Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và cácbạn.Em xin chân thành cảm ơn Nếu đứng trên góc độ pháp lý: “BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ choNLĐ và gia đình họ thông qua việc
Trang 1MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội ở nước ta là một trong những chính sách quan trọng hàngđầu của Đảng và Nhà nước Bản chất của BHXH chính là sự tương trợ cộng đồng,đoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc.Trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH không ngừng được bổsung, sửa đổi để phù hợp với từng thời kỳ và từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể củađất nước nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHXH
Chi trả các chế độ bảo hiểm là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàngđầu của BHXH Việt Nam, làm tốt công tác chi trả sẽ giúp ổn định thu nhập choNLĐ, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội Trong thời gian qua, công tác chi trảcác chế độ BHXH đang không ngừng được hoàn thiện, tuy nhiên, vấn đề chi đúng,chi đủ, chi kịp thời và cải tiến, hoàn thiện công tác chi vẫn còn gặp một số vướngmắc Nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay khiến đờisống NLĐ càng gặp nhiều khó khăn nên cần phải chăm lo đời sống cho NLĐ, giúp
họ ổn định thu nhập, đảm bảo cuộc sống Do vậy, yêu cầu đặt ra là hoạt động quản
lý chi cần được hoàn thiện hơn, khắc phục những hạn chế nhằm đả bảo công tác chitrả, thực hiện tốt các chế độ BHXH cho NLĐ và người thụ hưởng
Xuất phát từ nhận thức trên, em xin đưa ra đề tài “Thực trạng công tác chi trả chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2013”
Kết cấu của đề tài được chia thành 3 phần chính, cụ thể:
Chương I: Lý luận chung về BHXH và chế độ trợ cấp ốm đau.
Chương II: Thực trạng công tác chi trả chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH tỉnh Hưng Yên
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác chi trả chế độ ốm trợ cấp ốm đau trong các chế độ của BHXH tỉnh Hưng Yên
Trong quá trình viết đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ sự chỉbảo tận tình của cô Tô Vân Anh cùng những cô chú cán bộ bảo hiểm tỉnh HưngYên Do còn nhiều hạn chề về kiến thức cũng như trình độ nhận thức nên bài viết
Trang 2vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và cácbạn.
Em xin chân thành cảm ơn
Nếu đứng trên góc độ pháp lý: “BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ choNLĐ và gia đình họ thông qua việc sử dụng tiền đóng góp của NLĐ và gia đình họthông qua việc sử dụng tiền đóng góp của NLĐ và NSDLĐ được nhà nước bảo trợ
để trợ cấp vật chất cho NLĐ tham gia bảo hiểm và gia đình họ khi NLĐ gặp rủi ro.”
Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đốivới tất cả các thành viên của mình với những khó khăn về kinh tế xã hội do bịngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổigià và chết, việc cung cấp y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”
Tuy nhiên, theo luật BHXH Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
29/6/2006: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
1.1.1.2 Bản chất
Trang 3Dù định nghĩa như thế nào đi chăng nữa thì bản chất của BHXH cũng đượcthể hiện rõ ở những nội dung chủ yếu sau đây:
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp trong quá trình tái sảnxuất và trong đời sống xã hội loài người, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóaphát triển, mối quan hệ thuê mướn lao động đã đạt đến một mức độ nào đó Khi nềnsản xuất hàng hóa ngày càng phát triển thì mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ trởlên căng thẳng, làm cho sản xuất bị đình đốn gây thiệt hại cho cả hai giới Vì vậy,BHXH ra đời và phát triển là tất yếu khách quan của xã hội
Mối quan hệ giữa các bên tham gia bảo hiểm là mối quan hệ kinh tế xã hộiphát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ trong quản lí xã hội Mối quan hệdựa trên cơ sở lao động chính là NLĐ với người chủ sử dụng lao động, NLĐ vớiNhà nước Còn mối quan hệ quản lý là quan hệ giữa Nhà nước với cơ quan BHXH,Nhà nước với chủ sử dụng lao động Cụ thể các mối quan hệ diễn ra giữa ba bên:bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ và Nhà nước hoặc cả NLĐ, ngườichủ sử dụng lao động và Nhà nước Trong đó, NLĐ và NSDLĐ là chủ yếu, bởi vì
họ là những chủ thể quản lý trong cả quan hệ lao động và quan hệ xã hội BênBHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhànước lập ra và bảo trợ Cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo khuôn khổpháp luật của từng nước
Bên được BHXH chính là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràngbuộc cần thiết để hưởng các chế độ BHXH
BHXH còn là chỗ dựa về mặt tâm lý để NLĐ yên tâm làm việc, gắn bó vớiđơn vị công tác, tạo niềm tin cho họ vào cuộc sống Vì khi xảy ra những rủi ro xảy
ra thì đã có quỹ BHXH trợ cấp cho phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm đó Từ đó
Trang 4giúp NLĐ nâng cao được năng suất lao động cá nhân của mình và góp phần tăngthu nhập trong tương lai.
Thông qua BHXH còn góp phần đoàn kết giữa những NLĐ trong nội bộ cơquan doanh nghiệp và kích thích những NLĐ chưa tham gia BHXH hăng hái thamgia BHXH
1.1.2.2 Đối với NSDLĐ
Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để đóngBHXH cho NLĐ mà mình sử dụng, điều đó làm cho NSDLĐ bị mất một khoản thunhập nhưng song về lâu dài lợi ích từ BHXH mà người NSDLĐ nhận được sẽ là:
Khi thực hiện tốt chính sách BHXH cho NLĐ sẽ giúp họ yên tâm, phát huyhết khả năng của mình từ đó tăng năng suất lao động cá nhân đồng thời giúp chodoanh nghiệp ngày càng phát triển hơn Ngoài ra, còn giúp cho NLĐ gắn bó với cơquan, doanh nghiệp hơn
Nếu chính sách BHXH được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các hiệntượng đình công, bãi công, biểu tình và từ đó góp phần làm cho hoạt động sản xuấtkinh doanh diễn ra liên tuc và ổn định
Khi rủi ro xảy ra đối với nhiều NLĐ cùng một lúc, ở phạm vi rộng thì NLĐ
sẽ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để chi trả cho NLĐ mà lúc này hậu quả củanhững rủi ro sẽ do quỹ BHXH gánh vác Mặt khác, khi những rủi ro xảy ra thì chủ
sử dụng lao động không phải gánh chịu toàn bộ mà rủi ro được phân tán cả theokhông gian và thời gian cho tất cả các bên tham gia
Thông qua chính sách BHXH, NSDLĐ thể hiện được nghĩa vụ và tráchnhiệm của mình đối với NLĐ và đối với xã hội Khi tham gia BHXH chủ sử dụnglao động còn thể hiện sự quan tâm của mình đối với NLĐ không chỉ lúc họ khỏemạnh mà cả khi họ già yếu
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế
Chính sách BHXH góp phần tạo lập mối quan hệ gắn bó chủ - thợ, từ đó làmcho các mối quan hệ trên thị trường lao động trở lên lành mạnh hơn, những mâuthuẫn vốn có trong quan hệ lao động về cơ bản được giải tỏa Đây là tiền đề về mặttâm lý, để kích thích tính tự giác, sáng tạo của NLĐ, từ đó góp phần nâng cao năngsuất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội
Nhờ có chính sách BHXH mà quỹ BHXH đã được hình thành Nguồn quỹnày ngày càng được tồn tích lại theo thời gian và thực sự trở thành một khâu tàichính trung gian rất quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia Phần quỹ nhàn rỗi
Trang 5sẽ được đem đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm choNLĐ.
1.1.2.4 Đối với xã hội
Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH thể hiện tính xã hội hóa, tính nhânđạo và nhân văn cao cả của chính sách BHXH Mặc dù động lực và mục đích thamgia của mỗi bên tham gia là khác nhau nhưng BHXH ra đời có ý nghĩa rất lớn vềmặt xã hội, cụ thể:
NLĐ tham gia BHXH là nhằm bảo vệ quyền lợi trực tiếp cho chính mình,đồng thời còn góp phần thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng xã hội
NSDLĐ tham gia BHXH là để quan tâm, chia sẻ rủi ro với NLĐ nhưng cũnggián tiếp bảo vệ lợi ích cho chính cơ quan, doanh nghiệp của mình phát triển ổnđịnh bền vững
Nhà nước tham gia BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho các thànhviên trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, nhưng cũng là trách nhiệm trong quản
lý xã hội của Nhà nước
Nhờ có quỹ tài chính BHXH mà những khó khăn do giảm hoặc mất thu nhậpcủa NLĐ được trang trải một phần chính từ sự đóng góp của họ Từ đó làm giảmgánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện để Nhà nước tập trung vàonhững mục đích khác nhằm đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người dân trong xãhội
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham giaBHXH Tham gia BHXH không chỉ có NLĐ mà còn cả NSDLĐ và có sự hỗ trợ từphía Nhà nước để hình thành lên quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc dân chủ,công khai, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo trợ
Trang 6Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số NLĐ tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thunhập.
Góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng suất laođộng cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội Đều này thể hiện khi NLĐkhỏe mạnh tham gia hoạt động sản xuất thì người chủ sử dụng lao động phải trả tiềncông, tiền lương cho NLĐ
Gắn bó lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ, giữa NLĐ và xã hội Trong thực tế laođộng sản xuất, NLĐ và người chủ sử dụng lao động luôn có những mâu thuẫn vềtiền lương, tiền công, thời gian lao động… Thông qua BHXH sẽ giúp cho mâuthuẫn này được điều hòa và giải quyết Đặc biệt, cả hai bên thấy được lợi ích củamình khi tham gia BHXH
BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và khônggian Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia
để hình thành quỹ BHXH Những rủi ro xảy đến với NLĐ là hoàn toàn ngẫu nhiên
và trong điều kiện được bảo hiểm thì NLĐ mới được hưởng các chế độ của BHXHnhưng có những trường hợp không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên như chế độ hưu tríhay chế độ thai sản BHXH phát sinh không đồng đều theo thời gian và không giannhư có những vùng, địa phương, ngành nghề có số NLĐ bị biến cố nhiều và hưởngnhiều chế độ BHXH trong cùng một thời gian,…Hay mức trợ cấp BHXH theo từngchế độ cho NLĐ
BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời có tính dịch vụ:
Trang 7- Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ: quỹ BHXH muốn hình thành, bảo toàn
và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải phải được quản lýchặt chẽ, sử dụng đúng mục đích NLĐ có tham gia đóng góp mới được hưởng,đồng thời về cơ bản đóng góp nhiều thì được hưởng nhiều Đồng thời tính kinh tếcòn được thể hiện: NLĐ có mức đóng thấp hơn nhiều so với quyền lợi mà họ nhậnđược khi gặp rủi ro; chủ sử dụng lao động thì yên tâm khi những rủi ro xảy ra thì đã
có BHXH chịu trách nhiệm
- Tính xã hội: BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội Vì vậy,mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH và BHXH phải có trách nhiệmbảo hiểm cho mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi laođộng hay khi họ đã hết tuổi lao động
- Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh
tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũngngày càng cao khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì người chủ sử dụng sẽtham gia BHXH ngày càng đầy đủ hơn cho NLĐ, mức đóng và mức hưởng BHXHtăng theo sự phát triển kinh tế - xã hội
BHXH chủ yếu được thực hiện dưới hình thức bắt buộc, cho nên đối tượngtham gia và đối tượng thụ hưởng trợ cấp BHXH ngày càng lớn Khi số lượng thamgia tăng thì nguyên tắc “số đông bù số ít” trong hoạt động bảo hiểm phát huy tối đatác dụng NLĐ và chủ sử dụng lao động đóng góp để hình thành lên quỹ BHXHnhung quỹ này chỉ dùng để trợ cấp cho những trường hợp gặp rủi ro hoặc sự kiệnbảo hiểm xảy ra
Những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm trong BHXH thể hiện phạm vi củaBHXH Vì thế, nó được pháp luật khống chế và thể hiện ở hệ thống các chế độBHXH Những rủi ro sự kiện bảo hiểm có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập củaNLĐ làm giảm hoặc mất thu nhập làm ảnh hưởng tới đời sống của NLĐ và gia đình
Trang 8họ Vì vậy, BHXH còn thể hiện tính chất tiết kiệm trong khi khắc phục hậu quả củarủi ro mà còn thể hiện khi NLĐ già yếu Khi NLĐ trẻ khỏe NLĐ đóng BHXH đểkhi về già có thu nhập để trang trải chi phí sinh hoạt.
1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của BHXH
Mọi NLĐ trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc
mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH Quyền hưởng BHXH của NLĐ là
việc họ được hưởng trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định Các chế độ này gắnvới các trường hợp NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm do
đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống Mức hưởng còn căn cứ vào điều kiện kinh tế
- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển của BHXH
Nhà nước và NSDLĐ có trách nhiệm phải BHXH đối với NLĐ, NLĐ cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho mình.
Đối với NSDLĐ: Người chủ sử dụng lao động muốn ổn định và phát triểnsản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại, côngnghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống NLĐ mà mình sử dụng
Đối với NLĐ, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và không phảihoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết là rủi ro của bản thân Vìthế, nếu muốn BHXH chi trả tức là muốn người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi
ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết.Điều đó có nghĩa là bản thân NLĐ phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảohiểm cho mình
Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham để hình thành nên quỹ BHXH độc lập và tập trung Nhờ sự đóng góp của các bên tham gia mà
phương thức riêng co của BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện đểphân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang mới được thực hiện Hơnnữa, nó còn tạo ra mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệmcủa mỗi bên tham gia, góp phần tránh những hiện tượng tiêu cực như lợi dụng chế
độ BHXH
BHXH hoạt động trên cơ sở số đông bù số ít Bảo hiểm nói chung hoạt động
trên cơ sở xác suất rủi ro theo quy luật số lớn, tức là lấy sự đóng góp cảu số đông
người tham gia san sẻ cho số ít người không may gặp rủi ro Trong số đông người
tham gia đóng góp BHXH, chỉ những NLĐ mới là đối tượng hưởng trợ cấp và trong
số những NLĐ lại chỉ những người ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,thai sản hay tuổi già có đủ điều kiện cần thiết mới thực sự được hưởng trợ cấp
Trang 9Phải kết hợp hài hòa giữa lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH Việc xác định lợi ích của các bên tham gia BHXH đã được làm rõ
và quyền lợi luôn đi đôi với trách nhiệm, điều đó đòi hỏi phải có một sự cân đốigiữa trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, nghĩa là xác định mức đónggóp của mỗi bên tham gia phù hợp với lợi ích mà họ nhận được từ việc họ tham gia
đó Việc thực hiện bảo hiểm xã hội cho NLĐ sẽ không được thực hiện nếu như gánhnăng thuộc về bất cứ bên nào làm triệt tiêu đi lợi ích mà họ đáng được hưởng
Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo cuộc sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ Trợ cấp
BHXH ở đây là loại trợ cấp thay thế tiền lương như trợ cấp ốm đau, thai sản, hưutrí, chứ không phải loại trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp BHXH khác Khi đã bị ốm đau,tai nạn hay tuổi già không thực hiện công việc nhất định hoặc không việc làm màtrước đó đã tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằngtiền lương do NLĐ làm ra được Nếu trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lươngthì không một NLĐ nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương
mà ngược lại họ sẽ tìm mọi cách để được hưởng trợ cấp BHXH
Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nước, đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của bộ phận cấu thành Để BHXH hoạt động có
hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bảnnhất để tránh sự tùy tiện, tính cục bộ hoặc những mâu thuẫn nảy sinh Đồng thời,cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động đểchúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm lẫn nhau
BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế
- xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể BHXH của một nước
gắn chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình
độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh, của nền pháp chế của nước
đó Trong tình trạng nước ta, kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đang hìnhthành, nhiều mặt kinh tế - xã hội đang chuyển động mạnh
Trang 10đảm hoặc thay thế về thu nhập cho NLĐ và gia đình họ khi gặp phải những sự cố về
ốm đau, bệnh tật nhưng không phải do tính chất của công việc gây ra, làm mất khảnăng làm việc dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập một khoảng thời gian theo quy địnhcủa luật pháp quốc gia
Mục đích của chế độ này là bảo vệ sự mất khả năng lao động do ốm đau gây
ra dẫn đến thu nhập bị gián đoạn Chế độ này giúp người tham gia BHXH nhanhchóng ổn định cuộc sống, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội Để được hưởngtrợ cấp ốm đau, người được hưởng phải có xác nhận của cơ sở y tế Đồng thời, NLĐphải thỏa mãn thời gian đóng BHXH tối thiểu nào đó, thời gian này được quy địnhkhác nhau tại mỗi quốc gia
1.2.2 Nội dung của chế độ trợ cấp ốm đau
1.2.2.1 Vị trí vai trò của chế độ ốm đau trong BHXH
Trợ cấp ốm đau có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong các chế độ củaBHXH:
- Đặc trưng chế độ trợ cấp ốm đau là chế độ trợ cấp BHXH ngắn hạn tức làchi cho NLĐ còn trong quá trình làm việc, họ chỉ hưởng trợ cấp tạm thời trong thờigian họ nghỉ và sẽ tiếp tục trở lại làm việc Do vậy, việc chi trợ cấp này có ý nghĩarất lớn đối với NLĐ, có vai trò trong việc thay thế một phần thu nhập trong thờigian nhất định khi họ nghỉ việc khi bị ốm đau …giúp NLĐ được hưởng trợ cấp sẽ
có được cuộc sống ổn định, càng gắn bó, tin tưởng vào chính sách BHXH của Nhànước
- Việc chi trả chế ốm đau còn có ý nghĩa rất lớn về mặt tinh thần Việc chi trảtrợ cấp cũng như việc quan tâm đến NLĐ có tác động rất lớn nhằm mục đích giảmdần tỷ lệ ngày công ốm đau…; tăng dần tỷ lệ ngày công lao động có ích, góp phầntăng năng suất lao động, từ đó tác động trở lại đối với chế độ BHXH làm giảm chi,nâng cao hiệu quả quản lý quỹ BHXH
Với vai trò,vị trí của trợ cấp ốm đau trong các chế độ của BHXH ta thấyđược việc quản lý chi trả chế độ này rất quan trọng Việc quản lý chi trả giúp chocông tác chi trả được thực hiện tốt, từ đó đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng tham
Trang 11gia BHXH Đồng thời công tác quản lý chi trả còn giúp quỹ BHXH thực hiện đúngmục đích, đảm bảo chi đúng, chi đủ và kịp thời cho đối tượng hưởng, góp phần đảmbảo cân đối quỹ BHXH.
1.2.2.2 Đối tượng hưởng của chế độ trợ cấp ốm đau
Đối tượng hưởng của chế độ này là những NLĐ tham gia đóng BHXH trongmột thời gian nhất định( thường là từ 4 đến 6 tháng), trong thời gian làm việc bị ốmđau, bệnh tật dẫn đến phải nghỉ việc trong một khoảng thời gian ngắn Hoặc có connhỏ trong độ tuổi quy định bị đau ốm bệnh tật thì cũng được hưởng chế độ này
1.2.2.3 Quản lý đối tượng hưởng trợ cấp ốm đau
Quản lý trước khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, tức là quản lý đối tượng hưởng
đang ở dạng tiềm năng: NLĐ đang tham gia BHXH, thân nhân phụ thuộc của NLĐ:quá trình quản lý bắt đầu ngay từ khi NLĐ đăng ký tham gia Các thông tin về NLĐ
và than nhân của họ phải được cập nhật trong suốt quá trình NLĐ tham gia BHXH
Cơ quan BHXH có thể xây dựng hồ sơ riêng về thân nhân và quản lý kèm với hồ sơBHXH và sổ BHXH
Quản lý quá trình xét hưởng và hưởng trợ cấp: Công tác xét hưởng phải đảm
bảo những yêu cầu sau: phải đảm việc xét hưởng nhanh chóng và chính xác và hạnchế đến mức thấp nhất các hành vi trục lợi nhằm đảm bảo tính chuyên môn hóa caotrong thẩm định xét duyệt hồ sơ Xây dựng một đội ngũ nhân viên có chuyên mônsâu, có hiểu biết và tư cách đạo đức tốt để chịu trách nhiệm giải quyết các yêu cầuxét hưởng.Cuối cùng, công tác xét duyệt phải đảm bảo khoa học, phù hợp Quytrình xét hưởng: Cán bộ quản lý tập hợp các bằng chứng xác nhận quyền hường chế
độ trợ cấp ốm đau của đối tượng hưởng và quyết định mức hưởng theo hồ sơhưởng
Giải quyết tranh chấp kiếu nại: Sau khi được giải quyết chế độ trợ cấp ốm
đau nếu thấy không thỏa đáng NLĐ có quyền kiếu nại về: quyền được hưởng trợcấp; mức hưởng; thời gian hưởng…Trước tiên, NLĐ phải kiếu nại lên cơ quan trựctiếp xét hưởng, sau đó mới kiếu nại lên tòa nếu như kiếu nại chưa được giải quyếthoặc giải quyết không thỏa đáng
1.2.2.4 Quản lý chi trả chế độ ốm đau
Nguyên tắc chi trả các chế độ trợ cấp: Để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ khi
tham gia BHXH và để đạt hiệu quả cao, công tác chi trả chế độ trợ cấp ốm đau phảituân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: đảm bảo chi đúng đối tượng
Trang 12Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong công tácchi trả các chế độ Bởi vì chi đúng đối tượng không những đảm bảo quyền lợi chongười được hưởng mà còn giúp nguồn quỹ BHXH được đảm bảo, hệ thống BHXHđược củng cố Không những vậy còn tạo sự công bằng, niềm tin của người dânnước vào chính sách BHXH, vào chính sách của Đảng và Nhà nước Vì vậy, để đảmbảo tốt nguyên tắc này cần làm tốt công tác xét duyệt hồ sơ các chế độ, phải có đủ
hồ sơ theo quy định và có xác nhận đóng đủ BHXH mới được thanh toán hưởng trợcấp BHXH
Thứ hai: đảm bảo chi đầy đủ, kịp thời
Nguyên tắc này đảm bảo cho khoản tiền trợ cấp đến tay đối tượng đượchưởng kịp thời và đầy đủ Để làm tốt điều đó cần quản lý và sử dụng nguồn kinhphí chi trả đúng mục đích, đồng thời cải tiến phương thức quản lý, tạo điều kiệnthuận lợi để chi trả các chế độ được thuận lợi và nhanh chóng
Thứ ba: đảm bảo an toàn tiền mặt
Công tác chi trả trợ cấp ốm đau cũng có liên quan tới tiền mặt nên cần tránhcác hiện tượng mất mát, thất thoát… Vì vậy, để đảm bảo an toàn về tiền mặt là mộtnguyên tắc quan trọng khi tiến hành chi trả các chế độ
Thứ tư: Phải tuân thủ các chế độ kế toán và nguyên tắc thống kê theo quy
định của Nhà nước nói chung và theo quy định của ngành BHXH nói riêng
Thứ năm: Thực hiện quản lý chi trợ cấp theo phân cấp, theo đó cơ quan
BHXH cấp trên sẽ có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiệnchi trả BHXH của cơ quan BHXH cấp dưới và NSDLĐ Ngược lại, cơ quan BHXHcấp dưới có trách nhiệm tổ chức chi trả trợ cấp và báo cáo lên cơ quan BHXH cấptrên theo quy định
Tổ chức chi trả: BHXH được tổ chức thành 3 cấp: BHXH cấp trung ương,
cấp khu vực và cấp địa phương, cụ thể:
Cấp trung ương: Đây là cấp cao nhất có nhiệm vụ phải bao quát và quản lý
toàn bộ hoạt động chi trả trong hệ thống, đồng thời giải quyết các tranh chấp và phi
Trang 13phạm lớn xảy ra trong công tác chi trả BHXH cấp Trung ương thường thành lập raban quản lý chi trả để quản lý hoạt các hoạt động chi trả.
Cấp khu vực (bao gồm có BHXH tỉnh, thành phố): Có trách nhiệm toàn diện
về tổ thức thực hiện chi trả trên địa bàn quản lý Tại BHXH cấp khu vực thường cócác phòng quản lý chi trả để quản lý chi trả trong toàn khu vực Cấp khu vực cónhiệm vụ phải quản lý, điều hành, kiểm tra, kiểm soát việc chi trả tại các cơ quanBHXH ở cấp địa phương; ngoài ra còn trực tiếp tổ chức chi trả trợ cấp cho đốitượng hưởng theo quy định
Cấp địa phương (gồm BHXH các quận, huyện, thị xã…): Tổ chức chi trả và
quyết toán các chế độ cho các đối tượng được hưởng; có trách nhiệm thống kê, báocáo và quản lý chặt chẽ tình hình biến động tăng giảm của đối tượng hưởng và sốtiền chi trả theo đúng quy định của Nhà nước và hệ thống BHXH
Phương thức chi trả, thông thường việc tổ chức chi trả chế độ trợ cấp ốm đau
có các phương thức chi trả chủ yếu sau:
- Chi trả trực tiếp đến tay đối tượng hưởng: phương thức này có ưu điểm là
cơ quan BHXH có thể nắm bắt nhanh các thông tin về đối tượng hưởng, về nhữngyêu cầu và mong muốn của đối tượng hưởng để kịp thời giải quyết Nhưng nhượcđiểm của phương pháp này là mức độ an toàn tiền mặt không cao; với phương thứcchi trả trực tiếp đòi hỏi đội ngũ cán bộ BHXH lớn, có phẩm chất đạo đức và tinhthông nghề nghiệp
- Chi trả gián tiếp qua đơn vị sử dụng lao động: phương thức này giúp tiến độchi trả nhanh hơn do đơn vị sử dụng lao động chủ động thanh toán cho đối tượng,đồng thời giảm nhẹ tăng biên chế ngành BHXH
- Chi qua tài khoản tại Ngân hàng: Việc chi trả trực tiếp qua tài khoản cánhân mở tại tại ngân hàng hay chi gián tiếp qua tài khoản của chủ sử dụng lao độngtại Ngân hàng cho NLĐ đều có ưu điểm là nhanh, tiết kiệm chi phí và đảm bảo antoàn tiền mặt trong quá trình chi trả Tuy nhiên phương thức này đòi hỏi một hệthống tài chính phát triển và khả năng quản lý theo mô hình hiện đại của cơ quanBHXH
Trang 14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI TRẢ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP ỐM ĐAU TẠI BHXH TỈNH HƯNG YÊN GIAI
ĐOẠN 2011 - 2013
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tỉnh Hưng Yên
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH tỉnh Hưng Yên
2.2 Thực trạng công tác chi trả chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2013
2.2.1 Quy định pháp lý liên quan đến chế độ trợ cấp ốm đau tại Việt Nam
Theo Luật BHXH Việt Nam năm 2006 về chế độ trợ cấp ốm đau
Đối tượng hưởng
1 NLĐ được hưởng chế độ này khi bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc(có xác nhận của cơ sở y tế) Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủyhoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác khì khôngđược hưởng chế độ ốm đau
2 Có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con (có xácnhận của cơ sở y tế)
Thời gian hưởng
1 Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với NLĐ quyđịnh tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH tính theo ngày làm việckhông kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau:
a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu
đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủmười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươinăm trở lên;
b) Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việcthường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốnmươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; năm mươi ngày nếu
Trang 15đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bảy mươi ngày nếu đã đóng từ
đủ ba mươi năm trở lên
2 NLĐ mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tếban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:
a) Tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngàynghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;
b) Hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì đượchưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn
3 Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với NLĐ quy định tại điểm d khoản 1Điều 2 của Luật BHXH còn tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộcquân đội nhân dân và công an nhân dân
4 Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau
a) Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo sốngày chăm sóc con tối đa là hai mươi ngày làm việc nếu con dưới ba tuổi; tối đa làmười lăm ngày làm việc nếu con từ đủ ba tuổi đến dưới bảy tuổi
b) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người
đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ
Mức hưởng
Mức hưởng chế độ ốm đau được quy định tại Thông tư số 03 BLĐTBXH ngày 30/01/2007 và Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày23/9/2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Trong đó qui định có 2trường hợp, như sau:
/2007/TT-Mức hưởng chế độ ốm đau theo thời gian quy định tại khoản 1 Điều 23Luật BHXH, Điều 9 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP được tính như sau:
Mức hưởng chế
Tiền lương, tiền công đóngBHXH của tháng liền kềtrước khi nghỉ việc
26 ngày
x 75(%) x Số ngày nghỉ việc được
hưởng chế độ
Trang 16Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau được tính theo ngày làm việckhông kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
NLĐ mắc bệnh thuộc danh mục cần chữa trị dài ngày: quy định tại mục 1của Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH, ngày 23/9/2008 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, NLĐ hưởng chế độ ốm đau theo khoản 2 Điều 23 Luật Bảohiểm xã hội được tính như sau:
x
Tỷ lệhưởngchế độ
ốm đau(%)
x
Số tháng nghỉviệc được hưởngchế độ ốm đau Trong đó:
- Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau:
+ Bằng 75% với thời gian tối đa là 180 ngày trong một năm;
+ Bằng 65% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màNLĐ vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên
+ Bằng 55% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màNLĐ vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 năm đến dưới 30năm
+ Bằng 45% đối với trường hợp hết thời hạn 180 ngày trong một năm màNLĐ vẫn tiếp tục điều trị, nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm
Số tháng nghỉ việc được tính theo tháng dương lịch, trường hợp có ngày lẻthì cách tính mức hưởng chế độ ốm đau cho những ngày này như sau:
26 ngày
x
Tỷ lệhưởng chế
độ ốm đau(%)
x
Số ngày nghỉviệc được hưởngchế độ ốm đauTrong đó:
- Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau theo quy định tương tự như trên
2.2.2 Cơ sở chi trả
Trang 17Trong thời gian từ năm 2005 đến nay, BHXH tỉnh Hưng Yên đã áp dụng một
số văn bản pháp quy quy định về quản lý, chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn :
+ Quyết định số 1184/QĐ-BHXH-BC ngày 26/09/2003 của Tổng Giám đốcBHXH Việt Nam quy định về quản lý, chi trả BHXH bắt buộc có hiệu lực thi hành
từ năm 2004-2006
+ Quyết định số 845/QĐ-BHXH-BC ngày 18/6/2007 của Tổng Giám đốcBHXH Việt Nam về việc ban hành Quy định quản lý, chi trả các chế độ bảo hiểm
xã hội bắt buộc có hiệu lực thi hành từ năm 2007 đến nay
Về nguồn chi trả từ năm 2004 đến 2008 đã có sự thay đổi, cụ thể :
Từ năm 2004 đến 2006 áp dụng theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau :
- NSDLĐ đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người thamgia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chi trả chế độ hưu trí, tử tuất và 5% chichế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN
- NLĐ đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng để chi chế độ hưu trí và tử tuất
- Nhà nước hỗ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ đối với NLĐ
- Các nguồn khác
Từ năm 2007-2008, áp dụng theo Luật BHXH số 71/2006/QH11 và Nghịđịnh 152/2006/NĐ-CP thì nguồn hình thành quỹ BHXH ở Việt Nam chủ yếu từ:
- NLĐ đóng góp 5% mức tiền lương, tiền công hàng tháng vào quỹ BHXH
để chi các chế độ hưu trí, tử tuất
- NSDLĐ đóng 15% trên tổng quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xãhội của NLĐ Trong đó: 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp và 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất
- Nhà nước tham gia hỗ trợ nguồn lực tài chính để đảm bảo cân đối quỹBHXH
- Nguồn lãi từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ và các nguồn tài chính khácnhư viện trợ, tài trợ, hay phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế viphạm luật lệ về BHXH…
Trang 18Theo đó, quỹ BHXH được chia thành ba quỹ thành phần : quỹ ốm đau, thaisản ; quỹ TNLĐ-BNN ; quỹ hưu trí và tử tuất Nguồn kinh phí sử dụng để chi trảcác chế độ BHXH ngắn hạn được lấy từ 2 quỹ là : quỹ ốm đau, thai sản và quỹTNLĐ-BNN Luật BHXH có quy định nguời sử dụng lao động đóng 3% tổng quỹtiền lương, tiền công vào quỹ ốm đau, thai sản trong đó NSDLĐ giữ lại 2% để trảcho NLĐ đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hàngquý với tổ chức BHXH Đối với thực hiện chi trả chế độ TNLĐ-BNN được lấy từ1% tổng quỹ tiền lương tiền công do chủ sử dụng lao động đóng và nguồn NSNN.Trong đó, chi trả trợ cấp TNLĐ-BNN một lần và dưỡng sức PHSK sau TNLĐ donguồn quỹ đảm bảo
Là một cơ quan BHXH cấp Trung ương, BHXH Việt Nam có nhiệm vụhướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện chi các khoản trợ cấp ngắn hạn về BHXH chocác đối tượng tham gia một cách đầy đủ, nhanh chóng, theo đúng quy định của Phápluật Nội dung chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn bao gồm :
- Chi từ nguồn quỹ ốm đau và thai sản:
+ Nghỉ DS-PHSK sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật;
+ Khen thưởng cho NSDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòngngừa TNLĐ-BNN;
+ Lệ phí chi trả
2.2.3 Quy trình chi trả
Trang 19Để đảm bảo công tác chi trả trợ cấp các chế độ BHXH ngắn hạn cho đốitượng một cách đầy đủ, kịp thời, an toàn và chính xác, BHXH Việt Nam đã tổ chức
bộ máy chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn hoàn chỉnh từ Trung ương đến địaphương Theo đó, quá trình chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn cũng được phân cấp
rõ ràng và được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học và thống nhất trên
cả nước
Hiện nay, BHXH Việt Nam đang tiến hành chi trả các chế độ BHXH ngắnhạn theo quy trình phân cấp thực hiện chi trả, dựa trên Quy định ban hành kèm theoQuyết định số 845/QĐ-BHXH ngày 18/6/2007, cụ thể :
Quy trình chi trả trợ cấp ốm đau
Theo Quyết định số 845/QĐ-BHXH thì đơn vị giữ lại 2% tiền lương đóngBHXH để chi trả kịp thời cho NLĐ có đủ điều kiện hưởng và quyết toán mỗi quýlên cơ quan BHXH, cụ thể :
Trang 203 5
4a
8
4b 6
7 10
9 1
Sơ đồ 2.2 : Quy trình chi trả chế độ ốm đau
(Nguồn : Ban chi Bảo hiểm xã hội) Trong đó :
(1) : Nộp hồ sơ, chứng từ cho NSDLĐ
(2) : Chi trả cho NLĐ
(3) : Nộp hồ sơ, chứng từ (C66a) và file dữ liệu
(4a) : Xác nhận, duyệt chứng từ (C66a)
(4b) : Báo cáo thu BHXH bắt buộc theo chứng từ 103-TBH (cuối mỗi quý)(5) : Chuyển trả cho NSDLĐ kèm theo danh sách được duyệt (mẫu : C66b)(6) : Chuyển chứng từ( C66a,C66b) và báo cáo tổng hợp giải quyết chế độ ốmđau theo mẫu 01-HSB
(7) : Quyết toán theo mẫu C71-HD chuyển cho NSDLĐ
(8) : Quyết toán theo mẫu 7-CBH chuyển cho phòng thu
(9) : Theo dõi, thu số 2% còn thừa
Phòng thu(CB thu)
Trang 21Mỗi cán bộ chuyên trách, mỗi phòng ban đều thực hiện công việc theo quy định vớimột trình tự thống nhất, cụ thể :
Trách nghiệm của chủ sử dụng lao động :
- Căn cứ hồ sơ hưởng chế độ ốm đau của NLĐ, sử dụng nguồn kinh phí 2%quỹ tiền lương được giữ lại để chi trả kịp thời cho NLĐ có đủ điều kiện hưởng vàlưu giữ hồ sơ, chứng từ theo qui định
- Lập chứng từ theo mẫu số C66a kèm theo hồ sơ của từng NLĐ và file dữliệu gửi Phòng CĐCS tại cơ quan BHXH tỉnh hoặc cho cán bộ chính sách tại cơquan BHXH huyện, trong đó :
+ Mẫu số C66a -HD: Danh sách NLĐ đề nghị hưởng chế độ ốm đau, thai sản + Mẫu số C68a -HD: Danh sách NLĐ đề nghị hưởng trợ cấp DS-PHSK sau ốmđau
- Thông báo quyết toán chi các chế độ BHXH tại đơn vị sử dụng lao độngtheo mẫu số C71-HD cho phòng KHTC (tại BHXH tỉnh) hoặc cho CB kế toán(BHXH huyện) Trong trường hợp số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền được giữ lại,
số chênh lệch thừa nộp lại cho cơ quan BHXH vào tháng đầu quý sau Tường hợp
số tiền quyết toán lớn hơn số giữ lại, cấp bù số chênh lệch thiếu vào tháng đầu quýsau cho NSDLĐ
Trách nghiệm của phòng CĐCS (CB chính sách)
- Tiếp nhận hồ sơ hưởng chế độ ốm đau, thai sản, DS-PHSK và file dữ liệucủa NSDLĐ theo phân cấp chi trả; tổ chức xét duyệt và lập các danh sách đượcduyệt
- Sau khi xét duyệt, đóng dấu“ Đã duyệt chi” vào chứng từ gốc, chuyển trảcho NSDLĐ kèm theo danh sách được duyệt theo mẫu số C66b, trong đó :
+ Mẫu số C66b -HD: Danh sách NLĐ hưởng chế độ ốm đau, thai sản đượcduyệt
+ Mẫu số C68b: Danh sách NLĐ hưởng trợ cấp DS-PHSK sau ốm đau
Trang 22- Chuyển cho phòng KHTC (CB kế toán) chứng từ C66a -HD và C66b -HDcùng với báo cáo tổng hợp giải quyết chế độ ốm đau và trợ cấp DS-PHSK theo mẫu01-HSB
Trách nghiệm của phòng Thu BHXH (CB thu)
- Thường xuyên cập nhật kịp thời lên mạng nội bộ dữ liệu quá trình đóng của
NLĐ để làm cơ sở chi trả xét duyệt các chế độ BHXH
- Cuối quý cung cấp báo cáo thu các chế độ theo mẫu số 10-BTH cho phòngKHTC (hoặc CB kế toán) để lập biểu C71-HD
- Căn cứ vào tổng hợp quyết toán chi các chế độ BHXH tại đơn vị sử dụnglao động theo mẫu số 7-CBH từ phòng KHTC chuyển sang để theo dõi số tiềnNSDLĐ còn phải nộp cơ quan BHXH
Trách nghiệm của phòng KHTC (CB kế toán)
- Căn cứ vào chứng từ đã duyệt chi để ghi vào sổ chi tiết, tổng hợp chi tiếtchế độ ốm đau theo mẫu số S80a-BH Cuối mỗi quý, cùng với mẫu số 10-BTH lậpquyết toán chi các chế độ BHXH tại đơn vị sử dụng lao động theo mẫu C71-HDchuyển cho đơn vị sử dụng lao động 01 bản và chuyển cho phòng Thu 01 bản theomẫu 7-CBH
- Thực hiện cấp bù số chênh lệch thiếu (nếu có) vào tháng đầu quý sau choNSDLĐ có số tiền được quyết toán lớn hơn số tiền giữ lại
- Trường hợp NSDLĐ chủ động kinh phí để đảm bảo chi trả kịp thời chế độ
ốm đau cho NLĐ và đã chuyển toàn bộ số thu BHXH vào tài khoản của cơ quanBHXH thì thực hiện thanh toán theo chứng từ phát sinh, kịp thời chuyển tiền choNSDLĐ
- Thực hiện thu hồi số tiền đã chi trả sai, lập mẫu số C75-HD
Tuy nhiên, trên thực tế không phải đơn vị sử dụng lao động nào cũng giữ lại2% tổng quỹ lương đóng BHXH để thực hiện chi trả chế độ ốm đau mà phần lớncác doanh nghiệp đều nộp hết lên cơ quan BHXH để cơ quan BHXH chi trả choNLĐ Nguyên nhân là bởi vì:
Trang 23+ Do cán bộ phụ trách BHXH của đơn vị chưa nắm chắc nghiệp vụ nên gặpkhó khăn trong khâu thẩm định hồ sơ dẫn đến tình trạng chi sai, chi không đúng quyđịnh Trong trường hợp NSDLĐ do thẩm định sai đã chi lớn hơn so với số tiền màNLĐ được hưởng thì việc thu hồi là rất khó, người phụ trách BHXH của doanhnghiệp nếu không bổ sung, hoàn chỉnh được hồ sơ thì buộc phải bỏ tiền túi ra bồithường, tạo nên tâm lý ngán ngại.
+ Nhiều doanh nghiệp không đủ nhân lực để thanh toán cho NLĐ trong vòng
3 ngày như quy định của luật Thêm vào đó, các doanh nghiệp đến ngày 5 của thángđầu quý sau phải quyết toán tất cả hồ sơ BHXH của quý trước dẫn đến tình trạngkhông quyết toán kịp vì số lao động đông, dẫn đến chuyện quyết toán trễ và bị phạt,tính lãi trên số tiền giữ lại khiến doanh nghiệp rất bức xúc Bên cạnh đó, khoản 2%giữ lại theo quy định cũng không đủ thực hiện chi trả kịp thời nếu như đối tượngđược hưởng có phát sinh lớn
Qua đây ta cũng thấy nhiều doanh nghiệp không mặn mà chuyện giữ lại 2%kinh phí BHXH để chi trả cho NLĐ là vì không muốn thêm việc và ngại khó, nhất
là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vì ở một số doanh nghiệp, tình hình nhân sựthường không ổn định Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là chuyện các nhân viênphụ trách BHXH không thông thạo nghiệp vụ thẩm định hồ sơ, dẫn đến chuyện chisai và phải bồi thường Đó là chưa kể xuất hiện nạn hồ sơ bảo hiểm giả mà chỉ có cơquan bảo hiểm mới đủ khả năng phát hiện
2.2.4 Về tổ chức phương thức chi trả
Hiện nay, BHXH các tỉnh, thành phố, quận, huyện tổ chức chi trả các chế độ
ốm đau cho người được hưởng theo 3 phương thức chủ yếu sau: chi gián tiếp thôngqua BHXH huyện hoặc thông qua chủ sử dụng lao động; cán bộ BHXH trực tiếp chitrả (chi trực tiếp) và chi qua tài khoản cá nhân tại Ngân hàng
Phương thức chi trả trực tiếp
Thực hiện phương thức chi trả trực tiếp, BHXH tỉnh, huyện chi trả trợ cấpcho đối tượng hưởng BHXH mà không qua trung gian Phương thức chi trả trực tiếpđược biểu hiện qua sơ đồ sau:
Trang 24Cơ quan BHXH các cấp Thanh toán trực tiếp Đối tượng hưởng
Với việc chi trả trực tiếp thì theo đó BHXH các tỉnh, thành phố tiếp nhận hồ
sơ và giải quyết hưởng chế độ trợ cấp ốm đau sau đó chuyển hồ sơ đã nhận giảiquyết xuống BHXH huyện để chi trả trực tiếp cho NLĐ Quy trình giải quyết chế độhưởng được quy định tối đa trong một khoảng thời gian kể từ ngày nhận đủ hồ sơhợp lệ
Ở nước ta thì việc chi trả sẽ do cơ quan BHXH huyện trực tiếp thu đảm nhân,theo đó, cán bộ BHXH mang tiền đến từng đơn vị thanh toán cho từng NLĐ bị ốmđau, … theo như chế độ quy định Tuy nhiên,hiện nay phương thức này thường ít ápdụng bởi vì việc thực hiện phương thức chi trả trực tiếp sẽ tốn nhiều thời gian vànhân lực, hơn nữa lại không đảm bảo an toàn về tiền mặt
Phương thức chi trả gián tiếp
Chi trả gián tiếp là hình thức chi trả do cơ quan BHXH các cấp thực hiệnthông qua đại diện chi trả ở các xã, phương; đối với chế độ ốm đau, thai sản, dưỡngsức thông qua các chủ sử dụng lao động chi trả cho NLĐ
Chi trả chế độ ốm đau qua phương thức gián tiếp được biểu hiện qua sơ đồsau:
Cơ quan BHXH các cấp (1) Đơn vị sử dụng LĐ (2) Đối tượng hưởng
(1) Cơ quan BHXH (tỉnh, huyện) căn cứ vào hồ sơ hưởng chế độ mà chủ sửdụng lao động đưa lên để kiểm tra và xét duyệt sau đó căn cứ vào chứng từ đã duyệt
mà cơ quan BHXH ủy nhiệm chi cho đơn vị sử dụng lao động
(2) Chủ sử dụng lao động căn cứ số tiền từng NLĐ được hưởng thanh toáncho họ theo chế độ mà cơ quan BHXH đã xét duyệt
Chi qua tài khoản cá nhân tại Ngân hàng
Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế - xã hội hiệnnay, việc chi trả qua tài khoản tại Ngân hàng đã được áp dụng và đang dần đưa vào
để thay thế các phương thức truyền thống cũ Việc chi trả qua tài khoản cá nhân cóthể được áp dụng đối với chế độ TNLĐ-BNN với sự yêu cầu của đối tượng hưởng
Trang 25Phương thức này có rất nhiều ưu điểm như: đảm bảo an toàn về tiền mặt,hạn chế rủi to và giảm khâu trung gian trong việc giao nhân tiền mặt Mặt khác, việc
áp dụng phương thức này sẽ làm giảm chi phí dành cho công tác chi trả, dễ quản lýhơn và thuận tiện hơn Tuy nhiên, phương thức này mới được triển khai và đangdần đi vào hoàn thiện nên việc áp dụng phương thức này là chưa nhiều, nhất là đốivới địa phương còn nghèo nàn về khoa học kỹ thuật, công nghệ…
2.3 Đánh giá kết quả đạt được và hiệu quả thực hiện chế độ trợ cấp
2.3.1.1 Về quản lý đối tượng hưởng chế độ trợ cấp ốm đau
(1) Về việc quản lý đối tượng hưởng chế độ ốm đau đã có những bước cảitiến tích cực Các văn bản quy định điều kiện hưởng, mức hưởng các chế độ BHXHngày càng rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ khi hưởng các chế độ Do vậy,trong thời gian qua số lượng đối tượng hưởng các chế độ ốm đau, không ngừng tănglên, thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1:Tổng hợp số trường hợp giải quyết chi trả chế độ ốm đau (2011-2013)
Trang 26Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy số lượt người được chi trả trợ cấp ốmđau tăng lên rất nhanh trong các năm từ 2006 đến 2008 là do :
Thứ nhất, trong hai năm 2006-2007 các nguồn vốn từ nước ngoài được đổvào nước ta từ các năm trước bắt đầu phát huy hiệu quả, nhiều nhà máy xí nghiệpmới được thành lập và đi vào sản xuất nên đã góp phần làm tăng thêm số ngườitham gia BHXH nói chung và đối tượng hưởng trợ cấp ốm đau nói riêng
Thứ hai, có sự tăng lên nhanh chóng của đối tượng hưởng trợ cấp như thếnày là do nước ta trong các năm này đều bị hứng chịu nhiều thiên tai lớn, các dịchbệnh liên tục xuất hiện và diễn biến phức tạp đã gây ra hậu quả nghiêm trọng chonền kinh tế nước ta nói chung và cũng là những yếu tố gián tiếp gây nên những áplực chi trả cho cơ quan BHXH Trong các năm này hạn hán gay gắt ở miền Bắc vàmiền Trung, giữa và cuối năm bão, mưa đá, lốc xoáy, lũ quét đã tàn phá nhiều tỉnhmiền Trung Sau thời gian bị lũ lụt, hạn hán kéo dài thì các dịch bệnh gia súc như:dịch lợn tai xanh, dịch lở mồm long móng gia súc lan rộng, dịch cúm gia cầm bùngphát tại nhiều địa phương Trong khi đó công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thựcphẩm, kiểm dịch tại các địa phương lại chưa tốt, lỏng lẻo, điều này đã tạo cơ hộicho các tiểu thương phát tán gia xúc bị bệnh ra ngoài gây ảnh hưởng lớn vấn đề vệsinh an toàn thực phẩm trong các nhà máy, xí nghiệp nơi thường có nhu cầu lớn vềthực phẩm nhưng lại không được kiểm tra ngắt ngao, chặt chẽ Đã gây nên dịch tiêuchảy cấp, nhiễm khuẩn tả phát sinh và bùng phát tại các khu công nghiệp và nhàmáy đã khiến hàng trăm nghìn công nhân phải nhập viên do ngộ độc thực phẩm khi
ăn trưa trong các bếp ăn của nhà máy, xí nghiệp Ngoài ra việc thời tiết diễn biếnbất thường trong các năm này đã khiến cho nhiều trẻ em trong độ tuổi dưới 3 tuổirất dễ bị ốm, hoặc bị bệnh do sự thay đổi đột ngột của thời tiết gây ra, làm chonhững nguời lao động có con nhỏ bị ốm phải nghỉ việc để chăm sóc
Một yếu tố nhỏ nữa đó là việc làm giả hồ sơ để trục lợi BHXH đối với chế
độ này, nhất là trong năm 2008 khi nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng từ cuộc khủnghoảng kinh tế thế giới nên có thể sẽ có nhiều trường hợp trục lợi BHXH diễn ra vớichế độ trợ cấp ốm đau do đây là một chế độ dễ bị trục lợi nhất vì thiếu sự giám sát
Trang 27chặt chẽ của các cơ quản lý do doanh nghiệp được giữ lại 2% để tự chi trả nhằmđảm bảo tính kịp thời khi chi trả trợ cấp.
Trên đây là những nguyên nhân chính khiến cho số đối tượng hưởng trợ cấp
ốm đau tăng lên nhanh chóng như vậy trong gian đoạn 2006-2008 Đặc biệt là năm
2007 với tốc độ tăng lên tới gần 60% thì ngoài các nguyên nhân trên còn do một sốcác nguyên nhân khác: trong năm này nước ta đã có sự tăng trưởng nhanh chóng vàtốc độ tăng trưởng được đánh giá là cao nhất trong mười năm qua (8,5%) Vậy nêntrong thời gian này công nhân trong các nhà máy, đặc biệt là các nhà máy sản xuấthàng xuất khẩu luôn phải làm tăng ca, thêm giờ trong những áp lực lớn về thời giangiao hàng, chất lượng sản phẩm do người chủ sử dụng lao động yêu cầu Điều nàycũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của NLĐ làm việc trong các nhà máy,
xí nghiệp này do điều kiện lao động không được đảm bảo
Sang đến năm 2009 thì tốc độ tăng đã giảm đáng kể chỉ còn 3,8% Có đượcđiều này là do trong năm này công tác phòng chống dịch bệnh của nước ta đã đượcnâng cao và thực hiện rất tốt nên dã kĩm hãm được sự phát triển của các dịch bệnh.Nguời lao động đã có ý thức tốt hơn trong việc giữ gìn vệ sinh, sức khỏe của chínhmình Việc thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong các nhà máy xí nghiệp cũngđược thực hiện nghiêm ngặt hơn Và tình hình kinh tế nước ta đã bắt đầu thoát khỏicuộc khủng hoảng nên tình trạng làm giả hồ sơ để trục lợi BHXH đã giảm đáng kể
2.3.1.2 Về công tác thực hiện chi trả :
Bên cạnh sự tăng của đối tượng hưởng thì số tiền chi trả cũng không ngừngđược tăng lên Trong thời gian qua, thực tế tình hình chi trả BHXH như sau: