Để góp phần hơn nữa chất lượng dạy học ở trường THPT, và việc học tập của sinh viên khoa lịch sử ở trường Đại học sư phạm trong việc rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùn
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 2
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1.1 Nghiên cứu lý luận 5
5.1.2 Nghiên cứu thực tiễn 5
5.2 Nhiệm vụ 5
6 Ý nghĩa của đề tài 5
7 Giả thuyết khoa học của đề tài 6
8 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 7
1.1 Quan niệm về sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 7
1.2 Quan niệm về phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử 8
1.3 Vị trí, vai trò của việc sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử 12
1.4 Cơ sở thực tiễn 15
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT 15
Trang 21.4.2 Thực tế của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học
lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 17
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI, LỚP 10 THPT 19
2.1 Mục tiêu, nội dung chương trình lịch sử thế giới, lớp 10 THPT 19
2.1.1 Mục tiêu 19
2.1.2 Nội dung 20
2.2 Cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử 20
2.2.1 Những yêu cầu khi sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử 21
2.2.2 Cách thức xây dựng sơ đồ 24
2.2.3 Cách xây dựng biểu đồ 28
2.2.4 Cách xây dựng đồ thị 31
2.3 Các biện pháp sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị khi dạy học bài nội khóa 33
2.3.1 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong việc kiểm tra bài cũ 33
2.3.2 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong việc chuẩn bị cho học sinh nghiên cứu kiến thức mới 36
2.3.3 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong quá trình nghiên cứu kiến thức mới 39 2.3.4 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong ôn tập, sơ kết, tổng kết 44
2.3.5 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong kiểm tra, đánh giá 46
2.4 Thực nghiệm sư phạm 50
2.4.1 Mục đích thực nghiệm 50
2.4.2 Đối tượng thực nghiệm 50
2.4.3 Phương pháp tiến hành 50
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Phụ lục I 56
Phụ lục II 70
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước đang cần có nguồn nhân lực năng động, sáng tạo, có khả năng hành động trên cơ sở nền học vấn vững chắc Đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng phát huy tính tích cực của học sinh phổ thông là một trong phương hướng cải cách, nhằm đào tạo nguồn nhân lực con người đáp ứng các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước
Mặc dù có nhiều cố gắng và đạt được nhiều thành tích trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nhưng trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Sở dĩ có tình trạng như vậy, là do nhiều học
sinh, phụ huynh và thậm chí không ít giáo viên cho rằng lịch sử là “môn phụ”
Thêm vào đó, thời lượng lên lớp dành cho môn sử là không nhiều, mà khối lượng kiến thức có trong chương trình lại rất lớn, điều này cũng gây tâm lý, gây
áp lực nặng nề cho học sinh trong quá trình học tập Chính vì vậy, chất lượng dạy và học môn lịch sử không được cao Có thể nói, ngoài vấn đề nhận thức sai lầm từ phía học sinh, gia đình và xã hội cũng phải kể tới yếu tố từ phía giáo viên Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, khiến giáo viên chưa tích
cực cải tiến, đổi mới PPDH mà vẫn mang nặng lối dạy theo kiểu “ Thầy đọc, trò chép”, “Dạy chay”, không hiệu quả Bởi vậy, vấn đề đổi mới PPDH theo hướng tích cực, “lấy người học làm trung tâm” đã và đang được đặt ra, và cần triển khai một cách triệt để, có hiệu quả Coi đây là “cuộc cách mạng” trong nhận
thức về công tác dạy học hiện nay
Để đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng như mục tiêu giáo dục bộ môn hiện nay, việc dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng cần phải đổi mới, nâng cao hơn nữa về cả nội dung cũng như phương pháp dạy học Trong đó, cần phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, biến các em trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, không bị gò bó, thụ động Điều này, sẽ giúp học sinh tìm thấy động lực khát khao trong việc lĩnh hội tri thức mới, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết Tránh áp đặt kiến thức cho học sinh, điều này ảnh hưởng rất xấu đến quá trình nhận thức của các em Như cố thủ tướng Phạm
Trang 4Văn Đồng từng căn dặn giáo viên: “Dạy sử cũng như dạy bất cứ môn học nào, đòi hỏi giáo viên phải khơi gợi trí thông minh Làm sao ngay ở nhà trường ta phải bắt buộc học sinh dùng trí thông minh, trí khôn, sự suy nghĩ để hiểu biết rộng ra
và nhờ đó đến lúc vào đời mới phát huy được tài năng”[12, tr.29]
Như chúng ta đã biết, lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những sự kiện, những hiện tượng đã xảy ra, mang tính quá khứ Đây là điểm khác biệt giữa kiến thức lịch sử với những kiến thức của khoa học khác Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được quá khứ lịch sử và phần lớn nhận thức được chúng thông qua các đồ dùng trực quan Vì lẽ đó đồ dùng trực quan như sơ đồ, biểu đồ,
đồ thị có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học lịch sử Biểu đồ, sơ đồ, đồ thị thực
sự là “cầu nối sinh động” giữa hiện tại với quá khứ và được coi là “nguyên tắc vàng” trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng
Để góp phần hơn nữa chất lượng dạy học ở trường THPT, và việc học tập của sinh viên khoa lịch sử ở trường Đại học sư phạm trong việc rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước với việc phát huy
tính tích cực của học sinh, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng sơ
đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới (Lịch sử 10 - THPT - Cơ bản)”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông Đồ dùng trực quan giúp cho học sinh hiểu một cách sâu sắc sự kiện, hiện tượng lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh; đồng thời, cũng khiến cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo cho các em sự hứng thú và yêu thích môn Lịch sử hơn Bởi vậy, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS nhằm phát huy tính tích cực của học sinh được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, giáo dục trong và ngoài nước đề cập tới Xin dẫn ra dưới đây một số công trình nghiên cứu mà tôi đã tiếp cận được
2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 5trung nghiên cứu quá trình chuẩn bị và các bước tiến hành bài học lịch sử ở
trường phổ thông Trong đó, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh việc cần tiến hành sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử
I.F.Khalamốp với tác phẩm “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận, trên cơ sở đó ông đã
đưa ra những biện pháp, kinh nghiệm cụ thể về việc phát huy tính tích cực học tập khi trình bày bài mới, củng cố kiến thức, ôn tập kiến thức cũ, hay tổ chức
công tác tự học cho học sinh Trong đó, ông đã khẳng định: Việc sử dụng đồ dùng trực quan có hiệu quả lớn trong dạy học
K.Đ.Usinxki trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề”, đã đi sâu nghiên cứu và đề
xuất phương pháp dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh Qua đó, ông đã nêu lên tác dụng to lớn của việc sử dụng đồ dùng trực
quan trong dạy học: chính nhờ trực quan mà hình ảnh thu được gắn chặt trong trí nhớ học sinh
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” của Hội
giáo dục Lịch sử Việt Nam, khẳng định rằng muốn nâng cao chất lượng dạy học thì trước hết phải tiến hành đổi mới mục tiêu giáo dục, chương trình, nội dung
giáo dục trong đó hướng vào đổi mới PPDH từ việc “Coi thầy là trung tâm” sang việc “Lấy người học làm trung tâm” mà thực chất là phát huy tính tích cực
Nguyễn Thị Côi – Trịnh Đình Tùng với cuốn “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ
sư phạm môn lịch sử”, đã trình bày một cách chi tiết, có hệ thống về những kỹ
năng sư phạm cần thiết trong dạy học lịch sử Trong đó, khẳng định kỹ năng sử dụng đồ dùng trực quan được coi là yếu tố quan trọng trong dạy học lịch sử
Trang 6GS Phan Ngọc Liên (Chủ biên) trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử”
(tập 2) đã trình bày khái quát những vấn đề cơ bản về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ học lịch sử
Nguyễn Thị Côi với cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả
dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” đã đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Xét thấy, các công trình nghiên cứu trên thực sự là những tài liệu vô cùng quý giá cho tôi tham khảo để hoàn thành công trình nghiên cứu này
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới ( Lịch sử
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trước hết là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông Bởi vì, trong quá trình chuẩn bị bài giảng và lên lớp, yêu cầu người giáo viên không chỉ biết xác định cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị mà còn phải có phương pháp sử dụng phù hợp sáng tạo để phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Nghiên cứu đề tài này, là cơ sở giúp bản thân tác giả đề tài tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm cho bản thân trong việc nghiên cứu khoa học đồng thời, cũng mong góp một phần nhỏ sáng kiến của mình làm phong phú hơn phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
5.1 Phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu lý luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học Mácxit, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng có liên quan kết hợp với phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic trong nghiên cứu các tài liệu phục vụ cho đề tài
Từ đó, tập trung nghiên cứu các nguồn tài liệu: Tâm lý – Giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử, các tài liệu lịch sử có liên quan, SGK lịch sử 10 (cơ bản), thiết kế bài giảng ở trường THPT, và nhiều tài liệu tham khảo khác
5.1.2 Nghiên cứu thực tiễn
Tiến hành điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT (qua sổ điểm, trao đổi, dự giờ của giáo viên, điều tra qua phiếu )
- Với học sinh: tiến hành điều tra qua sổ điểm, tìm hiểu hứng thú học tập,
và suy nghĩ của các em về môn sử học sinh (kiểm tra, trắc nghiệm, phỏng vấn trực tiếp )
- Với giáo viên: tìm hiểu tình hình giảng dạy môn sử ở trường THPT Quan
niệm của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nhằm pháp huy tính tích cực của học sinh thông qua trao đổi trực tiếp, dự giờ
6 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao lý luận dạy học
bộ môn Lịch sử, rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới (Lịch sử
10 - THPT – Chương trình chuẩn)
Trang 8* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định tầm quan
trọng và ý nghĩa việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT Đề tài nghiên cứu sẽ giúp bản thân người nghiên cứu nâng cao lý luận dạy học bộ môn, rèn luyện kỹ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị Đồng thời, thông qua các biện pháp sư phạm được đề xuất cũng nhằm phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu của sinh viên khoa sử ở trường ĐHSP, và bước đầu vận dụng vào
dạy học lịch sử ở trường phổ thông
7 Giả thuyết khoa học của đề tài
Trong quá trình dạy học, không có một phương pháp dạy học nào là vạn năng Vì vậy, ta phải biết phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt và sáng tạo hệ thống các phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của bài học Trong đó, cần chú trọng phương pháp xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
Đề tài thành công, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn, đáp ứng những đòi hỏi của mục tiêu giáo dục hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ,
ĐỒ THỊ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Quan niệm về sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Như chúng ta đã biết những sự kiện và hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những sự kiện, hiện tượng đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Đây
là điều khác biệt giữa kiến thức lịch sử với những kiến thức của khoa học khác Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được quá khứ lịch sử mà chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu lưu lại, hoặc giả dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân
tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử chúng ta đang được nghiên cứu
Trong học tập lịch sử, học sinh không thể quan sát trực tiếp “trực quan sinh động đối tượng nghiên cứu như trong khoa học tự nhiên Vì vậy, học tập lịch sử không thể tiến hành các thí nghiệm để dựng lại hiện thực quá khứ khách quan Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp vì con người là một bộ phận không thể tách rời được các đối tượng nghiên cứu – xã hội loài người Chương trình lịch
sử cấu tạo các sự kiện từ quá khứ đến hiện tại mà nhận thức phù hợp với trình độ học sinh lại từ gần đến xa Học sinh dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử
Do những đặc điểm như vậy, quá trình học tập lịch sử bắt đầu từ việc nắm vững
sự kiện hình thành những biểu tượng lịch sử chân thật sinh động Điều này quy định dạy học lịch sử phải sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và đồ dùng trực
quan quy ước nói riêng
Đồ dùng trực quan quy ước gồm các loại như bản đồ lịch sử, sơ đồ ,biểu
đồ, đồ thị… loại đồ dùng trực quan này tạo cho học sinh những hình ảnh tượng trưng khi phản ánh những mặt chất lượng và số lượng của quá trình lịch sử, đặc trưng khuynh hướng phát triển của các hiện tượng kinh tế, chính trị - xã hội của đời sống Nó không chỉ là phương tiện để cụ thể hóa sự kiện lịch sử mà còn là
cơ sở cho việc hình thành kiến thức cho học sinh
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông giáo viên thường sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước sau:
Trang 10Sơ đồ là loại đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử, được sử dụng
để cụ thể hóa sự kiện bằng những hình học đơn giản, nhằm diễn tả một tổ chức hay cơ cấu xã hội, một chế độ chính trị, hay mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử giúp học sinh nhớ lâu, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử
Biểu đồ lịch sử là một loại đồ dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch
sử nhằm diễn tả, so sánh sự thay đổi trong cơ cấu hay mặt cấu tạo của một hiện tượng lịch sử
Đồ thị là một loại đồ dùng trực quan quy ước, nhằm diễn tả sự phát triển, vận động của một sự kiện lịch sử, khắc họa vào trí óc học sinh những số liệu cần phải ghi nhớ để hiểu được sự phát triển, vận động của sự kiện ấy
1.2 Quan niệm về phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
Trong công cuộc đổi mới giáo dục – đào tạo hiện nay, đổi mới PPDH là một yêu cầu được đặt ra thường xuyên, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng Bởi vì, theo mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước thì con người được đào tạo ra phải
là người lao động làm chủ, có trình độ văn hóa cơ bản, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thông minh, sáng tạo, có phẩm chất đạo đức, có lý tưởng cách mạng họ phải được rèn luyện trong quá trình đào tạo, và tự đào tạo
Trong suốt một thời gian dài trước đây, việc dạy học ở trường THPT luôn
nhấn mạnh vai trò của người giáo viên, coi “giáo viên là trung tâm” của quá
trình dạy học Việc dạy học lấy giáo viên làm trung tâm là nhấn mạnh vai trò chủ thể, độc quyền trong việc cung cấp kiến thức và đánh giá học sinh của giáo viên còn học sinh, chỉ thụ động ghi chép, học thuộc lòng và lặp lại những gì đã nghe giảng, hoặc đọc trong SGK Điều này, dẫn tới phương pháp độc giảng,
