+ Tìm hiểu những giá trị đạo đức truyền thống được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển nhằm vận dụng vào việc giáo dục đạo đức cho thanh niên.+ Làm rõ nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung, học sinh sinh viên nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.+ Tìm hiểu thực trạng đạo đức, lối sống của thanh niên trường Đại học Quy Nhơn và bước đầu nêu ra một số giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng cho sinh viên của trường trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cách mạng là bắt đầu giáo dục lý tởngcách mạng và đạo đức cách mạng cho những ngời yêu nớc, cho thanh niên,quần chúng nhân dân Hồ Chí Minh không chỉ là ngời giáo dục đạo đứccách mạng mà còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gơng cho toàn
Đảng, toàn dân ta Ngời luôn xem đạo đức là cái gốc, là nền tảng của ngờicách mạng, là nguồn nớc làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn
T tởng đạo đức là bộ phận quan trọng trong hệ thống t tởng Hồ Chí Minh,
có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, đợc thể hiện với một phong cách độc
đáo, cô đúc, vô cùng giản dị, trong sáng và dễ hiểu Thực tiễn cách mạng
ở nớc ta gần 3/4 thế kỷ qua chứng tỏ rằng, t tởng Hồ Chí Minh về đạo đứccách mạng là động lực vĩ đại cổ vũ nhân dân ta tiến hành cách mạng thángTám thành công, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi đem lại
độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân
Công cuộc đổi mới đất nớc ta theo định hóng xã hội chủ nghĩa đợc
tiến hành trong 20 năm qua "đã đạt đợc những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử"[7; tr.17]: đất nớc ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, kinh tế
tăng trởng khá nhanh, đời sống nhân dân đợc cải thiện rõ rệt Bên cạnh
những mặt tích cực do công cuộc đổi mới đem lại, "nớc ta cũng đang đứng trớc nhiều thách thức lớn", trong đó có "tình trạng suy thoái về chính trị, t t- ởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn đang diễn ra nghiêm trọng cha đợc ngăn chặn có hiệu quả Những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tởng của chủ nghĩa xã hội cha đợc khắc phục"[7; tr.22] Đặc biệt là tình trạng suy
giảm đạo đức trong thế hệ trẻ làm cho chúng ta không khỏi băn khoăn, lolắng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa
VIII khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới thành công hay không, đất nớc bớc vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lợng thanh niên, vào việc bồi dỡng rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng"
Chiến lợc phát triển thanh niên Việt Nam đến năm 2010 do Chínhphủ phê duyệt ngày 29/4/2003 cũng nêu rõ quan điểm: phát triển thanhniên là xây dựng thế hệ con ngời mới, phát triển toàn diện, kế tục trung
Trang 2thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Đầu t và pháttriển thanh niên là đầu t cho tơng lai, là bồi dỡng và phát huy nhân tố conngời để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh.
Trớc lúc đi xa, trong "Di chúc" thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn
dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những lời rất tâm huyết về thanh niên:
"Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ, Đảng cần phải chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ trở thành ngời kế thừa xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên", và Ngời nhấn mạnh "bồi dỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết"[21;
tr.512]
Vì thế việc nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gơng đạo đức Hồ ChíMinh trong quần chúng nói chung và đối với học sinh, sinh viên nói riêng
đang là một yêu cầu cấp bách Do đó em chọn đề tài "Khai thác các giá trị
đạo đức truyền thống trong t tởng Hồ Chí Minh vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên trờng Đại học Quy Nhơn" để làm luận văn tốt nghiệp.(vận
dụng vào cụng tỏc giỏo dục đạo đức cho sv hiện nay)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Từ trớc đến nay đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu t tởng
Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên và thế hệ trẻ, đáng chú ý có một sốsau đây:
- "Bác Hồ với sự nghiệp bồi dỡng thế hệ trẻ", Nxb Thanh niên, HN, 1995.
- "Bác Hồ với vấn đề giáo dục thanh niên" của Đặng Xuân Kỳ, Tạp
chí Thanh niên, số 5-1985
- "Giáo dục thanh niên theo gơng Bác Hồ" của Hiền Hoài, Tạp chí
Thanh niên, số 11, 12-1985
- "Bác Hồ với việc giáo dục thanh thiếu niên" của Hà Huy Giáp, Báo
Sài Gòn giải phóng, ngày 11/9/1991
- "Bớc đầu tiếp cận nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên" của Nguyễn Văn Hùng, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3-1994.
- "Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục Đoàn thanh niên" của Dơng Trung ý, Báo Hà Nội mới, ngày 27/10/1995.
- "Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ” của Phạm Bình Nghiệp,
Báo Quân đội nhân dân, ngày 6/4/1997
Trang 3- "T tởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên" của Lê Văn Tích và
Nguyễn Minh Đức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3-1999
- "T tởng Hồ Chí Minh về vai trò thanh niên và sự vận dụng của Đảng trong công cuộc xây dựng đất nớc", Luận án tiến sĩ Sử học của Trần Thị
Nhơn, năm 2001
- "T tởng Hồ Chí Minh về bồi dỡng thế hệ cách mạng cho đời sau" của
Trần Qui Nhơn, Nxb Giáo dục, 2005…
Hầu hết những công trình nêu trên đã đề cập đến việc giáo dục chothanh niên cũng nh thế hệ trẻ theo t tởng Hồ Chí Minh nói chung Tuy nhiên,việc vận dụng t tởng Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở tr-ờng Đại học Quy Nhơn là vấn đề mới Do đó luận văn này tập trung đi sâuvào giải quyết vấn đề còn khá mới mẻ này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
- Mục đích:
Khai thác các giá trị đạo đức truyền thống trong t tởng Hồ Chí Minh,cũng nh quan điểm của Ngời về nội dung, phơng pháp giáo dục đạo đức chothế hệ trẻ nhằm vận dụng vào công tác giáo dục, bồi dỡng phẩm chất, nhâncách, lối sống cho sinh viên trờng Đaị học Quy Nhơn
- Nhiệm vụ:
Để đạt đợc mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Tìm hiểu những giá trị đạo đức truyền thống đợc Hồ Chí Minh kếthừa và phát triển nhằm vận dụng vào việc giáo dục đạo đức cho thanh niên
+ Làm rõ nội dung và phơng pháp giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nóichung, học sinh - sinh viên nói riêng theo t tởng Hồ Chí Minh
+ Tìm hiểu thực trạng đạo đức, lối sống của thanh niên trờng Đại họcQuy Nhơn và bớc đầu nêu ra một số giải pháp để nâng cao đạo đức cáchmạng cho sinh viên của trờng trong giai đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận:
Các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về thanh niên; những bàinói, bài viết của Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên; các vănkiện của Đảng; các báo cáo về công tác đoàn và phong trào thanh niên; cáctài liệu điều tra xã hội học của các đề tài khoa học có liên quan đến luậnvăn
- Phơng pháp nghiên cứu:
Trang 4Trên cơ sở phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh, luận văn sử dụng một số phơng pháp cụthể sau: phơng pháp logic và lịch sử, phân tích tổng hợp tài liệu, phơng pháp
đối chiếu, so sánh, phơng pháp thống kê, khảo sát thực tế
hoạt động cách mạng của Ngời Ngời nói: "Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nớc, chứ cha phải chủ nghĩa cộng sản đã đa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc
tế thứ ba Từng bớc một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu đợc rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng đợc các dân tộc bị áp bức và những ngời lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ.” [19; tr.129]
Ngời nhận thức sâu sắc, trọn vẹn về tinh thần yêu nớc của nhân dâncác dân tộc trên thế giới trớc hết về căn bản là thông qua thực tiễn chứ khôngphải bằng con đờng sách vở, lúc đầu Ngời ủng hộ cách mạng tháng Mời, đếnvới chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ mới là theo cảm tính tự nhiên, Ngời kính yêuLênin trớc hết vì Lênin là một ngời yêu nớc vĩ đại đã giải phóng đồng bào
mình, chứ không phải vì các tác phẩm của Lênin, vì trớc đó Ngời "cha hề
đọc cuốn sách nào của Lênin viết" Khi đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin,
