huy truyền thống yêu nước, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Lục Ngạn đã tiếp nhận, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội VI tháng 12/1986 đề ra.. Cuố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ HỒNG
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
TỪ 1986 - 2005
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ HỒNG
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
TỪ 1986 - 2005
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Dương Hà Hiếu
Sơn La, năm 2014
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành đề tài em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng Nghiên cứu khoa học - Trường Đại học Tây Bắc và các thầy cô trong
khoa Sử - Địa Đặc biệt em xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy Dương Hà
Hiếu - Giảng viên khoa Sử - Địa đã giúp em hoàn thành khóa luận này
Cho phép em gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Lục Ngạn, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Thư viện huyện Lục Ngạn đã cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng nhưng chắc chắn rằng những hạn chế và thiếu sót trong khóa luận không thể tránh khỏi nên mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy (cô) và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Hồng
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài 4
4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục của khóa luận 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HUYỆN LỤC NGẠN TRƯỚC NĂM 1986 6
1.1 Vài nét về huyện Lục Ngạn 6
1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 6
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên……… 7
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn trước năm 1986 11
1.2.1 Kinh tế 11
1.2.2 Xã hội 16
CHƯƠNG 2 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN LỤC NGẠN TỪ 1986 - 1995 18
2.1 Lục Ngạn trong thời kỳ đổi mới đất nước 18
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 18
2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Lục Ngạn 19
2.2 Sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục ngạn từ 1986 - 1995 20
2.2.1 Trong Nông - Lâm nghiệp 20
2.2.2 Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 24
2.2.3 Thương mại, dịch vụ 25
2.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 26
2.3 Tác động của sự phát triển kinh tế tới đời sống, văn hóa, xã hội của nhân dân huyện Lục Ngạn 26
2.3.1 Về lao động - việc làm 26
2.3.2 Về văn hóa - giáo dục - y tế 28
Trang 72.3.3 Công tác xóa đói giảm nghèo 30
2.3.4 Vấn đề an ninh quốc phòng 31
CHƯƠNG 3 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN LỤC NGẠN TỪ 1996 - 2005 33
3.1 Chủ trương phát triển kinh tế - xã hội 1996 - 2005 33
3.2 Sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn 1996 - 2005 34
3.2.1 Trong nông nghiệp - lâm nghiệp 34
3.2.2 Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 37
3.2.3 Thương mại, dịch vụ 38
3.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng 39
3.3 Tác động của sự phát triển kinh tế tới đời sống, văn hóa, xã hội của nhân dân huyện lục ngạn 40
3.3.1 Lao động - việc làm 40
3.3.2 Về văn hóa - giáo dục - y tế 43
3.3.3 Công tác xóa đói giảm nghèo……… ……… ….45
3.3.4 Vấn đề an ninh quốc phòng 46
KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế - xã hội có mối quan hệ biện chứng trong sự vận động và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc Bất cứ một quốc gia hay một chế độ chính trị xã hội nào thước đo trình độ phát triển của chúng đều dựa trên những thành tựu của nhiều yếu tố hợp thành, trong đó thành tựu kinh tế - xã hội giữ vai trò quan trọng Vì vậy tất cả các quốc gia, dân tộc đều tìm cho mình một con đường phù hợp vươn lên trở thành một cường quốc về kinh tế, xã hội
Đại thắng mùa xuân năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi đã chấm dứt hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta Lịch sử nước ta bước sang một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã mở ra một thời
kỷ mới cho lịch sử dân tộc - thời kỳ đổi mới Đại hội đã đề ra mô hình kinh tế mới ở nước ta là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
Tại hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng do Đại hội lần thứ VI đề ra là: Cần tăng cường chính sách trao đổi hành hóa giữa Nhà nước và nông thôn, mọi quan hệ trao đổi hàng hóa giữa Nhà nước với hợp tác xã theo nguyên tắc bình đẳng thuận mua vừa bán, bảo đảm củng cố liên minh công nông
Sau 20 năm đổi mới (1986 - 2005) với những thành tựu to lớn, đất nước ta
có sự chuyển biến về mọi mặt Từ 1995 đất nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội và bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Huyện Lục Ngạn (thuộc tỉnh Bắc Giang) là một vùng quê có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời Đến ngày nay lịch sử truyền thống văn hóa ấy vẫn được giữ gìn bảo tồn và phát huy
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Trung ương Đảng Đảng bộ và nhân dân Lục Ngạn đã cùng với cả nước đứng lên làm cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, tiến hành các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc Phát
Trang 9huy truyền thống yêu nước, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Lục Ngạn đã tiếp nhận, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội VI tháng 12/1986 đề ra
Trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, huyện Lục Ngạn đã
có những chuyển biến quan trọng về kinh tế Sự chuyển biến đó khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng cũng như sự vận dụng đường lối một cách chủ động, sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của huyện Lục Ngạn, nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của Lục Ngạn nói riêng và Bắc Giang nói chung
Mặc dù công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế ở Lục Ngạn trong thời
kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng vẫn còn những hạn chế cần phát huy được tiếp tục tổng kết rút ra kinh nghiệm, nhằm đưa ra những giải pháp thích hợp để phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế
Trên cơ sở lí do đó, tôi quyết định chọn khóa luận “Bước đầu tìm hiểu sự
phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn - Bắc Giang từ 1986 - 2005” làm đề tài
nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về khoa học:
+ Tái hiện lại một cách sinh động, chính xác bước phát triển kinh tế của
huyện Lục Ngạn từ 1986 đến 2005 cùng những thành tựu đạt được
+ Làm rõ sự vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối chính sách của Đảng vào huyện lục ngạn, một huyện miền núi có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, kinh tế xã hội chậm phát triển, trình độ dân trí còn thấp
+ Làm phong phú thêm tư tưởng đường lối đổi mới của Đảng
Về thực tiễn:
+ Làm tài liệu tham khảo để giảng dạy lịch sử địa phương
+ Thiết thực góp phần giáo dục truyền thống đoàn kết, truyền thống yêu nước yêu quê hương, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cho nhân dân huyện Lục Ngạn
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1986 đến nay đã tạo
ra những bước đột phá trong nền kinh tế của đất nước Bộ mặt kinh tế của đất nước nói chung, của huyện Lục Ngạn nói riêng có sự chuyển biến rõ rệt Vấn đề đổi mới kinh tế đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhà nghiên cứu
2.1 Các tác phẩm lý luận của Đảng và nhà nước
Vấn đề kinh tế - xã hội nói chung đã được đề cập tới trong các văn kiện của Đảng, từ văn kiện Đại hội lần thứ III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X Trong những văn kiện đó vấn đề kinh tế - xã hội đã được nêu lên thành đường lối mang tính định hướng cho sự phát triển
Tác phẩm “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì Chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Đỗ Mười, nguyên Bí thư Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm những bài viết, bài phát biểu quan trọng của đồng chí Đỗ Mười và được NXB Chính trị Quốc Gia xuất bản thành 6 tập Đây là cuốn sách rất quan trọng làm sáng tỏ đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để của Đảng ta được khởi đầu từ Đại hội lần thứ VI
Tác giả, Nguyễn Trọng Phúc (2000) trong cuốn “Một số kinh nghiệm của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới”, NXB Chính trị Quốc Gia Tác giả đã tổng kết một số chủ trương của Đảng và những thành tựu tiêu biểu mà chúng ta đã đạt được, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm của Đảng lãnh đạo
Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay” của Trần Bá Đệ, NXB ĐHQG năm 1998, trong đó tác giả đã dành một chương để trình bày tình hình kinh tế -
xã hội, văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
2.2 Các công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo
Năm 1996, Ban thường vụ Huyện ủy đã cho xuất bản cuốn lịch sử Đảng
bộ huyện Lục Ngạn Cuốn sách này đã trình bày một cách cụ thể về quá trình ra đời và lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ huyện Lục Ngạn cũng như quá trình phát triển kinh tế của huyện
Trang 11Các báo cáo hàng năm, báo cáo trong nhiệm kỳ đại hội về tình hình kinh
tế của huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005 của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Lục Ngạn tổng kết tình hình kinh tế của huyện
Phòng thống kê huyện Lục Ngạn 1986 - 2005 đã phản ánh kinh tế hàng năm của huyện, nhưng nó chỉ mang tính chất thống kê
Trên cơ sở những tài liệu đó, tôi nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá cao những tài liệu này, chúng đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về quá trình phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn Tuy nhiên do mục đích và nhiệm vụ khác nhau nên chưa có tài liệu nào nghiên cứu và trình bày một cách đầy đủ và hệ thống Vì vậy khóa luận này xin tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài
3.1.Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng mà khóa luận tập trung nghiên cứu là sự phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Khóa luận tập trung khôi phục lại những chuyển biến về kinh tế huyện Lục Ngạn từ 1986 - 2005, qua khóa luận này muốn khẳng định những thành tựu kinh tế mà huyện Lục Ngạn đã đạt được và tác động của sự phát triển kinh tế đối với đời sống, văn hóa, xã hội huyện Lục Ngạn trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới Đồng thời góp phần nêu ra những khó khăn, tồn tại, yếu kém của địa phương và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém đó
3.4 Đóng góp của khóa luận
Qua việc nghiên cứu, khóa luận nhằm tái hiện lại một cách hệ thống tình hình phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn trong 20 năm đổi mới đồng thời làm rõ
Trang 12những thành tựu cũng như những hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn
Khóa luận còn cung cấp thêm nguồn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử ở địa phương
4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Tất cả những tài liệu nghiên cứu trên đều là những nguồn tài liệu quý báu cho việc nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong khóa luận của tôi
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài và trên cơ sở nguồn tài liệu đã thu thập được Tôi
đã dùng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, nhằm tái hiện lại quá trình phát triển kinh tế của huyện Lục Ngạn trong 20 năm thực hiện đường lối đổi mới 1986 - 2005
Ngoài ra còn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp định lượng, phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp
5 Bố cục của khóa luận
Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: khái quát tình hình huyện Lục Ngạn trước năm 1986
Chương 2: Sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn từ 1986 - 1995
Chương 3: sự phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn từ 1996 - 2005
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HUYỆN LỤC NGẠN
TRƯỚC NĂM 1986 1.1 Vài nét về huyện Lục Ngạn
1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bắc
Phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn
Phía Đông giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang) và huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn
Phía Nam và phía Tây giáp huyện Lục Nam ( Bắc Giang)
Huyện Lục Ngạn là một bồn địa do hai dải núi lớn là Bảo Đài và Huyền Đinh viền bọc mà thành Chảy qua giữa bồn địa này theo hướng Đông - Tây là sông Lục Nam (tên chữ là Minh Đức Giang) Sông Lục Nam hòa cùng núi rừng trùng điệp của vùng Đông Bắc tạo nên một thắng cảnh hùng vĩ “Một trường giang đẹp nhất Bắc Kỳ” Một huyết mạch giao thông đặc biệt quan trọng của vùng này.[1,tr.10]
