1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)

60 630 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 820,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là sinh viên học tập tại khoa Sử - Địa, trường đại học Tây Bắc, nên những tri thức phương pháp luận cũng như thực tế đã được tiếp thu qua khóa đào tạo đã thôi thúc tôi suy nghĩ và quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ NGÂN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC (1996 - 2005)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ NGÂN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC (1996 - 2005)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Hoàng Xuân Thành

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, đặc biệt

là thầy giáo Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn

thành khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn phòng giáo dục – đào tạo huyện Lập Thạch, cùng

các cấp, các ngành và tập thể lớp K51 Đại học sư phạm Lịch Sử đã tạo điều kiện

thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận

Trang 4

6 GDTX: Giáo dục thường xuyên

7 GD – ĐT: Giáo dục đào tạo

8 HĐND: Hội đồng nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của khóa luận 3

4 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của khóa luận 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC 5

1.1.Khái quát về huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 5

1.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5

1.1.2 Kinh tế - xã hội – văn hóa 8

1.1.3 Khái quát về khu vực hành chính Lập Thạch qua các thời kì 10

1.2 Khái quát về truyền thống hiếu học của nhân dân huyện Lập Thạch trước năm 1996 11

1.2.1 Giáo dục Lập Thạch trước năm 1954 11

1.2.2 Giáo dục huyện lập thạch từ năm 1954 đến trước năm 1996 14

CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN LẬP THẠCH 1996 - 2005 21

2.1 Đường lối chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông ở Lập Thạch 1996 – 2005 21

2.1.1.Tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng lần thứ IV 21

2.2 Tình hình giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch từ 1996 - 2001 25

2.2.1 Hệ thống giáo dục, mạng lưới trường lớp 25

2.2.1.1 Hệ thống giáo dục 25

2.2.1.2 Mạng lưới trường lớp 25

2.2.2 Đội ngũ giáo viên, số lượng học sinh, kết quả học tập 27

2.2.2.1 Đội ngũ giáo viên: 27

2.2.2.2 Số lượng học sinh các cấp, kết quả học tập 30

2.2.3 Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 31

Trang 6

2.2.4 Công tác quản lý giáo dục và nguyên lý “ Học kết hợp với hành” 34

2.2.4.1 Công tác quản lý giáo dục 34

2.2.4.2 Nguyên lý “Học kết hợp với hành” 35

2.3 Giai đoạn 2001 - 2005 35

2.3.1 Hệ thống giáo dục, mạng lưới trường lớp 35

2.3.1.1 Hệ thống giáo dục 35

2.3.1.2 Mạng lưới trường lớp 36

2.3.2 Đội ngũ giáo viên và số lượng học sinh 37

2.3.2.1 Đội ngũ giáo viên 37

2.3.2.2 Số lượng học sinh 38

2.3.3 Xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học 39

2.3.4 Công tác quản lý giáo dục và nguyên lý “Học kết hợp với hành” 40

2.3.4.1 Công tác quản lý giáo dục 40

2.3.4.2 Nguyên lý giáo dục “Học kết hợp với hành” 41

2.3.5 Kết quả học tập, chất lượng giáo dục 41

CHƯƠNG 3 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC 44

3.1 Những thành tựu 44

3.2 Một vài tồn tại, yếu kém 48

3.3 Một số kiến nghị góp phần phát triển giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch 50

KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục – đào tạo luôn là vấn đề chiến lược của bất kì quốc gia nào

Trong định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng đã nêu rõ: “thực sự coi giáo dục - đạo tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục – đào tạo cùng với KH – CN là nhân

tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu

tư cho sự phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục – đào tạo” (27, Tr19, 20) Đó là những định hướng hết sức đúng đắn đối với sự nghiệp giáo dục của đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Một dân tộc dốt

là một dân tộc yếu Do vậy việc quan tâm đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo đối với một quốc gia là hết sức cần thiết Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần dặn dò thế hệ trẻ Việt Nam: “Non song Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các cháu”

Đồng thời với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, là các chính sách phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước cũng luôn được đưa ra kịp thời, đặc biệt là trong các Nghị quyết của Trung ương Đảng Điều đó chứng tỏ sự quan tâm, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà nước ta Trình

độ dân trí của nước ta tuy có phát triển, nhất là mấy năm gần đây, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp chính vì vậy, bên cạnh sự phấn đấu nỗ lực của Đảng và Nhà nước đối với việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng có liên quan và đặc biệt phải được sự đồng tình ủng hộ của toàn dân

Trong thời Pháp thuộc, nền giáo dục nước ta là nền giáo dục “ngu dân” Bác Hồ đã từng viết: “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên

An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm…” (9, Tr389, 400) Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, một vấn đề nổi lên trước mắt cần

Trang 8

giải quyết là: diệt giặc dốt…Đây cũng là một thời kì vô cùng khó khăn với sự nghiệp giáo dục Nhưng dù khó khăn đến đâu, Đảng và nhà nước ta vẫn tìm mọi cách khắc phục để đưa sự nghiệp giáo dục – đào tạo không ngừng phát triển

Để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước toàn thể nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ phải không ngừng nỗ lực, phấn đấu vươn lên trong mọi mặt, trong đó có học tập Đây là nhiệm vụ số một, bởi lẽ chỉ có trí tuệ mới đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng “Muốn xây dựng XHCN, trước hết cần phải có con người XHCN”

Bản thân là sinh viên đang theo học chuyên ngành lịch sử và rất quan tâm đến sự phát triển giáo dục, đặc biệt trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Sinh ra và lớn lên trên quê hương Lập Thạch, nơi có truyền thống cách mạng và truyền thống hiếu học, nên bản thân đã có nguyện vọng được tìm hiểu

về truyền thống học tập của huyện nhà Là sinh viên học tập tại khoa Sử - Địa, trường đại học Tây Bắc, nên những tri thức phương pháp luận cũng như thực tế

đã được tiếp thu qua khóa đào tạo đã thôi thúc tôi suy nghĩ và quyết định chon vấn đề làm khóa luận tốt nghiệp là: “Bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (1996 - 2005)”

Trang 9

Ở Vĩnh Phúc, công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương rất được quan tâm, với nhiều công trình như: “Lịch sử Vĩnh Phúc”, Ty văn hóa và TDTT vĩnh Phú – 1980, “Danh nhân Vĩnh Phúc (Tập 1)”, Sở văn hóa thông tin TDTT Vĩnh Phúc – 1999, “Địa chí Vĩnh Phúc”, Sở văn hóa thông tin TDTT Vĩnh Phúc – 2000, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 1930 - 2005 ”, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia…

Lập Thạch cũng có một số công trình nghiên cứu như: “Lịch sử Đảng Bộ huyện Lập Thạch (1930 - 2010)”, Nhà xuất bản Vĩnh Phúc – 2013, “Lập Thạch trong kháng chiến chống Pháp”, Nhà xuất bản Vĩnh Phúc – 2000…