lòng yêu nớc của Hồ Chí Minh đã có bớc phát triển mới, đó không chỉ làlòng thơng cảm sâu sắc đối với những ngời nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột,
mà còn biểu hiện lòng quyết tâm giải phóng triệt để, trớc hết là ngời lao
động
Yêu nớc và gắn với nó là thơng dân trở thành chuẩn mực đạo đức baotrùm, quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác Bởi theo Ngời, mốiquan hệ giữa con ngời với Tổ quốc, với nhân dân là mối quan hệ cơ bản, bao
Trang 5quan hệ khác của con ngời đối với xã hội Nếu không có tình yêu quê hơng,
đất nớc, thì không thể có tình yêu thơng con ngời một cách đầy đủ và đúng
đắn, dẫn đến sự chà đạp hay xúc phạm quyền con ngời, thì nói gì đến giảiphóng con ngời Vì mỗi con ngời sinh ra đều gắn liền với quê hơng, đất nớc,
đợc nuôi dỡng và trởng thành trong các mối quan hệ (gia đình - làng - nớc)trong những tập thể, cộng đồng xã hội nhất định Do đó, không có tình yêuquê hơng, đất nớc, không có tình thơng đối với con ngời thì không dám dũngcảm hy sinh đứng trong hàng ngũ đấu tranh để bảo vệ nền độc lập của dântộc, bảo vệ cuộc sống và những quyền lợi chân chính của con ngời
Xét cho cùng, nếu không có lòng yêu nớc thơng dân thì không thể cónhững phẩm chất khác: đoàn kết, yêu thơng quý trọng con ngời, sống cótình, có nghĩa, khoan dung, độ lợng hay cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
t,…do đó cũng không có tình thơng yêu nhân loại trên tinh thần chủ nghĩaquốc tế trong sáng thuỷ chung….Đặc biệt, đối với cán bộ, đảng viên, nếukhông có phẩm chất "trung với nớc, hiếu với dân” thì họ sẽ biến thành những
"ông quan cách mạng" kiêu căng, tự cao, tự đại, tự cho mình nh những "vị cứu tinh của nhân dân"…
T tởng yêu nớc Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nớctruyền thống Việt Nam, Ngời đã khắc phục, vợt qua những hạn chế của
truyền thống đó Ngời không gạt bỏ hai chữ "trung hiếu" đã ăn sâu bám rễ
trong con ngời Việt Nam với ý nghĩa là trách nhiệm, bổn phận của ngời dân,
ngời con Ngời đa vào khái niệm này nội dung mới, cách mạng: "Trung"
trong quan niệm đạo đức của Nho giáo, để chỉ mối quan hệ giữa dân với vua,trong đó vua có quyền đặt ra mọi phép tắc, luật lệ trong xã hội, buộc con ng-
ời phải tuân theo, phục tùng tuyệt đối, cho nên chữ "trung" trong quan niệm
đó trở thành "cuồng si", "ngu tín", thực chất đó là sự phản ánh quy định chế
độ phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến một cách mù quáng, nhằmbảo vệ địa vị và lợi ích độc tôn cho một bộ phận thuộc về tầng lớp cai trị, bóc
lột trong xã hội mà đứng đầu là vua Hồ Chí Minh đặt vấn đề "trung" trong một quan niệm tích cực, tiến bộ – trung“trung” ” là trung với nớc, đó không chỉ là
hy sinh cho đến chết, mà quan trọng hơn là phải đạt cho đợc kết quả, phảinhất định thành công Ngời không chấp nhận lòng trung thành tuyệt đối củanhân dân bị áp bức với kẻ thống trị bóc lột mình, mà phải có trách nhiệm với
sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, thể hiện lòng trung thành củacông dân với mục tiêu, phơng hớng phát triển của đất nớc, phấn đấu hếtmình cho sự nghiệp giải phóng và phồn vinh của dân tộc Với ý nghĩa đó,
"trung với nớc" trở thành bổn phận chung của mọi công dân, không phân
Trang 6biệt bất kỳ một ai, không nh dới chế độ phong kiến trớc đây Đó mới thực sự
là yêu nớc
Ngời nói: " Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nớc Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,
to lớn, nó lớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nớc và lũ cớp nớc"[15; tr.171] Hồ Chí Minh xem tinh thần yêu nớc nh
một thứ của quý và vì là thứ của quý nên bổn phận của Đảng là phải ra sứcgiải thích, tuyên truyền, giáo dục, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu n ớc củatất cả mọi ngời đều đợc thực hiện trong công việc yêu nớc, công việckháng chiến
Hồ Chí Minh coi tinh thần yêu nớc là một trong những sức mạnh tolớn của dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thống trị của chủ
nghĩa thực dân Từ năm 1924, trong "Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ"[10; tr.464] gửi Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh đã đề cập tới chủ nghĩa dân tộc và coi đó là "động lực lớn của đất nớc" Đến tận cuối đời, trớc lúc vĩnh biệt chúng ta, trong "Di chúc" Bác vẫn nói đến con ngời yêu nớc Việt
Nam với một thái độ hết sức trân trọng thông qua việc biểu dơng tinh thần
"Anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù của nhân dân lao động ".
"Di chúc" của chủ tịch Hồ Chí Minh là những dòng cuối cùng kết
tinh bản sắc văn hoá Việt Nam đậm đà chủ nghĩa yêu n ớc, chủ nghĩa xã hội
mà t tởng "không có gì quý hơn độc lập, tự do" là hạt ngọc lung linh toả
sáng của tinh thần yêu nớc đợc Hồ Chí Minh nêu lên nh một chân lý, một
động lực, ngọn cờ quy tụ cả dân tộc đứng lên chiến đấu, chiến thắng kẻ thù.Chính vì truyền thống yêu nớc của dân tộc ta mà Ngời mới đủ tự tin đểkhẳng định kháng chiến nhất định thắng lợi và ta nhất định sẽ xây dựngthành công CNXH
Nh vậy, truyền thống yêu nớc trở thành niềm tin, niềm tự hào cao cảkhi Ngời đề cập đến dân tộc mình bởi cũng nh Mác, Ăngghen, Lênin, HồChí Minh đều là những nhà cách mạng chân chính cho nên họ nhất quánnhấn mạnh và đề cao văn hoá dân tộc, mà đối với Hồ Chí Minh thì truyềnthống yêu nớc là cốt lõi của văn hoá Việt Nam Ngời thờng nói rằng chúng
ta chiến thắng đế quốc là sự chiến thắng của văn minh đối với bạo tàn, vănminh ở đây đồng nghĩa với văn hoá mà hạt nhân là con ngời yêu nớc Chính
vì thế mà Bác có cơ sở để tự hào: "Nớc ta sẽ có vinh dự lớn là một nớc nhỏ
mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc."[21; tr.511]
Trang 7Từ lòng tự tin, tự hào về truyền thống yêu nớc, Ngời đã đi đến ý thứclàm chủ, tinh thần tự tôn, tự cờng dân tộc, ý chí bất khuất vơn lên trong mọihoàn cảnh của dân tộc:
"Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà."
Hay:
N “trung” ớc ta nhiều kẻ tôi trung.
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sơng …” [12; tr.227]
“trung”Nớc Việt Nam là của ngời Việt Nam, sông có thể cạn, đá có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi…”
Đây là sự tiếp nối ý thức tự tôn, tự cờng dân tộc từ trong quá khứ:
"Nh nớc Đại Việt ta từ trớc Vốn xng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã riêng Phong tục Bắc - Nam cũng khác."
(Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi).
Từ những thành tựu văn hoá nổi bật, tỏ rõ bản lĩnh kiên cờng, bấtkhuất của một dân tộc độc lập đã dần dần hình thành nền văn hiến ViệtNam Chính vì vậy, tuy sống bên cạnh hai nền văn minh lớn là Trung Quốc
và ấn Độ, nhng Việt Nam vẫn đợc xem là một nền văn minh riêng trong hệthống gồm 34 nền văn minh của nhân loại [4; tr.191]
Theo Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nớc của nhân dân Việt Nam đợcbiểu hiện sáng ngời và thờng xuyên ở ý chí bất khuất, tinh thần tự tôn, tự c-ờng, đoàn kết dân tộc Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì dù kẻ địch từ đâu
đến, binh hùng tớng mạnh đến đâu, cuối cùng cũng thất bại: "Lịch sử ta đã
có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nớc của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trng,
Bà Triệu, Trần Hng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung ”[15; tr.171] Tấm gơng
đấu tranh bất khuất, oanh liệt của tổ tiên đã để lại cho chúng ta nhiều bài học
quý báu, do đó: "Dân ta phải biết sử ta Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều ngời tài giỏi
đánh Bắc dẹp Nam yên dân trị nớc tiếng để muôn đời Trớc khi vua Gia Long bán nớc ta cho Tây, nớc ta vẫn là nớc độc lập Đời nào cũng có ngời anh hùng mu cao võ giỏi đứng ra đoàn kết nhân dân đuổi giặc cứu nớc"[12;
tr.216] Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần tự tôn, tự lực và tự cờng của dân tộc
ta để khích lệ đồng bào chiến sĩ cả nớc "mang sức ta mà tự giải phóng cho ta", "thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nớc, nhất định không chịu làm
Trang 8nô lệ" Tinh thần đó cũng phải đợc thể hiện ở công cuộc xây dựng đất nớc
"đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" Sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm ngời kêu gọi toàn dân tham gia phong trào, thi đua yêu nớc với khẩu hiệu: "thi đua là yêu nớc, yêu nớc phải thi đua".