Ngược dòng lịch sử, thời Hùng Vương, Lục Ngạn thuộc bộ Kê Từ, sau đó thời Bắc thuộc là huyện Kê Từ Thời Lý, Lục Ngạn có tên gọi là Lục Na thuộc Châu Lạng Thời Trần thuộc lộ Bắc Giang Thời nhà Minh đô hộ (đầu thế kỷ XV), được chia cắt 2 huyện là Na Ngạn và Lục Na Sang thời Lê, địa bàn Lục Ngạn thuộc về 2 huyện Lục Ngạn và Bảo Lộc
Thời thực dân Pháp đô hộ, khu vực này có 1 số thay đổi về các đơn vị hành chính ngày 10 - 10 - 1895, tỉnh Bắc Giang được thành lập huyện Lục Ngạn thuộc tỉnh Bắc Giang Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, địa giới hành chính của huyện Lục Ngạn có nhiều thay đổi khi quân pháp mở rộng chiếm đóng ra vùng Đông Bắc, chia cắt 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn, tháng 7 năm 1947,
Ủy Ban kháng chiến hành chính liên khu I đã quyết định tách các xã phía Tây huyện Sơn Động về Lục Ngạn Ngày 21- 01 - 1957, Thủ tướng Chính phủ đã ra
Trang 14Nghị định số 24/TTg, chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam [1,tr.12.13]
Lục Ngạn gồm 29 xã và 1 thị trấn, với trung tâm Thị trấn Chũ, là một huyện miền núi địa hình chia cắt thành hai vùng rõ rệt là địa hình vùng núi cao
và vùng đồi thấp
Địa hình vùng núi cao: chiếm gần 60% diện tích tự nhiên toàn huyện
bao gồm 12 xã là: Sơn Hải, Cấm Sơn, Tân Sơn, Hộ Đáp, Phong Minh, Sa Lý, Phong Vân, Kim Sơn, Phú Nhuận, Đèo Gia, Tân Lập, Tân Mộc Vùng này địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc khá lớn, độ cao trung bình từ 300 - 400 m, nơi thấp nhất là 170 m so với mực nước biển Vùng này dân cư chủ yếu là các dân
triển, tiềm năng đất đai còn nhiều, có thể phát triển kinh tế rừng, chăn nuôi đại gia súc và trồng cây ăn quả
Địa hình vùng đồi thấp: Bao gồm 17 còn lại và 1 thị trấn gồm Thị trấn
Chũ, Biên sơn, Kiên Lao, Thanh Hải, Kiên Thành, Giáp Sơn, Biển Động, Tân Hoa, Hồng Giang, Trù Hựu, Quý Sơn, Phượng Sơn, Mỹ An, Phì Điền, Đồng Cốc, Nghĩa Hồ, Tân Quang, Nam Dương Diện tích chiếm trên 40% diện tích toàn huyện Địa hình có độ chia cắt trung bình với độ cao trung bình từ 80 - 120m so với mực nước biển Đất đai trong vùng phần lớn là đồi thoải, một số nơi đất bị xói mòn, thường thiếu nguồn nước tưới cho cây trồng Nhưng ở vùng này đất đai lại thích hợp với trồng các cây ăn quả như: hồng, nhãn, vải thiều
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất:
Lục Ngạn là huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha Lục Ngạn có 6 nhóm đất chính và 14 nhóm đất phụ sau:
Nhóm đất phù sa sông suối có diện tích là 2.148,15 ha, chiếm 2,16% diện tích đất điều tra Trong nhóm đất này có tới 80% diện tích có thể trồng các cây hoa màu và 20% diện tích đất có thể cấy 2 vụ lúa và 1 vụ màu
Trang 15Nhóm đất bùn lầy có diện tích 18,79 ha chiếm 0,02% diện tích đất điều tra thổ nhưỡng phân bố ở vùng trũng, thường xuyên bị ngập úng Số diện tích này có thể cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản
Nhóm đất Feralít vàng nhạt ở trên núi có độ cao từ 700 - 90 m so với mực nước biển có diện tích là 1.728,72 ha chiếm 1,82% diện tích đất điều tra Nhóm đất này có độ dốc tương đối lớn, tầng dày từ 30 - 100 cm thích hợp với phát triển cây lâm nghiệp, cần trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng
Nhóm đất Feralít trên núi, ở độ cao từ 200 - 700 m so với mặt nước biển
có diện tích 23.154,73 ha, chiếm 24,4% diện tích đất điều tra, phân bố chủ yếu ở vùng đồi cao, độ dốc lớn, thích hợp với việc phát triển lâm nghiệp
Nhóm đất Feralít ở vùng đồi thấp, ở độ cao từ 25 - 200 m có diện tích là 56.878,42 ha, chiếm 59,93% diện tích điều tra Nhóm đất này thích hợp với việc trồng rừng, trồng các cây công nghiệp và các cây ăn quả như: nhãn, vải thiều, hồng, na, đặc biệt là cây vải thiều cho hiệu quả kinh tế cao
Nhóm đất trồng lúa có diện tích là 5.042 ha, chiếm 4,98% so với diện tích
tự nhiên Nhóm đất này phân bố ở các cánh đồng bằng phẳng và ruộng bậc thang trên các đồi thấp Đất này thích hợp cho việc trồng các cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn, rau
Lục Ngạn tuy là huyện miền núi nhưng có khoảng hơn 10 ngàn ha đất
chiếm khoảng 10% so với diện tích đất tự nhiên Đây là một thuận lợi cho việc trồng cây lương thực và hoa màu Nếu có biện pháp khai thác, cải tạo đất để tăng độ phì, trồng cây lương thực có năng suất cao thì sẽ giải quyết tốt vấn đề lương thực cho nhân dân trong huyện
* Tài nguyên nước:
Lục Ngạn có nguồn tài nguyên nước phong phú bao gồm: nguồn nước
mặt và nguồn nước ngầm
Nguồn nước mặt:
Trên địa bàn huyện có sông Lục Nam chảy qua dài gần 45km từ Đèo Gia xuống
Mỹ An đến Phượng Sơn Nước sông chảy quanh năm với lưu lượng khá lớn
Trang 16Mức nước sông trung bình vào mùa lũ khoảng 4,5m, lưu lượng lũ lớn nhất:
Ngoài sông Lục Nam, trên địa bàn huyện còn có nhiều suối nhỏ nằm rải rác ở các xã vùng cao, hệ thống ao hồ chứa tương đối nhiều do kết quả hoạt động tích cực của phong trào thuỷ lợi, đắp đập ngăn nước, cùng với hệ thống sông suối đã cung cấp một lượng nước khá lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân
Nguồn nước ngầm:
Hiện tại chưa được điều tra kỹ để đánh giá về trữ lượng nước ngầm nhưng qua khảo sát sơ bộ các giếng ở một số vùng trong huyện cho thấy mực nước ngầm nằm không quá sâu (khoảng 20 - 25 m), chất lượng nước khá tốt, có thể khai thác dùng trong sinh hoạt của các điểm dân cư
Nhìn chung nguồn nước trong huyện có trữ lượng và chất lượng tương đối tốt, có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân Tuy nhiên, do đặc điểm lượng mưa thấp hơn các vùng khác trong tỉnh nên sản xuất nông nghiệp cũng gặp không ít khó khăn gây ảnh hưởng lớn đến thời vụ sản xuất và đời sống của nhân dân
* Khí hậu:
Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có tiểu vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng của vùng miền núi, có khí hậu tương tự các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên
C, tháng 1 và
C
Lượng mưa trung bình hàng năm 1321mm, lượng mưa năm cao nhất 1780
mm tập trung vào các tháng 6,7,8, lượng mưa năm thấp nhất là 912 mm, tháng