nhồi nhét kiến thức, khiến học sinh trở thành “con rối” của quá trình nhận thức, hạn chế sự phát triển trí thông minh, óc sáng tạo trong học tập Đây là “Cách dạy học lấy động lực từ bên ngoài (Giáo viên) để phát triển học sinh, lấy giáo viên làm trung tâm, đã tồn tại từ rất lâu đời, hạn chế sự phát triển của bản thân người học” [19, tr.19] Thực trạng trên nếu còn tiếp tục kéo dài, sẽ gây ảnh
Trang 11cấp thiết đặt ra là cần phải thay đổi tình trạng nêu trên Nghị quyết Trung ương
Đảng lần 2, khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các biện pháp tiên tiến và PPDH vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là thanh niên” [1, tr.49]
Với định hướng trên, việc đổi mới PPDH nói chung, dạy học lịch sử nói riêng
ở trường phổ thông, đòi hỏi chúng ta chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình “lấy học sinh làm trung tâm” Thực chất của việc dạy
học lấy học sinh làm trung tâm chính là phát huy tính tích cực của học sinh
Tích cực là chủ động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ được giao Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá, cải biến môi trường để phục vụ cho
cuộc sống của mình Theo Thái Duy Tuyên thì “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [21, tr.269] Tính tích cực của học sinh có hai mặt tự giác và tự
phát Mặt tự giác biểu hiện ở sự tò mò, hiếu động, sôi nổi trong hoạt động vốn
có của các em Mặt tự giác của tính tích cực thể hiện ở óc quan sát, sự phê phán, nhận xét trong tư duy, tò mò khoa học Đây chính là trạng thái tâm lý tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, có hoạt động cụ thể để chiếm lĩnh đối tượng đó Phát huy tính tích cực học tập của học sinh tức là làm cho các em trở thành
chủ thể của quá trình nhận thức, là “trung tâm” của quá trình dạy học, chủ động,
hăng hái trong việc tự chiếm lĩnh tri thức, dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của giáo viên Như vậy, vai trò của người thầy không những không bị gạt bỏ, mà ngược lại đòi hỏi người thầy phải giỏi về chuyên môn, vững về phương pháp
Việc học tập của học sinh là quá trình nhận thức đặc thù với tính gián tiếp, tính lãnh đạo và tính giáo dục Như vậy, tính tích cực học tập chính là tính tích cực của nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh thể hiện trong khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và có nghị lực cao
Trang 12trong quá trình lĩnh hội tri thức Hoạt động nhận thức tích cực có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy học, giáo dục và phát triển toàn diện học sinh Trước hết, tính tích cực trong nhận thức giúp các em lĩnh hội và khắc sâu kiến thức đồng thời, còn là phương tiện tốt để hình thành tri thức, gợi dậy những cảm xúc lịch sử, kích thích hứng thú học tập, tạo cơ sở để giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh Ngoài ra, tính tích cực trong nhận thức còn là phương thức tốt góp phần phát triển các năng lực nhận thức, năng lực thực hành, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh tạo hứng thú học tập và rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đòi hỏi bản thân giáo viên phải vững về trình độ chuyên môn, giỏi về năng lực sư phạm, vận dụng sáng tạo và linh hoạt các phương pháp dạy học trong quá trình giảng dạy Theo đó, giáo viên phải thường xuyên trau dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ không ngừng tiếp thu những thành tựu khoa học mới Mặt khác, phải thay đổi nhận thức về học sinh, coi các em thực sự là chủ thể của hoạt động học, khơi gợi khả năng tư duy, sáng tạo, ham học hỏi của các em trong quá trình lĩnh hội tri thức Trên cơ sở đó, tạo được sự lôi cuốn, hứng thú của học sinh trong giờ học lịch sử, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn
Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh thể hiện ở quan niệm coi học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức Có nghĩa là, dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh được phát huy cao độ khả năng lĩnh hội, tự khám phá kiến thức, tự các em thông qua các hoạt động của mình mà hình thành nhân cách, phát triển trí thông minh, sáng tạo theo mục tiêu và nhiệm
vụ của bộ môn đề ra
Thực hiện nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh tức là trong quá
trình học tập phải giúp các em thấm nhuần quan điểm “dựa vào sức mình là chính”, tăng cường hoạt động tư duy, hướng tới sự độc lập trong quá trình nhận
thức Học sinh tự phát hiện ra vấn đề, tự giải quyết vấn đề trong quá trình tìm kiếm cái mới chưa biết, lĩnh hội tri thức một cách sáng tạo, và vận dụng chúng
Trang 13Để đạt được mục tiêu giáo dục bộ môn, đòi hỏi phải phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phó mặc
để học sinh tùy tiện, tự chiếm lĩnh nguồn tri thức rộng lớn, mà cần có sự hướng dẫn, tổ chức và điều khiển của giáo viên Ở đó, có mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh chan hòa, thân ái, hợp tác thông hiểu lẫn nhau làm giảm dần mối quan hệ điều khiển, chỉ huy và bị điều khiển, bị chỉ huy một chiều
Muốn thực hiện có hiệu quả việc phát huy tính tích cực của học sinh, yêu cầu phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
Một là, tránh dạy học theo lối “Thầy đọc, trò ghi” mang tính giáo điều,
“nhồi sọ”, biến giáo viên thành người thuyết trình, giảng giải và học sinh thụ
động tiếp nhận những điều đã được ghi, được nghe, không tích cực suy nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề Hậu quả của việc làm này là khiến học sinh dễ rơi
vào tình trạng “học vẹt”, chỉ nắm máy móc sự kiện, mà không hề đi vào tìm hiểu
bản chất của sự kiện, không thể hiểu và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn
cuộc sống Nhà giáo dục Đức Đixteve đã nói: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lý, người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý” Nghĩa là, người giáo viên
không nên coi việc cung cấp cho học sinh những kiến thức có sẵn, bắt các em học thuộc lòng, rồi kiểm tra việc ghi nhớ của học sinh như thế nào, mà phải khơi gợi, nêu ra vấn đề để các em bám vào đó nghiên cứu các nguồn tài liệu, vận dụng những tri thức đã có mà tự tìm ra và lĩnh hội nó một cách sáng tạo Phải cho học sinh hiểu rõ rằng, không nên coi những điều giáo viên cung cấp là tuyệt đối đúng
và đầy đủ, mà chỉ nên coi đây là một trong những “kênh” thông tin, là hướng gợi
mở cho các em chủ động, tích cực nắm bắt các nguồn tài liệu tham khảo khác để
bổ sung cho vấn đề, làm sâu sắc, phong phú sự hiểu biết của bản thân Có như vậy, tri thức mới thực sự là của các em, khó phai mờ, giúp cho việc vận dụng những tri thức ấy vào thực tiễn cuộc sống trở nên linh hoạt và sáng tạo
Hai là, tăng cường hoạt động trao đổi, đàm thoại trong giờ học Đây là công
việc mà giáo viên xây dựng và sử dụng một hệ thống câu hỏi để học sinh nghiên cứu trả lời Đồng thời, học sinh có thể trao đổi với nhau dưới sự chỉ đạo của giáo viên Điều này rất có ưu thế trong việc hình thành kiến thức trên cơ sở hoạt động
Trang 14tư duy tích cực, độc lập của học sinh Qua trao đổi, các phẩm chất cần thiết của hoạt động nhận thức như: tính tích cực, độc lập, sáng tạo, óc phê phán được hình thành ở học sinh Đồng thời, cũng rèn cho các em tính kiên nhẫn trong học tập, tạo không khí sôi nổi trong giờ học, cuốn hút hứng thú học tập của học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức sâu sắc, vững chắc hơn
Ba là, giáo viên cần phải có một khối lượng tài liệu cần thiết vừa đủ để
cung cấp tới học sinh, tránh việc làm cho học sinh cho học sinh thấy mệt mỏi,
nhàm chán khi phải làm việc quá lâu với một loại tài liệu Đồng thời, cần phải kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo các PPDH khác nhau như: tường
thuật, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan nhằm giúp các em hiểu được bản chất của sự kiện lịch sử, tạo sự hấp dẫn lôi cuốn học sinh vào giờ học
Bốn là, vận dụng thường xuyên, linh hoạt và sáng tạo việc dạy học nêu vấn
đề, bởi đây là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành nhiều PPDH Dạy học nêu vấn
đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với việc hình thành kiến thức, trên cơ sở hoạt động tư duy độc lập của học sinh Đồng thời, trong quá trình dạy học, giáo viên
cần phải quan tâm đến trình độ nhận thức của toàn lớp và cả những học sinh khá, giỏi Từ đó, đề ra việc lựa chọn nội dung, PPDH và cách tổ chức quá trình
nhận thức của học sinh, đảm bảo tính vừa sức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.3 Vị trí, vai trò của việc sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là các loại đồ dùng trực quan quy ước được sử dụng nhiều trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, nhằm minh họa, cụ thể hóa kiến thức trong SGK Đó còn là nguồn cung cấp kiến thức mới, củng cố, ôn tập kiến thức đã học, phát triển tư duy, khả năng hoạt động độc lập của học sinh Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị giúp các em lĩnh hội được tri thức một cách nhanh nhất, có hệ thống nhất đồng thời, cũng tránh được sự quá tải, nhồi nhét kiến thức cho học sinh
* Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là công cụ đắc lực cho việc tạo biểu tượng lịch sử
Quá trình học tập nói chung, học tập lịch sử nói riêng luôn tuân theo quy
Trang 15thực tiễn” Khoa học lịch sử có những đặc trưng riêng như tính quá khứ, tính
không lặp lại, tính cụ thể nên quá trình nhận thức lịch sử cũng mang những nét độc đáo so với quá trình nhận thức các môn học khác Đó là, trong quá trình nhận thức, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện, nhân vật lịch sử mà chỉ được tiếp xúc với tri thức lịch sử một cách gián tiếp qua lời giảng của giáo viên, các nguồn tài liệu và đồ dùng trực quan Vì vậy, giai đoạn trực quan sinh động là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình nhận thức, làm cơ sở hình thành biểu tượng lịch sử Để có được điều này, ngoài việc cung cấp sự kiện, giáo viên cần phải biết cách xây dựng và sử dụng một cách linh hoạt các loại đồ dùng trực quan quy ước (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) vào quá trình dạy học
Như ta đã biết, học sinh không thể trực quan sinh động quá khứ lịch sử, nên
việc tạo biểu tượng lịch sử là một yêu cầu quan trọng trong DHLS “Biểu tượng lịch sử là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong đầu óc học sinh với những nét chung nhất , điển hình nhất” [15,
tr.189] Nội dung của một sự kiện lịch sử, được học sinh nhận thức, thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng những hoạt động của các giác quan như thị giác tạo nên hình ảnh trực quan, thính giác đem lại hình ảnh về quá khứ,
thông qua lời giảng của giáo viên Ở đây, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị góp phần làm
tăng tính chính xác, cụ thể của bài học, hình thành nên biểu tượng lịch sử Đây cũng là cơ sở quan trọng để hình thành nên khái niệm lịch sử, giúp các em
“biết” để “hiểu” lịch sử, từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm, quy luật lịch sử, biết vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn một cách hiệu quả
* Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị khái quát được bản chất của sự kiện lịch sử
Quá trình nhận thức của học sinh chỉ thực sự có hiệu quả khi học sinh
không chỉ “biết” về sự kiện mà phải “hiểu” về sự kiện đó một cách sâu sắc Như
Bác Hồ đã từng căn dặn đồng bào ta:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích, nước nhà Việt Nam”
“Tường” ở đây là yêu cầu phải “hiểu” sử, chứ không phải chỉ dừng lại ở việc
“biết” sử Bởi vì, khi ta có hiểu được sự kiện lịch sử thì ta mới có thể lý giải, khôi
Trang 16phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó đã từng tồn tại trên cơ sở đó, rút ra bài học, quy luật lịch sử mà vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống
Bản chất của sự kiện lịch sử được hiểu là nội dung cơ bản nhất, đặc trưng
và sâu sắc nhất của sự kiện, hiện tượng lịch sử Chỉ khi, nắm chắc được bản chất
sự kiện thì học sinh mới nhớ kỹ, hiểu sâu sự kiện và biết vận dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả
Quá trình học sinh khái quát được bản chất của sự kiện lịch sử chính là quá
trình hình thành khái niệm lịch sử “Khái niệm lịch sử là sự phản ánh khái quát hóa quá trình lịch sử; nó phản ánh những mối liên hệ khách quan của hiện tượng và quy luật lịch sử” [15, tr.200] Nếu biểu tượng là hình ảnh trực quan thì
khái niệm là sự phản ánh đặc trưng và thuộc tính bản chất của sự vật, hay hiện tượng khác nhau của hiện thực khách quan, những mối liên hệ và quan hệ giữa chúng với nhau Điều này được thể hiện rõ qua những đặc trưng vốn có của sơ
đồ thị còn có tác dụng rèn luyện, thúc đẩy các kỹ năng tư duy phát triển như: phân tích, so sánh, giải thích, tổng hợp đồng thời gây hứng thú, say mê, hình thành ý thức tự giác học tập cho học sinh
Ngoài ra, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị còn có tác dụng
to lớn trong việc phát triển tư duy lôgic, năng lực quan sát, trí tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ, đặc biệt có hiệu lực với các cơ quan cảm giác trong quá trình
nhận thức của học sinh Về điều này, KĐ Usinxki có nói: “Người giáo viên nào
có kỳ vọng phát triển trí tuệ cho trẻ em, thì trước hết, cần phải luyện tập năng lực quan sát của chúng, dẫn chúng đi từ sự tri giác tổng hợp đến sự tri giác định
hướng, phân tích” [7, tr.106] Cùng với đó, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị còn có tác
Trang 17dụng to lớn trong việc cung cấp kiến thức mới, củng cố, ôn tập những kiến thức
đã học, khắc sâu tri thức vào đầu óc học sinh
Tóm lại, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là những loại tài liệu cơ bản, trung thực, chính xác về quá khứ, giúp ta khôi phục lại bức tranh sinh động về những sự
kiện, nhân vật lịch sử Bởi vậy, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
sẽ góp phần phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT bao gồm những em có độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi,
đó là những học sinh đang theo học lớp 10, 11,12 ở các trường THPT Các nhà tâm lý học lứa tuổi còn gọi độ tuổi này là tuổi thanh niên mới lớn, và đây cũng được coi là thời kỳ đặc biệt quan trọng của cuộc đời Là thời kỳ kết thúc căn bản quá trình trưởng thành và phát triển lâu dài của đứa trẻ về tâm, sinh lý Là thời
kỳ năng lực trí tuệ, nhân sinh quan, thế giới quan, lý tưởng và toàn bộ nhân cách con người đang biến đổi và phát triển về chất Ở độ tuổi này, hầu hết các em đã phát triển, hoàn thiện về mọi mặt, cả về thể chất và tâm lý Có thể nói, nhân cách của các em đã được định hình về cơ bản
Cùng với sự phát triển về các mặt như: chiều cao, trọng lượng cơ thể, hệ xương, hệ cơ, các chức năng sinh lý được hoàn thiện thì sự phát triển của hệ thần kinh cũng có những thay đổi quan trọng, do cấu trúc bên trong của bộ não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc của não người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần của vỏ não lại Điều đó tạo tiền
đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và tư duy Tính chủ động, tích cực, tự giác được thể hiện rõ rệt ở tất cả các quá trình nhận thức Có thể nói, năng lực tư duy, tưởng tượng và các năng lực khác ở các em được hoàn thiện nhanh chóng và
có chất lượng cao Các quá trình cảm giác và tri giác đạt tới mức độ hoàn thiện
và tinh tế Việc ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ
Trang 18của các em Đồng thời, khả năng ghi nhớ lôgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng lên rõ rệt