Trong rất nhiều bài viết, bài nói của mình, bằng nhiều số liệu, tài liệulịch sử chính xác, đợc trình bày dới dạng văn vần hay văn xuôi giản dị, xúctích, dễ hiểu, có sức truyền cảm, Ngời đã lồng vào đó truyền thống lịch sử,văn hiến để giải thích, giáo dục lòng yêu nớc, ý thức làm chủ, tinh thần tựtôn, tự cờng dân tộc và ý chí phấn đấu vơn lên trong mọi hoàn cảnh cho nhândân Và Ngời đã sử dụng con ngời yêu nớc với những phẩm chất nêu trên nhnhững vũ khí sắc bén không chỉ trong sự nghiệp cứu nớc, trong việc xâydựng đạo đức cách mạng để phân định thiện - ác, đúng - sai, tốt - xấu… màcả trong công việc xây dựng nớc mạnh, dân giàu và nền văn hoá mới ViệtNam
1.2 ý thức cộng đồng, tinh thần tập thể, đoàn kết vì lợi ích chung.
Ngời Việt Nam coi làng là quê hơng gốc, tại đấy họ đã ra đời, sinhsống và qua đời Nếu phải rời quê hơng đi làm ăn nơi đất khách quê ngời thì
họ vẫn luôn nghĩ và giữ quan hệ chặt chẽ với làng mình Giữa các làng trongvùng có mối quan hệ với nhau, đồng thời cũng có tính độc lập tơng đối…
Điều đó đã tạo nên ý thức tập thể, chung sức, chung lòng lo lắng những việclớn vừa có tính địa phơng, vừa có tính quốc gia Điều này xuất phát từ cơ sở
kinh tế mà Hồ Chí Minh đã miêu tả sinh động: "Về của cải t hữu, luật pháp
An Nam cấm mua bán toàn bộ đất đai Hơn nữa cứ một phần t đất trồng trọt bắt buộc phải để làm của chung Cứ ba năm ngời ta chia lại ruộng đất
đó Mỗi ngời dân trong xã thôn đợc nhận một phần Điều đó không hề ngăn cản một số ngời trở nên giàu có nhng nó có thể cứu nhiều ngời khác thoát khỏi bần cùng"[10; tr.36].
Nớc ta lại là một nớc bị khá nhiều thiên tai, địch hoạ: bão lụt, hạn hánthờng xuyên xảy ra và kéo dài; luôn bị đe doạ bởi giặc ngoại xâm Trongcuộc đấu tranh với thiên nhiên và đơng đầu với những kẻ thù mạnh hơn mìnhnhiều lần, dân tộc ta đã sớm cố kết thành một khối vững chắc, sớm hình
thành tình cảm tự nhiên "ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng" "Ngời trong một nớc" ở đây đợc xây dựng trên trục quan hệ: gia đình (nhà) - làng -
nớc là trụ cột làm nên sức sống của dân tộc, kết tinh những giá trị t tởng vàtình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng…vững bền
Trang 9Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minhluôn gắn bó với dân tộc, cùng với nhân dân chia sẻ tất cả những ngọt bùi,
đắng cay, những nỗi gian khổ và vinh quang Ngời đã sáng lập, rèn luyện
Đảng cộng sản Việt Nam và cùng toàn Đảng lãnh đạo, động viên nhân dân
đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc
và làm nên mọi thắng lợi Ngời cũng nhiều lần đề cập đến tính cộng đồng dùcách diễn đạt có khác nhau, nhng đều thể hiện sâu sắc, trọn vẹn tình cảm
cộng đồng của dân tộc, Ngời viết: "Do nhiều ngời nhóm lại thành làng, do nhiều làng nhóm lại thành nớc … Ng ời là gốc của làng nớc" Ngay từ năm
1947, trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l ợc
Hồ Chí Minh đã nói đến "đời sống mới" của một ngời, một nhà, một làng
và khắp nớc, trong trờng học và khắp các công sở, xởng máy…Ngời thờng
nhắc đến câu tục ngữ "lá lành đùm lá rách , đói cho sạch, rách cho ” “đói cho sạch, rách cho thơm" , nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét, đến
khi giặc cớp lung tung, thì dù giàu cũng không hởng đợc…
Từ thực tế lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, Hồ Chí Minh đã
rút ra kết luận: "Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn ngời nh một thì nớc ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không
đoàn kết thì bị nớc ngoài xâm lấn"[12; tr.217], đây còn xuất phát từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", "nhân dân là ngời sáng tạo ra lịch sử và t tởng chiến lợc",
“trung”vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại" Kết thúc cuốn
"Lịch sử nớc ta", Hồ Chí Minh đúc kết:
"Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!"
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết không phải là vấn đề sách lợc trớc mắt mà
là vấn đề chiến lợc lâu dài, nó không phải là một biện pháp đơn thuần để tậphợp lực lợng trong đấu tranh cách mạng mà đợc nâng lên thành vấn đề cótính chất đờng lối, nó không phải là thủ đoạn để tranh thủ quần chúng mà là
tâm huyết và thắng lợi của cách mạng Với Hồ Chí Minh thì "đại đoàn kết
đ-ợc xây trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng"[32; tr.34] Đoàn kết gắn liền chặt
chẽ và là hệ quả của sự thành công của sự nghiệp cách mạng:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công".
Trang 10Từ khi đã tìm thấy con đờng giải phóng theo quỹ đạo cách mạng vôsản và lý luận đoàn kết nhằm tập hợp lực lợng toàn dân tộc và nhân dân thếgiới để đạt mục tiêu, lý tởng đã chọn thì suốt cả cuộc đời Hồ Chí Minh phấn
đấu không mệt mỏi cho việc xây dựng khối đại đoàn kết đó Ngời biết rõ hơn
ai hết: không có thứ vũ khí nào khác có đủ sức mạnh vô địch để chiến thắng
kẻ thù ngoài sự đoàn kết của giai cấp, của dân tộc, các tôn giáo; đoàn kếttoàn dân tộc Việt Nam; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân lao
động chính quốc; đoàn kết quốc tế…
Một vấn đề có tính nguyên tắc trong t tởng Hồ Chí Minh về xây dựng
và mở rộng khối đoàn kết toàn dân là phát huy những yếu tố tơng đồng,dùng cái tơng đồng để loại bỏ sự dị biệt, cố gắng tìm ra mẫu số chung chotoàn dân tộc Cơ sở tạo thành sự tơng đồng, nhất trí đó trong các giai đoạnlịch sử khác nhau xuất phát từ những nhu cầu, lợi ích chung không giốngnhau Trớc khi cách mạng tháng Tám nổ ra, lợi ích chung nhất của cả cộng
đồng dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh nêu rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nớc sôi lửa nóng"[12; tr.198] Trong những ngày đầu tiên sau cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta phải đối phó với "thù trong giặc ngoài" nhằm giữ vững
chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trơng, biện pháp
nêu cao chữ "đồng" nhằm đoàn kết dân tộc, thu phục nhân tài, sử dụng nhân
sĩ, trí thức phục vụ kháng chiến, kiến quốc Đến khi đất nớc tạm thời chialàm hai miền, nhiệm vụ chính trị số một và cũng là mong ớc chung của mọingời Việt Nam yêu nớc là đất nớc đợi hoà bình, thống nhất, độc lập, Hồ Chí
Minh viết: "Từ Nam đến Bắc, ai là ngời tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì chúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác với họ,
dù từ trớc tới nay họ đã theo phe phái nào"[17; tr.49].
Ngời coi đoàn kết là lẽ sống của dân tộc ta trong sự nghiệp dựng nớc
và giữ nớc, là sức mạnh vô địch của Đảng, của dân tộc ta hiện nay và maisau T tởng đại đoàn kết của Ngời thể hiện tính cộng đồng dân tộc, tinh thầnnhân ái, lòng khoan dung cao cả và độ lợng to lớn với sự quý trọng từng nhâncách, vì đại nghĩa để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân:
"Hãy yêu thơng nhau, cùng nhau ta đoàn kết Hãy lắng nghe câu hát từ đáy lòng tôi.
Kẻ không đoàn kết cũng nh chim lạc đàn
Trang 11Vì đơn độc sẽ làm mồi cho hiểm hoạ
Từ kết đoàn hạnh phúc sẽ sinh sôi … "
(Quảng Châu, ngày 23.8.1925)[11; tr.440]
Ngời xem đoàn kết là một trong những đức tính hàng đầu của ng ờicách mạng Ai không có khả năng tập hợp, đoàn kết quần chúng và các
đồng chí của mình thì không thể làm cách mạng Sự đoàn kết trong Đảng
là cơ sở, là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc: " Từ Trung ơng đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng nh giữ gìn con ngơi của mắt mình" [21; tr.497].