Nhưng cho tới nay, chưa có tác phẩm nào đề cập hoàn chỉnh về tình hình giáo dục huyện Lập Thạch Các tác phẩm trên cũng chỉ ít nhiều đề cập đến giáo dục huyện, nhưng đó chỉ là sơ lược Hơn nữa các báo cáo, tổng kết và định hướng cho sự phát triển giáo dục huyện cũng chỉ phản ánh một cách sơ sài, khái quát mà thôi Do vậy tôi đã quyết định tìm hiểu về tình hình giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch từ 1996 đến 2005

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của khóa luận

Khóa luận này không trình bày toàn bộ tình hình giáo dục huyện, mà chỉ tìm hiểu tình hình giáo dục phổ thông từ cấp tiểu học đến cấp THPT Trên cơ sở

đó, phác qua những thành tựu và hạn chế của giáo dục Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay

Khóa luận hoàn thành sẽ có những đóng góp sau:

Nghiên cứu một cách tương đối toàn diện tình hình giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch trong thời kì 1996 – 2005

Đánh giá những thành tựu, hạn chế cơ bản của giáo dục phổ thông huyện trong giai đoạn này

4 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho việc tìm hiểu đề tài này, tôi đã sưu tầm các tài liệu có liên

quan đến tình hình giáo dục huyện Lập Thạch; trong đó có các tài liệu Trung ương và địa phương ngoài ra còn có các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ giáo dục –

đào tạo và một số cuốn sách tham khảo

Trang 10

Các Nghị quyết, báo cáo tổng kết năm học, phương hướng năm học mới liên tiếp trong các năm từ 1990 – 2010, trong đó đặc biệt từ 1996 – 2005 Các bài viết của các cán bộ huyện, công nhân viên các ngành giáo dục huyện Lập Thạch

Các luận văn tốt nghiệp của các anh chị khóa trước, các ý kiến đóng góp của các cán bộ đã và đang làm việc trong ngành giáo dục huyện, các thầy cô giáo ở các cấp học…

Các công văn lưu trữ trong một số trường học

Các tài liệu lưu trữ ở thư viện, phòng thống kê

Những số liệu ghi được sau các chuyến đi thực tế

Khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, khái quát các tài liệu có liên quan, đồng thời sử dụng các phương pháp đối chiếu, so sánh…phương pháp điền dã, thu thập tư liệu ở địa phương

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát về huyện Lập Thạch và tình hình giáo dục phổ thông của huyện trước năm 1996

Chương 2: Giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch từ 1996 – 2005

Chương 3: những thành tựu và hạn chế của giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC

1.1.Khái quát về huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

1.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Lập Thạch là huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, nằm ở vị trí

từ 105°30′ đến 105°45′ kinh Đông và 21°10′ đến 21°30′ vĩ Bắc Giáp tỉnh Tuyên Quang ở phía Bắc, giáp huyện Tam Đảo và huyện Tam Dương ở phía Đông, giáp huyện Vĩnh Tường ở phía Nam và giáp tỉnh Phú Thọ ở phía Tây

Lập Thạch là vùng đất liền kề với kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương và tiếp giáp với đỉnh tam giác châu thổ Sông Hồng, một miền đất có vị trí chiến lược quan trọng, để lại nhiều di tích quý báu từ thời dựng nước và các thời kì đấu tranh giữ nước

Lập Thạch có cấu tạo địa tầng rất cổ Khu vực xung quanh núi Sáng và các

xã Quang Sơn, Hợp Lý, Bắc Bình, Liễn Sơn ở hữu ngạn sông Phó Đáy có diện tích hàng chục km² có tuổi đại nguyên sinh Như vậy, huyện Lập Thạch nằm trên một địa tầng rất vững vàng, rất cổ xưa, nơi trẻ nhất cũng cách ngày nay trên

200 triệu năm Từ địa tầng đó đã xuất hiện hai thành tạo magma xâm nhập đáng

kể là khối núi Sáng và các khối núi khác nằm hai bên bờ sông Phó Đáy

Địa bàn huyện có thể chia thành 3 tiểu vùng:

- Tiểu vùng miền núi bao gồm 9 xã, thị trấn (Quang Sơn, Ngọc Mỹ, Hợp Lý, Bắc Bình, Vân Trục, Xuân Hòa, Thái Hòa, Liễn Sơn, TT Hoa Sơn), với tổng diện tích tự nhiên là 93,73 km², chiếm 54,15% diện tích tự nhiên toàn huyện Địa hình tiểu vùng này thường bị chia cắt bởi độ dốc khá lớn (từ cấp II đến cấp IV), hướng dốc chính từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 200 - 300m Tiểu vùng này đất đai có độ phì khá, khả năng phát triển rừng còn khá lớn Điều kiện địa hình và đất đai thích hợp với các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp, và chăn nuôi gia súc

- Tiểu vùng trũng ven sông, bao gồm 3 xã (Sơn Đông, Triệu Đề, Đồng ích), với tổng diện tích tự nhiên 27,94 km², chiếm 16,14% diện tích tự nhiên toàn

Trang 12

huyện Tiểu vùng này đa phần là đất lúa 1 vụ, thường bị ngập úng vào mùa mưa, thích hợp cho việc vừa cấy lúa vừa nuôi trồng thủy sản

- Tiểu vùng giữa, bao gồm 8 xã thị trấn (TT Lập Thạch, Liên Hòa, Bàn Giản, Xuân Lôi, Tử Du, Tiên Lữ, Đình Chu, Văn Quán), với tổng diện tích tự nhiên 51,43 km², chiếm 29,71% diện tích tự nhiên toàn huyện Tiểu vùng này thường

có một số ít đồi thấp xen lẫn với đồng ruộng, độ dốc cấp II đến cấp III Tiểu vùng này đất trồng cây hàng năm (lúa, màu) chiếm chủ yếu do vậy đây là vùng chủ lực sản xuất lương thực cũng như rau màu hàng hóa để phục vụ nội huyện

và các địa phương lân cận

Địa hình Lập Thạch khá phức tạp, thấp dần từ Bắc xuống Nam, ruộng đất xen kẽ những dãy đồi thấp Độ cao phổ biến từ 11 – 30m là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối Địa hình bị chia cắt đa dạng, dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Lập Thạch thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 22°C, số giờ nắng trung bình trong năm là 1.450 đến 1.550 giờ, lượng mưa trung bình 1.500 - 1.800 mm / năm, độ ẩm trung bình khoảng 84% Khí hậu Lập Thạch được chia làm 4 mùa rõ rệt Mưa nhiều vào mùa khô gây úng lụt vùng trũng do nước từ các dãy núi lớn, như Tam Đảo, và từ sông Lô, sông Đáy trút vào đồng chiêm, nhiều khi tràn ngập ra cả đường liên huyện, liên xã gây ngập lụp một số cụm dân cư tại các xã Mùa đông khí hậu khô hanh thậm chí gây hạn hán tại nhiều vùng đồi, núi trên địa bàn huyện

