Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt Tiểu học. Theo định nghĩa trong một số từ điển chính tả là viết đúng, hợp với chuẩn những quy tắc về cách viết chuẩn lời nói sang dạng thức nết vào hoạt động giao tiếp. Nếu tập viết dạy học sinh biết viết, tức là hoạt động tạo ra chữ, thì chính tả dạy cách tổ chức, kết hợp các chữ đúng quy ước của xã hội để làm thành hiện thức hoá ngôn ngữ.
Trang 1Một số kinh nghiệm trong việc giúp học sinh viết đúng
trong giờ chính tả
I vị trí của môn chính tả :
Chớnh tả là một trong những phõn mụn Tiếng Việt Tiểu học Theo định nghĩa trong một số từ điển chớnh tả là viết đỳng, hợp với chuẩn những quy tắc về cỏch viết chuẩn lời núi sang dạng thức nết vào hoạt động giao tiếp Nếu tập viết dạy học sinh biết viết, tức là hoạt động tạo ra chữ, thỡ chớnh tả dạy cỏch tổ chức, kết hợp cỏc chữ đỳng quy ước của xó hội để làm thành hiện thức hoỏ ngụn ngữ
Chữ viết là kớ hiệu bằng hỡnh ảnh thị giỏc (cỏc hỡnh nột) ghi lại tiếng núi Mỗi hỡnh nột tương ứng với một đoạn õm thanh cú ý nghĩa của tiếng núi Một tổ hợp gồm cỏc chuỗi hỡnh nột được liờn kế theo những cỏch thức nhất định (dạng thức viết của ngụn ngữ) để ghi lại lời núi õm thanh và trở thành phương tiện truyền đạt nội dung trong lời núi Chớnh tả thực hiện những quy ước xó hội đối với chữ viết;
đề phũng, ngăn ngừa sự vận dụng tuỳ tiện, vi phạm cỏc quy ước làm trở ngại cho tri giỏc ngụn ngữ trong quỏ trỡnh giao tiếp
Trẻ em đến tuổi học, thường bắt đầu quỏ trỡnh học tập bằng chữ viết ở giai đoạn đầu tiờn (bậc tiểu học) trẻ em tiếp tục được hoàn thiện năng lực núi tiếng mẹ đẻ Trẻ em biết chữ mới cú phương tiện để học Tiếng Việt và học cỏc mụn khoa học tự nhiờn, khoa học xó hội khỏc Mà muốn biết đọc thụng viết thạo, trẻ em phải được học chớnh tả Chớnh tả là phõn mụn cú tớnh chất cụng cụ Nú cú
vị trớ quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiờn của trẻ em
I cơ sở lý luận
Trang 2Viết đúng chính tả không chỉ là những vận động của cơ bắp như sự phối hợp thuần thục các ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay mà còn là thao tác trí óc của người viết
Việc hình thành kỹ năng chính tả khẳng định vai trò của ý thức Kĩ năng chính tả có ý thức phải đạt tới mức độ tự động hoá một cách tự giác Để viết đúng chính tả nếu đã nắm được sự phân tích cấu trúc âm đoạn của âm tiết và thuộc bảng chữ cái, thì chỉ việc phát thành tiếng hay đọc thầm từng âm tiết và biểu hiện cách kết hợp chữ cái để thể hiện các âm đoạn theo trật tự của chúng
III – c¬ së thùc tiÔn
Trong những năm gần đây học sinh viết chính tả thường mắc nhiều lỗi Một số
em chưa nắm được quy tắc chính tả đơn giản Điều đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiếp thu tri thức văn hoá, khoa học
Học sinh viết không đúng làm ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp, tư duy Học sinh không thể chuyển lời nói dưới dạng văn bản viết - vốn là một loại văn bản có khả năng chuyển đạt và bảo lưu mọi tư tưởng của loài người qua mọi thời gian và không gian trong mọi hoàn cảnh và với mọi đối tượng sử dụng
* KÕt qu¶ kh¶o s¸t ®Çu n¨m :
Tæng sè
HS sl Tèt Tl% Sl Kh¸ Tl% sl Trung b×nh Tl% sl YÕu Tl%
IV- biÖn ph¸p tiÕn hµnh
Qua thực tế giảng dạy, để có định hướng đúng trong quá trình sửa lỗi chính tả cho học sinh, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân viết sai chính tả của các em
Có thể nêu một số nguyên nhân chính sau đây:
Trang 3a Do ảnh hưởng của phương ngữ, thổ ngữ:
Học sinh vùng Hùng Cờng thơng đọc sai phơng ngữ địa phơng
Ví dụ:
* Trong bài chính tả “ chuyện bốn mùa ” học sinh thờng viết sai
- Nàng tiên tiên viết nàng tim
- Vờn bởi viết vừn bửi
* Bài “ gió ” học sinh thờng viết sai chính tả:
- Cánh diều viết cánh dùi
- Cây bởi viết cây bửi
- Mẹ cời viết mẹ cừi
- Anh viết ăn
- Đu đủ viết u ủ , đọc cũng u ủ
Thổ ngữ là biến dạng của ngụn ngữ toàn dõn ở phạm vi lónh thổ nhỏ hẹp hơn
so với phương ngữ
Học sinh thuộc phương ngữ Trung Bộ cú ưu điểm là khụng viết sai thanh điệu
và vần song thường hay viết lẫn lộn một số chữ in phụ đầu: tr/ch, s/x, r/d/gi, l/n.