Ở độ tuổi này, tư duy của các em đã có những thay đổi quan trọng Tư duy trừu tượng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động học tập Khả năng tư duy lý luận, tư duy độc lập, sáng tạo rất phát triển Việc vận dụng các thao tác tư duy khá nhuần nhuyễn và đạt hiệu quả cao Song đôi khi, các em còn kết luận vội vàng nên chưa phát huy được năng lực độc lập, suy nghĩ của mình
Lứa tuổi THPT có quá trình tự ý thức, tự giáo dục, tu dưỡng diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện hơn ở tuổi thiếu niên rất nhiều Các em không chỉ
có nhu cầu tự đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc các phẩm chất của những người sống xung quanh, của chính mình Thêm vào đó, đời sống tình cảm của học sinh THPT vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp và bền vững hơn thời thiếu niên Các em rất giàu cảm xúc, giàu tâm trạng, rất nhạy cảm với những rung động của người khác và có những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ đối với những nhân vật trong văn học, lịch sử, với cái đẹp của nghệ thuật, tự nhiên
Ở lứa tuổi này, phần lớn các em đã ý thức rõ được vai trò, vị trí của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội
Trong gia đình, các em đã là một thành viên chính và muốn được tham gia
vào các công việc quan trọng trong gia đình, muốn được coi là người lớn
Ngoài xã hội, các em hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội, vào các
mối quan hệ xã hội để tự rèn luyện bản thân và khẳng định mình
Còn ở nhà trường, các em tích cực học tập để trau dồi tri thức, hoàn thiện
nhân cách, say mê tìm tòi chân lý và lẽ sống Thái độ, ý thức học tập của các em không ngừng được nâng cao và có tính lựa chọn hơn với các môn học theo sở thích, định hướng nghề nghiệp của ḿ nh V́ vậy, các em chỉ tích cực học một số môn có liên quan đến xu hướng nghề nghiệp, và tỏ ra lơ là, xao nhãng các môn học khác, dẫn đến tình trạng học lệch khá phổ biến Do nhận thức chưa đúng, nên môn lịch sử cũng là một trong những môn bị rơi vào tình trạng trên Phần
Trang 19lớn các em chỉ coi, lịch sử là “môn phụ”, chỉ cần học thuộc lòng, ghi nhớ máy
móc sự kiện mà chưa hiểu hết bản chất và ý nghĩa lớn lao từ việc học sử
Để khắc phục quan niệm sai lầm trên, nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên lịch sử là phải làm sao cho các em hiểu được chức năng, nhiệm vụ của bộ môn Đồng thời, phải không ngừng đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học, tạo hứng thú, kích thích tính ham hiểu biết, tò mò, phát huy tính tích cực của các em đối với việc học tập bộ môn ở trường phổ thông Trên cơ sở sự phát triển mọi mặt của học sinh THPT thì một trong những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn là việc
xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh trong dạy học lịch sử Một mặt, giúp các em chủ động nắm và khắc sâu tri thức; mặt khác, góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách cho học sinh, đào tạo con người mới – XHCN, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay và mai sau
1.4.2 Thực tế của việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị là những loại đồ dùng trực quan quy ước có vai trò
quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường THPT, là chiếc “cầu nối” giữa quá
khứ với hiện tại Nó không chỉ giúp bài giảng của giáo viên thêm phong phú, sinh động, mà còn kích thích hứng thú học tập, phát triển các kỹ năng quan sát,
óc tư duy và ngôn ngữ của học sinh Giúp các em nắm được bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhớ kỹ, nhớ lâu kiến thức lịch sử đồng thời, cũng có tác động mạnh mẽ trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, óc thẩm mỹ của học sinh
Mặc dù yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông đòi hỏi cần tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan, song việc thực hiện chưa thực sự triệt để Thực tiễn cho thấy, ở các trường THPT hiện nay, việc xây dựng
và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước còn nhiều hạn chế, phần nào làm cho hiệu quả dạy học lịch sử còn thấp
Có thể khẳng định rằng, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
trong dạy học lịch sử không đòi hỏi quá nhiều điều kiện vật chất, kỹ thuật Nếu
Trang 20như có kỹ năng và đầu tư thời gian, tâm huyết thì các thầy, cô giáo hoàn toàn có thể xây dựng cho mình nhiều loại đồ dùng trực quan quy ước hỗ trợ cho bài giảng thêm hiệu quả Tuy nhiên, xây dựng như thế nào? Đầu tư ra sao? Là những vấn đề hiện đang tồn tại và cần giải quyết
Để hiểu rõ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế tại trường THPT Chu Văn Thịnh (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) trong đợt thực tập sư phạm
I (11/2012) vừa qua
Bằng phương pháp phỏng vấn ngẫu nhiên một số học sinh đang theo học
tại trường đồng thời, dự 6 giờ giảng dạy lịch sử trên lớp của giáo viên, phần nào cho chúng tôi một góc nhìn về thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông
hiện nay Nhìn chung, giáo viên đã đổi mới cách giảng dạy theo hướng “lấy học sinh làm trung tâm” nhưng chưa thực sự triệt để, lối dạy “thầy đọc, trò chép”
vẫn tồn tại Hơn nữa, các đồ dùng phụ trợ cho giảng dạy rất ít, đặc biệt là các loại đồ dùng trực quan quy ước Giáo viên chỉ miêu tả qua những hình ảnh có trong SGK, thiếu tính sáng tạo Nguyên nhân là các thầy, cô chưa nhận thức được hết giá trị to lớn của việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực quan quy ước (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị), nên chưa dành nhiều thời gian cho vấn đề này
Về phía học sinh, phần lớn các em đều tỏ ra không thích học sử, vì thế thời gian các em dành cho việc học sử ở nhà cũng rất ít Khi được hỏi về đồ dùng trực quan (đặc biệt là sơ đồ, biểu đồ, đồ thị), cũng đã có khá nhiều em tỏ ra hứng thú và mong muốn được tiếp cận nhiều hơn nữa với các loại đồ dùng trực quan
quy ước này Bởi thực tế các tiết dạy trên lớp chỉ là “dạy chay”, ngoại trừ các
giờ thao giảng (có sự hỗ trợ của máy chiếu) mới sử dụng một số ít sơ đồ, biểu
đồ, đồ thị
Từ thực tế dạy và học lịch sử như vậy, đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao nhận thức của giáo viên về vai trò, ý nghĩa, cũng như các biện pháp xây dựng và
sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Trang 21CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI, LỚP 10 THPT
2.1 Mục tiêu, nội dung chương trình lịch sử thế giới, lớp 10 THPT
2.1.1 Mục tiêu
- Về kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về các sự kiện, hiện
tượng một cách có hệ thống, cơ bản, khái quát về tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại từ nguồn gốc cho đến hết thời kì của lịch sử thế giới cận đại
Qua chương trình giúp học sinh nhận thức được nguồn gốc của loài người, quá trình tiến hóa của loài người Nhận thức được sự ra đời, phát triển và suy vong của các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia cổ đại phương Tây Các em cũng có thể hiểu được sự ra đời và quá trình đấu tranh giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến nhằm xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn đó là chủ nghĩa tư bản, thông qua các cuộc cách mạng tư sản và cách mạng công nghiệp Đồng thời cũng làm cho các em hiểu được sự phát triển của phong trào công nhân Qua đó hiểu biết được quá trình phát triển của lịch sử loài người, những giá trị vật chất cũng như tinh thần của các dân tộc trên thế giới
- Về giáo dục: Giúp cho học sinh có những tư tưởng biết quý trọng giá trị
lao động, có thái độ đúng đắn về nguồn gốc loài người, chống lại những quan điểm tôn giáo, biết quý trọng những giá trị văn hóa của nhân loại và ý thức bảo
vệ những giá trị đó Giúp học sinh có niềm tin khoa học và sự phát triển không ngừng theo chiều hướng tiến bộ đi lên của xã hội loài người ngày càng vươn tới những đỉnh cao văn minh, hòa bình và phồn thịnh Con người ngày càng làm chủ được tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của bản thân mình
- Về kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng tư duy, phân tích tổng hợp, so sánh, hệ
thống hóa các sự kiện lịch sử, kĩ năng quan sát và phát hiện các vấn đề, phát triển năng lực tự học, sáng tạo của học sinh để cho các em cảm nhận được nét độc đáo của lịch sử, nền văn hóa của các quốc gia, dân tộc, cảm nhận được
những nét tinh hoa văn hóa của nhân loại
Trang 222.1.2 Nội dung
Chương trình lịch sử thế giới lớp 10 THPT gồm hai phần:
Phần 1: Gồm ba thời kì lịch sử: Xã hội nguyên thủy, cổ đại và trung đại Phần xã hội nguyên thủy, cổ đại: Học sinh được tìm hiểu về nguốn gốc loài người, quá trình tiến hóa từ vượn thành người, những tổ chức xã hội đầu tiên của loài người: thị tộc, bộ lạc Về xã hội cổ đại, các em được tìm hiểu về những quốc gia cổ đại đầu tiên, những đặc điểm về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị của các quốc gia cổ đại Đồng thời giúp học sinh hiểu được những thành tựu về văn minh các quốc gia này đối với nền văn minh nhân loại
Về thời kì phong kiến, học sinh hiểu được những nét chính về Trung Hoa phong kiến và những thành tựu vĩ đại về mặt văn hóa của lịch sử Trung Hoa Ngoài ra còn có nền văn hóa Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á khác
Về phần châu Âu phong kiến: Cung cấp cho học sinh cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành đến khi suy vong của chế độ phong kiến, nó gắn liền với sự hình thành chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới
Phần 3: Lịch sử thế giới cận đại
Học sinh sẽ được từng bước tìm hiểu về nguyên nhân bùng nổ, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của các cuộc cách mạng tư sản, quá trình diễn ra các cuộc cách mạng công nghiệp Chủ nghĩa tư bản hình thành và trở thành hệ thống phạm vi toàn thế giới, gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân đi xâm lược trên quy mô toàn thế giới Điều đó đã dẫn đến sự bùng nổ của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á – Phi – Mĩ La Tinh Đồng thời trong phần này học sinh được tìm hiểu các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản
2.2 Cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy học lịch sử
Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng cần phải sử dụng kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo nhiều biện pháp sư phạm nhằm đạt hiệu quả bài học cao nhất Việc sử dụng đồ dùng trực quan (trong đó có sơ đồ, biểu đồ, đồ thị) có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học lịch sử, nó không chỉ giúp bài
Trang 23giảng của giáo viên sinh động và hấp dẫn hơn, mà còn giúp học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn, hiểu được bản chất sự kiện lịch sử
Để góp phần làm phong phú thêm hệ thống đồ dùng trực quan quy ước, tôi
mạnh dạn đề xuất một số cách xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong dạy lịch sử
thế giới
2.2.1 Những yêu cầu khi sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
Việc xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng, thiết bị dạy học nói chung, xây
dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nói riêng không được phép tùy tiện, nếu
ta không thận trọng dễ dẫn đến việc phản tác dụng trong quá trình dạy học Bởi
vậy, việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cũng phải tuân thủ những
yêu cầu nhất định, cụ thể như sau:
Một là, phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu đào tạo, chương trình cấp học
và nội dung SGK
Trên cơ sở nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình SGK lịch sử, giáo viên
tiến hành xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phù hợp với mục tiêu từng bài,
từng tiết học và từng bước hoàn chỉnh cho cả chương hay cả khóa trình
Hai là, phải đảm bảo tính khoa học
Tính khoa học là một nội dung quan trọng của phương pháp luận sử học
Tính khoa học của sơ đồ, biểu đồ, đồ thị được thể hiện ở chỗ nó được xây dựng
trên cơ sở những kiến thức lịch sử cơ bản, chính xác, từ đó giúp học sinh nhận thức đúng đắn, khách quan nội dung lịch sử, góp phần thực hiện chức năng,
nhiệm vụ bộ môn Tuy nhiên, trong quá trình dạy học bộ môn, do “tính ổn định tương đối” của SGK nên giáo viên có thể và cần thiết khai thác, sử dụng những
nguồn kiến thức mới đã được thẩm định mà chưa kịp đưa vào SGK để xây dựng
hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị đảm bảo tính cập nhật với sự phát triển của khoa
học lịch sử
Ba là, phải đảm bảo tính hiện đại, tiện lợi và thẩm mĩ
Hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì viê ̣c ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói
Trang 24riêng là một biện pháp hỗ trợ tích cực góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Các phần mềm như Power point, Violet chính là công cụ hữu ích giúp giáo viên có thể xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị một cách dễ dàng, tiện lợi và đẹp mắt, hơn hẳn phương pháp kẻ, vẽ bằng tay trước đây Để làm được điều này, yêu cầu giáo viên cần phải không ngừng học tập, trau dồi các kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, đồng thời cũng phải biết khai thác triệt để những tiện ích đó, phục vụ cho quá trình giảng dạy đạt kết quả cao nhất
Khi xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị yêu cầu giáo viên cần phải có kiến thức
có hiểu biết về hình khối, màu sắc cần thiết để xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
đẹp mắt và đạt hiệu quả sử dụng cao trong dạy học bộ môn Việc bố trí các hình khối, mũi tên, đường kẻ thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng cũng phải chính xác, lôgic Màu sắc phải hài hòa, trang nhã, dễ nhìn (nền màu nhạt, chữ màu đậm) Nếu thiếu hiểu biết, hoặc tùy tiện trong việc xây dựng hệ thống sơ
đồ, biểu đồ, đồ thị sẽ dẫn đến hậu quả phản giáo dục
Việc xây dựng hệ thống sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải đảm bảo tính tiện lợi, hiệu
quả giúp cho học sinh thấy dễ dàng, thuận lợi trong hoạt động nhận thức nội dung lịch sử, hình thành những biểu tượng lịch sử làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm và rút ra bài học kinh nghiệm, quy luật của sự phát triển lịch sử
Bốn là, phải phát huy tính tích cực của học sinh
Sơ đồ, biểu đồ, đồ thị không chỉ để minh họa, cụ thể hóa bài học mà còn là một nguồn kiến thức lịch sử giúp học sinh tìm ra bản chất, quy luật của sự kiện
lịch sử Do vậy, việc xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị cần phải hướng đến mục
đích giúp học sinh tiếp thu hiệu quả kiến thức bài học ngay ở trên lớp một cách chủ động, tích cực Nhằm hướng tới việc rèn luyện, thúc đẩy kỹ năng tư duy phát triển như: phân tích, so sánh, giải thích, tổng hợp đồng thời, phải gây hứng thú, say mê, hình thành ý thức tự giác trong hoạt động học tập của học sinh Để nâng cao tính tích cực của học sinh, thì việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải được kết hợp chặt chẽ với các PPDH khác, đặc biệt là hệ thống câu hỏi có vấn đề Qua việc nêu vấn đề của giáo viên, giúp học sinh có
Trang 25phương hướng, cách thức suy nghĩ đúng đắn để hiểu được bản chất của sơ đồ,
biểu đồ, đồ thị và tự rút ra nhận xét cho mình
Năm là, phải đảm bảo tính sư phạm
Việc xây dựng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị nhằm mục đích phục vụ hoạt động dạy
học lịch sử, vì vậy cần phải đảm bảo tính sư phạm Trên cơ sở đó, giáo viên mới
có điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động sư phạm hướng dẫn, tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức: tạo tình huống có vấn đề để gợi mở sự tò