Với vịêc nêu cao chữ "đồng" Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc loại
bỏ mọi thành kiến, mặc cảm đối với các tầng lớp trung gian, khơi gợi, cổ
vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nớc, chân thành hợp tác và trọng dụng.Ngay cả trong việc xử lý những quan hệ hàng ngày, Hồ Chí Minh cũngluôn nhắc nhở cán bộ phải tìm ra những cái chung, cái đồng nhất giữa các
cá nhân để cố kết họ lại vì lợi ích đại cục: " Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài Nhng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu ngời cũng có ngời thế này thế khác, nhng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta…"[13; tr.246].
Xuất phát từ nhận thức cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới cómối quan hệ thống nhất biện chứng, Hồ Chí Minh cho rằng việc kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một tất yếu, tạo ra sức mạnh cho cáchmạng Việt Nam giành thắng lợi và cũng tạo cho Việt Nam góp phần xứng
đáng vào tiến trình phát triển của nhân loại Ngời luôn đặt cách mạng ViệtNam trong tình hình nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới và nhấn mạnh
đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong xây dựng lực lợng của mình, tạothế và lực cho cách mạng
Song trong khi nhấn mạnh chữ "đồng", Hồ Chí Minh cũng không xem nhẹ việc loại trừ sự khác biệt và đối lập, Ngời viết: "Đảng ta luôn luôn đấu tranh trên hai mặt trận chống khuynh hớng cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ việc tranh thủ tất cả những lực lợng có thể tranh thủ đợc; đồng thời chống khuynh hớng đoàn kết một chiều, đoàn kết mà không có đấu tranh"[19; tr.18].
Liên quan đến tầm cao t tởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, chúng ta cóthể thấy cả yếu tố nhân cách của Ngời Những đức tính của một nhân cách
Trang 12lớn có khả năng thuyết phục hơn mọi lời thuyết phục đối với mọi tầng lớpnhân dân đi theo Ngời Không loại trừ một ai, dù đó là chính khách nh Mu-
tê, Xanh-tơ-ny; là các tớng lĩnh nh đô đốc Đác-giăng-liơ của Pháp, L Hán,Tiêu Văn của Tởng Giới Thạch; là các nhà báo: Philip-De-Vinle, Bớc-Set, các nhà t bản kếch xù, hay là những ngời cầm đầu các tôn giáo, các đảngphái, các hoàng tộc trong và ngoài nớc…Khi tiếp xúc với họ, Hồ Chí Minh
đều chiếm đợc thiện cảm, thuyết phục và tranh thủ họ có lợi cho cách mạngnớc ta
1.3 Yêu thơng quý trọng con ngời, sống có tình nghĩa, có lòng khoan dung độ lợng, vị tha cao cả.
Lòng yêu thơng quý trọng con ngời không phải chỉ là lý tởng cao đẹp,một chuẩn mực trong tu dỡng, rèn luyện của các tầng lớp nhân dân ta từ xa
đến nay, mà nó đợc đúc rút từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng đầy giankhổ, khó khăn và thử thách của Hồ Chí Minh Ngay từ hồi còn nhỏ ở quênhà rồi theo cha vào Nam ra Bắc, trên hành trình ấy Ngời trực tiếp chứngkiến bao cảnh đau lòng của ngời dân: cảnh bị áp bức, bóc lột, lầm than cơcực của những ngời dân lao động mất nớc, su cao thuế nặng chất đầy trên vai
họ… Vì yêu thơng nhân dân đã giúp cho Ngời có đủ can đảm hoà mình vàocuộc đấu tranh của nhân dân ta ở Huế (năm 1908), rồi 3 năm sau đó, Ngờiquyết chí tạm xa tổ quốc, đi ra nớc ngoài để tìm đờng cứu dân, cứu nớc với
hai bàn tay trắng và nghị lực phi thờng "để xem họ làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào mình" Bác đã dành trọn tình cảm của mình cho đồng bào:
"Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân , bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi ” “đói cho sạch, rách cho một mục đích làm cho ích quốc lợi dân … [13; tr.240] "
Lòng yêu thơng, quý trọng con ngời ở Hồ Chí Minh không chỉ đơn
thuần là chữ "hiếu" một chiều của con cái đối với cha mẹ mình mà mang nội
dung mới, sâu sắc, toàn diện Trớc hết, đó là tình thơng yêu dành cho nhândân lao động, cho những ngời cùng khổ bị đoạ đày áp bức, từ tình yêu thơng
đồng bào mình, dân tộc mình, Ngời mở rộng lòng yêu thơng đó ra phạm vithế giới Nhng đó không phải là lòng thơng ngời phi giai cấp, Ngời đứng trênlập trờng giai cấp vô sản để phân biệt rạch ròi giữa một bên là đế quốc thực
dân và bên kia là nhân dân lao động bị bóc lột áp bức nặng nề: "Dù màu da
có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống ngời: Giống ngời bóc lột và
Trang 13giống ngời bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái thật thà mà thôi: Tình hữu ái vô sản."[10; tr.266]
Không phải là sự ban phát, thơng hại của "bề trên" nhìn xuống, cũngkhông phải là lòng trắc ẩn của ngời đứng ngoài trông vào, mà lòng thơng ng-
ời trong t tởng Hồ Chí Minh là sự đồng cảm của ngời cùng cảnh ngộ Nhữngkhổ đau của đồng bào chính là nỗi đau khổ mà bản thân Ngời, gia đình Ngời
đã phải trải qua Tình thơng của Ngời trớc hết dành cho những mất mát quálớn mà gia đình đã trải qua, những ngời dân xứ Nghệ phải chịu bao nỗi khổcủa nghèo đói, bất công do chế độ thực dân phong kiến đem lại Ngời đauxót trớc cảnh khổ sở của những ngời nông dân chống thuế (mà Ngời cũngtham gia) ở Thừa Thiên bị thực dân Pháp đàn áp dã man Là ngời dân củamột nớc nô lệ, nhận thức sâu sắc sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân,trái tim Ngời đã đập cùng nhịp với đồng bào mình, cùng khát vọng cháybỏng dân tộc đợc giải phóng Đến khi ra nớc ngoài, trong hành trình tìm đ-ờng cứu nớc, tận mắt chứng kiến nỗi đau khổ của những ngời lao động ởkhắp nơi trên thế giới, đó là cảnh những ngời công nhân ở các nớc t bản trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất nhng sống trong nghèo đói, thiếu thốn, bệnhtật; đó là cảnh những ngời dân các nớc thuộc địa ở châu á, châu Phi bị đoạ
đày dới chế độ thực dân tàn bạo, đã bao lần Ngời rơi lệ khi chứng kiến trẻ
em đói rét, những ngời da đen bị chết một cách oan ức; đã bao lần Ngời đauxót trớc cảnh sống lam lũ của những ngời lao động trong xóm nghèo khuHác-Lem (Mỹ), Epinet (Pari - Pháp)…lòng yêu thơng con ngời của Hồ ChíMinh đã vợt ra ngoài giới hạn chủng tộc, màu da, lãnh thổ:
"Lọ là thân thích ruột rà, Công nông thế giới đều là anh em."[20; tr.253]
Tình yêu thơng con ngời của Bác đã đợc nhà thơ Tố Hữu ca ngợi:
"Ôi lòng Bác vậy cứ thơng ta Thơng cuộc đời chung, thơng cỏ hoa.
Trang 14Nh vậy, trong t tởng Hồ Chí Minh "thơng ngời" nhiều lúc gắn liền với
"vì nghĩa” - đây là nét tiêu biểu của bản sắc văn hoá dân tộc Giáo dục truyền
thống dân tộc cho thanh niên, nhân dân, cán bộ, đảng viên…Ngời thờng nhấnmạnh: Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa Và tình nghĩa ấy
đã đợc Ngời cùng với Đảng nâng lên "cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà"[21; tr.554] Chính vì
vậy, khi tuyên truyền và giáo dục chủ nghĩa Mác- Lênin - đỉnh cao văn hoá và
trí tuệ nhân loại, Ngời đã nhấn mạnh "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin đợc"[21; tr.55] Chữ "nghĩa"
trong phong tục đạo đức văn hoá Việt Nam, với ý nghĩa là điều phải, lẽ phải,ngay thẳng, sống có nghĩa có tình, thuỷ chung son sắt…đã trở thành nguồn sứcmạnh, là tiêu chí để ngời phân định điều lợi - điều hại, thiện - ác, bạn - thù…Ngời thờng giáo dục cán bộ thấy việc phải làm thì làm, thấy việc phải nói thì
nói Cũng nh Nguyễn Trãi "Phàm mu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu".
Lòng nhân ái Hồ Chí Minh còn bao hàm sự khoan dung độ lợng, vịtha cao cả Đây nguyên là những khái niệm đạo đức xuất phát từ lòng nhân
ái, nó đòi hỏi sự đối xử nhân từ, độ lợng với ngời khác, sẵn sàng bỏ quanhững lỗi lầm mà vẫn tôn trọng nhân cách của họ Khoan dung, độ lợng, vịtha là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đợc Hồ Chí Minh tiếp nhận
và nâng lên ở tầm cao mới
Trong tác phẩm "Đờng cách mệnh" (1927), Hồ Chí Minh viết "Với từng ngời thì khoan thứ” GS.Trần Văn Giàu dẫn lời một học giả nớc ngoài trong Hội thảo quốc tế về Hồ Chí Minh năm 1990: "Cụ Hồ là một ngời xây dựng lơng tri, xây dựng nó khi nó thiếu, tái tạo khi nó mất Cụ thức tỉnh kẻ
mê, ân cần để dạy ngời trợt ngã, biến vạn ức ngời dân bình thờng thành anh hùng vô danh và hữu danh trong lao động, trên chiến trờng, trong ngục tối, trớc máy chém"
Lòng khoan dung độ lợng của Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống
"ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng", tất cả đều là dân nớc Việt, con
lạc cháu Hồng, mỗi ngời đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng, ta phải biếtlàm sao cho phần tốt nảy nở nh hoa mùa xuân; dân tộc ta là một dân tộc giàulòng bác ái… tất cả kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo Mácxít tạo thành vănhoá khoan dung, độ lợng cao cả, sâu sắc ở Hồ Chí Minh: luôn có thái độ tôntrọng, cách nhìn rộng lợng với những giá trị khác biệt với mình; chống lại
Trang 15mọi thái độ kỳ thị, giáo điều, áp đặt quan điểm, ý kiến của mình lên ngờikhác; không phải là sự hạ cố kiểu bề trên, cũng không phải sự nhợng bộ thoảhiệp của kẻ yếu, thoả hiệp với tội ác và bất công xã hội
Xuất phát từ lòng khoan dung độ lợng, lòng thơng yêu con ngời mênhmông, sâu xa, không biên giới, niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giácủa con ngời, tin rằng họ đều có thể vơn tới cái tốt đẹp, cái lơng thiện…HồChí Minh đã nêu gơng sáng cho tất cả mọi ngời về đức vị tha: nhìn con ngời,bao giờ Hồ Chí Minh cũng nhìn vào mặt u điểm, Ngời quan niệm thợ mộckhéo tay thì sử dụng đợc tất cả các bộ phận của cây gỗ, phần nào việc ấy.Nếu trên thế giới, ở những nớc tồn tại chế độ quân chủ, khi cách mạng thắnglợi thì vua bị xử tử hoặc ít ra cũng bị cầm tù, còn ở ta với Hồ Chí Minh thìsau khi cách mạng tháng Tám thành công, vua nhà Nguyễn - Bảo Đại khôngnhững không bị tù, không bị giết mà còn đợc mời làm cố vấn tối cao chochính phủ cách mạng, cả hoàng tộc cũng đợc an toàn, lăng tẩm triều Nguyễn
và các nơi thờ tự trong hoàng cung còn đợc cách mạng gìn giữ, trông nom…
Gửi th cho các ngụy binh, Hồ Chí Minh viết: "Các ngời cũng là máu đỏ da vàng … Tuy các ng ời đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lợng khoan hồng, thơng hại các ngời nh những
đứa con lầm đờng, cho nên nặng về giáo dục, nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các ngời bỏ đờng tà, theo đờng chính…[15; tr.305]" Ngời kêu gọi: "Tôi tha thiết kêu gọi các ngời mau mau quay về với Tổ quốc, các ngời sẽ đợc
Hồ Chí Minh mà không phải lãnh tụ nào cũng hội đủ Chính điều đó đã cổ
vũ, nâng đỡ con ngời bỏ thói h tật xấu, sửa chữa lỗi lầm, hớng thiện, phụcthiện, tranh thủ mọi lực lợng với mục đích đoàn kết toàn dân, quy tụ bạn bètrong một thế giới hoà bình, nhân ái Chính vì thế Ngời đợc cả nhân loạiphong tặng danh hiệu "danh nhân văn hoá thế giới" Ngay cả những ngời Mỹcũng phải thốt lên: "Nếu chủ nghĩa cộng sản nh chủ nghĩa cộng sản Hồ Chí
Minh thì cũng chấp nhận đợc" (Hội thảo Quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh).
1.4 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t, giản dị, khiêm tốn, cởi
mở, chân thành.
Trang 16Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t vốn là những khái niệm của Nhogiáo phong kiến khi nói đến đạo đức, t cách của ngời quân tử Tuy nhiên, khi
du nhập vào nớc ta những khái niệm đó đợc Việt hoá và trở thành một bộphận của đạo đức truyền thống dân tộc Dới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin, xuất phát từ nhu cầu cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế
độ mới, Hồ Chí Minh đã cải biên, làm phong phú và sâu sắc thêm bằng cáchtiếp cận mới, mang ý nghĩa mới, tiến bộ và cách mạng Đây là những phẩm
chất đạo đức gắn liền và cụ thể hoá phẩm chất "trung với nớc, hiếu với dân",
nó lấy chính bản thân mỗi ngời làm đối tợng điều chỉnh, nó diễn ra hàng ngày,hàng giờ trong công tác cũng nh trong sinh hoạt
Mặc dù bận trăm công ngàn việc song Hồ Chí Minh vẫn dành nhiềuthời gian viết sách, báo để giải thích, tuyên truyền, giáo dục và kêu gọi mọingời thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t Ngay từ những năm 20
của thế kỷ trớc trong tác phẩm "Đờng cách mệnh" (1927) dùng để đào tạo,
huấn luyện cán bộ, Hồ Chí Minh đã đa yêu cầu về t cách ngời cách mạng lênhàng dầu, trong đó có yêu cầu tự mình phải "cần, kiệm, vị công vong t" Đếnkhi vừa giành đợc chính quyền, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng
Chính phủ (3/9/1945), Hồ Chí Minh đã "đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm, liêm, chính" Tháng 6 năm 1946 với bút danh Lê Quyết Thắng, Hồ Chí Minh viết tác phẩm "Cần, Kiệm, Liêm, Chính" Sau đó Ngời thờng xuyên đề cập vấn đề này Cho đến trớc lúc đi xa, trong "Di chúc" Ngời vẫn còn căn dặn "Mỗi đảng viên và cán
bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô t…"
Theo Ngời, "Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai , ” Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không lãng phí thì giờ,
“trung”
của cải của mình và của nhân dân , Liêm là trong sạch, không tham lam, ” “đói cho sạch, rách cho tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn Điều gì ” “đói cho sạch, rách cho không thẳng thắn, đứng đắn tức là tà"[14; tr.643] Ngời còn chỉ ra mối quan
hệ giữa bốn điều đó: "Cần, Kiệm, Kiêm là gốc rễ của Chính Nhng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa quả mới là hoàn toàn Một ngời phải cần, kiệm, liêm, nhng còn cần phải chính mới là hoàn toàn ” Ngời nói:
"Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phơng: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Ngời có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Trang 17Thiếu một mùa, thì không thành Trời.
Thiếu một phơng, thì không thành Đất.
Thiếu một đức, thì không thành Ngời"[14; tr.631].