Phía Nam và phía Đông huyện Lập Thạch có sông Phó Đáy ngăn cách huyện Vĩnh Tường và huyện Tam Dương với tổng lưu lượng khá lớn Ngoài ra, huyện còn có hệ thống các ao hồ phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn Tuy nhiên lượng nước chủ yếu tập trung vào mùa mưa, mùa khô chỉ chiếm 10% tổng lượng dòng chảy

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và qua điều tra ở một số xã cho thấy nguồn nước ngầm của huyện rất hạn chế, trữ lượng không lớn và sâu, hàm lượng ion canxi và ôxit sắt trong nước ngầm tương đối lớn do đó việc khai thác rất khó khăn

Trang 13

Nguồn nước của huyện được đánh giá là phong phú dồi dào, tuy nhiên phân

bố không đều trong năm Về mùa khô vẫn có thời điểm thiếu nước Để đảm bảo hài hoà nguồn nước cho phát triển kinh tế cần quan tâm xây dựng thêm những công trình điều tiết và có biện pháp khai thác nước ngầm bổ sung mới đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt

Trên địa bàn có các loại khoáng sản như than bùn, đồng, barit…

Theo khảo sát, đánh giá sơ bộ của các nhà địa chất thì trên địa bàn Lập Thạch có khá nhiều loại tài nguyên khoáng sản nhưng đa phần chưa có chương trình nào điều tra, thăm dò một cách kỹ lưỡng để đưa vào khai thác sử dụng một cách có hiệu quả

Theo số liệu thống kê đất đai đến năm 2009 đất lâm nghiệp có rừng toàn huyện là 3551,42 ha, chiếm 20,52% tổng diện tích tự nhiên

Trong những năm gần đây, được sự hỗ trợ của các chương trình, dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được người dân hưởng ứng tham gia nhiều đến việc trồng rừng, kết hợp với phát triển kinh tế vườn đồi, do đó thảm thực vật rừng ngày càng phát triển

Lập Thạch là vùng đất cổ kính nhất của tỉnh Vĩnh Phúc, là nơi sinh tụ của người Việt cổ Có tên từ thế kỷ XIII, là nơi sản sinh ra nhiều anh hùng và danh nhân văn hoá làm phong phú thêm cho lịch sử phát triển của huyện, của tỉnh Vĩnh Phúc qua các thời kỳ chống ngoại xâm và xây dựng đất nước Những dấu

ấn tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân bản địa qua trường kỳ lịch sử hiện nay đang được ngày càng tái hiện lại

Trên địa bàn huyện có trên 151 di tích lịch sử văn hóa ở khắp các xã, thị trấn, trong đó có 100 đỡnh chựa, 14 miếu, 24 đền, 06 nhà thờ họ, 07 các di tích khác như lăng mộ, điếm Có 48 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 12 di tích đó được xếp hạng cấp quốc gia và 31 di tích xếp hạng cấp tỉnh

Tuy nhiên, để khai thác, phát huy có hiệu quả các tiềm năng này cần phải đầu tư một cách thích đáng cho cơ sở hạ tầng mà trước tiên là đường giao thông, điện, nước, tôn tạo lại các công trình và quan trọng nhất là cần phải có biện pháp quảng bá thu hút khách du lịch trong nước cũng như quốc tế

Trang 14

Năm 2009, sau khi thay đổi về địa giới hành chính, huyện có diện tích tự nhiên là 173,1 km², trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 40,3%; đất lâm nghiệp chiếm 31,8%; đất chuyên dùng chiếm 10,3% và đất ở chiếm 2,2%

Kinh tế và cơ sở hạ tầng huyện Lập Thạch còn chưa phát triển nên trong tương lai, quỹ đất nông nghiệp sẽ tiếp tục biến động do các hoạt động đầu tư (mở mang đường xá, xây dựng các công trình công cộng, xây dựng công nghiệp )

1.1.2 Kinh tế - xã hội – văn hóa

Nền kinh tế huyện Lập Thạch đang từng bước phá thế độc canh, song tỷ trọng thu nhập chủ yếu vẫn từ kinh tế nông nghiệp Ngoài ra, các cây lương thực, cây nguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, mía vẫn được duy trì và phát triển Một số cây công nghiệp dài ngày đang dần được thu hẹp về diện tích để nhường chỗ cho các giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, hồng, xoài

Bên cạnh những nỗ lực tìm hướng đi trong việc phát triển tối ưu cây trồng trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện, các vùng chiêm trũng ven sông, các

hồ trong huyện đang được chú trọng phát triển chăn thả thủy sản, chủ yếu là cá Với phong trào cải tạo đồng chiêm trũng nuôi thả cá vụ, những năm gần đây Lập Thạch luôn duy trì ở mức ±1.200 ha mặt nước Ngoài gia súc, gia cầm là vật nuôi truyền thống, một số động vật nuôi mới đã được đưa vào sản xuất với quy

mô tương đối rộng như bò sữa, dê, ong mật Phát triển đa dạng sản phẩm hàng hóa và quy mô sản xuất, quy mô hộ gia đình và nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp nông thôn Khôi phục và đầu tư chiều sâu các ngành nghề truyền thống, ưu tiên phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, sơ chế, chế biến nông lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sửa chữa cơ khí, điện, điện tử là những mục tiêu

ưu tiên của chính quyền huyện

Những mặt hàng truyền thống về mây, tre đan ở Triệu Đề, các sản phẩm chế tác đá mỹ nghệ ở Hải Lựu sẽ là một trong những thế mạnh của huyện nếu có được thị trường ổn định và sự quan tâm đầu tư đúng mức

Trang 15

Lập Thạch là vùng đất cổ kính nhất của tỉnh Vĩnh Phúc Những di chỉ khảo

cổ như hang động trên núi Thét ở xã Hồng Phong (nay là Hải Lựu) với nhiều mảnh gốm cổ của người nguyên thủy thời đồ đá cũ Sơn Vi, niên đại trên 2 vạn năm, cho thấy sự có mặt của cộng đồng cư dân tại đây là rất sớm Những dấu ấn tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân bản địa qua trường kỳ lịch sử hiện nay còn xuất hiện với mật độ dày đặc trong huyện, như như lễ "bắt trạch trong chum", "leo cầu" tại làng Thạc Trục (nay thuộc thị trấn Xuân Hòa); "nghi lễ cầu đinh", "cầu tế nõ nường" tại xã Đức Bác; tục "đá cầu", "cướp phết" tại xã Bàn Giản biểu hiện tín ngưỡng phồn thực rõ rệt; lễ hội Chọi trâu Hải Lựu gắn với tích về vị anh hùng chống giặc ngoại xâm Lữ Gia; lễ hội xuống đồng của người Cao Lan cầu mưa thuận gió hòa và mùa màng tươi tốt v.v Bên cạnh những phong tục, lễ hội cổ sơ đó là những kiến trúc nổi tiếng như Tháp Bình Sơn, đình Sen Hồ, đền thờ Trần Nguyên Hãn