mò, kích thích khả năng tư duy độc lập của các em nhận thức những nội dung chủ yếu và mối quan hệ giữa chúng với một sự kiện lịch sử học sinh có thể chủ động tiến hành các hoạt động tư duy như phân tích, liên hệ, so sánh
Đảm bảo tính sư phạm còn đòi hỏi sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải có nội dung
khoa học, kiến thức phù hợp, phong phú, đảm bảo tính thẩm mĩ phù hợp với nội dung chương trình và trình độ nhận thức của người học, phù hợp với điều kiện
cụ thể của nhà trường và địa phương biết tận dụng triệt để những thành tựu công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy
Sáu là, phải xác định thời điểm sử dụng phù hợp
Việc sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị phải được xây dựng trong kế hoạch sư
phạm của giáo viên trước khi lên lớp Hình thức sử dụng phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu Về thời điểm sử dụng, cần phải linh hoạt trong việc cung cấp kiến thức mới, củng cố hay ôn tập
Phải sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trên khổ giấy lớn treo tường (loại này cần
phải chuẩn bị trước ở nhà) nếu lớp rộng và đông học sinh để tất cả các em đều có thể quan sát được Khi sử dụng, phải treo đúng nơi quy định, tiện cho quá trình giảng dạy và theo dõi của học sinh Yêu cầu, giáo viên cần có phương tiện hỗ trợ (thước, đèn laze) để chỉ dẫn cho học sinh, tránh sử dụng một cách tùy tiện
Đối với những loại sơ đồ, biểu đồ, đồ thị có kích thước nhỏ, giáo viên vẽ
nhanh lên bảng cho các em tiện theo dõi, hoặc yêu cầu các em theo dõi trong SGK (nếu có), hoặc in sẵn ra giấy phát cho các em, trên cơ sở đó hướng dẫn học sinh nghiên cứu nội dung bài học Yêu cầu, phải luôn đảm bảo cho tất cả học
Trang 26sinh trong lớp đều có thể tiếp cận được với sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, có điều kiện thuận lợi để học tập, tránh việc sử dụng một cách hình thức, đối phó
2.2.2 Cách thức xây dựng sơ đồ
Khi xây dựng sơ đồ có thể dùng các hình học đơn giản như hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn trong đó, ta ghi một cách ngắn gọn nhất sự kiện, hiện tượng lịch sử sao cho học sinh dễ quan sát, dễ hiểu nhất Đồng thời, ta phải biết
sử dụng linh hoạt các đường kẻ, các mũi tên trong sơ đồ nhằm thể hiện những mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử Dưới đây là các bước cụ thể khi xây dựng một sơ đồ trong dạy học lịch sử
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài học, xác định kiến thức cơ bản, từ khóa
Đây là công việc đầu tiên và rất quan trọng khi tiến hành lập một sơ đồ, nó ảnh hưởng lớn đến tính chính xác, tính thẩm mĩ của sơ đồ Bởi vậy, yêu cầu người lập sơ đồ phải nghiên cứu thật kỹ nội dung kiến thức, nắm chắc những kiến thức cơ bản, tìm ra từ khóa một cách chính xác
Bước 2: Vẽ, xác định gốc sơ đồ, xếp các hình khối và đưa từ khóa vào sơ đồ
Căn cứ vào lôgic bài học lịch sử và ý đồ sư phạm, giáo viên tiến hành vẽ, xác định gốc sơ đồ và xếp các hình khối Tùy theo dung lượng kiến thức, ta có thể vẽ một hay nhiều lớp, nhánh của sơ đồ sao cho phù hợp nhất Tiếp đó, ta mã hóa kiến thức, đưa những từ khóa vào các hình khối của sơ đồ Do sơ đồ có tính khái quát, tổng hợp cao, diện tích các hình khối cũng khá nhỏ nên dung lượng kiến thức đưa vào sơ đồ phải ngắn gọn, từ ngữ phải trau chuốt, tránh rườm rà
Bước 3: Nối các hình khối bằng những mũi tên, đường kẻ và ghi tên sơ đồ
Việc nối các hình khối lại bằng những mũi tên đường kẻ mới hình thành nên sợi dây liên hệ giữa các yếu tố trong sơ đồ, nếu không thì sự xuất hiện của các hình khối sẽ không còn ý nghĩa nữa Điều này rất quan trọng, bởi nó phản ánh được mối quan hệ, liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử có trong sơ đồ Sau đó,
ta tiến hành ghi tên sơ đồ
Bước 4: Kiểm tra lại tính hợp lý, chính xác của sơ đồ
Đây là công việc phải tiến hành thường xuyên ngay trong quá trình lập sơ
Trang 27Lúc này, việc kiểm tra phải hướng vào xem xét, đối chiếu sơ đồ với nội dung kiến thức xem đã hợp lý chưa, sửa sang lại cho cân đối để đảm bảo tính thẩm mĩ
cao nhất
Ví dụ, khi dạy nội dung về các cuộc cách mạng tư sản thời cận đại, để hình
thành cho học sinh khái niệm “cách mạng tư sản” giáo viên sử dụng sơ đồ sau:
TƢ SẢN
Nhiệm vụ: lật đổ rào cản
của chế độ phong kiến,
mở đường cho chủ nghĩa
tư bản phát triển
Giai cấp lãnh đạo:
liên minh tư sản và các giai cấp khác
Hướng phát triển: đi
lên theo con đường tư
bản chủ nghĩa
Lực lượng tham gia:
quần chúng nhân dân
Trang 28Khi dạy bài 31: Cách mạng tƣ sản Pháp cuối thế kỉ XVIII phần I Nước
Pháp trước cách mạng giáo viên có thể xây dựng sơ đồ về nguyên nhân bùng nổ
cách mạng tư sản như sau:
Sơ đồ số 2: Nguyên nhân bùng nổ cách mạng tƣ sản Pháp
Nguyên nhân
Trực tiếp
Sâu
xa
Nông nghiệp lạc hậu Công - thương nghiệp phát triển nhưng bị kìm hãm
Chính trị: CĐPK suy yếu kìm hãm sự phát triển
Xã hội: phân chia đẳng cấp mâu thuẫn gay gắt
Tư tưởng: triết học ánh sáng dọn đường cho cách mạng bùng nổ
Trang 29Khi dạy bài 38: quốc tế thứ nhất và công xã Pairi 1871 mục II Công xã
Pari 1871 phần 2 Công xã pari – nhà nước kiểu mới giáo viên có thể xây dựng
sơ đồ sau:
Sơ đồ số 3: Tổ chức bộ máy nhà nước của hội đồng Công xã Pari
Khi xây dựng sơ đồ ta lưu ý, chỉ nên ghi những sự kiện cơ bản, những từ khóa vào sơ đồ, không nên ghi quá nhiều chữ, quá nhiều thông tin vào sơ đồ vì chính bản thân sơ đồ đã nói được rất nhiều điều Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiện theo dõi trong quá trình học tập
Các hình khối xây dựng phải thống nhất về kích cỡ, kiểu loại, sắp xếp một cách khoa học, cân xứng, đảm bảo tính thẩm mĩ cao Đồng thời, cũng phải đảm bảo mối quan hệ nhân - quả, tác động qua lại giữa các sự kiện, thấy được tính thống nhất hợp quy luật của các sự kiện trong sơ đồ
Bằng cách xây dựng sơ đồ trên, giáo viên hay với mỗi học sinh đều có thể
tự mình xây dựng nhiều loại sơ đồ phù hợp với từng bài học lịch sử Điều đó sẽ
HỘI ĐỒNG CÔNG
XÃ
Ủy ban quân sự
Ủy ban an ninh
xã hội
Ủy ban an ninh
xã hội
Ủy ban tư pháp
Ủy ban tài chính
Ủy ban thương nghiệp
Ủy ban lương
Trang 30có tác dụng lớn trong việc phát triển toàn diện học sinh, nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
2.2.3 Cách xây dựng biểu đồ
Tùy thuộc nội dung bài học ta có thể xây dựng các loại biểu đồ nhằm diễn
tả, so sánh sự thay đổi trong cơ cấu hay cấu tạo của hiện tượng lịch sử Qua đó, tạo biểu tượng sinh động, hình thành khái niệm cho học sinh, giúp các em nhớ lâu, hiểu sâu và nắm được bản chất của sự kiện lịch sử Có hai loại biểu đồ thông dụng nhất là: biểu đồ hình tròn, và biểu đồ hình cột
* Biểu đồ hình tròn
Là loại biểu đồ thường thể hiện cơ cấu, thành phần của một tổng thể đối tượng lịch sử nhất định Chỉ thực hiệ n đươ ̣c khi các đối t ượng có giá trị tính bằng (%) và các giá trị thành phần cộng lại bằng 100% Tùy từng sự kiện, hiện tượng lịch sử giáo viên có thể biến đổi sao cho phù hợp với loại biểu đồ này để
có thể đạt hiệu quả tốt nhất Biểu đồ loại này có thể xây dựng qua các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu kỹ nội dung, mã hóa kiến thức, và xác định bán kính hình tròn
Đôi khi đối tượng lịch sử mà chúng ta muốn thể hiện trên biểu đồ không có
số liệu cụ thể, ta phải mã hóa nội dung kiến thức để thể hiện trên hình tròn Độ lớn hình tròn phải phù hợp với khổ giấy, bảng để đảm bảo tính trực quan, thẩm
mĩ Trong trường hợp sự kiện, hiện tượng lịch sử có sự thay đổi cần phải xác định các thành phần khác nhau trong biểu đồ hình tròn cho phù hợp
Bước 2: Chia hình tròn thành những nan quạt theo đúng tỷ lệ và trật tự sắp xếp các đối tượng
Toàn bộ hình tròn là 360 độ, tướng ứng với tỷ lê ̣ 100% Nên tỷ lê ̣ 1% ứng với 3,6 độ trên hình tròn Khi vẽ các thành phần, nên bắt đầu từ tia 12 giờ (kim đồng hồ chỉ 12 giờ) và lần lượt vẽ theo chiều thuận của kim đồng hồ Ta nên
dùng thước đo độ để chia tỷ lệ biểu đồ cho chính xác Thứ tự các đối tượng của
biểu đồ phải giống nhau để tiện cho việc so sánh
Bước 3: Hoàn thiện, kiểm tra biểu đồ
Trang 31thể hiện trên biểu đồ và lập bảng chú giải Cuối cùng ta tiến hành kiểm tra lại cho đảm bảo tính chính xác, tính thẩm mĩ
Ví dụ, khi dạy bài 31 Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII phần I,
mục 1 Tình hình kinh tế, xã hội ta xây dựng biểu đồ hình tròn giúp học sinh
hiểu rõ tình cảnh của người nông dân Pháp trước cách mạng như sau
Biểu đồ thu nhập của nông dân Pháp trước cách mạng 1789
Trang 32* Biểu đồ hình cột
Là loại biểu đồ thường thể hiện động thái của sự phát triển, hoặc so sánh quy mô (độ lớn) giữa các đối tượng lịch sử Biểu đồ cột cũng có thể biểu hiện cơ cấu, thành phần của một tổng thể (biểu đồ cột chồng)
Biểu đồ cột được thể hiện trên một trục tọa độ, gồm 2 trục theo toán học gọi là: trục tung (cột dọc) và trục hoành (cột ngang) Trục tung thể hiện giá trị các đại lượng, số liệu, sự kiện lịch sử trục hoành thường thể hiện thời gian (năm, tháng) Ta có thể tiến hành xây dựng qua các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu nội dung, mã hóa kiến thức và chọn tỷ lệ thích hợp
Bước 2: Kẻ hệ trục vuông góc (trục tung, trục hoành)
Bước 3: Tính độ cao của từng cột cho đúng tỷ lệ rồi vẽ trên giấy, bảng Bước 4: Hoàn thiện, kiểm tra biểu đồ Ghi các số liệu tương ứng, vẽ ký
hiệu (có thể ghi sự kiện) vào cột Lập bảng chú giải, ghi tên biểu đồ Sau đó, ta kiểm tra lại lần cuối để đưa vào sử dụng
Lưu ý rằng, chiều rộng của các cột phải bằng nhau, chiều cao các cột phải tương ứng với các giá trị của sự kiện, hiện tượng lịch sử Khoảng cách các cột phải tương ứng với thời gian trên trục hoành
Biểu đồ thể hiện tỷ lệ dân số và quyền lợi giữa đẳng cấp Tăng lữ, Quý
tộc so với Ðẳng cấp thứ ba (Biểu đồ số 3)
%
Chú giải:
Trang 332.2.4 Cách xây dựng đồ thị
Đồ thị là một loại đồ dùng trực quan quy ước, nhằm diễn tả sự phát triển, vận động của một sự kiện lịch sử, khắc họa vào trí óc học sinh những số liệu cần phải ghi nhớ để hiểu được sự phát triển, vận động của sự kiện ấy
Trong dạy học lịch sử, ta thường sử dụng 2 loại đồ thị là: loại đơn giản và loại phức tạp
Loại đơn giản có thể biểu diễn bằng một mũi tên (đi lên, hoặc đi xuống), và
vẽ được ngay trên bảng Với loại này, giáo viên có thể vừa gọi học sinh phát biểu vừa vẽ nhanh được
Ví dụ, khi dạy bài 31 Cách mạng tƣ sản Pháp cuối thế kỉ XVIII phần
II Tiến trình của cách mạng, giáo viên có thể xây dựng đồ thị thể hiện sự phát
triển đi lên của CMTS Pháp cuối XVIII:
Đồ thị số 1: Sự phát triển đi lên của CMTS Pháp
Đỉnh cao
2/6/1793 -Lật đổ phái Ghirongđanh -Thiết lập nền chuyên chính Giacobanh
Trang 34Loại phức tạp thường được sử dụng khi cần so sánh sự vận động của các sự
kiện để nêu lên bản chất của chúng Trong đó, trục tung ghi số liệu về các sự kiện, trục hoành ghi thời gian Đồ thị loại này, thường sử dụng kèm theo bảng so sánh trên lớp, hoặc hướng dẫn học sinh tự vẽ và nhận xét ở nhà, có kiểm tra, chữa bài trên lớp Ta có thể xây dựng qua các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu nội dung, mã hóa kiến thức và kẻ hệ trục tọa độ vuông góc Trục tung thể hiện độ lớn của các đối tượng (như sự kiện, số người, sản
lượng tỷ lệ % ) trục hoành để biểu diễn thời gian
Bước 2: Xác định tỷ lệ thích hợp ở cả hai trục Lưu ý tương quan giữa độ
cao của trục tung với độ dài của trục hoành để đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ
Bước 3: Xác định các điểm mốc trên hai trục, từ các điểm mốc ta vẽ các đường song song với hai trục và xác định điểm giao nhau Căn cứ vào số liệu
của hiện tượng lịch sử và tỷ lệ đã xác định để tính toán và đánh dấu các điểm mốc trên hai trục Khi đánh dấu các năm trên trục ngang cần chú ý đến tỷ lệ, vị trí năm đầu tiên phải nằm trên trục tung Sau đó, từ các điểm mốc ta vẽ các đường song song với trục tung và trục hoành, và xác định các giao điểm
Bước 4: Hoàn thiện, kiểm tra đồ thị Ghi số liệu vào giao điểm giữa hai
trục, nối các giao điểm lại thành đường liên tục Nếu sử dụng ký hiệu thì cần có bảng chú giải, cuối cùng ta ghi tên đồ thị
Khi xây dựng cần lưu ý, khoảng cách năm phải rõ ràng Các đường vẽ biểu hiện quan hệ trục tung và trục hoành về sự kiện lịch sử nên vẽ dạng nét đứt Đường nối các giao điểm vẽ nét liền hoặc vẽ khác màu để thể hiện sự thay đổi của sự kiện lịch sử Nếu vẽ nhiều đường biểu diễn thì phải dùng các ký hiệu, hoặc tô màu khác nhau để dễ phân biệt
Khi dạy bài 31 Cách mạng tƣ sản Pháp cuối thế kỉ XVIII khi dạy phần
II Tiến trình cách mạng tư sản Pháp giáo viên có thể xây dựng đồ thị về các
giai đoạn của cách mạng Pháp như sau:
Trang 35Đồ thị số 2: Các giai đoạn phát triển của CMTS Pháp cuối thế kỷ XVIII
2.3 Các biện pháp sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị khi dạy học bài nội khóa
2.3.1 Sử dụng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị trong việc kiểm tra bài cũ
Kiểm tra bài cũ là công việc đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học Công việc này được giáo viên tiến hành thường xuyên, linh hoạt trong các giờ lên lớp Việc kiểm tra bài cũ giúp giáo viên nắm được kết quả dạy học ở tiết học trước, từ đó điều chỉnh các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung và đối tượng học sinh Ngoài ra, việc kiểm tra bài cũ giúp học sinh nhớ lại những kiến thức đã học, làm nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức mới Thông thường công việc này được giáo viên tiến hành theo hình thức kiểm tra miệng thông qua
một số câu hỏi nhằm tái hiện kiến thức, ví dụ “hãy trình bày hoàn cảnh nước Anh trước cách mạng?”, “hãy nêu diễn biến chính cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789”? Đây là cách kiểm tra bài cũ thông thường hiện nay Khi sử dụng sơ đồ,
biểu đồ, đồ thị trong việc kiểm tra bài cũ sẽ tạo hứng thú cho học sinh, không
14/7/1789 đến 10/8/1792
10/8/1792 đến 2/6/1793
10/8/179
2
2/6/1793 đến 27/7/1794
Trang 36gây nhàm chán Thông qua việc kiểm tra bài cũ bằng sơ đồ, biểu đồ, đồ thị ngoài các hiệu quả mà công việc này vẫn đạt được, nó còn rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy nhanh nhạy, khả năng khai thác sơ đồ, biểu đồ, đồ thị để trình bày vấn đề
Chẳng hạn, để kiểm tra kiến thức cũ của học sinh qua bài 29 Cách mạng
Hà Lan và cách mạng tư sản Anh, giáo viên nêu câu hỏi: “hãy hoàn thành sơ
đồ sau về diễn biến chính của cách mạng tư sản Anh”
Sơ đồ diễn biến cách mạng tư sản Anh
Từ việc hoàn thành sơ đồ một cách nhanh chóng và chính xác, giáo viên nhận ra được kết quả mà sơ đồ mang lại Sau đó, giáo viên có thể kết hợp cho học sinh trình bày diễn biến chính của cách mạng tư sản Anh trên sơ đồ vừa hoàn thiện
Giáo viên có thể sử dụng sơ đồ để kiểm tra bài cũ có nội dung tương tự như diễn biến cách mạng Pháp, chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ…
Khi dạy xong bài 34 Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giáo viên sử dung sơ đồ sau để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các thành
tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành sơ đồ sau:
Trang 37
Sơ đồ các thành tựu về khoa học - kĩ thuật cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Khi dạy xong bài 31 Cách mạng tƣ sản Pháp cuối thế kỉ XVIII giáo
viên yêu cầu học sinh:
Em hãy vẽ biểu đồ hình cột thể hiện dân số và quyền lợi của các đẳng cấp trong xã hội Pháp trước cách mạng 1789 Sau đó, hãy phân tích sự khác nhau
về vai trò, quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội giữa các đẳng cấp? Hệ quả của sự khác nhau đó?
Ngoài ra, với việc kiểm tra bài cũ dưới hình thức kiểm tra 15 phút, giáo viên có thể nêu ra các câu hỏi phức tạp, cần nhiều thời gian hơn Ví dụ, “Hãy vẽ
sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước của hộ đông công xã Pari và chứng minh rằng công xã Pari là nhà nước kiểu mới?”