Đối với cán bộ, đảng viên thì bốn đức trên đặc biệt cần thiết vì
"Những ngời trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân" Đó là thớc đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc: "Một dân tộc biết cần, kiệm, liêm , chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ" Căn cứ vào yêu cầu thực tiễn cách
mạng và đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực công tác, các khái niệm “trung”
cần, kiệm, liêm, chính” luôn đợc Hồ Chí Minh sử dụng đúng nơi, đúng lúc,
phù hợp với từng đối tợng
Còn chí công vô t“trung” ” theo Hồ Chí Minh là không nghĩ đến mình trớc,
không quản đến riêng t của mình, hết lòng vì sự nghiệp chung của xã hội,ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham địa vị và công danh phúquý, công minh chính trực, công bằng, công tâm không thiên t, thiên vị, chícông vô t thì lòng dạ mới trong trẻo, đầu óc mới sáng suốt Chí công vô t lànêu cao chủ nghĩa tập thể, từ bỏ chủ nghĩa cá nhân Nêu cao t tởng chí côngvô t, Ngời coi chủ nghĩa cá nhân là một trong ba kẻ địch nguy hiểm và hung
ác, nó dẫn đến hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: kiêu ngạo, công thần, tự cao
tự đại, quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô lãng phí, tham danhtrục lợi, thích địa vị quyền hành, độc đoán chuyên quyền, dẫn đến mất đoànkết, không chấp hành đúng chính sách của Đảng và của Nhà nớc, làm hại
đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân Hồ Chí Minh ca ngợi những cán
bộ, đảng viên "anh dũng, gơng mẫu, gian khổ đi trớc, hởng thụ đi sau" Ngời kêu gọi "mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trớc hết Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng" [21; tr.439] Chủ nghĩa cá nhân là một
trở lực lớn cho việc xây dựng CNXH, cho nên thắng lợi của CNXH khôngthể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ nghĩa cá nhân Có nhiềungời cho rằng chí công vô t ngày nay không còn phù hợp nữa, tại sao lại chỉ
nhấn mạnh lợi ích cộng đồng, "giày xéo lên lợi ích cá nhân"? Sự ngộ nhận này là do hiểu sai về khái niệm "công" và "t" Hồ Chí Minh khẳng định:
"Chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi ngời mới có điều kiện để cải
Trang 18thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trờng riêng của mình…".[18; tr.291]
Nh vậy, trong t tởng đạo đức Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô t là những đức tính không thể thiếu đợc của mỗi ngời, mỗi gia đình,mỗi tập thể, mỗi cơ quan, địa phơng cũng nh của cả dân tộc Đó là nền tảngtinh thần của một xã hội mới, là đặc điểm của một xã hội hng thịnh, đi lên.Còn trái lại, để cho các bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí hoành hành, xã hội
sẽ đứng trớc nguy cơ mục nát, suy vong
Nh là kết quả tất yếu và gắn liền với cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô t, khiêm tốn, giản dị, cởi mở chân thành là những nét tính cách theo Bác
suốt đời, từ khi còn là một ngời dân nô lệ, đến khi làm Chủ tịch nớc Ngờiyêu cầu những ngời cách mạng phải ít lòng tham muốn về vật chất phải tránh
xa hoa, lãng phí, phải biết khiêm tốn, giản dị bởi vì: Cách mạng là một sựnghiệp gian khổ, đất nớc còn nghèo, lại trải qua bao nhiêu năm chiến tranh.Nếu đua về sự xa hoa với ngời thì bao giờ ta cũng thua, nhng nếu đua về sựcần, kiệm thì ta nhất định thắng
Có rất nhiều câu chuyện về đức khiêm tốn, giản dị, cởi mở chân thànhcủa Bác trong sinh hoạt đời thờng cả trong những hoạt động cách mạng.Trong suốt cả chặng đờng kháng chiến gian khổ sống kham khổ, thiếu thốn,sống cuộc đời chiến sĩ, “trung”cơm nắm, ở rừng”, “trung”chia ngọt sẻ bùi” với đồng bào,chiến sĩ, nhng ngay cả khi về Thủ đô Bác vẫn giữ nếp sống giản đơn, tiếtkiệm ở cơng vị Chủ tịch nớc, Ngời vẫn sống cuộc đời bình dị, vẫn hoà đồngvới cuộc sống gian nan, vất vả của nhân dân, vẫn bộ quần áo bà ba, bộ ka kibạc màu, chân đi dép cao su đợc cắt từ chiếc lốp ô tô quân sự của Pháp tạiViệt Bắc về với ruộng đồng, xởng máy… Hàng năm đến dịp sinh nhật Bác,nhiều đoàn thể cơ quan tập trung đến chúc thọ Bác rất vui, nhng sau Bác bảokhông nên làm ảnh hởng đến thời gian và tiền bạc của tập thể Vào thămnhà sàn của Bác Hồ, nhiều chính khách nớc ngoài đã rút ra đợc một nhận
xét sâu sắc: "Bài học mà chúng ta có thể rút ra của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là ngời ta không thể là nhà cách mạng trong những vịêc lớn mà lại thiếu sót trong những việc nhỏ" … Hành nan, ngôn dị" là một tổng kết sâu sắc "của ngời xa về cái khó trong sự đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm, nhất làgiữa nói đạo đức và thực hành đạo đức, nhng nghiên cứu t tởng và cuộc
đời Bác chúng ta thấy có nhiều khi Bác làm nhiều hơn nói hoặc chỉ làm
Trang 19mà không nói - đây là đức giản dị, khiêm tốn không phải ai cũng đạt đ ợc.
Ngời căn dặn: "Mỗi cán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:
- Luôn luôn gần gũi nhân dân.
- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhân dân.
- Học hỏi nhân dân … [15; tr.88] "
Hồ Chí Minh lu ý cán bộ, đảng viên tuyệt đối không đợc lên mặt
"quan cách mạng", "ra lệnh, ra oai", phải "khiêm tốn, không đợc kiêu ngạo",
phải lắng nghe, hoan nghênh và tiếp thu ý kiến đóng góp, phê bình của dân,chủ động sửa chữa những sai lầm khuyết điểm Chỉ có nh vậy mới đoàn kết,lãnh đạo đợc nhân dân, mới đợc dân tin, dân phục, dân yêu…
Là Chủ tịch nớc nhng không vì thế mà Ngời tỏ ra quan cách, khó gần,trái lại Ngời lúc nào cũng cởi mở chân thành, điều này khiến cho mọi ngờitiếp xúc với Bác cảm thấy gần gũi, thân thơng Là một ngời đã từng có nhiều
thời gian sống với Bác, Phạm Văn Đồng nhận xét: "Thờng thờng, khi con
ng-ời biết mình là một nhân vật quan trọng thì không phải lúc nào cũng hồn nhiên chân thật Hồ Chí Minh không nh vậy Suốt đời mình, trong việc lớn cũng nh trong việc nhỏ, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chân thực.”
Hồ Chí Minh là một con ngời phi thờng và xuất chúng Tuy nhiên khigặp Hồ Chí Minh, mọi ngời cảm thấy nh thân thuộc từ lâu, dễ dàng nóichuyện cởi mở, tự nhiên không chút nào cách bức Chính những ngời khách
ngoại quốc rất thích thú nhấn mạnh điểm này Nét đặc biệt của Hồ Chí“trung”
Minh là khiêm tốn, giản dị, sự khiêm tốn giản dị chân thành và hồn nhiên của con ngời bao giờ cũng là chính mình và chỉ cần là chính mình Địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Hồ Chí Minh càng khiêm tốn và giản dị.”[1; tr19]
1.5 Linh động sáng tạo, ham học hỏi cầu tiến bộ.
Điều kiện địa lý, tự nhiên và nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nớc đãrèn luyện cho con ngời Việt Nam tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi cáimới, cái tiến bộ cả trong và ngoài nớc; đồng thời luôn có những sáng tạo choriêng mình trong quá trình sản xuất cũng nh trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.Tất cả những điều đó đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Chúng ta đều đã biết t tởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo vàphát triển, làm phong phú thêm truyền thống của dân tộc, đặc biệt là chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta Cơ sở của sự phát triểnsáng tạo đó nằm ngay trong nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin -
lý luận phải luôn luôn kết hợp với thực tiễn, chính thực tiễn sinh động sẽ bổsung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận
Trang 20Ngời một mặt khẳng định tính chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin,mặt khác, trong khi tìm hiểu và vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩaMác - Lênin vào thực tiễn xã hội Việt Nam và các nớc phơng Đông, Ngời đãsớm phát hiện ở phơng Đông có những đặc điểm khác với các nớc phơngTây mà thời Mác cha có điều kiện nghiên cứu.
Trong "Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ" gửi Quốc tế cộng sản năm 1924, Ngời viết: "Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống nh ở phơng Tây….Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung cơ sở“trung”
lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách đ ” a thêm vào đó những t liệu mà Mác ở thời mình không thể có đợc.
Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định củalịch sử, nhng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó cha phải
là toàn thể nhân loại…
Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nóbằng dân tộc học phơng Đông Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô Viết
đảm nhiệm…"[10; tr.465]
Luôn xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và thực tiễn phát triển của thời
đại, với t duy độc lập, tự chủ, linh động, Ngời đã có những luận điểm sángtạo nhất là trên những vấn đề về cách mạng giải phóng dân tộc, về xây dựng
Đảng, xây dựng chế độ dân chủ mới; con đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội ởmột nớc thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế lạc hậu…gắn liền với các nộidung đó là những sáng tạo của Ngời trong việc xây dựng nền đạo đức mới,nền văn hoá mới
Là ngời Mác xít, Nguyễn ái Quốc thừa nhận đấu tranh giai cấp trongxã hội có giai cấp là một động lực lớn của lịch sử, nhng Ngời không coi đó
là động lực duy nhất Phân tích cơ cấu kinh tế, sự phân hoá giai cấp xã hội ở
Đông Dơng, Ngời cho rằng muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc phải pháthuy chủ nghĩa yêu nớc và tinh thần dân tộc từ đó Nguyễn ái Quốc đa ra luận
điểm: "chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nớc", lộ trình cách
mạng ở các nớc thuộc địa là đi từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp
và giải phóng con ngời chứ không phải: giải phóng giai cấp, giải phóng dântộc, giải phóng loài ngời nh con đờng cách mạng vô sản ở Châu Âu Thựctiễn cách mạng Việt Nam và thế giới đã chứng minh luận điểm này của HồChí Minh là hoàn toàn đúng đắn
Sang thế kỷ XX, mặc dù đánh giá cao vai trò của cách mạng thuộc
địa nhng cả Lênin và quốc tế cộng sản vẫn xem thắng lợi của cách mạng
Trang 21thuộc địa phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở Châu Âu Nhậnthức sâu sắc hơn ai hết về yêu cầu bức xúc của sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc, về sức mạnh vĩ đại của chủ nghĩa yêu nớc và tinh thần dântộc, Ngời không chấp nhận ỷ lại, trông chờ, mà yêu cầu các dân tộc thuộc
địa cần phải chủ động đứng lên, "đem sức ta mà giải phóng cho ta", cách mạng thuộc địa "có thể và cần phải tiến hành trớc" và thắng lợi của nó sẽ
"giúp đỡ những ngời anh em mình ở phơng Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn".[10; tr.36]
Trong nhận thức và trên thực tiễn xây dựng CNXH trong thời kỳ quá
độ ở một nớc nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, mặc dù chịu tác
động rất lớn của Liên Xô và Trung Quốc nhng Hồ Chí Minh luôn nhấnmạnh: Việt Nam tiến hành xây dựng CNXH trong những điều kiện đặc biệt,không giống với Liên Xô, Trung Quốc và các nớc XHCN anh em khác, vì
vậy "phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo", phải học tập kinh nghiệm các nớc anh em, nhng không đợc sao chép, rập khuôn "bởi ta có
đặc điểm riêng của ta", "làm trái Trung Quốc, Liên Xô cũng là mác xít."
Theo Lênin, Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩaMác với phong trào công nhân Bằng sự linh động, sáng tạo của mình,Nguyễn ái Quốc nhận thấy rằng để xây dựng đợc một Đảng thực sự của giaicấp công nhân trong một nớc nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân cònnhỏ bé, Ngời đã tập hợp những thanh niên yêu nớc, mở các lớp huấn luyệnchính trị, trang bị cho họ những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,lịch sử cách mạng thế giới, phơng pháp cách mạng…rồi đa họ về nớc đi "vô sản hoá" tuyên truyền giác ngộ quần chúng đứng lên đấu tranh theo ngọn cờ
của chủ nghĩa Mác - Lênin Khi phong trào đến lúc đòi hỏi phải có Đảnglãnh đạo, Nguyễn ái Quốc đã đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản trong
nớc, sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh nói: "Đảng Lao
động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam" Tổng kết 30 năm xây dựng
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: "Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nớc đã dẫn tới việc thành lập Đảng cộng sản Đông Dơng vào đầu năm 1930" [19; tr.8] Đây là sáng tạo độc đáo
của Hồ Chí Minh, một đóng góp quý báu vào lý luận xây dựng Đảng củagiai cấp công nhân nhiều nớc thuộc địa và phụ thuộc
Trong đấu tranh lật đổ chế độ t bản, Mác - Ăngghen chủ yếu kêu gọi
sự đoàn kết của vô sản toàn thế giới, cha đặt ra vấn đề tranh thủ đoàn kết với
Trang 22các lực lợng trung gian khác Đến Lênin và Quốc tế cộng sản yêu cầu phảilàm cho vô sản và quần chúng lao động ở thuộc địa sát cánh bên nhau trongcuộc đấu tranh chung nhằm lật đổ chế độ t bản Tuy nhiên trong sách lợcQuốc tế cộng sản không đặt vấn đề phân hoá hay tranh thủ lực lợng trunggian, đánh giá thấp vai trò cách mạng của giai cấp tiểu t sản, yếu tố dân tộccủa t sản bản xứ, càng cha thấy đợc mặt yêu nớc của một bộ phận trung, tiểu
địa chủ ở thuộc địa Xuất phát từ luận điểm "chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nớc", Nguyễn ái Quốc đã lu ý Quốc tế cộng sản về tinh thần
dân tộc, sức phản kháng và khả năng đấu tranh của các tầng lớp nhân dânViệt Nam - không phải chỉ có các nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản mà cả
những ngời “trung”culi” (vô sản thành thị, đồn điền), ngời "nhà quê"(nông dân),
nhà buôn (t sản, tiểu t sản), thanh niên, các tầng lớp tiểu t sản thành thị, rồinhững địa chủ hạng trung và hạng nhỏ, cho đến một ông vua nh Duy Tâncũng mu tính khởi nghĩa Vì vậy theo Ngời cần phải biết tập hợp và phát huycác nhân tố tích cực đó để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc, Ngời đa ra khẩu hiệu: "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công" Đây là sự tổng kết ngắn gọn và
sâu sắc chiến lợc đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Ngoài những sáng tạo cơ bản nêu trên, hầu nh trong mọi lĩnh vực củacách mạng Việt Nam đều để lại dấu ấn sáng tạo của Ngời: quan điểm về bạolực cách mạng và hình thức đấu tranh cách mạng; xây dựng lực lợng vũ trangnhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trờng kỳ, dựa vào sức mình làchính, quốc phòng toàn dân; sáng tạo trong việc lựa chọn mô hình nhà nớcphù hợp với thực tiễn dân tộc; về vai trò của nhân tố con ngời và sức mạnhcủa văn hoá, đạo đức Việc xử lý linh động, sáng tạo của Hồ Chí Minh trênmọi vấn đề lý luận và thực tiễn đã đa đến những thắng lợi của cách mạngViệt Nam từ trớc đến nay và về sau
Sức sáng tạo đó không phải do tình cờ may rủi mà là cả một quá trìnhsuy ngẫm, hoạt động có cơ sở lý luận, thực tiễn và cũng là một sự phát triển
tất yếu của t tởng vì dân, vì nớc của Ngời: "Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân", "có dân là có tất cả"… và Hồ Chí Minh cũng
đã nhìn thấy tính tích cực, năng động của quần chúng nhân dân, nhìn thấy ở
đó nguồn sức mạnh và sáng kiến vô tận có đủ khả năng cung cấp cho độingũ cán bộ cách mạng nguồn năng lực và sức chiến đấu dồi dào Vì thế Ngời
đã khơi dậy những tiềm năng sẵn có trong lòng dân, làm nảy nở cái mới, cáihay, cái đẹp của cả dân tộc trong mỗi con ngời Việt Nam
Trang 23Hồ Chí Minh là một thiên tài trí tuệ sáng tạo, trí tuệ sáng tạo đó là do
Ngời luôn ham học hỏi cầu tiến bộ, tiếp thu có chắt lọc mọi tinh hoa của thời
đại, của các nền văn minh và văn hoá của nhân loại ở cả phơng Đông lẫn
ph-ơng Tây
Là ngời đợc sinh ra ở làng quê hiếu học trong một gia đình có truyềnthống ham học hỏi, ông ngoại và bố đều là thầy giáo, là con của Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc một trong những "tứ hổ" Hán học của đất Nam Đàn
-Nghệ Tĩnh thời đó, ông Sắc rất quan tâm đến việc học hành của con cái.Thuở nhỏ, Ngời đã rất ham học hỏi không chỉ trong sách vở mà cả ở nhữngngời thân trong gia đình, bạn bè, thích khám phá, tìm hiểu những điều mớilạ, những danh thắng trong vùng ở các nơi đợc cha đa đến, tiếng tăm về sựthông minh hiếm có của Ngời đã lan tỏa khắp vùng Nam Đàn Hồ Chí Minhthời trẻ đã đọc thông viết thạo chữ Hán và chữ Nôm, ham mê quốc sử, quốcvăn nên thờng rủ nhau xuống Vinh mua sách, sách nào mua không đợc thì
đứng tại cửa hàng sách đọc kỳ hết mới đi về, đọc cha hết thì hôm sau trở lại
đọc nữa Đến năm 1906 đợc cha đa vào Kinh đô Huế, theo học "chữ Tây" và
chữ quốc ngữ ở trờng tiểu học Pháp - Việt Đông Ba và trờng Quốc học Huế,
đây là điều kiện tốt nhất để Nguyễn Sinh Cung không những chứng kiếnthực trạng xã hội ở trung tâm đầu não của chế độ phong kiến, triều đìnhnhà Nguyễn, mà còn trực tiếp tiếp xúc với nền giáo dục Pháp và nền vănminh Pháp Điều quan trọng là Ngời đã thấy đợc là kẻ miệng nói tự do,bình đẳng, bác ái lại chính là kẻ đi đè nén, bóc lột, ức hiếp dân ta Điềunày đã thôi thúc Ngời ra nớc ngoài để tìm hiểu những gì ẩn đằng saunhững lời nói mỹ miều ấy
Để làm quen với văn minh Pháp và để tìm xem những gì ẩn đằng saunền văn minh này, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để ra đi và cuối cùng Ngời đãrời Tổ quốc vào năm 1911 Ngày ra đi cũng là ngày mở đầu cho một giai
đoạn mới của cuộc đời Hồ Chí Minh, đó là giai đoạn học tập, rèn luyện và ởng thành Đó cũng là giai đoạn từ đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc, Hồ ChíMinh tiếp thu những thành tựu văn hoá của nhân loại
tr-Những điều tơng phản ngoài cuộc sống đã tạo ra những tơng phảntrong nhận thức và tình cảm của Nguyễn Tất Thành, thôi thúc Ngời tìm hiểu,suy nghĩ và hành động Để có thể trực tiếp gần gũi các tầng lớp nhân dân vàtiếp thu đợc văn hoá của nhân loại qua sách báo Ngời đã nỗ lực và kiên trìhọc tập ngoại ngữ Việc biết nhiều ngoại ngữ đã tạo điều kiện cho Ng ờinhanh chóng mở rộng và nâng cao trình độ hiểu biết rất uyên bác về cổ,
Trang 24kim, Đông, Tây, kết bạn với những nhà văn hoá, chính trị lỗi lạc đ ơngthời.