Để khắc phục hiện tượng này tụi ỏp dụng theo nguyờn tắc kết hợp ghi nhớ hỡnh thức chữ viết của từ và nghĩa từ của chỳng biểu hiện Muốn vậy cần đặt từ
đú trong ngụn ngữ cạnh để học sinh dễ hiểu
Ví dụ : Em để dành cho bộ Hà chiếc kẹo Em khụng giành lấy phần hơn cho
mỡnh Tụi thường xuyờn cho cỏc em luyện tập qua cỏc dạng bài tập như: Điền từ vào chỗ trống trong cõu, dựng từ đặt cõu điều này cú tỏc dụng rất lớn trong việc rốn kĩ năng viết đỳng chớnh tả cho học sinh
b Do hạn chế vốn từ:
Muốn viết đỳng chớnh tả, người viết phải hiểu nghĩa của từ và cỏch viết cụ thể của từ đú
Vớ dụ: muốn khi nào viết “truyện” khi nào viết “chuyện” người viết phải phõn
biệt được sự khỏc nhau về nghĩa của hai từ này để từ đú rỳt ra cỏch viết đỳng chớnh tả
Trang 4- Viết là “truyện” khi muốn chỉ tác phẩm văn học được in (VD: truyện ngắn,
truyện cười )
- Viết là “chuyện” khi muốn chỉ một sự việc được kể lại (VD: câu chuyện,
chuyện tâm tình, hay chỉ một công việc cụ thể như: chưa làm nên chuyện)
Trước khi viết một từ do giáo viên đọc, học sinh có thể hiểu nghĩa cỉa từ đó bằng cách mô tả sơ lược hoặc đặt câu với từ đó Để giúp học sinh nghe hiểu và chủ động viết đúng tôi có thể kết hợp “liên tưởng” hay “so sánh” ngắn gọn về
chữ khó viết ngay trong khi đọc chính tả [ví dụ: trăng khuyết (khuyết trong khuyết điểm), đi làm nương (nương khác lương trong lương thực)]
Một sè biện ph¸p gióp học sinh viết đúng chính tả là luyện cho học sinh phát
âm đúng ví dụ so sánh phát âm l/n Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh
được phát âm và tri giác chữ viết, tạo điều kiện cho học sinh quan sát chữ viết, tự phân tích tiếng (theo 3 bộ phận: phụ âm đầu, vần, thanh điệu) được luyện theo thao tác chữ viết để ghi nhớ mặt chữ lâu hơn Trong các tiết học trước khi viết bài tôi cho học sinh viết bảng con, viết nháp phân tích tiếng khó
c Do chưa thuộc quy tắc chính tả:
Muốn viết đúng quy tắc chính tả, học sinh phải học và nắm vững các quy tắc chính trả trong tiếng việt Trong giảng dạy, trước khi viết chính tả, theo tôi giáo viên nên hướng dẫn học sinh nắm quy tắc chính tả trước khi viết
Ví dụ : Tìm những chữ trong bài phải viết hoa ?
Tại sao những chữ này phải viết hoa (tên riêng, đầu câu) từ đó học sinh tự rút
ra quy tắc chính tả “Những chữ đầu câu và tên riêng phải viết hoa” hoặc quy tắc ng/ngh, c/k, g/gh, i/y)
Trang 5Nắm được nguyên nhân mắc lỗi của học sinh, giáo viên phải rèn luyện về chính tả thông qua các bài luyện tập Đây cũng là phần củng cố, trau dồi kĩ năng viết đúng chính tả một cách có hệ thống
Ví dụ: Sau khi viết xong bài chính tả “Có công mài sắt có ngày nên kim”- giáo
viên cho học sinh làm bài tập củng cố quy tắc chính tả qua bài tập:
Điền vào chỗ trống : c hay k?
- .im khâu; ậu bé; iên nhẫn; bà ụ
Một trong những yêu cầu quan trọng của việc dạy chính tả là giáo viên phải chấm, chữa bài cho học sinh thật chu đáo và trách nhiệm cao Tôi đã thực hiện chấm toàn bộ học sinh trong bài chính tả Chấm xong mỗi bài chính tả của học sinh giáo viên thống kê các loại lỗi đã mắc từ đó có kế hoạch rèn sửa chính tả cho các em Trong khi chấm tôi dùng bút đỏ gạch dưới những chữ viết sai chính tả và yêu cầu học sinh viết lại cho đúng chữ mắc đã mắc lỗi để ghi nhớ, mỗi chứ 1-2 dòng Qua việc thực hiện một số biện pháp vừa nêu trên trong giờ dạy chính tả, qua một thời gian tôi thấy các em học sinh lớp tôi đã đạt được một số kết quả nhất định
V – kÕt qu¶
* KÕt qu¶ kh¶o s¸t cuèi kú :
Tæng sè
HS sl Tèt Tl% Sl Kh¸ Tl% sl Trung b×nh Tl% sl YÕu Tl%
Học sinh đã viết đúng chính tả một cách có ý thức, không bị viết sai do chưa được biết, chưa được học
Học sinh nắm được quy tắc chính tả - tạo thành thói quen Ví dụ: Chữ đầu dòng, đầu câu viết hoa
Trang 6Đứng trước i, e, ê, là ngh
- Biết phân tích tiếng khó trươc khi viết
- Do đó học sinh bị mắc lỗi giảm xuống rõ rệt, tốc độ viết nhanh hơn Lớp đạt danh hiệu viết sạch chữ đẹp chiếm tỷ lệ 82%
Trên đây là một số biện pháp của tôi trong giờ chính tả Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp t «i xin ch©n thµnh c¶m ¬n !
Kú S¬n, ngay 18 th¸ng 4 n¨m 2009
Ngêi viÕt
Lª ThÞ Long