1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thiết lập các điều kiện để hình thành ttck tại chdcnd lào

99 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 719 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể vận dụng được định chế tài chính này như là một công cụ kinh tế có tầm quan trong chiến lược trong việc tạo vốn đầu tư, nhằm góp phần đẩynhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, t

Trang 1

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán 4

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới 4

1.1.2 Khái niệm về TTCK 8

1.1.3 Cơ sở khách quan của sự hình thành và phát triển TTCK 9

1.1.4 Vai trò của TTCK 15

1.1.5 Xu hướng của TTCK trên thế giới trong thời gian gần đây 20

1.2 Những điều kiện để hình thành TTCK 21

1.2.1 Những điều kiện chung 21

1.2.2 Các điều kiện cụ thể 23

1.2.2.1 Hàng hóa phục vụ cho TTCK 23

1.2.2.2 Ủy ban chứng khoán Nhà nước 32

1.2.2.3 Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch CK 33

1.2.2.4 Công ty chứng khoán 34

1.2.2.5 Các tổ chức phụ trợ trong TTCK 35

1.3 Kinh nghiệm thiết lập và hoàn thiện các điều kiện để hình thành TTCK và bài học rút ra đối với TTCK Lào 36

1.3.1 Kinh nghiệm thiết lập và hoàn thiện các điều kiện để hình thành TTCK của một số nước trên thế giới 36

1.3.1.1 TTCK Mỹ 36

1.3.1.2 TTCK Hàn Quốc 37

1.3.1.3 TTCK Việt Nam 38

Trang 2

hình thành TTCK đối với TTCK Lào 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI CHDCND LÀO 42

2.1 Thực trạng các điều kiện tiền đề để hình thành TTCK tại Lào 42

2.1.1 Nền kinh tế Lào 42

2.1.2 Sự quản lý của Nhà nước về chính sách thúc đẩy thị trường 52

2.1.3 Trình độ nhận thức về TTCK 53

2.2 Thực trạng các điều kiện cụ thể để hình thành TTCK tại Lào 55

2.2.1 Tiến trình tạo lập hàng hoá một TTCK tương lai tại Lào 55

2.2.2 Điều kiện cơ sở pháp lý 58

2.2.3 Xây dựng ủy ban chứng khoán 61

2.2.4 Xây dựng công ty chứng khoán 61

2.3 Đánh giá về các điều kiện để hình thành TTCK tại Lào 62

2.3.1 Những điều kiện thuận lợi 62

2.3.2 Những điều kiện còn hạn chế 63

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THIẾT LẬP VÀ HOÀN THIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐẦU TIỀN TẠI LÀO 65

3.1 Định hướng thiết lập và phát triển TTCK tại Lào 66

3.1.1 Dự kiến tiến trình hình thành và phát triển TTCK tại Lào 67

3.1.2 Dự kiến mô hình tổ chức TTCK tại Lào 69

3.1.3 Quan điểm về việc hoàn thiện những điều kiện để hình thành TTCK tại Lào 72

3.1.3.1 Khắc phục những vướng mắc để tiếp tục hình thành TTCK tại Lào .72

3.1.3.2 Quan điểm về hoàn thiện 72

Trang 3

tại Lào 73

3.2.1 Tích cực tạo ra hàng hoá cho TTCK Lào 73

3.2.1.1 Tiếp tục tiến hành khẩn trương và mạnh mẽ quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 74

3.2.1.2 Khuyến khích phát triển bền vững công ty cổ phần đại chúng .79

3.2.2 Hình thành các văn bản pháp lý của chính phủ về chứng khoán và giao dịch chứng khoán 82

3.2.3 Xây dựng các dự luật công khai hoá thông tin chứng khoán 83

3.2.4 Ban hành luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh tư vấn chứng khoán 83

3.3 Các giải phảp hỗ trợ cho việc hình thành TTCK tại Lào 84

3.3.1 Tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống ngân hàng thương mại, từng bước tiếp cận với một số nghiệp vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán 84

3.3.2 Xúc tiến thành lập một số công ty chứng khoán thuộc sở hữ u nhà nước 89

3.3.3 Xây dựng các quy chế khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư 90

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 4

CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dân

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

UBCKNN Ủy ban chứng khoán nhà nước

không qua quay

Assistance

Nguồn hỗ trợ phát triển chính phủ

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước

ngoài WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

Hình sồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các giai đoạn kế hoạch

… 44

Bảng 2.1: Tổng kim ngạch XNK giai đoạn 2003-2007 48

Bảng 2.2: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2006 49

Bảng 2.3 Dự kiến một số chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 52

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại Lào từ nayđến năm 2010 và những năm tiếp theo là tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quảcao và bền vững

Các nhà kinh tế đã dự báo rằng, muốn đạt tổng sản phẩm quốc nội(GDP) tính theo đầu người là 1500 USD vào năm 2020, thì phải có tốc độtăng trưởng GDP hàng năm là 10% trong suốt 20 năm tới

Để đạt được mục tiêu đó, yếu tố trước tiên là cần phải có đủ vốn cho đầu

tư phát triển Bởi lẽ, vốn luôn luôn là “nhựa sống” nuôi dưỡng nền kinh tếtăng trưởng

Theo ước tính của Bộ kế hoạch và đầu tư thì Lào có thể thu hút lượngvốn đầu tư nước ngoài bao gồm cả nguồn ODA và FDI khoảng 50% Vậy,còn 50% nữa phải khai thác từ nguồn trong nước

Về phương diện lý luận và từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước trênthế giới, có thể khẳng định rằng, trong số các kênh tạo vốn trong nước thìTTCK là kênh có vị trí quan trọng nhất

TTCK là một định chế tài chính trực tiếp, có cơ chế vận hành rất phứctạp và có mức độ ảnh hưởng rất sâu rộng, tới hầu hết các lĩnh vực hoạtđộng khác của nền kinh tế - xã hội Vì vậy, việc thiết lập TTCK phải trênnguyên tắc hết sức thận trọng Tuy nhiên, thận trọng không có nghĩa làngôi chờ các điều kiện cần và đủ cho việc thiết lập TTCK tự phát hìnhthành hoặc hoàn thiện Cần phải có biện pháp thích hợp, tích cực, chủ độngđẩy nhanh quá trình thực hiện các điều kiện cần thiết, tạo cơ sở cho sự hìnhthành TTCK tại Lào

Với tư duy đó, em đã lựa chọn đề tài: “Thiết lập các điều kiện để hình thành TTCK tại CHDCND Lào”.

Trang 7

Với ý đồ mong muốn đóng góp một phần sức lực và trí tuệ của mình vàoviệc tìm ra các giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy tiến trình tạo lập TTCK tại Lào.

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu lý luận TTCK và thực trạng kinh tế - xã hội, con người, pháplý…để tìm và đưa ra những kiến nghị và các giải pháp thực hiện các điều kiệnhình thành TTCK tại Lào

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu

Thông qua trình bày có chọn lọc những kiến thức cơ bản nhất về TTCK

đã được tổng hợp trong quá trình hình thành và phát triển TTCK trên thế giới,làm sáng tỏ ý nghĩa và những tác động tích cực của TTCK đối với nền kinh tếthị trường nói chung và quá trình phát triển nền kinh tế Lào nói riêng Từ đókhẳng định tính tất yếu của việc hình thành TTCK tại Lào

Trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn và thách thức của môitrường kinh tế - xã hội Lào đối với việc thiết lập TTCK, đề ra những giải phápthích hợp nhằm góp phần thực hiện các điều kiện cần thiết hình thành TTCKtại Lào

* Phạm vi nghiên cứu

TTCK có nhiều loại và để thiết lập TTCK tại Lào đòi hỏi phải thực hiện,hoàn thiện nhiều điều kiện với nhiều giải pháp khác nhau Em chỉ giới hạnnghiên cứu trong phạm vi tìm ra những giải pháp chủ yếu để thiết lập các điềukiện cơ bản để hình thành TTCK có tổ chức tại Lào

4 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu, luân văn sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng Nghiên cứu TTCK trong trạng thái động, trong mối quan hệ qua lạivới các mặt kinh tế, xã hội, kỹ thuật…Từ đó, rút ra được những yếu tố cơ bảnthuộc về bản chất, loại bỏ những biểu hiện xuyên tạc bản chất sự vật để cónhững kiến nghị đúng đắn Việc nghiên cứu xuất phát từ điều kiện cụ thể của

Trang 8

Lào, song không xem nhẹ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt lànhững nước có điều kiện tương đối gần giống với Lào.

5 Những đóng góp khoa học của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ những luận cứ khoa học cả trên phương diện lýluận và thực tiễn về nhu cầu bức xúc của việc thiết lập TTCK tại Lào tronggiai đoạn hiện nay

Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện về quá trình hình thành cácđiều kiện ra đời TTCK tại Lào Đồng thời đưa ra những nhận định một cáchkhách quan về những kết quả đạt được, những khiếm khuyết cần khắc phục

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương như sau:

Chương 1 :Những vấn đề lý luận chung về điều kiện để hình hành TTCK Chương 2 : Thực trạng về điều kiện để hình thành TTCK tại Lào.

Chương 3 : Những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các điều kiện để

hình thành TTCK đầu tiền tại Lào

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ HÌNH

THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán (TTCK) là một định chế tài chính trực tiếp cóvai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường

Từ lâu, ở hầu hết các nước trên thế giới, TTCK đã trở thành một phạmtrù kinh tế quen thuộc trong đời sống kinh tế, không chỉ đối với giới doanhnghiệp mà cả với quảng đại quần chúng

Song cho đến nay tại Lào, TTCK vẫn đang còn là một phạm trụ xa lạ, ítngười biết đến Nói cách khác, nó vẫn còn là một khái niệm chứa đựng đầyrẫy những điều bí ẩn chưa được khám phá

Để có thể vận dụng được định chế tài chính này như là một công cụ kinh tế

có tầm quan trong chiến lược trong việc tạo vốn đầu tư, nhằm góp phần đẩynhanh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, thì một yêu cầu rất quan trọng trước tiênđược đặt ra, đó là việc tìm hiểu những kiến thức lý luận khoa học, cũng như kinhnghiệm thực tiễn trong hoạt động TTCK ở các nước trên thế giới

Để tiếp cận với kho tàng những kiến thức khoa học về lĩnh vực TTCK,

có thể xuất phát từ những hướng khác nhau Song sẽ là một trình tự hợp lý,nếu ta tìm hiểu về TTCK bắt đầu từ cội nguồn, gốc rễ của nó : tiến trình lịch

sử hình thành TTCK như thế nào ? Cơ sở của sự hình thành đó ra sao?

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới

Theo các tài liệu lịch sử - kinh tế, nhiều tác giả cho rằng, những dấu hiệucủa một TTCK sơ khai đã xuất hiện ngay từ thời trung cổ xa xưa

Vào khoảng giữa thế kỷ XV, ở các nước phương tây, tại những thànhphố lớn, những trung tâm giao lưu thương mại, các thương gia thường gặp gỡ

Trang 10

tiếp xúc với nhau trong các quán càfê, các câu lạc bộ…để tiến hành các cuộcthương lượng về việc trao đổi, mua bán các loại hàng như: Nông lâm sản,khoáng sản, ngoại hối và cả giá khoán động sản.

Điều đáng lưu ý là, ở những khu “chợ” riêng này, tuyệt nhiên không cómột loại sản phẩm hàng hoá nào được tiến hành trao đổi trực tiếp Nghĩa là,kết quả của những cuộc thương lượng chỉ là để đi đến những thoả thuận vớinhau về các hợp đồng, giao kèo mua bán, trao đổi, trước mắt hoặc trongtương lai mà thôi

Thời kỳ đầu, những cuộc thương lượng như trên hầu như chỉ bao gồmnhững nhóm nhỏ và được tiến hành tại các khu “chợ” phân tán ở nhiều địađiểm Cho đến cuối thế kỷ XV, các khu chợ này đã trở thành một “thị trường”với số lượng người tham gia lớn hơn, thời gian gặp gỡ thường xuyên hơn vàđặc biệt là người ta đã đi tới những qui ước thống nhất mang tính nguyên tắc

mà mọi người tham gia phải tuân thủ trong các cuộc thương lượng

Năm 1453, lần đầu tiên phiên “chợ” với qui mô lớn đã diễn ra tại lữ quángia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Tại lữ quán này, người ta treo một tấm bảnghiệu hình túi da kèm theo từ “Bourse” có nghĩa là “mậu dịch trường” hay còngọi là “Sở giao dịch” (SGD)

“Mậu dịch trường” là tên gọi chung của bảng hiệu lữ quán gia đìnhVanber, còn 3 túi da tượng trưng cho 3 nội dung hoạt động chủ yếu của mậudịch trường đó là : Mậu dịch trường hàng hoá, mậu dịch trường ngoại tệ vàmậu dịch trường giá khoán động sản

Đến năm 1547, mậu dịch trường tại thành phố Bruges bị suy sụp khiBruges mất hẳn đi sự phồn vinh vì eo biển dẫn tàu bè vào thị trấn bị cát lấpmất Mậu dịch trường được dời đến thị trấn Anvers (Bỉ), nơi có một hải cảnglớn và là một trung tâm giao lưu thương mại khá phồn vinh Chính vì vậy,mậu dịch trường này đã phát triển rất nhanh chóng, và cũng từ kinh nghiệmcủa nó, mậu dịch trường ở các nước khác như: Pháp, Ý, Đức và một số nước

Trang 11

Bắc Âu bắt đầu hình thành và phát triển dần.

* Tại Luân đôn : Vào khoảng thế kỷ XVIII, một mậu dịch trường đã

được thiếp lập theo kiểu mậu dịch trường AnVers gọi là Stock Exchange.Cũng chính nơi đây, sau này được gọi là SGDCK Luân đôn

Cũng với quá trình phát triển nhanh chóng của các giao lưu kinh tế trongtừng quốc gia, cũng như giữa các quốc gia với nhau, các mậu dịch trườngkhông còn khả năng chứa đựng trong đó với 3 nội dung khác nhau như lúc nóhình thành Do đó, người ta đã lần lượt tách riêng : Các giao dịch hàng hoáthành các khu thương mại, các giao dịch ngoại tệ tách thành thị trường hốiđoái, các giao dịch về giá khoán động sản được tách thành các hoạt độngTTCK, các giao dịch hợp đồng cho tương lai được tách ra thành “thị trườngtương lai” hay thị trường kỳ vọng

Như vậy, mầm móng sơ khai của hoạt động TTCK đã xuất hiện từkhoảng giữa thế kỷ XV và hình thành đồng thời với sự hình thành của thịtrường hối đoái và một số thị trường khác

Theo thời gian, TTCK cũng đã lần lượt xuất hiện ở những nước kháctrên thế giới

* Ở Hoa Ky : Vào năm 1789, lần đầu tiên quốc hội cho phép chính phủ

phát hành đợt công trái (Govermment bonds) với tổng mệnh giá 80 triệuDollar để thanh toán những món nợ khổng lồ trong cuộc chiến tranh dànhđộc lâp

Vài năm sau, các loại trái phiếu ngân hàng, công ty bảo hiểm cũng đã bắtđầu được phát hành trên thị trường Trong giai đoạn này chưa hình thànhTTCK chính thức, người ta mua bán CK trực tiếp với nhau, giống như kiểumua bán không qua quầy OTC (Over The Counter) ngày nay

Ngày 17 tháng 5 năm 1792, để tạo điều kiện cho các hoạt động giao dịch

CK phát triển một cách thuận lợi và để ngăn chặn việc đầu cơ dịch vụ giá hạ,các nhà môi giới đã tụ họp dưới một gốc cây khuy (Button wood) để ký kết

Trang 12

với nhau một thoả ước có tên là “Thoả ước gốc cây khuy” (Buttơnwood TreeAgree-ment), trong đó tránh bán đấu giá và thoả thuận mức hoa hồng muabán CK là 1/4 % sẽ được thực hiện.

Ngày nay, người ta ghi nhận, ngày ký thoả ước trên coi như là ngày khaisinh TTCK New York

Cho tới năm 1817, với đà phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt độngphát hành và mua bán CK trên thị trường, các nhà môi giới đã thoả thuận vớinhau về việc gặp gỡ giao dịch thường kỳ vào những ngày giờ đã được ấn địnhtrước Đồng thời, người ta cũng xúc tiến việc soạn thảo điều lệ cho mộtTTCK ở New York đặt trụ sở tại Wall Street Sau này, vào năm 1862 nơi đâyđược người ta đặt tên là SGDCK New York (New York Stock Exchange)

* Nhật Bản : TTCK Tokyo được thành lập năm 1878 Tuy nhiên, sơ với

các TTCK cùng thời ở các nước khác trên thế giới, thị trường Tokyo chưa có

gì nổi hơn Phải tới sau chiến tranh lần thứ II nó mới được nhiều người chú ýtới Khách hàng trên thị trường này không chỉ là những nhà đầu tư kếch xù,các ngân hàng, các công ty cỡ lớn mà còn rất nhiều những nhà đầu tư nhỏ.Người ta cho rằng, với sự lên giá của đồng tiền Yên trên thị trường quốc tế,Tokyo sẽ trở thành “Lá phổi tài chính” mạnh, chẳng những thu hút được cácnhà đầu tư Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…mà còn là đối thủ đáng gờm củanhiều TTCK khác trên thế giới, trong đó trước hết là New York và Luân đôn.Bởi lẽ, nó sẽ tranh mất khách hàng của 2 thị trường lớn này cùng nhiều khuvực khác trên thế giới

Trên đây, ta vừa điểm qua mốt số nét khai quát về quá trình xuất hiệnTTCK từ thời xa xưa tại một số nước trên thế giới Và cũng chính những nơi

đó, ngày nay đang tồn tại những TTCK thuộc tầm cỡ hàng đầu thế giới

Tóm lại, lịch sử hình thành và phát triển TTCK các nước trên thế giới trảiqua một quá trình có tính thăng trầm Thời kỳ được coi là huy hoàng nhất, đó

là vào những năm 1875 – 1913, cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế thế

Trang 13

giới tư bản, TTCK cũng được mở mang nhanh chóng cả về số lượng và quimô.

Thế rồi, ngày 29-10-1929, ngày mở đầu cuộc khủng hoảng TTCK NewYork “Ngày thứ năm đen tối” đã đến, kéo theo sự khủng hoảng dây chuyềnđối với các TTCK Phương Tây, Bắc Âu và Nhật Bản Hoạt động TTCK tạmthời lắng xuống sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các TTCK được phục hồi

và phát triển trở lại, nhưng rồi cuộc khủng hoảng tài chính năm 1987, một lầnnữa lại làm cho các TTCK lâm vào trạng thái đảo điên Và mức độ hậu quảcủa nó được các nhà nghiên cứu đánh giá còn trầm trọng hơn so với cuộckhủng hoảng thời kỳ năm 1929

Bước vào thẩp kỷ 90, TTCK thế giới đã dần dần đi vào giai đoạn ổn định

và phát triển Cho đến nay, ở hầu hết các quốc gia được đánh giá là có nềnkinh tế phát triển, đều đã hình thành hoạt động TTCK TTCK thực sự đã đượcxem như là một định chế tài chính quan trọng, không thể thiếu vắng trong đờisống kinh tế - xã hội, của các quốc gia quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường

1.1.2 Khái niệm về TTCK

Xung quanh khái niêm TTCK có nhiều ý kiến khác nhau:

- Thứ nhất: Ông Neil.F.Stapley trong cuốn “Stock Market A guide for

the private investor” đã đưa ra khái niệm về TTCK một cách đơn giản “là mộtthị trường phức tạp, cao cấp mà hàng hoá được giao dịch mua bán là những

cổ phiếu và cổ phần”

- Thứ hai: Tác giả Trần Xuân Kiêm trong cuốn “Hỏi đáp về TTCK và

công ty cổ phần” đã trình bày: “TTCK chỉ là nơi giao dịch, ở đó hàng ngànngười mua vào và bán ra các cổ phần mỗi ngày thông qua các đại lý của họ, lànhững người môi giới CK (Broker)”

SGDCK Hàn Quốc cho rằng : “TTCK là một thị trường trừu tượng nơi các

CK được phát hành và giao dịch giữa người mua và người bán”

Trang 14

như sau: “Là một TTCK có tổ chức, nơi các CK được mua và bán tuân theonhững nguyên tắc đã được ấn định”.

Với quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai về khai niệm TTCK, chothấy hàng hoá mua bán ở trên thị trường này chỉ để cập đến cổ phiếu.Trong khi đó, thực tế cho thấy, hàng hoá của TTCK rất phong phú đa dạngkhông chỉ có cổ phiếu mà còn có trái phiếu và các loại CK khác như:chứng quyện, chứng khế, quyền lựa chọn…Với quan điểm thứ ba về kháiniệm TTCK cho ta thấy TTCK là một thị trường trừu tượng Nhưng thực tếchúng ta thấy, TTCK không chỉ có thị trường trừu tượng, phi hiện hữu (nhưthị trường O.T.C) mà còn có thị trường cụ thể, hiện hữu như SGDCK

Quan điểm thứ tư cho rằng TTCK là một thị trường có tổ chức hoạt độngtrên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc đã được ấn định, khái niệm này chỉ phùhợp với loại TTCK tập trung, TTCK có tổ chức – Còn gọi là SGDCK Trongthực tế, TTCK có 3 loại: TTCK tập trung (có tổ chức), TTCK bán tập trung

và TTCK phi tập trung

Hơn nữa, trong tất cả những khái niệm về TTCK nêu trên, chúng ta thấykhông đề cập đến tính chất thời hạn của loại CK được đưa ra giao dịch trênthị trường – một đặc trưng riêng có để phân biệt TTCK với thị trường tiền tệ

Vì vậy, cần phải có khái niệm về TTCK một cách chung nhất cho mọiloại TTCK và thể hiện được đặc trưng riêng của nó

“TTCK là nơi diễn ra các hoạt động phát hành và giao dịch mua bán các loại CK trung và dài hạn, theo những nguyên tắc được ấn định”.

1.1.3 Cơ sở khách quan của sự hình thành và phát triển TTCK

Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của TTCK giúp ta có nhữngđiển hình thực tế để minh chứng cho một vấn đề có tính lý thuyết đó là: Sự rađời, tồn tại và phát triển TTCK là nhu cầu cần thiết khách quan của nền sảnxuất và trao đổi hàng hoá phát triển

Có thể khẳng định rằng, sự xuất hiện của TTCK bắt nguồn từ hai lý dochủ yếu sau đây:

Trang 15

* Mâu thuẫn trong quan hệ cung cầu về vốn tiền tệ - Nguyên nhân mang tính tiền đề cho sự xuất hiện của TTCK

+ Cầu vốn tiền tệ

Thật vậy, có thể dễ dàng nhận thấy, trong nền kinh tế - xã hội, có hai chủthể lớn thường xuyên có nhu cầu vốn tiền tệ để bổ xung cho sự thiếu hụt củamình nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển, đó là nhà nước và doanh nghiệp

Vì sao mà các chủ thể này lại xuất hiện nhu cầu vốn bổ sung?

- Đối với nhà nước: Toàn bộ các khoản chi tiêu khổng lồ của Nhà nước,bao gồm: Các khoản chi cho mục đích duy trì bộ máy hành chính, cho anninh, quốc phòng, cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cho phúc lợi công cộng, đềutrông chờ vào các khoản thu có hạn của ngân sách (trong đó chủ yếu là cácloại thuế) Tuy nhiên, một hiện tượng thực tế khá phổ biến là ở hầu hết cácquốc gia trên thế giới, ngân sách Nhà nước đều bị thâm hụt (thu < chi) NhưĐức 65,5 tỷ DEM năm 1988, Nhật Bản 12.680 tỷ JPY, Hoa Kỳ 228,7 tỷ USDnăm 1991, Philippin 2,5 tỷ USD năm 1995, Malaysia 7,1 tỷ USD năm 1995,Indonesia 7,5 tỷ USD năm 1995 và ThaiLand 13,1 tỷ USD năm 1995

- Đối với doanh nghiệp: Nhu cầu thực hiện quá trình tái sản xuất mởrộng là thường xuyên Để có thể đạt được mục tiêu này, họ cần vốn bổ sung

để mua thêm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở, nhà xưởng, kho tàng…Hơnnữa, trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trong cạnh tranh, cácdoanh nghiệp cần có vốn bổ sung thêm để tiến hành đổi mới trang thiết bị, ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằm tạo ra được những sản phẩm có ưu thếtrong cạnh tranh Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp có mô hình quản lý theo

cơ chế công ty cổ phần, ngoài những nhu cầu về vốn như đối với mọi doanhnghiệp bình thường đã nêu trên, họ còn có nhu cầu tạo vốn điều lệ ngay từbuổi ban đầu khi mới thành lập

+ Cung vốn tiền tệ

- Đối với các doanh nghiệp: Khả năng cung về vốn có thể xuất hiện từ

Trang 16

các nguồn như: Quỹ khấu hao cơ bản chưa sưu dụng, các quỹ tích luỹ từ lợinhuận chưa sử dụng…

- Ngoài doanh nghiệp, một loại chủ thể có khả năng cung ứng một khốilượng vốn tiền tệ rất lớn, đó là dân chúng từ nguồn thu nhập thường xuyên củamình (lương, phụ cấp, hưu bổng…) họ phải thực hiện các khoản chi cho mụctiêu trước mắt như : ăn ở, đi lại hàng ngày, học tập….Họ phải dành lại một phầndưới dạng tích luỹ để đề phòng bất trắc, để mua sắm trong tương lai Đây lànguồn cung cấp rất quan trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng cùng với sựtăng trưởng GDP ở mỗi quốc gia

- Ngoài ra, một nguồn cung cũng có vị trí khá quan trọng đó là nguồn từngoài nước, bao gồm từ các quốc gia và từ các tổ chức quốc tế thông qua cáchình thức viện trợ và tín dụng

Tóm lại, cung cầu vốn tiền tệ xuất hiện và tồn tại là một thức tế quantrọng, đòi hỏi phải được giải quyết hợp lý và có hiệu quả để tạo điều kiện chonền kinh tế, cho xã hội tồn tại và phát triển

Để giải quyết mâu thuẫn trong mỗi tương quan giữa cung và cầu vốn tiền

tệ, có thể bằng nhiều biện pháp khác nhau, hoặc thông qua việc sử dụng cácđịnh chế tài chính trung gian như: Ngân hàng, công ty tài chính, cũng như cácđịnh chế tài chính trung gian khác, hoặc sử dụng mô hình định chế tài chínhtrực tiếp đó là TTCK (Securities Market) Và đây cũng chính là lý do mà thịtrường này còn được người ta gọi là thị trường vốn (Capital Market) Với cơchế hoạt động của thị trường vốn, lực lượng cung và cầu về vốn tiền tệ có thểgặp gỡ nhau trực tiếp để đáp ứng nhu cầu của nhau Nhờ vậy, mâu thuẫntrước mắt tạm thời đã được giải quyết, để rồi lại xuất hiện những mâu thuẫnmới đòi hỏi phải được tiếp tục giải quyết Có thể nói, đây chính là nguồn

“năng lượng” để duy trì và phát triển hoạt động của TTCK

* Sự xuất hiện của các loại CK – Nguyên nhân trực tiếp quyết định

sự ra đời của TTCK

+ Về phía nhà nước

Trang 17

Như đã trình bày ở phần trên, khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt, cũng

có nghĩa là cầu về vốn tiền tệ xuất hiện, Chính phủ có thể sử dụng nhiều biệnpháp khác nhau để tạo ra nguồn bù đắp cho sự thâm hụt đó

Trong những thập kỷ trước đây, nhiều quốc gia trên thế giới còn coicông cụ phát hành tiền là một biện pháp “công hiệu” để tạo nguồn bù đắpthâm hụt ngân sách Theo thời gian, họ đã phát hiện ra những “tác dụng phụ”(lại rất nguy hiểm) khi dùng loại “thuốc công hiệu” này – đó chính là lạmphát – với những hậu quả cực kỳ tai hại Chính vì vậy, ngày nay chính phủcủa các nước đã phải cố gắng “đoạn tuyệt” với công cụ này (mặc dù vẫn chưahoàn toàn hết luyến tiếc nó) bằng cách “gõ cửa” các định chế tài chính trunggian, trước hết là ngân hàng Song, các ngân hàng (chủ yếu là ngân hàngthương mại) với nguồn vốn có hạn, với những quy chế tín dụng ngặt nghèo,

đã không thể đáp ứng được nhu cầu vốn tiền tệ khổng lồ của thâm hụt ngânsách nhà nước, buộc nhà nước phải tìm nguồn tài trợ từ các đối tác nướcngoài Tuy nhiên, để nhận được nguồn tài trợ từ đối tác nước ngoài cũngkhông phải là đơn giản Những điều kiện tài trợ của họ còn ngặt nghèo hơncủa những đối tác trong nước, đó là chưa kể đến những yếu tố ràng buộc nhấtđịnh về kinh tế, chính trị…kèm theo dưới mọi hình thức

Cuối cùng một biện pháp có thể được coi là tối ưu, đó là Nhà nướctrực tiếp vay nợ đối với mọi tầng lớp dân cư cũng như các chủ thể kháctrong nền kinh tế dưới hình thức tín dụng nhà nước, bằng cách phát hànhcác loại trái phiếu Nhà nước (tín phiếu, trái phiếu Kho bạc, công trái…) gọi

là CK Thông qua biện pháp này, nhà nước đã thu hút được những khoảnvốn tiền tệ tiết kiệm trong xã hội và nền kinh tế nhằm bù đắp khoản thâmhụt ngân sách của mình

Trong quan hệ này, một bên là nhà nước đóng vai trò người đi vay, phíabên kia bao gồm các chủ thể khác trong nền kinh tế là người cho vay, người

sở hữu CK và trở thành chủ nợ đối với Nhà nước

Trang 18

Sự xuất hiện của tín dụng nhà nước và các loại CK Nhà nước có một vịtrí vô cùng quan trọng đối với ngân sách nhà nước của hầu hết các quốc giatrên thế giới Ở Đức năm 1986, số tiền Chính phủ liên bang vay bằng cáchphát hành các loại CK Nhà nước là 149,7 tỷ DEM (Đê Mác) và năm 1988lên tới 177,9 tỷ DEM Ở Nhật năm 1975 – năm đầu tiền Chính phủ Nhậtphát hành trái phiếu để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước – số tiền vay là2.092 tỷ JPY (Yên Nhật) và 11 năm sau vào năm 1986 con số đó đã lên tới6.135 tỷ JPY.

+ Về phía doanh nghiệp

Sau Nhà nước, loại chủ thể thứ hai cũng có nhu cầu rất lớn và thườngxuyên về vốn tiền tệ, đó là doanh nghiệp, bất cứ doanh nghiệp đó thuộc loạihình tố chức theo mô hình quản lý nào, doanh nghiệp tư nhân, công ty liêndoanh hay công ty cổ phần Tuy nhiên, liên quan nhiều tới hoạt động pháthành CK trên thị trường, ở đây xin để cặp tới loại hình công ty cổ phần

Công ty cổ phần (Corporation) còn được gọi theo một trong những đặcđiểm của nó là công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability) Bản thân nó

là một pháp nhân, tồn tại độc lập với những người sở hữu nó Những ngườinày được gọi là những cổ đông (Stock holders) Về mặt lịch sử, loại công tynày mới được ra đời và phát triển trong vòng 2 thế kỷ này, nhằm khắc phụcmột số điểm bất lợi của 2 loại hình công ty đã tồn tại lâu đời là: Công ty tưnhân (Proprietorship) và công ty hợp doanh (Partmentship)

Các công ty cổ phần khi mới thành lập, cần phải hình thành vốn điều lệban đầu hoặc tăng thêm vốn điều lệ khi cần mở rộng quy mô, họ sẽ phát hànhcác loại cổ phiếu Đồng thời, khi cần bổ sung vốn tiền tệ tạm thời thiếu mộtthời gian trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài nguồn vốn được tìm kiếm

từ các tổ chức tài chính trung gian (Ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng khác), công ty cổ phần sẽ phát hành các loại trái phiếu công ty để huyđộng vốn, bù đắp sự thiếu hụt tạm thời của mình Các loại cổ phiếu và trái

Trang 19

phiếu do công ty phát hành – đó chính là CK.

Lịch sử đã chứng minh rằng, sự xuất hiện của các loại CK hoàn toàn là yêucầu cần thiết khách quan Vấn đề quan trọng là làm thế nào để CK phát hành rađược người đầu tư chấp nhận? Đối với người đầu tư điều mà họ quan tâm khiđầu tư vốn đó là tiền lời thu được từ hoạt động đầu tư nhiều hay ít, khả năngthanh khoản như thế nào…Nếu đầu tư vào CK, khả năng thanh khoản của CKphụ thuộc vào khả năng mua bán CK – Để tạo ra được khả năng đó, con đườngduy nhất hợp lý là phải hình thành cơ chế của một thị trường riêng biệt – mộtloại thị trường chuyên môn hoá các giao dịch mua bán những loại sản phẩm tàichính – các loại CK trung và dài hạn

Minh chứng điều này, Bà Venite Van Caspel (người Mỹ), tác giả củacuốn “năng động tiền tệ” đã mô tả về quá trình hình thành SGDCK NewYork như sau: “SGDCK New York là SGD lâu đời nhất và lớn nhất Nóxuất hiện một cách không chính thức, để có được một hệ thống tiền tệ ở đấtnước mới thành lập thì cần phải có nhiều ngân hàng, cần phải có nhiều cổđông bỏ vốn ra đầu tư Nhưng không ai chịu bỏ vốn ra đầu tư mua cổ phầncủa Ngân hàng nếu họ không có cách nào bán lại những cổ phần đó khi họmuốn Và để tạo ra một thị trường cho những cổ phiếu đó của Ngân hàng

và những loại cổ phiếu khác đã phát hành, một nhóm người đã tụ tập tạimột đường phố tại New York gọi là “Wall” để buôn bán với nhau với tưcách là những đại lý chó khách hàng của họ Sau đó, họ đã vào trong nhà

để tiếp tục mua bán, và từ buổi đầu khiêm tốn đó đã hình thành SGD NewYork thế lực ngày nay”

Tóm lại, từ những vấn đề đã được trình bày ở trên, có thể kết luậnrằng: TTCK phôi thai đã được xuất hiện trên thế giới từ khá lâu Cơ sởkhách quan của sự hình thành và phát triển TTCK xuất phát từ quan hệcung cầu vốn tiền tệ (dành cho đầu tư), xuất phát từ sự xuất hiện của cácloại CK cũng với quá trình thương mại hoá chúng

Trang 20

Ngày nay, sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, đòi hỏi cung cầu đầu

tư ngày càng gia tăng, càng đòi hỏi các hoạt động phát hành và mua bán

CK tăng lên nhanh chóng Đó vừa là yêu cầu vừa là tiền đề để các định chếđầu tư tài chính trực tiếp, ngày càng mở rộng về quy mô, đa dạng về hìnhthức và hoàn thiện hơn về kỹ thuật nghiệp vụ

tế thị trường Vai trò đó thể hiện qua những nội dung cơ bản sau đây:

* TTCK – Cộng cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế

Trước đây các đơn vị kinh tế đều lệ thuộc vào ngân hàng để có vốn hoạtđộng Ngày nay, tại hầu hết các nước, các đơn vị kinh tế cũng như Nhà nước đã

có thể huy động vốn trực tiếp từ các nguồn tiết kiệm bằng cách phát hành CKthông qua TTCK Nhờ có TTCK, cổ phiếu của một đơn vị kinh tế có thể pháthành bán rộng rãi cho công chúng Nguồn vốn huy động được đảm bảo và được

sử dụng lâu dài, đơn vị kinh tế không phải lo lắng về thời gian hoàn trả như đivay ngân hàng Do đó, giải phóng áp lực tâm lý nặng nề bởi lệ thuộc chu kỳ trảlãi và vốn vay ngân hàng

TTCK là nguồn cung cấp vốn trung và dài hạn cho Chính phủ Trungương hoặc địa phương thông qua việc phát hành các trái phiếu quốc gia haytrái phiếu địa phương nhằm tài trợ cho các công trình có tầm cỡ quốc gia vàquốc tế, từ đó tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế quốc gia nói chung vàđịa phương nói riêng

Hơn thế nữa, TTCK còn là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chúng

Trang 21

ta ai cũng có thể dễ dạng nhận ra rằng, vốn đầu tư trong nước dù lớn đến đâucũng có giới hạn Do vậy, vốn đầu tư nước ngoài có vai trò cực kỳ quan trọng,đặc biệt đối với những nước đang phát triển Có nhiều hình thức thu hút vốn đầu

tư nước ngoài như : Đầu tư theo hợp đồng, đầu tư liên doanh, đầu tư 100% Mỗiloại hình đều có mặt tích cực và tiêu cực riêng của nó Tuy nhiên, dù loại hìnhnào đều đòi hỏi phải thoả mãn điều kiện đó là thông tin đầy đủ và chính xác.Không có thông tin đầy đủ và chính xác thì dù thừa vốn cũng không ai dám đầu

tư TTCK hoạt động theo nguyên tắc công khai (công khai các thông tin liênquan đến giá trị CK, mua bán CK, khả năng tài chính của các chủ thể phát hànhCK…) Do đó, khắc phục được tình trạng thiếu thông tin hoặc thông tin khôngtrung thực TTCK là một tấm gương khổng lồ phản chiếu chất lượng hoạt độngsản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp có CK được lưu thông trên thịtrường Thông qua TTCK, các nhà đầu tư nước ngoài có thể quan sát theo dõi vànhận định tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành, các tổ chứckinh tế trong nước Nhờ đó, họ thực hiện việc đầu tư có hiệu quả

Nhìn lại quá trình phát triển của TTCK, càng minh chứng rằng đây làmột công cụ tài trợ vốn cần thiết cho hoạt động của nền kinh tế

* TTCK cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng từ đó tạo thói quen đầu tư

TTCK đưa đến cho công chúng những công cụ mới đa dạng phong phú,phù hợp với từng loại đối tượng có suy nghĩ và tâm lý riêng Với cả một hệthông gồm hàng chục loại CK khác nhau, của nhiều ngành kinh tế khác nhau,người tiết kiệm có thể tự mình lựa chọn hoặc thông qua những nhà tài chínhchuyên môn lựa chọn những hình thức thích hợp nhất Nhờ vậy, vốn nhàn rỗitrong xã hội sẽ được thu hút vào công cuộc đầu tư Vốn đầu tư sinh lời, càngkích thích ý thức tiết kiệm trong công chúng Ở các nước công nghiệp pháttriển như: Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp…phong trào người tiết kiệm thực hiệnđầu tư, phát triển rất mạnh qua hình thức “quỹ đầu tư” Với hình thức này

Trang 22

giúp cho những cá nhân chỉ có một số tiền tiết kiệm hoặc để dành nhỏ cũng

có thể tham gia đầu tư bằng cách góp vốn vào quỹ đầu tư và quỹ sẽ tập trung

số tiền tiết kiệm đó thành khoản tiền lớn để mua CK trên thị trường Ở TháiLan hiện có trên 250 quỹ đầu tư, ở Anh quốc có gần 2000 quỹ…Phòng tràoquỹ đầu tư được thành lập từ trước đại chiến thế giới lần thứ hai và hiện nayphát triển rất mạnh mẽ, không dưới 20 triệu người có cổ phiếu quỹ đầu tư

Rõ ràng, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho côngchúng, từ đó nâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệpphát triển kinh tế quốc dân

* TTCK là công cụ giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh

- Thông qua TTCK, nhà nước có thể thực hiện mục tiêu kiểm soát lạmphát, ổn định tiền tệ, ổn định kinh tế bằng cách ngân hàng trung ương các nước,thông qua việc mua bán trái phiếu chính phủ trên TTCK để điều tiết khối lượngtiền tệ trong lưu thông, điều tiết giá CK trên thị trường

Khi cần bơm tiền vào lưu thông, ngân hàng trung ương tung tiền ra mua

Trang 23

trái phiếu chính phủ, ngược lại khi cần thu hút tiền từ lưu thông về, giảm áplực lạm phát, ngân hàng trung ương bán trái phiếu chính phủ ra Khi giá tráiphiếu trên thị trường giảm ngân hàng trung ương tung tiền ra mua trái phiếu,làm cho cầu về trái phiếu tăng lên, do đó giá trái phiếu trên thị trường tănglên Ngược lại, khi giá trái phiếu trên thị trường tăng muốn giảm giá, ổn địnhtiền tệ, ngân hàng trung ương tung trái phiếu dự trữ ra bán thu tiền về.

Như vậy, chính nhờ có TTCK các nhà soạn thảo chính sách kinh tế củachính phủ có thể sử dụng CK để thực hiện chính sách tài chính và tiền tệthông qua việc mua bán trái phiếu chính phủ để bù đắp thiếu hụt ngân sách,kiểm soát lạm phát – tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển

* TTCK – Công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh và là phong vũ biểu của nền kinh tế

TTCK là một chỉ số đáng tin cậy nói lên tình trạng của các doanh nghiệp

và của nền kinh tế một đất nước

Các thị giá CK được thể hiện thường xuyên trên thị trường phản ánh giátrị phần tài sản có được giao dịch trên TTCK, vốn cổ phần của các doanhnghiệp và phần vay bằng trái phiếu Sự hình thành thị giá CK đã bao hàm sựđánh giá thực trạng của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, vì nó căn cứ vàohàng loạt các phân tích đánh giá của các giao dịch viên trên thị trường đối vớimỗi loại CK mà họ giao dịch Thị giá cổ phiếu cao hay thấp, biểu hiện mức

độ đầu tư, tài chính, trạng thái kinh tế của các doanh nghiệp, đặc biệt là thểhiện khả năng của các doanh nghiệp trong việc có thoả mãn cho các cổ đông

về thu nhập (cổ tức và giá thặng dư của cổ phiếu) hay không Chỉ có nhữngdoanh nghiệp làm ăn lành mạnh, có hiệu quả cao, hứa hẹn triển vọng tươnglại tốt thì giá trị thị trường của CK công ty (đặc biệt là cổ phiếu) mới cao.Như vậy, thực trạng hay triển vọng tương lai của các doanh nghiệp đượcthể hiện trực tiếp trên thị giá và diễn biến thị giá CK của công ty

Ngoài sự đánh giá các doanh nghiệp, TTCK còn dự đoán trước và là

Trang 24

“phong vũ biểu” của nền kinh tế Giúp những người đầu tư có cơ sở đánh giátương lai của các xí nghiệp nói triêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.Bênh cạnh đó, nghiên cứu sự biến động của thị giá trái phiếu trên TTCK cũngcho phép tính được qua khoản cho vay dài hạn dưới hình thức trái phiếu Diễnbiến của thị giá trái phiếu là một chỉ số nói lên mức độ tin cậy của người đầu

tư trước diễn biến của các rủi ro tiền tệ (mức độ lạm phát dự đoán) và rủi rotài chính (khả năng thanh toán của các chủ thể phát hành)

Tóm lại, TTCK là hòn đá tảng lấp đi cái hố ngăn cách giữa cung cầu vềvốn, giữa người có vốn và người cần vốn, giữa người cần mua CK và ngườimuốn bán CK Giữa đầu cơ nâng giá và đầu cơ hạ giá CK, giữa nhu cầu vayvốn dài hạn và các hoạt động cho vay ngắn hạn mà nhiều nhà đầu tư ưa thích

Rõ ràng, với cách hoạt động mềm dẻo, linh hoạt (thuận lợi hơn nhiều so vớicách huy động vốn thông qua các quỹ tiết kiệm) của TTCK, đã tạo điều kiệncho TTCK phát huy va trò tích cực, có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tếphát triển theo cơ chế thị trường

Tuy nhiên, bên cạnh vai trò – thể hiện những mặt tích cực của TTCK,hoạt động của TTCK cũng chứa đựng một số yếu tố tiêu cực như:

+ Yếu tố đầu cơ: đó là hiện tượng một hoặc nhiều người cấu kết với

nhau để mua hoặc bán liên tục một loại CK nào đó, dẫn tới sự khan hiếm hoặcthừa thãi CK một cách giả tạo, làm cho giá CK tăng lên hoặc giảm xuống mộtcách không bình thường, gây rối loạn thị trường

Luật TTCK các nước cấm mọi sự cấu kết như: điều 39 của qui định muabán cổ phiếu tại Thượng Hải và điều 40 của qui định về việc phát hành vàmua bán cổ phiếu tại Thẩm Quyền Trong đó, mọi sự cấu kết giữa cá nhân vàđơn vị để mua bán cùng lúc một loại cổ phiếu nào đó tạo ra mức cung cầu giảtạo, ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, sẽ bị trừng phạt theo luật

(thường là phạt tiền)

- Mua bán nội gián: đó là hiện tượng một cá nhân lợi dụng thông tin nội

Trang 25

bộ để thực hiện mục đích đầu cơ của mình – gây ảnh hưởng đến giá trị CK(đặc biệt khi thông tin đó được phổ biến rộng rãi) Điều này vi phạm nguyêntắc hoạt động của TTCK, mọi nhà đầu tư phải có cơ hội như nhau Vì vậy,mua bán nội gián được coi là hành vi phi đạo đức thương mại, việc cấm đoánmua bán nội gián đã được đưa vào luật pháp của các nước có TTCK như: Hoa

Kỳ năm 1934, Anh Quốc năm 1986…và được coi là tội hình sự

- Phao tin đồn không chính xác hoặc thông tin lệch lạc về hoạt động của một doanh nghiệp: điều này có thể dẫn đến tình trạng cổ phiếu của doanh

nghiệp bị đưa ra bán ồ ạt, giá cổ phiếu giảm đột ngột, gây hậu quả xấu chodoanh nghiệp

Nhận thức đúng đắn và đầy đủ tính hai mặt cuả TTCK có ý nghĩa rấtquan trọng trong quá trình nghiên cứu cũng như vận dụng thực tiễn Đặc biệt

là tại Lào khi TTCK vẫn còn là vấn đề hết sức mới mẻ và xa lạ

1.1.5 Xu hướng của TTCK trên thế giới trong thời gian gần đây

Hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có TTCK TTCK đãtrở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tếcủa những nước theo cơ chế thị trường

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, TTCK cũng ngày càngđược mở rộng và phát triển, phương thức tổ chức và giao dịch của TTCKđược cải tiến không ngừng, đặc biệt với sự phát triển của ngành điện tử tinhọc ứng dụng vào TTCK, TTCK đã trở thành một công nghệ có kỹ thuậtriêng (gọi là công nghệ CK)

* Các nhân tố mang tính toàn cầu

- Sự phục hồi dần nền kinh tế thế giới ra khỏi giai đoạn khủng hoảng

1997 tại Thái Lan làm cho nền kinh tế thế giới trải qua một giai đoạn tăngtrưởng vững chắc vào đầu thế kỷ 21, và quan trọng hơn là đã khôi phục được

tỷ suất lợi nhuận trong thị trường vốn quốc tế

- Sự cắt giảm lạm phát vào năm 1997

- Sự có mặt và ngày càng hiện đại hoá của vi tính trong lĩnh vực công nghệ

Trang 26

* Các nhân tố mang tính thị trường

- Nhân tố chủ yếu trong khung cảnh tài chính thế giới thập kỷ qua là quátrình phi trung gian hoá đi đôi với CK hoá thị trường tài chính

- Sự đổi mới nhanh chóng về các sản phẩm của thị trường đã tạo ranhững thay đổi liên tục cho TTCK

- Sự tự do hoá và nới lỏng các quản chế CK

- Việc mở rộng quốc tế hoá TTCK

Nếu như trong các thập kỷ 80 và 90, TTCK thế giới được bảo vệ cao độ

và có cấu trúc độc lập đóng kín thì hiện nay chúng ta đang chứng kiến mộtkhung cảnh khác biệt Các thị trường cổ phiếu và trái phiếu độc quyền trướckia, giờ đã được mở ra cạnh tranh tự do Một loạt thị trường dựa trên các công

cụ khác nhau như : thị trường kỳ hạn, hay quyền chọn mua CK đã xuất hiện ởnhiều trung tâm CK và hàng loạt các công cụ tài chính mới đang được đem racung cấp cho các nhà đầu tư CK tài năng Tạo điều kiện cho TTCK thế giớitrong thời gian gần đây trở nên phát triển và sôi động Tuy nhiên, cũng khó cóthể dự đoán chính xác TTCK sẽ biến đổi như thế nào trong tương lai, ngay cảchỉ trong vòng 3-4 năm nữa

1.2 Những điều kiện để hình thành TTCK

1.2.1 Những điều kiện chung

Những điều kiện chung chính là những điều kiện tiền đề cho việc hìnhthành TTCK Những điều kiện này bao gồm:

- Nền kinh tế ổn định

Theo các nhà nghiên cứu TTCK là nơi để các doanh nghiệp, tổ chức tàichính, hoặc cá nhân huy động vốn Nền kinh tế ổn định đảm bảo cho TTCKphát triển ổn định và mạnh mẽ và ngược lại nếu nền kinh tế không ổn địnhthì sẽ ảnh hưởng xấu đến TTCK, làm cho TTCK phát triển chậm chạp vàlàm cho các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài không yên tâm khi đầu tưvào TTCK

Trang 27

- Phải có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật

Để TTCK ra đời và phát triển được cần có hệ thống các văn bản phápluật và các quy chế liên quan để thị trường có thể tồn tại, đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp của những người tham gia, đồng thời xác định nghĩa vụ vàtrách nhiệm của các chủ thể đó Luật CK, các văn bản dưới luật và các luật cóliên quan tới TTCK tất yếu có ảnh hưởng tới sự phát triển của TTCK bởi nótiết chế các hành vi hoạt động kinh doanh CK

Môi trường pháp lý phù hợp sẽ kích thích TTCK phát triển Ngược lại,môi trường pháp lý chưa phù hợp sẽ ảnh hưởng xấu thậm chí có tác độngngược chiều đến sự phát triển của TTCK

Vì vậy, môi trường pháp lý là nhân tố có ảnh hưởng rõ ràng và trực tiếpnhất tới quá trình phát triển TTCK

Nhà nước là cơ quan tạo ra môi trường pháp lý quan trọng nhất Hành langpháp lý do Nhà nước tạo ra quyết định đến việc vận hành và sự phát triển của TTCK

- Các quan hệ thanh toán trong nền kinh tế phải phát triển

Trong nền kinh tế mà đại bộ phận các quan hệ thanh toán, giao dịch đềuđược thực hiện qua hệ thông ngân hàng thì cũng có nghĩa là Nhà nước sẽthông qua hệ thông ngân hàng để kiểm tra, giám sát được tất cả các hoạt độngcủa doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các cơ quan về TTCK có thể kiểm tra đượcviệc thanh toán cổ phiếu, trái phiếu của mỗi CTCK

- Trình độ nhận thức của dân cư và các thành phần kinh tế phải được nâng cao

Việc nhận thức của dân cư và các thành phần kinh tế là vô cùng quantrọng, bởi vì dân cư và các thành phần kinh tế là một trong những đối tượngtham gia mua, bán, trao đổi các cổ phiếu, trái phiếu Tóm lại là những ngườiđấu tư vào TTCK, nếu thiếu các thành phần này thì TTCK không bao giờ rađời được Do đó, việc nâng cao nhận thức của các thành phần này là cần thiết,phải đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về CK cho họ biết

- Phải có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ

Trang 28

cho TTCK

Trong xã hội của chúng ta hiện nay, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệphoặc công ty nào đó cũng đều cần sự hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật hiện đại.TTCK cũng vậy, nếu có sự hỗ trợ của hệ thống máy vi tính hiện đại hoặc nốimạng giữa các cơ quan quản lý, các trung gian tài chính, CTCK…thì sẽ làmgiảm thời gian về việc giao dịch CK cũng như làm giảm nhiều đối với chí phícho cán bộ công nhân viên.

1.2.2 Các điều kiện cụ thể

1.2.2.1 Hàng hóa phục vụ cho TTCK

Nói đến thị trường là phải nói đến hàng hoá – sẽ không thể tồn tại vàphát triển được nếu như thị trường không có hàng hoá Tuy nhiên mỗi loại thịtrường có những loại hàng hoá giao dịch riêng Ở TTCK, hàng hoá của thịtrường bao gồm có nhiều loại với tên gọi riêng Nhưng xét về mặt lịch sử vàtheo cách gọi có tính thống nhất, các loại hàng hoá này đều có tên gọi chung –

đó là CK Sự hình thành và phát triển của TTCK quyết định bởi chính sự xuấthiện của CK cùng với chất lượng và số lượng của chúng được mua bán trênthị trường

Tác giả William F Sharpe trong cuốn Investments đã có định nghĩa cụthể hơn về CK như sau : “CK là từ được dùng để chỉ một chứng từ hợp pháp,xác nhận quyền được hưởng một số quyền lợi có thể có trong tương lai trongmột số điều kiện nhất định”

Trong định nghĩa này, Ông William F Sharpe lại chưa thể hiện rõ quan

hệ giữa chủ thể phát hành CK và người đầu tư (người sở hữu CK) – Đó là

việc xác nhận tham gia đầu tư hoặc cho vay vốn Vì vậy, theo em: “CK có thể hiểu là một thuật ngữ được dùng để chỉ các loại chứng từ có giá do một chủ thể phát hành, nhằm xác nhận một cách hợp pháp việc tham gia đầu

tư, cho vay vốn hoặc quyền được hưởng một số quyền lợi trong một số điều kiện nhất định của sở hữu chủ chứng từ đó đối với chủ thể phát hành”.

Trang 29

Ở trên TTCK, CK có một số đặc điểm như sau:

+ Tính thanh khoản (Tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng

chuyển tài sản đó thành tiền mặt Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vàokhoảng thời gian và phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảmsút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi CK có tính lỏng cao hơn so với các tàisản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên thị trường và nóichung, các CK khác nhau có khả năng chuyển nhượng là khác nhau

+ Tính rủi ro: CK là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu sự tác

động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống Rủi ro có hệ thống hay rủi ro thị trường là rủi ro tác động tới toàn bộhoặc hầu hết các tài sản Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh

tế chung như: lạm phát, sư thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất…

Rủi ro không có hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hoặcmột nhóm nhỏ các tài sản Loại rủi ro này thường liên quan tới điều kiện củanhà phát hành Các nhà đầu tư thường quan tâm tới việc xem xét, đánh giá cácrủi ro liên quan, trên cơ sở đó để ra các quyết định trong việc lựa chọn, nắmgiữ hay bán các CK đó Điều này phản ánh mối quan hệ giữa lợi tức và rủi rohay sự cân bằng về lợi tức - người ta sẽ không chịu rủi ro tăng thêm trừ khingười ta kỳ vọng được bù đắp bằng lợi tức tăng thêm

+ Tính sinh lời: CK là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư

mong muốn nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai Thu nhập nàyđược bảo đảm bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá CK trênthị trường Khả năng sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài

sản, thể hiện trong nguyên lý “Mức độ chấp nhận rủi ro càng cao thì lợi

nhuận kỳ vọng càng lớn”.

a./ Cổ phiếu (Stock)

Khi một công ty cổ phần gọi vốn để thành lập hoặc mở rộng hiện đại hoá

Trang 30

sản xuất, thì số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổphần (Share), người mua cổ phần được gọi là cổ đông (Stock holders) Giấychứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.

Cổ phiếu là một chứng thư, chứng minh quyền sở hữu của một cổ đôngđối với một công ty cổ phần hay nói cách khác cổ phiếu là một giấy chứngnhận việc đầu tư vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần

Như vậy, chính công ty cổ phần đã khai sinh ra cổ phiếu và chỉ có công

ty cổ phần mới có cổ phiếu Các cổ đông – người mua cổ phiếu của công ty,không phải là người cho công ty vay tiền, không phải là chủ nợ đối với công

ty, mà là người hùn vốn cùng công ty hoạt động, là người chủ sở hữu công ty

Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là CK vốn

Cổ phiếu có 2 loại chủ yếu:

* Cổ phiếu thường (Common Stock)

Tương tự như các loại cổ phiếu, cổ phiếu thường là một CK vốn, không có

kỳ hạn, tồn tại với sự tồn tại của công ty, lợi tức cổ phiếu được trả vào cuối niên

để quyết toán gọi là cổ tức Đặc điểm của cổ phiếu thường là:

- Lợi tức của cổ phiếu (cổ tức) không ổn định, phụ thuộc vào mức lợinhuận thu được hàng năm của công ty và chính sách chia lời của công ty

Khi công ty thành đạt trong hoạt động kinh doanh, các cổ đông của cổphiếu thường thu được cổ tức thấp, thậm chí là không có cổ tức

Ngay trong trường hợp công ty hoạt động tốt, lợi nhuận thu được cao, cổtức mà các cổ đông của cổ phiếu thường nhận được vẫn có thể không cao dochính sách chia lời của công ty – tỷ lệ dành cho tích luỹ cao

- Việc trả cổ tức đối với cổ phiếu thường có thể thực hiện bằng các hìnhthức sau:

+ Trả bằng tiền mặt – đây là hình thức sử dụng phổ biến nhất, phù hợpvới nguyện vọng của các nhà đầu tư

Trang 31

+ Trả bằng chính cổ phiếu của công ty, nếu công ty làm ăn tốt thì hìnhthức này rất hấp dẫn đối với những người có ý muốn đầu tư tiếp.

+ Trả bằng tài sản của công ty, hình thức này thường ít sử dụng trongthực tế

- Cổ phiếu của công ty không cho nhà đầu tư một sự hứa hẹn hoàn trả lại

số vốn đầu tư vì đây không phỉa là khoản nợ đối với công ty – vì vậy nó cònđược gọi là một CK vĩnh viễn

- Cổ đông của cổ phiếu thường được hưởng một số quyền khi họ mua cổphiếu của công ty như:

+ Quyền lựa chọn Hội đồng quản trị công ty (thông qua các đại hội cổđông)

+ Quyền bỏ phiếu về tất cả các vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ tài sản củacông ty như: sự sát nhập, khả năng thanh toán, phát hành cổ phiếu bổ sung…+ Quyền được cung cấp thông tin cụ thể về tiến trình hoạt đọng của công ty.+ Quyền truy đòi cuối cùng đối với tài sản của công ty phát hành (chialợi nhuận ròng của công ty – khi có lãi, chia giá trị thị trường của tài sản công

ty – khi thanh lý)

Với các đặc điểm, cho thấy cổ phiếu thường bao hàm nhiều yếu tố rủi ro,giá cả cổ phiếu biến động nhiều trên thị trường Do đó, khi đầu tư đòi hỏi nhàđầu tư phải phân tích xem xét kỹ lưỡng để chọn đúng hướng đầu tư, nhằm thuđược lợi tức cao

* Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock)

Cổ phiếu ưu đãi hay còn gọi là cổ phiếu đặc quyền – là loại cổ phiếuđược hưởng những quyền ưu tiên hơn so với cổ phiếu thường, nếu như cố tứccủa cổ phiếu thường không cố định thì ngược lại cổ đông của cổ phiếu ưu đãiđược hưởng một mức cổ tức cố định hàng năm (nghