rèn luyện phương pháp, kĩ năng sử dụng TBDH cho sinh viên Công tác bồi dưỡng, tập huấn GV làm chưa tốt
Từ sự phân tích ở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở trường phổ thông như sau:
1 Thay đổi phương thức cung cấp thiết bị dạy học cho các trường: không tổ chức đấu thầu cung ứng thiết bị dạy học trọn gói cho một tỉnh hoặc một huyện Kinh phí nhà nước dành cho các địa phương để mua sắm TBDH cần được phân đến từng
Trang 38trường căn cứ vào quy mô trường lớp Giao quyền tự chủ cho trường trong việc mua sắm TBDH, Phòng giáo dục, Sở Giáo dục giữ vai trò kiểm tra, thanh tra
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có chương trình mục tiêu về tăng cường cơ sở vật chất-thiết bị dạy học cho trường phổ thông Các mục tiêu của chương trình:
- Xây dựng ở mỗi trường tiểu học một phòng chứa TBDH, một phòng nhìn; trong mỗi lớp học có tủ đựng TBDH
- Xây dựng ở mỗi trường THCS một phòng chứa TBDH, một phòng nghe-nhìn, từ 1 đến 3 phòng thí nghiệm thực hành tùy theo quy mô của từng trường Khuyến khích các trường xây dựng hệ thống phòng học bộ môn
nghe Các trường được trang bị đủ TBDH đáp ứng yêu cầu của chương trình mới
3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực sáng tạo và sử dụng TBDH cho GV:
- Xây dựng giáo trình về sáng tạo và sử dụng TBDH và đưa vào giảng dạy ở tất
cả các khoa của trường sư phạm
- Biên soạn các tài liệu bồi dưỡng giáo viên về phương pháp và kĩ thuật sử dụng TBDH, đặc biệt là các phương tiện kĩ thuật dạy học (các phương tiện nghe-nhìn, máy tính, công nghệ đa phương tiện)
- Các trường sư phạm hằng năm mở các khóa bồi dưỡng giáo viên phổ thông
về phương pháp và kĩ thuật sử dụng TBDH theo kế họach của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của các Sở Giáo dục và Đào tạo
- Mở trường hoặc khoa trong trường sư phạm đào tạo phụ tá thí nghiệm
4 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng coi trọng kĩ năng thực hành, giải quyết vấn đề nhằm tạo ra động lực sử dụng TBDH ở giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học
5 Ở mỗi nhà trường xây dựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng TBDH Để đưa ra được các biện pháp quản lý hữu hiệu, trước hết, người hiệu trưởng phải đánh giá thực trạng trang TBDH của nhà trường và tình hình sử dụng TBDH; phân tích, đánh giá năng lực đội ngũ GV; phân tích, đánh giá nguồn lực hiện có và triển vọng trong tương lai gần phục vụ cho việc xây dựng và sử dụng
hệ thống TBDH Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu cần đạt được trong việc tổ chức
Trang 39sử dụng TBDH Mục tiêu này phải có tính giai đoạn, khả thi, phù hợp với đặc điểm của trường
Tài liệu tham khảo
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Quyết định ban hành Danh mục thiết bị dạy học
tối thiểu cho các lớp Tiểu học và THCS: Quyết định số
09/2002/QĐ-
BGDĐT;12/2003/QĐ-BGDĐT;03/2004/QĐ-BGDĐT;15/2005/QĐ-BGDĐT;38/2006/QĐ-BGDĐT;21/2002/QĐ-GDĐT;13/2003/QĐ-BGDĐT; 10/2004/QĐ-BGD ĐT; 16/2005/QĐ-BGD ĐT
2 Trần Kiểm ( 2008), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục,
NXB
Giáo dục, Hà Nội
3 Vũ Trọng Rỹ (2003), Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ
thông, Giáo trình cao học, Viện Khoa học giáo dục
4 Vũ Trọng Rỹ (2007), Tiêu chí đánh giá chất lượng thiết bị dạy học và hiệu
quả sử dụng trong quá trình dạy học, Tạp chí Giáo dục số 179/ 2007
Trang 40THỰC TRẠNG, CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THIẾT
BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Nguyễn Thị Thu Hà 3
1 Đặt vấn đề
Ở cấp THPT, thiết bị dạy học có vai trò rất quan trọng trong giảng dạy và học tập Nó không chỉ tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các kiến thức lý thuyết đã học và rèn luyện khả năng thực nghiệm của học sinh, mà còn tạo cho học sinh một trực giác nhạy bén đối với các hiện tượng trong tự nhiên Qua thực tế dạy học ở THPT, tôi nhận thấy, khi dạy đến các bài có thí nghiệm hoặc thực hành, đa phần giáo viên còn lúng túng, còn học sinh, về lý thuyết thì tốt nhưng về thực hành thì chưa đạt yêu cầu
Vì vậy, chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT hiện nay vẫn còn là vấn đề khiến chúng ta cần quan tâm, nhất là thực trạng sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn
Trong đề tài này, qua khảo sát, điều tra, thu thập thông tin từ đồng nghiệp ở các trường THPT tại hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước (nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7 – tháng 8/2011), tôi xin đề cập đến vấn đề trên nhằm đóng góp một chút hiểu biết của mình cho hội thảo khoa học: “Khai thác thiết bị dạy học hiện đại phục
vụ dạy học ở trường phổ thông”
2 Kết quả nghiên cứu
2.1 Thực trạng, chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT hiện nay
2.1.1 Thực trạng của việc sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT
Thực trạng về quản lý và sử dụng TBDH
Tôi thấy việc quản lý và sử dụng TBDH ở nhiều trường phổ thông còn bất cập:
- Hiện nay, hầu hết các trường chưa xây dựng được phòng học riêng cho từng
bộ môn, còn trong phòng để thiết bị chung thì hệ thống tủ, giá để thiết bị cũng thiếu thốn, các thiết bị để chồng chất lên nhau gây nên tình trạng bể, gãy, hư hỏng
3 Trường THPT Nguyễn Trãi - Bình Dương