Hồ Chí Minh không chỉ thạo tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc màcòn biết tới 28 ngoại ngữ khác nhau Ngời đọc Shakespeare, Dickens bằngtiếng Anh; đọc Huygo, Zola bằng tiếng Pháp; đọc Lỗ Tấn bằng tiếng TrungQuốc Ngời gia nhập Hội nghệ thuật, Hội khoa học, Hội du lịch để có thểtham dự những buổi diễn thuyết, các cuộc triển lãm, đi thăm đợc nhiều nớcnhằm tìm hiểu xem ở những nớc ấy ngời ta sống nh thế nào, tổ chức hànhchính và xã hội ra sao? Dần dần Hồ Chí Minh đã thực hiện đợc nhu cầu
"làm quen" với nền văn minh Pháp và hiểu đợc những gì ẩn đằng sau khẩu hiệu của cách mạng t sản Pháp: "T bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng,
Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến Khi dân đánh đổ phong kiến rồi nó lại thay phong kiến mà áp bức dân " [11; tr.274] Đến
đây, Hồ Chí Minh càng thấy rõ phải tiến hành một cuộc cách mạng mớitriệt để hơn
Từ khi tiếp xúc với "Sơ thảo luận cơng về những vấn đề dân tộc và những vấn đề thuộc địa” của Lênin, Ngời tin theo Lênin, ra sức học tập chủ
nghĩa Mác-Lênin, xem đó nh đỉnh cao của văn hoá nhân loại, nh con đờngduy nhất đúng dẫn đến tự do thực sự của con ngời Ngời tự nhận mình là họctrò nhỏ của các vị sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin
Nh vậy sau gần 20 năm tầm s học đạo, bằng t duy nhạy bén với cáimới, tính tích cực chủ động, ham học hỏi cầu tiến bộ, Hồ Chí Minh trở về
mang theo "bảo bối thần kỳ" để cứu dân cứu nớc.
Cùng với thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Tám và sự ra đời của
n-ớc Việt Nam Dân chủ cộng hòa (2/9/1945), Hồ Chí Minh đã khai sinh cho
đất nớc nền giáo dục dân tộc, khoa học, dân chủ và đại chúng Ngày3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủcộng hòa, Ngời nêu nhiệm vụ giáo dục, chống giặc dốt là một nhiệm vụ cấp
bách của chính quyền mới với lời khẳng định: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", cha đầy một tuần sau - ngày 8/9/1945 ba Sắc lệnh quan trọng về
giáo dục đã đợc ban hành
Không chỉ là tấm gơng về sự ham học hỏi cầu tiến bộ, Hồ Chí Minhcòn ra sức giáo dục cho cán bộ, đảng viên, xem đó là đức tính mà họ cần
phải có Ngời luôn nhắc nhở: " Mọi Đảng viên đều phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin củng cố lập trờng giai cấp vô sản phải luôn luôn nâng
Trang 25cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bồi dỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản ” [19; tr.21].
Theo Ngời không phải học thuộc từng câu, từng chữ sách kinh điển để
đem ra mặc cả với Đảng, mà là nắm cái cốt lõi, cái tinh thần của chủ nghĩa
Mác-Lênin để "sửa chữa t tởng, học để tu dỡng đạo đức cách mạng Học để tin tởng, học để làm việc …” và theo Bác thì học suốt đời, Ngời coi lời dạy của Lênin: "Học, học nữa, học mãi" và lời dạy của Khổng Tử: "Học không biết chán, dạy không biết mỏi" là phơng châm sống, phơng châm hành động
của mình, cũng chính vì thế mà Hồ Chí Minh trở thành một thiên tài trí tuệ,sáng tạo vĩ đại, làm nên lịch sử hiện đại, làm cho đất nớc ta có những thay
đổi kỳ diệu: từ một dân tộc nô lệ trở thành một dân tộc độc lập và tự do, từmột xứ sở không có tên trên bản đồ thế giới nay đã trở thành địa chỉ quenthuộc, gần gũi, đáng tin cậy và có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực
và trên thế giới…
Trên đây là những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc đã
đợc Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển sáng tạo khi đã thâu hái văn minh
ph-ơng Đông, phph-ơng Tây, đặc biệt là từ khi Ngời đến với chủ nghĩa Mác-Lênin,trở thành ngời sáng lập Đảng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Trang 26Chơng 2
Vận dụng các giá trị đạo đức truyền thốngtrong t tởng Hồ Chí Minh vào công tác giáo dục đạo đức
cho sinh viên trờng Đai học Quy Nhơn.
2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về thanh niên và việc giáo dục
đạo đức cho thanh niên, học sinh, sinh viên.
2.1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của thanh niên.
Tuổi trẻ luôn đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử đấu tranh dựngnớc và giữ nớc của dân tộc Ngay trong truyền thuyết thời Hùng Vơng đã cónhững Sơn Tinh, Thánh Gióng… tuổi trẻ, dũng mãnh giúp nhân dân chốnglại thiên tai, địch họa Trong lịch sử Việt Nam, Trng Trắc cùng em dựng cờkhởi nghĩa năm 26 tuổi; Triệu Thị Trinh cùng anh chiêu mộ quân sỹ đánh
đuổi quân Ngô năm bà 19 tuổi và trở thành ngời lãnh đạo cuộc khởi nghĩanăm 22 tuổi…
Rồi những Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, đến Trần Nhật Duật, Trần QuốcToản, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… tuổi trẻ mà trí lớn lập công khi đang ở tuổi
thanh niên, Hồ Chí Minh đã khái quát truyền thống đó trong cuốn “trung”Lịch sử nớc ta”:
“trung” Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.”
Rất hiểu và tự hào truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam, Ngờithấy rõ sự đóng góp to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nớc
và giữ nớc Những năm tháng của quãng đời tuổi trẻ, đợc hòa mình vào cuộcsống lao động, đấu tranh với nhân dân nhiều nớc trên thế giới, Hồ Chí Minh
có điều kiện tìm hiểu thêm về vai trò thế hệ trẻ trong sự phát triển của lịch sửnhân loại Nhờ có phơng pháp luận Mácxít và những hiểu biết thực tiễnphong phú, Hồ Chí Minh càng phát hiện thấy tiềm năng to lớn của thế hệ trẻtrong cuộc đấu tranh cách mạng và sự phát triển xã hội Ngời nhận thấy thế
hệ trẻ có những u thế nổi trội: Trẻ, khỏe, chiếm số đông trong xã hội, hănghái nhiệt tình, nhanh nhạy tiếp thu cái mới, giàu ớc mơ và đức hy sinh, sẵn
sàng xả thân vì lý tởng cao đẹp Ngời từng ví “trung”Trẻ em nh búp trên cành” Ngời ca ngợi tuổi trẻ là độ tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi ngời: “trung”Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”.[13; tr.167]
Tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin, nhìn thấy rõ vai trò rất to lớn của