có ngày mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1 Đây là một khó khăn cho phát triển cây trồng và vật nuôi
Độ ẩm không khí trung bình là 81%, cao nhất là 85% và thấp nhất là 72%
là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, vào mùa đông tốc độ gió bình quân 2,2m/s, mùa hạ có có gió mùa đông nam, là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão
Trang 17Điều kiện khí hậu thời tiết có thể thấy Lục Ngạn là vùng có lượng mưa thấp, ít sương muối, mưa xuân đến muộn hơn, độ ẩm không khí không quá cao, lượng bức xạ nhiệt trung bình, đó là những yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho cây ăn quả (nhất là vải thiều) đậu quả tốt hơn khi ra hoa thụ phấn so với các huyện khác trong tỉnh Bắc Giang
* Tài nguyên rừng:
Lục Ngạn là huyện miền núi có diện tích lâm nghiệp là 35.817,85 ha, chiếm 35,38% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Trong đó, diện tích đất rừng sản xuất là 16.124,04 ha, chiếm 45,02% tổng diện tích đất lâm nghiệp Diện tích đất rừng phòng hộ là 19.693,81 ha, chiếm 54,98% tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện
* Tài nguyên khoáng sản:
Huyện Lục Ngạn có một số khoáng sản quý như: than, đồng, vàng , theo tài liệu điều tra tài nguyên dưới lòng đất cho biết: về than các loại có trữ lượng khoảng 30.000 tấn Quặng đồng có khoảng 40.000 tấn nhưng hàm lượng thấp nên không có ý nghĩa khai thác công nghiệp Ngoài ra Lục Ngạn còn có vàng sa khoáng nhưng trữ lượng không lớn, một số khoáng sản khác như đá, sỏi, cát, đất sét có thể khai thác để sản xuất các loại vật liệu xây dựng phục vụ cho xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội
* Tài nguyên nhân văn:
Lục Ngạn là huyện miền núi cao, có diện tích 101.223,72 ha, năm 2005 Lục Ngạn có 161.394 người, gồm 8 dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm 51%, các dân tộc khác chiếm 49% như Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, Dao, Thái, Ê Đê và Hoa)
Năm 2005, toàn huyện có 202 làng bản được công nhận làng văn hoá và
có 27.226 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hoá Nhân dân các dân tộc trong huyện đang tích cực lao động sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, phát triển mạnh kinh tế vườn rừng, kinh tế trang trại tạo nên những vườn cây đặc sản vải thiều, môi trường sinh thái đẹp và có sức hấp dẫn du khách tham quan du lịch sinh thái Lục Ngạn có khu di tích lịch sử
Trang 18Đền Hả được xếp hạng cấp Quốc gia, một di tích xếp hạng cấp tỉnh đồng thời có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên nổi tiếng như hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, hồ Làng Thum có thể đầu tư xây dựng thành các khu nghỉ ngơi du lịch phục vụ nhân dân trong huyện và các du khách trong và ngoài nước
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn trước năm 1986
1.2.1 Kinh tế
Mùa xuân năm 1975 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trên tiến trình lịch
sử của dân tộc Việt Nam.Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nước ta bước vào một thời kỳ mới - cả nước độc lập thống nhất cùng thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa
Cùng với cả nước, Lục Ngạn bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả của
chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế
Bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, Lục Ngạn gặp rất nhiều khó khăn do thiên tai, thiếu vật tư, tiền vốn nhất là chiến tranh biên giới đã thu
hút phần lớn nhân lực, vật lực phục vụ cho chiến tranh
Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Lục Ngạn đã đạt được kết quả bước đầu trên mọi lĩnh vực, từng bước ổn định đời sống nhân dân, góp phần xây dựng đất
nước và bảo vệ tổ quốc
* Sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt:
Tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV xác định mục tiêu của huyện trong
5 năm (1976 -1980) là “phát huy thế mạnh miền núi, phấn đấu đảm bảo vững
chắc vấn đề lương thực, thực phẩm”.[1,tr.139]
Nghị quyết Đại hội đã nhanh chóng được triển khai và biến thành mục
tiêu hành động của Đảng bộ và nhân dân trong huyện
Trong kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), tổng diện tích gieo trồng năm 1976
là 13.819 héc ta, năm 1980 là 21.433 héc ta, trong đó diện tích lúa là: 8.420 héc
ta (năm 1976) tăng lên 9.447 héc ta (1980) Diện tích cây màu lương thực cũng
ở hai thời điểm này từ 3.120 héc ta lên 10.000 héc ta, riêng diện tích trồng sắn
Trang 19tăng 9 lần Tổng sản lượng lương thực (quy thóc) bình quân trong 5 năm (1976 - 1980) là: 29.035 tấn, năm cao nhất (1978) đạt 37.179 tấn, bình quân lương thực
đầu người trong 5 năm (1976 - 1980) là 292 kg/người/năm.[14,tr.21]
Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, cùng với cả nước, Lục Ngạn thực hiện chỉ thị 100/CT - TW ngày 13 - 01 - 1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp
Chỉ thị 100/CT-TW ra đời bước đầu đáp ứng nguyện vọng của xã viên, được các cấp ủy Đảng, chính quyền và hợp tác xã trong huyện tích cực hưởng ứng Huyện ủy đã ban hành nghị quyết về tổ chức thực hiện chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Trong quá trình tổ chức thực hiện chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và nghị quyết 05 của Tỉnh ủy Hà Bắc, hợp tác xã được tổ chức lại theo quy mô thích hợp, hợp tác xã và đội sản xuất được sắp xếp lại cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khoán sản phẩm đến nhóm và người
lao động
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, huyện đã chia 65 hợp tác xã thành 85 hợp tác xã và chỉ đạo hợp tác xã thực hiện đúng tinh thần chỉ thị của Ban Bí thư Hợp tác xã chịu trách nhiệm 5 khâu: làm đất, phân bón, thủy lợi, giống, phòng trừ sâu bệnh; xã viên chịu trách nhiệm 3 khâu: gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch
Sau hơn 2 năm thực hiện chỉ thị 100/CT-TW, Huyện ủy nhận thấy quy mô hợp tác xã như hiện tại không phù hợp, nên từ năm 1983 đã chỉ đạo chia 85 hợp tác xã thành 112 hợp tác xã, trong đó có 4 hợp tác xã quy mô toàn xã, 50 hợp tác
xã quy mô thôn và 58 hợp tác xã theo khoảnh tre
Trong kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, mặc dù thiên tai xảy ra liên tiếp, vật
tư, nhiên liệu cung cấp cho nông nghiệp thiếu, nhưng nhờ có chỉ thị
100/CT-TW, sản xuất nông nghiệp của Lục Ngạn vẫn đạt được những kết quả khả quan
Năm 1981, tổng diện tích gieo trồng đạt 98,2% kế hoạch, tổng sản lượng lương thực đạt 107% kế hoạch Những năm 1983, 1984 diện tích trồng trọt có bị thu hẹp do một số đất chuyển sang trồng cây ăn quả và sử dụng các mục đích
Trang 20khác, nhưng huyện đã lãnh đạo nhân dân khai hoang phục hóa, đồng thời chú ý chỉ đạo thâm canh kết hợp với việc đưa các loại giống mới năng xuất cao vào sản xuất Do vậy, tổng sản lượng lương thực 2 năm 1983 - 1984 bình quân đạt 37.000 tấn, trong đó tỷ trọng màu trong lương thực chiếm 50% Năm 1985, do hạn hán, diện tích gieo trồng của huyện đạt 23.057 ha, giảm 4% so với kế hoạch,
nên tổng sản lượng lương thực giảm 1.000 tấn.[1,tr.141.142]
Trong các loại cây màu lương thực, cây sắn chiếm vị trí quan trọng cả về diện tích và sản lượng, có năm diện tích lên 4.000 ha, với sản lượng 26.000 tấn
Có thể nói thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy Lục Ngạn đã đưa sắn lên đồi, vào rừng, đi đến Lục Ngạn ở đâu cũng có sắn Trong cơ cấu bữa
ăn, sắn cũng chiếm tỷ trọng lớn trong khẩu phần lương thực
Đối với cây công nghiệp, cây đậu tương có tốc độ phát triển nhanh nhất cả
về diện tích và sản lượng, từ 444 ha năm 1976 lên 2.900 ha năm 1980, sản lượng
từ 434 tấn năm 1976 lên 1.000 tấn năm 1980
Trồng cây ăn quả bắt đầu phát triển mạnh ở Lục Ngạn từ năm 1982 sau khi có chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và nghị quyết Đại hội Đảng bộ khóa XVI (vòng 2) Đại hội đã khẳng định cần phải phát triển cây vải thiều - một cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Lục Ngạn Sau Đại hội, huyện đã phát động nhân dân trồng vải thiều
Từ đây cây vải thiều dần dần chiếm một ví trí quan trọng trong kinh tế của
huyện Năm 1982, toàn huyện đã trồng 110 ha vải thiều
Một trong những biện pháp hàng đầu để bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp của Lục Ngạn phát triển là thủy lợi Trong 5 năm (1976 - 1980), huyện
đã đầu tư hàng trăm triệu đồng cùng với công sức của nhân dân để xây dựng 318 công trình thủy lợi các loại, đảm bảo nước tưới, chủ động cho 1.616 ha cây trồng, có khả năng chống hạn cho trên 1.000 ha lúa, đưa hệ số sử dụng ruộng đất
từ 1,2 lần năm 1976 lên 1,71 lần năm 1980
- Về chăn nuôi:
Bên cạnh trồng trọt thì chăn nuôi cũng được coi trọng Đàn trâu năm 1976 đạt 11.792 con, đến năm 1980 tăng lên 14.150 con Đàn bò 3.387 con Bình
Trang 21quân số trâu bò trong mỗi hộ ở một số xã như Sơn Hải, Hộ Đáp, Phong Vân, Kiên Lao từ 2,6 đến 3,6 con/hộ Đàn gia cầm năm 1976 có 12.138 con, năm
1980 có 16.8500 con
Sang giai đoạn 1981 - 1985, thực hiện chỉ thị số 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, trong chăn nuôi cũng dần dần có sự thay đổi, trâu bò của tập thể đã chia cho các gia đình xã viên theo chỉ tiêu đổi thóc lấy thịt hoặc đổi ruộng
lấy thịt
Song nhìn chung giai đoạn 1981 - 1985 đàn gia súc gia cầm đều giảm sút
Đàn trâu năm 1981 có 12.271 con, năm 1985 giảm xuống còn 10.906 con
* Lâm nghiệp:
Sản xuất lâm nghiệp là thế mạnh của Lục Ngạn, nghị quyết Đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ XIII chỉ rõ: “ Trồng và bảo vệ rừng là nhiệm vụ phát triển kinh tế quan trọng đặc biệt của Lục Ngạn Phấn đấu đến năm 1980 thực hiện phủ xanh đồi núi trọc bằng cả ba lực lượng: lâm trường, bộ đội và tập thể các hợp tác
xã ”.[1,Tr.144]
Ngành lâm nghiệp đã cùng nhân dân trồng được hàng chục vạn cây tre bao quanh các đồi chống xói mòn, hạn chế lũ Từ năm 1976 - 1980, toàn huyện đã trồng được 10.873 ha rừng, trong đó có 5.034 ha thuộc quốc doanh, khai thác
Từ năm 198 - 1985, song song với công tác trồng rừng, công tác bảo vệ rừng đã được ngành lâm nghiệp và các cấp đặc biệt chú ý Ngành lâm nghiệp đã
tổ chức cho gần 10.000 lượt người học tập pháp lệnh bảo vệ rừng Nhiều tổ bảo
vệ rừng được thành lập Trên 80% diện tích rừng đã được bảo vệ Trong 3 năm
1983 - 1985, trồng được 5.087 ha.Trong đó quốc doanh trồng 4.000 ha, nhân dân trồng 1.087 ha.Việc khoanh nuôi và bảo vệ rừng đầu nguồn đã được coi trọng Đến
1985, đã giao 18.697 ha đất rừng cho hợp tác xã
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ngành lâm nghiệp Lục Ngạn vẫn có những yếu kém, số hợp tác xã kinh doanh nghề rừng có ít (40% số hợp tác xã, trong đó chỉ có 20% kinh doanh có hiệu quả); việc tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng trong nhân dân còn yếu, diện tích rừng bị cháy năm 1984 tới 600 ha, việc
Trang 22phá rừng làm nương rẫy, tình trạng khai thác và buôn bán lâm sản trái phép còn
diễn ra nhiều nơi
* Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Lục Ngạn tuy còn nhỏ bé nhưng đã góp phần đáng kể vào việc phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Giá trị tổng sản lượng toàn ngành trong 5 năm 1976 - 1980 đạt 18.37 triệu đồng, tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1971 - 1975 Năm 1981, giá trị tổng sản lượng đạt 3.23 triệu đồng, bằng 114% kế hoạch Những năm 1983 - 1985, trong công nghiệp quốc doanh và tiểu thủ công nghiệp được tăng cường về quy mô và năng lực sản xuất Giá trị tổng sản lượng năm 1985 gấp 30 lần năm 1982 Những sản phẩm chính của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là vật liệu xây dựng (gạch,
ngói ), chế biến nông sản, công cụ cầm tay (dao, cuốc, liềm hái )
Song công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Lục Ngạn còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, phát triển chậm, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Do khó khăn về vốn, nguyên liệu và năng lực quản lý, tiểu
thủ công nghiệp trong khu vực tập thể có xu hướng giảm sút
* Giao thông vận tải:
Giao thông vận tải của huyện ngày càng phát triển và mở rộng phục vụ kịp thời những yêu cầu về sản xuất, đời sống nhân dân và quốc phòng Hàng năm các địa phương đều tiến hành sửa chữa, tu bổ hàng trăm km đường.Trong 2 năm 1982-1982, làm thêm được 42 km đường mới, bắc 5 cầu, làm 5 ngầm đá.Từ năm 1983 - 1985, ngành giao thông phối hợp với các địa phương làm thêm hàng
trăm km đường bộ, 15 cầu, đảm bảo giao thông thông suốt
Nhìn chung giai đoạn trước năm 1986 sản xuất ở Lục Ngạn vẫn mang tính
tự cấp, tự túc, kinh tế đơn thuần chỉ là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trong đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cơ bản nhưng năng suất thấp, sản xuất lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong nền kinh tế của huyện
Trang 231.2.2 Xã hội
* Giáo dục
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Để phát triển nguồn lực con người ngành giáo dục huyện Lục Ngạn đã thực hiện phong trào thi đua hai tốt: dạy tốt và học tốt, chất lượng
giảng dạy từng bước được nâng cao
Số học sinh phổ thông năm học 1975 - 1976 có 20.400 em, năm học 1985
- 1986 có 25.150 em.Tăng 23% so với năm học 1975 - 1976 Chất lượng giảng dạy và học tập từng bước được nâng lên, số lượng học sinh thi lên lớp năm học
1978 - 1979 đạt 98,7%; thi hết cấp III năm học 1978 - 1979 đỗ 91% Những năm
1981-1985, số học sinh thi lên lớp và thi cuối cấp đỗ trung bình từ 80 - 85%
Ngành học mầm non trong thời kỳ 1976 - 1980, hàng năm có trên 5.700 cháu theo học Thời kỳ 1981-1985, ngành học mầm non giảm sút cả về số lớp và
số cháu do tác động của cơ chế khoán mới trong nông nghiệp
Ngành bổ túc văn hóa tiếp tục duy trì hai hình thức: học tập trung và học tại chức Những năm 1976 - 1980, Lục Ngạn có 4 trường bổ túc văn hóa tập trung với gần 400 học viên, các lớp mở tại các cơ sở có trên 1.200 học viên
* Về văn hóa
Ngành văn hóa thông tin bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Huyện có đội chiếu bóng, hàng chục đội văn nghệ nghiệp dư, nhiều câu lạc bộ, thư viện và hiệu sách nhân dân Trong cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới, những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan ngày một giảm, đời sống tinh
thần của nhân dân được nâng lên
* Về y tế
Ngành y tế không ngừng phát triển, thực hiện tốt việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân với phương châm: phòng bệnh hơn chữa bệnh và trong giáo dục nâng cao trách nhiệm của người thầy thuốc, lấy câu căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thầy thuốc như mẹ hiền” làm phương châm và mục tiêu phấn đấu của ngành y tế trong những năm 1976 - 1985 cũng như sau này Kết
Trang 24quả “trong 10 năm, ngành y tế huyện Lục Ngạn phát triển cả về số lượng cán bộ
và chất lượng điều trị Tính đến năm 1985, huyện có 21 cơ sở điều trị gồm 12
trạm xá, 1 bệnh viện” [8,tr.28]
* Về công tác an ninh quốc phòng
Năm 1979, để tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Đảng
bộ huyện Lục Ngạn đã thực hiện công tác củng cố quốc phòng, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu được tiến hành khẩn trương, lực lượng dân quân tự vệ được củng
cố với quân số chiếm 14% dân số trong huyện Công tác xây dựng làng, xã thành pháo đài chiến đấu được tiến hành khẩn trương Các kế hoạch phục vụ chiến đấu, phòng không, sơ tán được chuẩn bị chu đáo
Bước sang những năm 1980, thực hiện chủ trương của cấp trên, căn cứ vào tình hình, đặc điểm của huyện, Ban Chỉ huy quân sự huyện đã tiến hành xây dựng lực lượng gọn nhẹ đảm bảo chất lượng Lực lượng tự vệ chiếm từ 8 đến 10% dân số được tổ chức thành 3 bộ phận: chiến đấu, phục vụ chiến đấu và sẵn sàng nhập ngũ Công tác bảo vệ an ninh trật tự được làm tốt, tình hình an ninh chính trị tại địa phương luôn được ổn định
Như vậy, với những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, trên mặt trận văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng, huyện Lục Ngạn còn có những hạn chế trong phát triển kinh tế -
xã hội như: Tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, lương thực, thực phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của nhân dân Giá cả tăng nhanh, tiền lương thực tế giảm, thị trường rối loạn Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội còn chưa đáp ứng Trước tình hình đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân huyện Lục Ngạn phải tiếp tục phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa, phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua khó khăn, thử thách, cùng với nhân dân trong tỉnh và cả nước thực hiện thắng lợi của các mục tiêu mà Đảng đã đề ra
Trang 25CHƯƠNG 2 SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN LỤC NGẠN
TỪ 1986 - 1995 2.1 Lục Ngạn trong thời kỳ đổi mới đất nước
2.1.1 Bối cảnh lịch sử
Từ giữa những năm 1980 của thế kỷ XX, thế giới có những thay đổi và
biến động lớn Đó là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã gây nên những tác động lớn, làm thay đổi mối quan hệ giữa các nước, các nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật… kịp thời điều chỉnh cơ cấu sản xuất hợp lý và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, nên đã vượt qua khủng hoảng và phát triển đi lên Trong khi đó cuộc khủng hoảng toàn diện vẫn tiếp tục diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN Sự khủng hoảng ngày càng trầm trọng đẫn đến sự sụp đổ của các nước XHCN Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 gây tác động tiêu cực đến tình hình nước ta
Trong hơn một thập kỷ từ những năm 1975 đến năm 1986 trải qua hai nhiệm kỳ Đại hội IV và V của Đảng, thực hiện chủ trương đường lối xây dựng CNXH, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng, đặt cơ sở bước đầu cho sự nghiệp xây dựng và và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều đó được thể hiện trong toàn Đảng toàn dân vừa làm, vừa tìm tòi thử nghiệm hướng đi mới Song cách mạng Việt Nam không gặp ít những khó khăn thách thức, sản xuất nông nghiệp đạt năng suất thấp, nạn kham hiếm lương thực diễn ra triền miên Sản xuất công nghiệp được nhà nước bao cấp nên luôn trong tình trạng “ lãi giả, lỗ thật” Đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng Sau thất bại của đợt điểu chỉnh giá - lương tiền, đại đa số nhân dân không thể duy trì cách làm, cách nghĩ như trước nữa Đồng thời những cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách
không còn phù hợp với thực tế
Đứng trước tình hình đó, đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại với phương châm “ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” Đại hội toàn quốc lần thứ
Trang 26VI của Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định và phát triển
Đồng thời mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Lục Ngạn
Trên cơ sở quán triệt chủ trương đường lối đổi mới của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VII (1986), Ban chấp hành Đảng bộ huyện Lục Ngạn khóa XIV đã tổng kết và đánh giá đúng tình hình thực tế tình hình kinh tế - xã hội của huyện Lục Ngạn Trên cơ sở đó xác định hướng đi, mục tiêu, kế hoạch và những giải pháp để thực hiện thắng lợi
của đổi mới của Đảng
Chủ trương phát triển kinh tế xã hội được thể hiện rõ trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XIV: Đổi mới quản lý kinh tế xã hội, củng cố quan hệ sản xuất theo nguyên tắc tập trung dân chủ để thúc đẩy và phục
vụ việc chuyển hướng bố trí cơ cấu sản xuất, đầu tư và xây dựng đồng thời tạo
ra động lực phát huy vai trò làm chủ và nhiệt tình của người lao động, khai thác các tiềm năng phát triển kinh tế xã hội Mục đích cuối cùng là sản xuất phát
triển, phân phối tốt, đời sống khá hơn và ngày càng tăng thêm tích lũy
Đảng bộ đi sâu vào tổng kết để phổ biến kinh nghiệm những điển hình làm tốt, phát huy vai trò điều hành, chỉ đạo tập thể, phân bố lao động làm ngành nghề, sửa chữa ngay tình trạng “khoán trắng” bằng biện pháp quản lý có hiệu quả của hợp tác xã và của nhà nước, nhất là việc bảo đảm điều kiện sản xuất, cung ứng vật tư - kỹ thuật và dịch vụ, đặc biệt coi trọng việc xây dựng định mức khoán hợp lý giữa trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề và các dịch vụ khác để thúc đẩy
mạnh mẽ sự phân công lao động trong từng cơ sở và trên từng địa bàn khu vực
Đảng bộ huyện Lục Ngạn coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh thâm canh và phát triển nông nghiệp toàn diện Xuất phát từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế và thế mạnh của huyện, đòi hỏi Đảng bộ phải có sự chuyển hướng thực sự trong bố trí sản xuất, từ đó đổi mới cơ cấu đầu tư và lao
động nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động
Trang 272.2 Sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục ngạn từ 1986 - 1995
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ( 12/1986) đề ra, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế có sự tăng trưởng và phát triển mạnh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực được cải thiện
2.2.1 Trong Nông - Lâm nghiệp
* Về nông nghiệp
- Trồng trọt:
Thực tế của nền kinh tế nước ta cho thấy, nông nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Trong kháng chiến chống xâm lược cũng như trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, và luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, có những chính sách mới đối với nông
nghiệp nước ta
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VII ( 15/10/1986) đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1986 - 1990 đó là phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nêu cao tinh thần
tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng lao động, đất đai, ngành nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật Tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo sự phát triển nông nghiệp toàn diện Đặt nền nông nghiệp lên hàng đầu, phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sớm hình thành cơ cấu công - nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Trước hết giải quyết vững chắc vấn đề lương thực thực phẩm
Thực hiện và triển khai có hiệu quả những chủ trương mang tính chất đổi mới của Đảng theo tinh thần nghị quyết Đại hội VI ( tháng 12/1986) và phương hướng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp của Tỉnh ủy Hà Bắc được trình bày thông qua nghị quyết Đại hội VII ( tháng 10/1986) Đảng bộ huyện Lục Ngạn
đã xác định rõ phương hướng của huyện trong thời kì này là “ Tập trung mọi khả năng vào nhiệm vụ hàng đầu là phát triển nông nghiệp toàn diện, vừa ra sức
Trang 28thâm canh lúa vừa mở rộng sản xuất màu để có được lương thực đảm bảo nhu
cầu ăn của nhân dân và một phần dự trữ” [18,tr.5]
Sau 2 năm thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng do đại hội VI đề ra về
cơ bản ngành trồng trọt vẫn mang tính độc canh lúa Trước tình hình như vậy ngày 5 - 4 - 1988 Bộ chính trị trung ương Đảng họp để đánh giá tình hình sản xuất nông nghiệp, đề ra nghị quyết 10 về đổi mới kinh tế nông nghiệp, cơ chế khoán 10 ra đời Sau khoán 10, đã tạo ra sự đổi mới căn bản và đồng bộ cơ chế quản lý nông nghiệp, chỉ ra nguyên nhân chủ quan và khách quan làm cho nông nghiệp trì trệ Từng bước đưa nông nghiệp sản xuất lên xã hội chủ nghĩa nhằm giải quyết nhu cầu cơ bản về lương thực, thực phẩm tăng thêm nguyên liệu cho công nghiệp phục vụ tốt cho 3 chương trình kinh tế lớn, lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất xuất khẩu, xây dựng và bảo vệ môi trường sinh thái, không ngừng mở rộng thị trường nông thôn cho công nghiệp phát triển, gắn nông nghiệp với công nghiệp và giao thông vận tải thành cơ cấu kinh
tế thống nhất [18,tr.11]
Thực hiện nghị quyết 10 của bộ chính trị và sự chỉ đạo triển khai của tinh
ủy Hà Bắc, đại hội Đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ XV và ra nghị quyết chỉ đạo nhân dân huyện Lục Ngạn thực hiện cơ chế khoán mới tức là khoán có hạch toán theo đơn giá, thanh toán gọn gọi tắt là khoán gọn đã có tác dụng kích thích nông dân tích cực sản xuất, hăng hái nhận ruộng khoán, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật thâm canh tăng vụ thu nhập của người dân tăng lên rõ rệt khắc phục tình trạng tồn đọng sản phẩm, nợ nần trong hợp tác xã, nghĩa vụ của nông dân với nhà nước tốt hơn chính sách xã hội ở nông thôn được thực hiện tốt hơn
Song việc thực hiện cơ chế khoán mới còn chậm và chưa chặt chẽ
Từ 1988 - 1990 Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá tổng diện tích lúa hàng năm đều tăng và vượt mức kế hoạch đề ra Tổng sản lượng lương thực bình quân trong 2 năm đạt 32.420 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 221kg
Sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày như Lạc, Đỗ tương cũng khá phát triển
Bước sang những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình trong nước
và quốc tế có những biến động lớn Trên thế giới, cuộc đấu tranh giữa hai lực
Trang 29lượng: Xã hội chủ nghĩa và các lực lượng thù địch vẫn diễn ra gay gắt mang một màu sắc mới “ Diễn biến hòa bình” các nước xã hội chủ nghĩa đang ra sức tìm cách sửa chữa khắc phục các khuyết điểm của mình, nhưng kết quả này càng lâm vào khủng hoảng tuy nhiên có một số nước xã hội chủ nghĩa đã sửa chữa
thành công, tiêu biểu là Trung Quốc
Trong nước, mặc dù đã đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới nhưng vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng Do vậy tháng 6 - 1991 Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII đã họp tổng kết 4 năm đổi mới đồng thời đề ra đường lối mới cho thời kì sau Đại hội XII đã đưa ra mục tiêu tổng quát về chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 là “vượt qua khó khăn thử thách,
ổn định và phát triển kinh tế - xã hội tăng cường ổn định chính trị đẩy lùi tiêu
cực và bất công xã hội, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng hiện nay”
Trong những năm 1991 - 1994 việc chuyển dịch hệ thống cây trồng cũng như cơ cấu ngành trồng trọt dần phá thế độc canh cây lúa bằng cách tăng vụ và đổi mới cơ cấu mùa vụ, tăng diện tích gieo trồng nhằm sử dụng ruộng đất có hiệu quả và phát triển kinh tế đa dạng Tỷ trọng cây lương thực đang có xu thế giảm dần, tăng tỷ trọng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm và cây ăn quả Diện tích cây lương thực năm 1991 chiếm 88% tổng diện tích trồng trọt, năm 1994 giảm xuống còn 83,3% Diện tích cây công nghiệp ngày càng tăng 8,4% năm 1991 lên 9,9%, năm 1994, cây ăn quả tăng lên từ 0,46% lên 1,56% Do
tỷ lệ diện tích thay đổi, nên tỷ trọng giá trị sản lượng ngành trồng trọt cũng có sự thay đổi Tổng giá trị sản lượng cây lương thực năm 1991 chiếm 73,4% năm,
1994 giảm xuống 71,3%, cây công nghiệp ngắn ngày từ 17,6% tăng lên 18,2%,
cây thực phẩm từ 7,5% tăng lên 8,7%, cây ăn quả từ 1,5% lên 1,8% [11,tr.13]
Ở huyện Lục Ngạn cây lúa vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu cây lương thực Để nâng cao năng suất lúa, cơ cấu giống lúa đã từng bước đổi mới theo hướng nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, phù hợp với đặc điểm từng loại đất, từng vùng sinh thái Đặc biệt thay thế các loại giống lúa đã bị thái hóa, năng suất thấp thay thế bằng các loại giống lúa lai của Trung Quốc là X21, C70,
DT10 có năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương
Trang 30Cùng với việc cung ứng vật tư nông nghiệp thì hoạt động khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt từ khi phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Ở giai đoạn này trạm khuyến nông của huyện có 4 người trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, 30 kỹ sư là cán bộ khuyến nông chuyên trách 30 xã, thị trấn trong huyện Trạm khuyến nông xây dựng các mô hình cây con với công thức luân canh mang lại hiệu quả cao, đồng thời thực hiện nhiệm vụ tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho
nông dân để tạo diều kiện cho việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa
- Chăn nuôi:
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI về việc thực hiện ba chương trình kinh tế: Sản xuất lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu Được sự quan tâm chỉ đạo của các bộ ngành trung ương và của tỉnh Bắc Giang, cùng với sự hỗ trợ đầu tư về giống, vốn Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Lục Ngạn luôn xá định chăn nuôi có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở địa phương mình
Năm 1986, tỷ trọng chăn nuôi của huyện chiếm 23,3% giá trị kinh tế nông nghiệp, năm 1995 chiếm 29,5% tổng giá trị kinh tế nông nghiệp Sở dĩ có sự tăng tỷ trọng chăn nuôi là do các hộ gia đình đã chủ động đầu tư vốn chăn nuôi,
các giống vật nuôi được được đưa vào chăn nuôi
Đối với trâu bò, từ khi thực hiện khoán 10, số lượng đàn trâu bò ngày càng tăng
Ở giai đoạn này việc chăn nuôi trâu bò của huyện Lục Ngạn vẫn chủ yếu
là để lấy sức kéo phục vụ cho nông nghiệp, chưa có hướng chăn nuôi để lấy thịt
và sữa cung cấp cho thị trường
Đối với đàn lợn và gia cầm trong huyện nhìn chung tăng khá nhanh, các
hộ gia đình chăn nuôi đã bỏ vốn đầu tư để phát triển đàn gà, đàn lợn Nhưng nhìn chung chăn nuôi chủ yếu vẫn theo phương thức tiết kiệm thức ăn dư thừa
Bên cạnh việc đầu tư chăn nuôi gia súc thì các hộ gia đình cũng tăng cường phát triển đàn gia cầm, công tác phòng chống dịch bệnh hàng năm luôn
Trang 31được chú ý Năm 1986 tống số đàn gia cầm của huyện Lục Ngạn có 414.354 con, năm 1990 có 530.914 con, năm 1995 có 570.466 con Sở dĩ số lượng đàn gia cầm không ngừng tăng lên, nguyên nhân là do nhu cầu thực phẩm của địa
phương và các vùng xung quanh ngày càng tăng.[18,tr.11]
Phát triển chăn nuôi là nguồn thu nhập lớn có tính chất quyết định với kinh tế gia đình, đồng thời hỗ trợ tích cực cho trồng trọt và thủy sản Năm 1986 trên toàn huyện có 288,42 ha diện tích ao hồ thả cá, sản lượng đạt 320,5 tấn
Năm 1995 diện tích ao hồ 420,30 ha, đạt 605 tấn
Như vậy từ khi thực hiện đường lối đổi mới, ngành chăn nuôi ở Lục Ngạn
đã có bước phát triển mạnh Việc phát triển ngành chăn nuôi đã tích cực góp phần làm thay đổi cơ cấu vật nuôi cũng như cơ cấu trong ngành nông nghiệp, các giống vật nuôi mới được đưa vào thử nghiệm đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân huyện Lục Ngạn
* Về lâm nghiệp
Lục Ngạn là huyện miền núi có diện tích lâm nghiệp là 35.817,85 ha, chiếm 35,38% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Tập trung ở các xã Tân Mộc, Kiên Lao, Kiên thành, Đèo Gia, phong Vân
Trong 3 năm ( 1986 - 1988) huyện đã trồng được 4.400 ha rừng tập trung và phân tán, song so với tiềm năng lâm nghiệp thì những kết quả trên còn thấp
Từ năm 1986 đến 1995 các chính quyền địa phương đã thực hiện cơ chế
khoán rừng, giao đất giao rừng cho người nông dân
2.2.2 Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Từ 1986 - 1989 mới thực hiện công cuộc đổi mới nên huyên Lục Ngạn gặp nhiều khó khăn lúng túng, do chưa thích ứng kịp thời với cơ chế thị trường nên các xí nghiệp chỉ hoạt động cầm trừng, có xí nghiệp thì làm ăn thua lỗ dẫn
đến phá sản
Bước sang đầu những năm 1990 ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
có sự chuyển biến đó là củng cố các làng nghề truyền thống, và tiếp tục phát triển các làng nghề mới Những khó khăn về vốn, vật đầu tư được giải quyết, huyện đã phối hợp với các ban ngành, trường học mở các lớp đào tạo nghề điện,
cơ khí, hàn