Toàn huyện Lập Thạch hiện có ít nhất 22 làng, thôn thờ tới 79 vị thần núi, thần sông với nhiều tín ngưỡng cổ thờ thần đá, thần cây, thần sông, thần núi v.v., một vài nơi còn tồn tại việc thờ cúng các vật tính giao, một loại hình tín ngưỡng cũng rất cổ Lập Thạch có trên 100 di tích lịch sử văn hóa ở khắp các

xã, thị trấn, trong đó có 25 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia

và cấp tỉnh, có mật độ dày nhất tỉnh Vĩnh Phúc

Mạng lưới giáo dục rộng khắp phân bố đều trên địa bàn huyện Lập Thạch, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện Hệ thống trường lớp phần lớn được đầu tư xây dựng kiên cố, cao tầng Ngoài ra với sự quan tâm đầu

tư thích đáng của tất cả các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện nên chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học ngày càng được nâng lên Các cơ sở khám chữa bệnh trong huyện được trang bị cơ sở vật chất tương đối đầy đủ Đội ngũ cán bộ y tế dần dần được nâng lên cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của đông đảo nhân dân trong huyện Các chính sách xã hội đối với người có công, người nghèo, vấn đề xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cũng được các cấp chính quyền của Lập Thạch quan tâm góp phần ổn định xã hội

Trang 16

Lập Thạch có 7 dân tộc: Kinh, Dao, Cao Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, mật độ dân số 554 người / km² Lực lượng lao động đông đảo ở huyện Lập Thạch chính là nguồn lực, tiềm năng kinh tế của huyện

1.1.3 Khái quát về khu vực hành chính Lập Thạch qua các thời kì

Theo những điều ghi chép trong chính sử và Đại Nam nhất thống chí, được Đào Duy Anh dẫn lại trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, tên huyện Lập Thạch xuất hiện từ đời nhà Trần (1225 - 1400) Trong giai đoạn này huyện mang tên Lập Thạch thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô Đến đời nhà

Lê, nhà Nguyễn, huyện Lập Thạch vẫn thuộc châu Tam Đới sau đổi tên là phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây

Tới năm Minh Mệnh thứ 2 (1821), phủ Tam Đới đổi tên là phủ Tam Đa và năm Minh Mệnh thứ ba (1822) thành lập tỉnh Vĩnh Yên Huyện Lập Thạch vẫn giữ nguyên tên cũ và địa lý hành chính cũ bất di bất dịch cho tới ngày nay Trong thời kỳ này địa dư huyện Lập Thạch khá rộng, đến đầu thế kỷ 20 (năm 1903) huyện có tới 11 tổng (Bạch Lưu, Đạo Kỷ, Đông Định, Đông Mật,

Hạ ích, Hoàng Chỉ, Nhân Mục, Sơn Bình, Thượng Đạt, Tử Du và Yên Xá) và bao gồm tới 81 làng Tới năm 1927, do sáp nhập một số làng với nhau và phân

bố lại một số tổng, huyện Lập Thạch còn 70 làng, vẫn giữ nguyên số lượng tổng tuy tổng Đông Định đổi tên thành tổng Đại Lượng và tổng Sơn Bình đổi thành tổng Bình Sơn

Sau Cách mạng Tháng Tám Quốc hội và Chính phủ Việt Nam xoá bỏ cấp phủ và tổng là hai cấp trung gian, mở rộng cấp xã, nhỏ hơn tổng nhưng lớn hơn làng xã trước kia, bao gồm một số thôn xóm cũ Nhiều tên xã mới ra đời và có

xã lấy tên các anh hùng dân tộc, các liệt sĩ cách mạng, các nhà hoạt động chống Pháp đặt tên xã mình (như xã Hải Lựu đổi là xã Hồng Phong, xã Xuân Hoà là xã Quang Trung) Một số xã là sự kết hợp 2 từ đầu hoặc 2 từ cuối, hoặc 1 từ đầu 1

từ cuối trong hai thôn hợp nhất (như xã Quang Yên là 2 thôn Quang Viễn và Yên Thiết hợp lại, Phường Khoan là Phương Ngạc + Khoan Bộ, Triệu Đề là Triệu Xá + Đại Đề) Cũng có xã thống nhất lấy một tên tiêu biểu nhất, chung cho cả các thôn trong xã mình, (xã Tứ Yên gồm 4 thôn: Yên Lập, Yên Lương,

Trang 17

Yên Tĩnh, Yên Xá, xã Đôn Nhân gồm 4 thôn: Đôn Hạ, Đôn Mục, Đôn Thượng, Đôn Nhân)

Trải qua một số lần điều chỉnh địa dư và tên gọi, đến năm 1968 (năm hợp nhất Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vinh Phú), huyện Lập Thạch còn 38 xã Trong suốt thời kỳ trực thuộc tỉnh Vĩnh Phú, huyện Lập Thạch có hai lần thay đổi địa lý hành chính: năm 1977 huyện Lập Thạch được hợp nhất với huyện Tam Dương thành một huyện lấy tên là Tam Đảo, huyện lỵ đóng tại phố Miễu (Hoa Lư), xã Liễn Sơn Năm 1978, huyện Tam Đảo lại được tách thành 2 huyện: Huyện Tam Dương hợp với huyện Bình Xuyên và lấy tên là Tam Đảo; còn huyện Lập Thạch giữa nguyên địa dư và địa danh cũ; huyện lỵ được chuyển về đóng tại Xuân Hòa

Từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, huyện Lập Thạch có 39 đơn vị hành chính cấp

cơ sở (38 xã và 1 thị trấn) Tới năm 2000 các khu dân cư thuộc các xã, thị trấn trong huyện được đổi thành các thôn, làng và khu phố Toàn huyện có 422 thôn, làng, khu phố, trong đó có 389 thôn, 27 làng và 6 khu phố Đến năm 2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc công nhận các thôn và tổ dân phố hiện có của tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó huyện Lập Thạch có 411 thôn thuộc 38 xã và 11 tổ dân phố thuộc thị trấn Lập Thạch Năm 2003 Chính phủ ra nghị định về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo, huyện Lập Thạch chuyển 3 xã Bồ Lý, Đạo Trù, Yên Dương về huyện Tam Đảo mới Sau khi điều chỉnh, từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 huyện Lập Thạch còn lại 32.30,17 ha diện tích tự nhiên và 207.326 nhân khẩu với 36 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 35 xã và 1 thị trấn), vẫn là huyện rộng nhất của tỉnh Vĩnh Phúc

1.2 Khái quát về truyền thống hiếu học của nhân dân huyện Lập Thạch trước năm 1996

1.2.1 Giáo dục Lập Thạch trước năm 1954

Lập Thạch là một huyện miền núi với 6 dân tộc anh em cùng chung sống từ

bao đời lại có truyền thống văn hóa, truyền thống hiếu học

Trong cuốn sách “Những nhân tố tác động đến truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc’’ Có nêu lên 3 nhân tố tác động đến truyền thống hiếu học ở Vĩnh

Trang 18

Phúc là: Nhân tố địa lý, nhân tố khuyến học của người dân Vĩnh Phúc, nhân tố trọng người có học qua thi cử bổ sung vào bộ máy nhà nước của các triều đại quân chủ Việt Nam Lập Thạch là một bộ phận của tỉnh Vĩnh Phúc có những đóng góp quan trọng vào truyền thống hiếu học của tỉnh nhà

Thời kì này huyện Lập Thạch có 23 vị khoa bảng trong đó có 4 vị danh nhân

tiêu biểu là Triệu Thái, Nguyễn Thiệu Trị, Triệu Nghị Phù và Lê Đĩnh Chi Công lao và sự nghiệp của họ đối với dân với nước thật là rực rỡ, hiếm có Họ

đã làm rạng rỡ quê hương, đất nước

Ở Lập Thạch có làng Gốm, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, được gọi là làng Quan Tử, bởi lẽ nơi đây đào tạo tới 13 vị tiến sĩ, do thầy giáo Đỗ Khắc Chung, hiệu Quý Minh trực tiếp giảng dạy Là làng khoa bảng được vinh danh

có tên trong danh sách 20 làng khoa bảng của cả nước

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mở ra một bước ngoặt mới trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm Tuy nhiên, chúng ta đã gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách Trong đó đặc biệt phải chống 3 thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm

Trong tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” Đảng, Chính Phủ, Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân tìm mọi cách từng bước vượt qua mọi khó khăn, thể hiện ý chí, quyết tâm chống giặc ngoại xâm, nối tiếp trang sử vẻ vang hào hùng của dân tộc ta

Đặc sắc thời kỳ này là khí thế cách mạng của toàn dân làm chủ nước nhà, làm chủ đời mình, khát khao say mê học tập Là thời kì vừa xây dựng, vừa đổi mới nền giáo dục: Từ chỗ bé nhỏ, nô lệ sang thời kì phát triển mới, xây dựng nền giáo dục Dân chủ mới

Hòa chung với không khí thi đua trong cả nước, sau khi Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, Tỉnh uỷ Vĩnh Yên đã quyết định lập Ban bình dân học vụ các cấp từ tỉnh xuống cơ sở để chuyên lo việc xoá nạn mù chữ trong nhân dân Ở Lập Thạch, địa bàn rộng, dân cư không tập trung, nên huyện chủ trương phát triển mạnh các lớp bình dân học vụ ở những xã thuộc vùng giữa, vùng ven sông Lô và những xã ở phía nam, đồng thời tích cực đào tạo cán bộ, giáo viên

ở những xã này để tăng cường cho phong trào ở vùng thượng huyện

Trang 19

Thực hiện chủ trương trên, chỉ trong một thời gian ngắn Ban bình dân học

vụ huyện Lập Thạch đã tuyển chọn, bồi dưỡng cấp tốc được hàng trăm giáo viên cung cấp cho các địa phương Riêng xã Văn Quán đào tạo được 28 giáo viên đảm nhiệm việc tổ chức và giảng dạy cho 33 lớp bình dân học vụ trong xã Các giáo viên ở xã Văn Quán còn tình nguyện đến các xã Đạo Trù, Bồ Lý, Yên Dương, để xây dựng phong trào xoá nạn mù chữ

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng ban bình dân học vụ ở các xã được nhân dân tận tình giúp đỡ, tổ chức thành công hàng trăm lớp học ở khắp các xóm thôn thu hút đông đảo quần chúng tham gia học tập Từ các cụ già đến các

em thiếu niên vừa tích cực đi học vừa vận động mọi người đi học, do vậy lớp

mở ra ở các đình làng trong nhà dân thiếu thốn phương tiện dạy và học, nhưng với lòng nhiệt tình và ý trí phấn đấu của thầy và trò, các lớp bình dân học vụ đạt kết quả tốt Đến cuối năm 1946, toàn huyện đã thanh toán mù chữ cho hàng ngàn người Trong phong trào chung của toàn huyện, xã Văn Quán đã trở thành

lá cờ đầu về xoá nạn mù chữ trong nhân dân Cuối năm 1948, trong dịp sơ kết phong trào bình dân học vụ do tỉnh tổ chức, Văn Quán đã được chọn làm địa điểm diễn ra hội nghị Tại hội nghị này Uỷ ban tỉnh đã biểu dương phong trào xã Văn Quán và tặng danh hiệu “Chiến sỹ diệt dốt” cho hai giáo viên

Phong trào xoá nạn mù chữ ở Lập Thạch đã đạt kết quả tốt, một mặt do các cấp, các ngành quan tâm đúng mức và chỉ đạo chặt chẽ, mặt khác do giới phụ lão cứu quốc đã đóng vai trò hết sức quan trọng Các cụ vừa hăng hái đi học vừa động viên con cháu và bà con tham gia, do đó đã tạo nên phong trào quần chúng sâu rộng ở khắp các làng, xã

Bên cạnh việc phát triển bình dân học vụ, Đảng bộ Lập Thạch chú trọng phát triển các lớp mẫu giáo hệ thống giáo dục phổ thông Đến tháng 9/1954 toàn huyện có 31 trường cấp 1, 3 trường cấp 2 (trong đó có 2 trường tư thục) với 168 lớp có 7.933 học sinh Đây là tiền đề để phát triển mạnh hệ thống giáo dục vào những năm hoà bình

Trang 20

1.2.2 Giáo dục huyện lập thạch từ năm 1954 đến trước năm 1996

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (5/1954) đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược nước ta (1945 - 1954) Theo tinh thần của Hiệp định Giơnevơ (7/1954), đất nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền Từ ngày 5 đến ngày 7/9/1954 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết “về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng” Nhiệm vụ trước mắt của Đảng ta là: “Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước

Bước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Lập Thạch có những thuận lợi căn bản Đó là hoà bình đã được lặp lại, nhân dân yên tâm, phấn khởi, bắt tay vào xây dựng quê hương sau 9 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ Song bên cạnh những thuận lợi căn bản ấy, Đảng bộ và nhân dân Lập Thạch còn đứng trước những khó khăn, phức tạp rất lớn cần phải giải quyết Đó là những mất mát hy sinh trong cuộc kháng chiến vừa qua đã để lại nỗi đau cho bao gia đình; tư tưởng muốn được “xả hơi”, hưởng thụ, ngại gian khổ xuất hiện ở một số cán bộ đảng viên Thực tế đó đã ảnh hưởng đến tình hình địa phươg

Năm học 1995 là năm có nhiều thay đổi lớn, năm học được thống nhất về nội dung chương trình giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do, chuyển từ hệ thống giáo dục 9 năm sang hệ thống giáo dục 10 năm Tháng 3/1956, chính phủ có đề án cải cách giáo dục lần thứ 2 với mục tiêu đề ra là: “Đào tạo thế

hệ trẻ phát triển về mọi mặt, trung thành với tổ quốc, có lao động, có tài, có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội” Nội dung giáo dục tập chung vào 4 mặt: “ Đức, trí, thể, mỹ” Theo tinh thần chỉ đạo của tỉnh, huyện từng bước xây dựng trường cấp I đến từng xã, ngoài ra lúc này huyện còn chủ trương xây dựng trường cấp II Hoàng Văn

Trang 21

Thụ ở xã Văn Quán Phong trào bình dân học vụ lôi cuốn 5.799 cán bộ xóm

và 10.109 người dân đi học

Bảng 1: Số liệu sự phát triển số lƣợng học sinh phổ thông từ 1960 –

Trang 22

Ngoài giáo dục phổ thông trong những năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, huyện Lập Thạch đón nhận trường sư phạm cấp I hệ 7+1 sơ tán về xã Tử Du, sư phạm cấp II hệ 7+3 sơ tán về xã Yên Thạch

Tổng kết phong trào giáo dục trong 4 năm chống chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mỹ (1965 - 1968), 20 trường phổ thông trong huyện đạt danh hiệu tiên tiến Trường cấp II Bắc Bình là lá cờ đầu trong phong trào giáo dục cấp II của tỉnh, toàn huyện có 8 tổ giáo viên đạt tiên tiến, 39 chiến sĩ thi đua, 5 tổ lao động XHCN

Năm 1974 các ngành học từ cấp I đến cấp III đều phát triển tốt Toàn huyện

có 976 lớp, với 37.126 học sinh, bằng 1/4 dân số của huyện so với năm 1973 tăng 17%, ngoài ra còn có 809 học sinh theo học chương trình cấp II bổ túc văn hóa Điển hình thời kì này là trường bổ túc văn hóa cấp II Thanh niên vừa học vừa làm xã Liễn Sơn

Tóm lại: giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch thời kì này, tuy đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, lạc hậu như cơ cấu giáo viên phức tạp, chạy theo phát triển số lượng, sau này rất khó chuẩn hóa, trình độ cán bộ quản lý còn hạn chế Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch

Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam Cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước của dân tộc ta toàn thắng, đất nước thống nhất, cách mạng Việt Nam bước sang thời kì mới, thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Trước khí thế hứng khởi của chiến thắng, nơi nơi trên khắp cả nước đều hăng hái thi đua xây dựng Tổ quốc trên mọi mặt Ngành giáo dục Lập Thạch cũng vậy

Bước vào thời kì 1976 - 1980 sự nghiệp giáo dục của huyện gặp không ít khó khăn, nhất là cơ sở vật chất cho dạy học từ thời chiến chuyển sang thời bình, các trườg học từ những nơi sơ tán trở về những nơi trước đây đã được xây dựng, song trường lớp bị hỏng nặng Công việc trước mắt là phải sửa chữa và làm mới các phòng học, phòng làm việc nhà ở cho giáo viên để ổn định việc dạy và học ở tất cả các trường học trong huyện Do đó, quy mô giáo dục có sự phát triển ngay

Trang 23

từ năm học 1975 - 1976 với ngành học phổ thông cả 3 cấp (cấp 1, cấp II, cấp III)

đã có 33.481 học sinh Chất lượng giáo dục trong thời kì này có khởi sắc, nhất là

từ khi học tập bài nói chuyện của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với ngành giáo dục khi đồng chí về thăm tỉnh Vĩnh Phú Các điển hình tiên tiến tiếp tục được phát huy đó là trường: Cấp I Đình Chu, cấp II Bắc Bình, cấp II Văn Quán, trường vừa học vừa làm Liễn Sơn

Tháng 1 / 1979 triển khai nghị quyết 14 của Bộ chính trị "Về cải cách giáo dục", sự nghiệp giáo dục của huyện có sự phát triển mới, số học sinh phổ thông

3 cấp từ 42.959 học sinh năm 1979 lên 43.615 học sinh năm 1980, về tỉ lệ học sinh tính trên tổng số dân cũng tăng từ 24,5% năm 1978 lên 25,6% năm 1980

Tỷ lệ học sinh lên lớp và thi đỗ tốt nghiệp hằng năm đạt từ 90% trở lên

Để phát triển sự nghiệp giáo dục trên cơ sở điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, nhất là để mở rộng mặt bằng nâng cao dân trí, từ năm học 1977 - 1978 huyện thành lập mới trường cấp III Sáng Sơn được xây dựng ở xã Đồng Quế để thu hút con em các xã phía Tây Bắc của huyện vào học, với cơ sở vật chất ban đầu 6 phòng học, 1 nhà điều hành, 1 nhà ở giáo viên bằng tranh tre nứa do nguồn vốn nhân dân và kinh phí hợp tác xã nông nghiệp đóng góp, ước tính 8 triệu đồng theo giá năm 1977 Nâng tổng số trường cấp III toàn huyện lên 3 trường là trường cấp III Ngô Gia Tự, trường cấp III liễn Sơn và trường cấp III Sáng Sơn

Hệ thống trường bổ túc văn hóa tiếp tục được phát triển, toàn huyện có 5 trường miền và 5 trường vừa học vừa làm, đến năm 1980 có 2.000 học viên học

bổ túc văn hóa, chủ yếu là đội ngũ cán bộ xã và đội ngũ kế cận Trong số đó tiêu biểu như trường vừa học vừa làm Liễn Sơn (1973 - 1980), có 3 năm đầu đạt danh hiệu lá cờ đầu của tỉnh, đã đào tạo được trên 800 học viên

Bước sang giai đoạn năm 1981 - 1986 sự nghiệp giáo dục tiếp tục giữ vững

và phát triển cả về quy mô và chất lượng Cơ sở vật chất trường học, được quan tâm xây dựng khang trang sạch đẹp Thực hiện lời dạy của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: "Trường ra trường, lớp ra lớp", năm 1985 toàn huyện đầu tư 1.739.000 triệu đồng, xây dựng mới 22 phòng học, đưa 76% phòng học được ngói hóa

Trang 24

bằng ngân sách xã và đóng góp xây dựng của nhân dân Thực hiện Nghị quyết

14 / TW để cải cách giáo dục, từ năm 1981 đến năm 1982 các trường cấp I sáp nhập với cấp II làm trường phổ thông cơ sở (từ lớp 1 đến lơp 9), do vậy toàn huyện còn 38 trường trung học cơ sở và 3 trường cấp III, với số lượng học sinh các cấp là 44.555 em

Ngày mùng 7/9/1981 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị 115 và Chỉ thị số 05 ngày 27/3/1982 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Vĩnh Phú quy định cán bộ cấp huyện phải có trình độ văn hóa hết cấp III Chấp hành chỉ thị trên, năm học

1981 - 1982 trường Dân chính huyện được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 trường: Bổ túc văn hóa huyện, vừa học vừa làm cấp II, III Liễn Sơn, Đồng Thịnh Sau 8 năm học liên tục từ năm 1981 - 1988, trường đã đào tạo 817 học viên là cán bộ huyện, cán bộ cơ sở có trình độ cấp III và bồi dưỡng hằng trăm giáo viên trình độ (7+1) có trình độ trung học hoàn chỉnh

Nhìn chung trong giai đoạn này giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch vẫn tiếp tục phát triển Tuy nhiên, do nền kinh tế xuất phát từ điểm thấp, lại gánh chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh; đặc biệt là những quan niệm cổ hủ, lạc hậu, chủ quan nóng vội của một số bộ phận cán bộ đương chức Dẫn đến tình trạnh trì trệ, khủng hoảng trầm trọng Giáo dục phổ thông cũng chưa thể vươn mình thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới giáo dục đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tiếp đến Đại hội VII và Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng khẳng định định hướng XHCN và chuyển dần đất nước sang thời kì CNH, HĐH Nghị quyết 4 của Trung ương khóa VII là văn kiện quan trọng đưa sự nghiệp giáo dục tiến lên theo công cuộc đổi mới đất nước

Sự nghiệp giáo dục, nổi bật là cơ sở vật chất, trườg học, chăm lo đời sống giáo viên, giữ vững và phát quy mô các cấp học, ngành học Riêng ngành học phổ thông, số học sinh năm 1989 - 1990 tăng 18%, số lớp tăng 13% so với năm học 1985 - 1986

Trang 25

Năm học 1986 - 1987, UBND tỉnh Vĩnh Phú ra quyết định thành lập trường THPT Trần Nguyên Hãn (đặt tại xã Triệu Đề) với 8 phòng học, 1 nhà điều hành,

1 nhà ở giáo viên tiêu chuẩn cấp 4; tổng kinh phí 60 triệu đồng do nhân dân và ngân sách của các xã đầu tư Như vậy, trên địa bàn huyện đến năm 1987 đã có 4 trường THPT là các trường: THPT Ngô Gia Tự, THPT Sáng Sơn, THPT Trần Nguyên Hãn, THPT Liễn Sơn

Trường dân chính huyện, ngoài việc thực hiện hoàn thành nhiệm vụ theo chỉ thị 115 của Ban Bí thư Trung ương Đảng để nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ cán bộ huyện và cơ sở, trường còn hình thành các lớp chuyên, lớp chọn

hệ phổ thông cấp II, tiền thân trường chuyên cấp II của huyện sau này Do những thành tích trong phong trào thi đua "dạy tốt, học tốt", trường được vinh

dự nhận cờ tặng đơn vị thi đua xuất sắc của Hội đồng Bộ trưởng Từ năm học

1988 - 1989, trường trở thành trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện để đáp ứng nhu cầu tiếp tục nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, con em nhân dân trong huyện

Tuy nhiên, do chuyển đổi cơ chế, HTX nông nghiệp từng bước thực hiện chống bao cấp, nên số học sinh đến trường giảm nhất là học sinh THCS, tỷ lệ học sinh bỏ học do hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc không thiết tha với học tập tăng (có năm tới 6%), chất lượng dạy và học có phần giảm sút, đây là một thách thức mới đối với ngành giáo dục và các cấp ủy đảng, chính quyền trong huyện sớm có biện pháp khắc phục để phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Tiểu kết: Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, ngành học giáo dục

phổ thông huyện Lập Thạch mặc dù vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, yếu kém Nhưng toàn ngành cũng có sự nỗ lực vươn lên phát triển không ngừng, luôn là huyện có thành tích tốt về giáo dục trong tỉnh trong đó có ngành học phổ thông Với sự cố gắng của toàn ngành, sự quan tâm lãnh đạo của các ngành, các cấp chắc chắn giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch sẽ còn phát triển ở giai đoạn sau Như vậy, trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, ngành giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch đã từng bước đi lên Từ trường tiểu học đầu tiên được thành lập đến các trường cấp II, cấp III, số lượng học sinh tăng lên không

Trang 26

ngừng, chất lượng dần được nâng cao Ngoài ra, các lớp BTVH – trường GDTX được thành lập đáp ứng nhu cầu học tập – bổ trợ kiến thức văn hóa cho các cán

bộ xã, dạy nghề cho con em trong toàn huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được giáo dục phổ thông huyện Lập Thạch còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém như: Tình trạng học sinh bỏ học nhiều, chất lượng giảng dạy, học tập còn thấp, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu

Đa số các trường tiểu học đều là nhà cấp 4, trang thiết bị thiếu thốn…

Trang 27

CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HUYỆN LẬP THẠCH 1996 - 2005

2.1 Đường lối chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông ở Lập Thạch 1996 – 2005 2.1.1.Tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng lần thứ IV

sau: Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ sẽ tiếp tục phát triển với những bước tiến nhảy vọt trong thế kỉ XXI, đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công nghiệp sang kỉ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tác động đến tất

cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Khoảng cách giữa các phát minh khoa học công nghệ và áp dụng vào thực tiễn ngày càng thu hẹp lại Kho tàng chi thức của nhân loại ngày càng đa dạng, phong phú và tăng theo cấp số nhân

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là một xu thế khách quan vừa là quá trình hợp tác để cùng phát triển, vừa là quá trình đấu tranh của các nước phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia Sự cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia sẽ ngày càng quyết liệt hơn đòi hỏi phải tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng Các phương tiện truyền thông mạng viễn thông, internet tạo thuận lợi cho giao lưu và hội nhập văn hóa, đồng thời cũng đang diễn ra cuộc đấu tranh để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự năng động của các nghành kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn Khoa học – công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế -

xã hội Giáo dục là nền tảng cơ bản của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ

Trang 28

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đang tiến hành đổi mới giáo dục Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng, nhà giáo thay vì chỉ chuyền đạt tri thức, truyển sang cung cấp cho người học phương pháp thu thập thông tin một cách hệ thống, có tư duy phân tích và tổng hợp

Do vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức vai trò và vị trí của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để

có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn góp phần đưa đất nước phát triển hơn

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng đề ra, nước ta đã giành

những thành tựu to lớn về mọi mặt Tuy còn một số hạn chế nhưng đất nước đã dần thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang có những chuyển biến

rõ rệt cả về thế và lực Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII

đã đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời Đại hội cũng khẳng định: Giáo dục có vai trò rất quan trọng trong chiến lược xây dựng con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…Để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương quyết định: Định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm

vụ đến năm 2000… Đến Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định trên cơ sở nắm vững 2 nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc: “Trong thời gian từ nay đến năm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có bước tuồn tự, vừa có bước nhảy vọt” (3, Tr 99)

Để đi tắt, đón đầu từ một đất nước kém phát triển thì vai trò của giáo dục, khoa học và công nghệ lại càng có tính quyết định Giáo dục phải đi trước một

Trang 29

bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Ở nước ta, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước tiến hành trong điều kiện tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN Sản xuất hàng hóa phát triển làm cho thị trường lao động được mở rộng, nhu cầu học tập tăng lên, mặt khác cũng làm thay đổi quan niệm về giá trị, ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề, động cơ học tập, các quan hệ nhà trường và ngoài xã hội…

Giáo dục nhờ xã hội để phát triển, đồng thời giáo dục cũng phải phục vụ đắc lực cho xã hội, kịp thời điều chỉnh cơ cấu, quy mô, nâng cao trình độ đào tạo đáp ứng các nhu cầu đa dạng của thực tiễn, tăng hiệu quả của giáo dục, nhạy bén và thích ứng nhanh với những biến động của nhu cầu nhân lực Giáo dục cần phải định hướng lại quan niệm về các giá trị, bồi dưỡng phẩm chất nhân cách với năng lực mới và đảm bảo công bằng về cơ hội học tập ở mọi cấp bậc học

Những diễn biến về tình hình quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ vừa đặt

ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục nước ta Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, tạo điều kiện tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế

để đổi mới và phát triển

Đảng, nhà nước và nhân dân ta ngày càng coi trọng giáo dục, quan tâm nhiều hơn, đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọi tầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, rèn luyện những phẩm chất, năng lực cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Giáo dục của nước ta không chỉ vượt qua những thách thức riêng của giáo dục Việt Nam mà cả những thách thức chung của giáo dục thế giới Một mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, phát triển mạnh mẽ để thu hẹp khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến cũng đang đổi mới và phát triển Mặt

Trang 30

khác, phải khắc phục mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô và nguồn nhân lực còn hạn chế

Tình hình trên đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước một bước đón đầu sự phát triển của xã hội Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, tinh thần hiếu học, năng lực tiếp thu, vận dụng tri thức và kĩ năng mới Cần phát huy những lợi thế đó vượt qua thách thức tranh thủ thời cơ xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại hướng tới một xã hội học tập, nhằm đáp ứng nhu cầu đạo tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn diện của con người Việt Nam trong thời đại mới

Trong thời gian này Vĩnh Phúc nói chung và Lập Thạch nói riêng cũng nằm

trong tình trạng khó khăn chung của đất nước, trình độ phát triển kinh tế xã hội còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao Vận dụng các Nghị quyết của Trung ương

và của tỉnh vào điều kiện cụ thể của địa phương, đại hội Đảng bộ huyện lần thứ

XV (10/1991) đề ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1991 - 1995) là “…phấn đấu ổn định và phát triển một bước tình hình kinh tế - xã hội Tạo điều kiện môi trường thúc đẩy kinh tế hộ phát triển toàn diện, mạnh mẽ Tăng nhanh tốc độ phát triển nông, lâm nghiệp để có khối lượng nông, lâm sản lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bước đầu có tích lũy trong hộ nông dân Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng gắn liền với xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, hạ thấp tỉ lệ phát triển dân số, tạo điều kiện cho người lao động để giải quyết việc làm…” (10,Tr13)

Thực tiễn trên đã đặt yêu cầu một cách khách quan là muốn thoát khỏi khó khăn thì Vĩnh Phúc nói chung và Lập Thạch nói riêng phải tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện, trong đó đặc biệt coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục

Để thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 2 và Nghị quyết Đại hội IX,

ngành giáo dục – đào tạo của huyện lập thạch đã có những kế hoạch cụ thể để phát triển giáo dục ở những giai đoạn tiếp theo Chủ trương phổ cập giáo dục THCS và tiến tới phổ cập giáo dục THPT, phát triển quy mô trường lớp, bồi dưỡng cán bộ giáo viên, tăng cường thanh tra giáo dục, xây dựng hệ thống

Ngày đăng: 28/10/2014, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Anh (tháng 9/1967), “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945”, Tạp chí NCLS số 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945
2. Trần văn Giáp (1941), “Lược khảo về khoa cử Việt Nam”, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo về khoa cử Việt Nam
Tác giả: Trần văn Giáp
Năm: 1941
3. Nguyễn Trọng Hoàng (tháng 3/1967), “Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam”, Tạp chí NCLS số 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam
4. Hồ Chí Minh (1972), “Bàn về công tác giáo dục”, NXB Sự thật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1972
5. Lê Kim Tuyên (2008) “Danh nhân khoa bảng và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc”, Sở văn hóa TDTT Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân khoa bảng và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc
14. “Lịch sử Vĩnh Phúc”, Ty văn hóa và thông tin Vĩnh Phúc 15. (2008) “Lịch sử xã Vân Trục”. NXB Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Vĩnh Phúc”, Ty văn hóa và thông tin Vĩnh Phúc 15. (2008) “Lịch sử xã Vân Trục
Nhà XB: NXB Vĩnh Phúc
16. “LSĐCSVN hệ cử nhân chính trị”, NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: LSĐCSVN hệ cử nhân chính trị
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
19. (2002) “Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài ”, NXB chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia Hà Nội
6. Báo cáo tổng kết các năm học: 1996 -1997, 1997 – 1998, 1998 – 1999, 1999 – 2000, 2001 – 2002, 2002 – 2003, 2003 – 2004, 2004 – 2005 của phòng giáo dục huyện Lập Thạch và sở giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc Khác
7. Các báo cáo tổng kết năm học từ 1996 đến 2005 của các trường THPT Sáng Sơn, THPT Ngô Gia Tự, THPT Liễn Sơn, THPT Trần Nguyên Hãn, THPT Triệu Thái Khác
9. Các Nghị quyết ĐH Đảng bộ huyện Lập thạch lần thứ XVI, XVII, XVIIvề đổi mới và phát triển giáo dục Khác
10. Các Nghị quyết Trung ương Đảng 1996 – 1999 ĐCSVN, NXB CTQG HN Khác
12. Giáo trình LSĐCSVN dùng cho các trường ĐH – CĐ, NXB chính trị quốc gia Khác
13. (1980) Lịch sử Đảng bộ huyện Lập Thạch (1930 - 2010)”, BCH Đảng bộ huyện Lập Thạch Khác
17. Nghị quyết số 04 / NQTW về phát triển giáo dục đào tạo thời kì 2004 – 2005, tỉnh ủy Vĩnh Phúc Khác
18. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, NXB GD Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Số  liệu  sự  phát  triển  số  lƣợng  học  sinh  phổ  thông  từ  1960  – - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
ng 1: Số liệu sự phát triển số lƣợng học sinh phổ thông từ 1960 – (Trang 21)
Bảng 3: Giáo viên giỏi các cấp năm học 1997 - 1998 - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
Bảng 3 Giáo viên giỏi các cấp năm học 1997 - 1998 (Trang 35)
Bảng 5: Tổng số học sinh các cấp từ cấp I đến cấp III từ năm 1997 - 2000 - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
Bảng 5 Tổng số học sinh các cấp từ cấp I đến cấp III từ năm 1997 - 2000 (Trang 36)
Bảng 7: hệ thống mạng lưới trường lớp giáo dục phổ thông huyện Lập - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
Bảng 7 hệ thống mạng lưới trường lớp giáo dục phổ thông huyện Lập (Trang 42)
Bảng 9: Số lƣợng học sinh cấp I và cấp II. - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
Bảng 9 Số lƣợng học sinh cấp I và cấp II (Trang 44)
Bảng 10: Kết quả xếp loại giáo dục văn hóa ở bậc THPT - bước đầu tìm hiểu giáo dục phổ thông huyện lập thạch, tỉnh vĩnh phúc (1996 - 2005)
Bảng 10 Kết quả xếp loại giáo dục văn hóa ở bậc THPT (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w