Khái niệm quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo Căn cứ theo khoản 3 và khoản 5 Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định : "3.Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BÁO CÁO
NỘI DUNG CỤ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TÔN GIÁO
GVHD: Nguyễn Lan Hương Nhóm thực hiện : Nhóm CĐ 3
- Nguyễn Hoàng Yến Nhi – MSSV: S1200330
- Hồ Thanh Hải – MSSV: S1200243
- Huỳnh Ngọc Nhung – MSSV: S1200265
Cần Thơ 8-2014
Trang 2NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỤ THỂ VỀ TÔN GIÁO
I Mở đầu
Như chúng ta đã biết, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân, được ghi nhận ở Điều 24 Hiếp pháp năm 2013:
"1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật."
Và đây cũng là một cơ sở quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xây dựng hệ thống các nguyên tắc và xác định nội dung quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm sẽ đi vào "nội dung cụ thể quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo"
Trang 3II Nội dung
1 Khái niệm quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo
Căn cứ theo khoản 3 và khoản 5 Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng,
tôn giáo năm 2004 quy định :
"3.Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một
hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận."
"5 Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo "
Xét về tín ngưỡng và tôn giáo có mối liên hệ mật thiết với nhau Tuy nhiên, chúng cũng có điểm khác nhau bởi tín ngưỡng là khái niệm thuộc lĩnh vực ý thức, tình cảm, tư tưởng, còn tôn giáo là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả hoạt động và tổ chức Việt Nam là một nước đa tôn giáo, trong đó phần lớn dân cư chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Các tôn giáo lớn ở Việt Nam là Công giáo, Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo, Cao đài và Phật giáo Hòa hảo Như vậy có thể thấy quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Bảng thống kê số liệu Tôn giáo TP Cần Thơ năm 2013
Trang 42 Nội dung quản lí nhà nước về hoạt động tôn giáo
2.1 Thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo
Theo khoản 1 điều 8 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo về công nhận tổ chức tôn giáo
“1 Sau thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức có hoạt động tôn giáo liên tục, không vi phạm các quy định của Nghị định này và đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo.”
Điều kiện để được công nhận là tổ chức tôn giáo cần đạt được các điều kiện sau đây ( theo khoản 1 điều 16 Pháp lệnh về tôn giáo năm 2004)
- Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;
Trang 5- Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;
- Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định;
- Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;
- Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Tính đến hiện nay thì nước có 37 tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước cấp đăng ký hoặc công nhận về tổ chức và 01 pháp môn tu hành, cụ thể như sau:
Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc),
- Giáo hội Công giáo Việt Nam,
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
- Hội thánh Cao đài Tiên Thiên,
- Hội thánh Cao đài Minh Chơn đạo Hậu Giang,
- Giáo hội Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Cao đài Tây Ninh,
- Hội thánh Truyền giáo Cao đài,
- Hội thánh Cao đài Ban Chỉnh đạo,
- Hội thánh Cao đài Chơn lý,
- Hội thánh Cao đài Cầu Kho – Tam Quan,
- Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo,
- Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam),
- Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo TP Hồ Chí Minh,
- Hội thánh Cao đài Chiếu Minh Long Châu,
- Hội thánh Bạch y Liên đoàn Chơn lý,
- Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang,
- Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam,
Trang 6- Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam,
- Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam,
- Tổng hội Báp tít Việt Nam (Ân điển Nam Phương),
- Cộng đồng tôn giáo Baha’i Việt Nam,
- Giáo hội Phật đường Nam tong Minh sư đạo,
- Minh lý đạo Tam tông miếu,
- Hội thánh Báp tít Việt Nam (Nam Phương),
- Hội thánh Mennonite Việt Nam,
- Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam,
- Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam,
- Hội thánh Phúc Âm ngũ tuần Việt Nam,
- Cao đài Việt Nam Bình Đức,
- Pháp môn Cao đài chiếu minh (chỉ cấp đăng ký hoạt động như quy định về dòng tu),
- Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa,
- Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh Tây Ninh,
- Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh Ninh Thuận,
- Ban Quản trị Thánh đường Hồi giáo AL – Noor thành phố Hà Nội,
- Hội đồng sư cả Hồi giáo Bani tỉnh Bình Thuận,
- Hội đồng sư cả Hồi giáo Bani tỉnh Ninh Thuận,
- Hội đồng chức sắc Chăm Bàlamôn tỉnh Bình Thuận,
- Hội đồng chức sắc Chăm Bàlamôn tỉnh Ninh Thuận, (Chỉ giới thiệu
số lượng và sơ lược một vài tổ chức)
Theo khoản 2 điều 16 Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 quy định về thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo
Thủ tướng Chính phủ công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi
hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Trang 7Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ theo Điều 17 Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo năm
2004 quy định:
“1 Tổ chức tôn giáo được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức trực thuộc theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo
2 Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo cơ sở phải được sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh)
3 Việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này phải được
sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ”
Tại điều 9 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định những điều kiện
về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
Trang 8“1 Việc thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Tổ chức được thành lập thuộc hệ thống của tổ chức tôn giáo
đã được Nhà nước công nhận;
c) Số lượng tín đồ tại địa bàn đáp ứng điều kiện quy định tại hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo.
2 Việc chia, tách tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Tổ chức sau khi chia, tách vẫn thuộc hệ thống tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận;
c) Số lượng tín đồ của tổ chức tôn giáo trực thuộc đông, địa bàn hoạt động rộng, khó tổ chức hoạt động tôn giáo.
3 Việc sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo;
b) Tổ chức được sáp nhập, hợp nhất vẫn thuộc hệ thống tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận.”
Bên cạnh đó, Nhà nước còn quy định về phạm vi hoạt động của Hội đoàn tôn giáo, hay các dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác của tôn giáo muốn hoạt động phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( Theo điều 19 Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo năm 2004) Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh trật tự, và bảo đảm sự bình đẳng giữa người theo đạo và người không theo đạo, Nhà nước có
những quy định cấm không cho nhập tu đối với những người trốn tránh pháp luật và các nghĩa vụ công dân Việc quy định như vậy đảm bảo cho việc nhập tu được thực hiện minh bạch, trong sáng, tránh không cho những trường hợp nhập cư với mục đính hay động cơ nhằm trốn tránh không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay thực hiện một số nghĩa vụ công dân, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
Trang 92.2 Đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn giáo khác
Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong năm có 544 Lễ hội Tôn giáo( chiếm 6.28%) vì vậy Nhà nước rất chú trọng đối với các lễ hội cũng như hoạt động Tôn giáo Cụ thể Nhà nước hướng dẫn các chức sắc tôn giáo nắm vững và thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo, về việc cử các chức sắc hoặc các đoàn tôn giáo ra nước ngoài, hay đón các đoàn tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam, quản lý chặt chẽ các đoàn du lich hành hương trong nước ra nước ngoài, và ngược lại Hàng năm, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng kí với chính quyền chương trình hoạt động tôn giáo diễn ra tại cơ sở đó, đặc biệt các ngày lễ trong năm
Tuy nhiên khi có sự thay đổi quan trọng trong chương trình phải
báo cáo và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân Theo quy định tại Điều
18 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định:
“1 Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội
2 Việc tổ chức hội nghị, đại hội cấp trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở trung ương.
3 Việc tổ chức hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội”
Theo khoản 1 và khoản 2 điều 4 Nghị định số 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
“1 Lễ hội tín ngưỡng là hình thức hoạt động tín ngưỡng có tổ chức, thể hiện sự tôn thờ, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng tổ tiên, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
Trang 102 Những lễ hội tín ngưỡng sau đây khi tổ chức phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi diễn ra lễ hội:
a) Lễ hội tín ngưỡng được tổ chức lần đầu;
b) Lễ hội tín ngưỡng được khôi phục lại sau thời gian gián
Đoạn;
Trang 11c) Lễ hội tín ngưỡng được tổ chức định kỳ nhưng có thay đổi về nội dung, thời gian, địa điểm so với trước.”
Việc quy định như vậy giúp các cơ quan phân định rõ thẩm quyền chấp nhận của mình, đồng thời giảm thiểu tối đa những hoạt động tôn giáo
“ngoài luồng”, đảm bảo tốt nhất trật tự tôn giáo do Nhà nước quản lí Bên cạnh đó, Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được in, xuất bản các loại sách kinh, các ấn phẩm tôn giáo, các ấn phẩm tôn giáo, đồ dung việc đạo Quy định này giúp các tôn giáo có thể truyền bá một cách đầy đủ về
tổ chức tôn giáo của mình, đồng thời giúp công dân dể dàng tiếp cận, tìm hiểu và gia nhập các tôn giáo theo nguyện vọng của mình
2.3 Đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản của các tôn giáo
Theo khoản 7, Điều 3, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004,
cơ sở tôn giáo được hiểu như sau: cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận.
Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, tu viện…thuộc tổ chức tôn giáo.
Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: học viện, trường cao đẳng, trường trung cấp phật học, đại chủng viện của đạo Công giáo, Viện thánh kinh thần học của đạo Tin lành.
Tại Điều 4, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định tài sản thuộc các cơ sở tôn giáo: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, đình, đền, miếu, trụ sở tổ chức tôn giáo, các cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo, những cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp khác, kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng được pháp luật bảo hộ.
Trang 12Đối với nội dung này, Nhà nước bảo hộ tài sản hợp pháp thuộc cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo và nghiêm cấm việc xâm phạm các tài sản đó Chẳng hạn như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất Đất có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất hay trụ sở của tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động và được sử dụng ổn định lâu dài Tuy nhiên, nhà, đất và các tài sản khác đã được tổ chức, cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan nhà nước quản lí thì đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cở sở thờ tự của tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước
để sử dụng vào các việc công ích như trường học, bệnh viện, thì không đặt vấn đề trả lại Quy định này rất phù hợp không chỉ trên cơ sở pháp luật
mà cả tinh thần nhân đạo mà các tôn giáo hướng tới Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số cơ quan chức năng khi thu hồi đất tôn giáo đã sử dụng không đúng mục đích công cộng mà sử dụng vào mục đích khác dẫn đến
dư luận không tốt về chính sách của nhà nước đối với tôn giáo Việc tuyên truyền cho người có đạo cần phải quan tâm sâu sắc để họ nắm rõ chính sách, pháp luật của nhà nước đối với tôn giáo, chấn chỉnh các hành vi sai phạm trong việc sử dụng các cơ sở tôn giáo
2.4 Đối với việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành tôn giáo
Theo điều 22 Pháp lệnh về tôn giáo năm 2004 đối với nội dung này, việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bổ cử, suy cử phải đáp ứng một số điều kiện nhất định và được thực hiện theo hướng chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo; và người được phong chức, phong phẩm, bầu cử, suy cử phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Là công dân Việt Nam, có tư cách đạo đức tốt.
- Có tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc.
- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Trường hợp có yếu tố nước ngoài thì còn phải có sự thỏa thuận với cơ quan quản lí nhà nước về tôn giáo ở trung ương Và việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tôn giáo được thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo Tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký về người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; thông báo về việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tôn giáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Trang 13Điều này thể hiện sự tin tưởng, tôn trọng của Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức tôn giáo, không can thiệp quá sâu vào nội bộ hay cơ cấu của các tổ chức nhằm để các tôn giáo có tính cạnh tranh lành mạnh, phát huy tối đa năng lực của tôn giáo mình, giúp nhân dân an tâm ổn định xây dựng và phát triển đất nước
Trang 142.5 Đối với việc đào tạo, bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo
Nhà nước tạo điều kiện tối đa cho các tổ chức tôn giáo đào tạo chức sắc, nhà tu hành trong nước tại các cơ sở đào tạo đã được Nhà nước cho phép Ngoài ra, các tôn giáo có thể cử các chức sắc, nhà tu hành đi đào tạo ở nước ngoài nếu thực sự có nhu cầu Nhà nước còn cho phép các giảng viên được giảng dạy ở các trường đào tạo trong nước Bên cạnh đó, các tổ chức tôn giáo phải đưa các môn học về lịch
sử Việt Nam hay pháp luật Việt Nam vào chính khóa của các trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo ( theo điều 24 Pháp lệnh về Tôn giáo năm 2004) Với quy định này, Nhà nước đã đưa đường
lối, chủ trương cũng như tôn chỉ mục đích hoạt động của đất nước đến từng tổ chức tôn giáo, giúp nang cao vai trò, vị thế của đất nước đối với những giáo dân, mặt khác trực tiếp tuyên truyền chính sách, hay các quy định của pháp luật nhằm giúp các giáo dân ở các tổ chức tôn giáo thực hiện đúng đường lối – chủ trương của Đảng và nhà nước đã đề ra Đồng thời, những người đứng đầu các trường, trung tâm giáo dục phật giáo như Giám đốc Học viện Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật giáo, do tổ chức tôn giáo bổ nhiệm sau khi có sự chấp thuận của Trưởng ban tôn giáo Chính phủ Quy định một cách cụ thể như vậy bởi những vị trí chủ chốt quan trọng trong các cơ sở đào tạo tôn giáo là những người sẽ có tiếng nói, có ảnh hưởng đối với các tôn giáo, vì vậy việc cân nhắc, xem xét
và lựa chọn người đứng đầu các cơ sở này là việc làm cần thiết Tại Việt
Nam có 10 trường Đại học Tôn giáo, 3 Học viện Phật giáo, 6 Đại Chủng viện Thiên chúa giáo, 1 Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, 40 trường đào tạo các giáo chức tôn giáo ở các cấp độ khác nhau, các ấn phẩm tôn giáo, nhất là kinh sách được xuất bản theo yêu cầu của các tôn giáo.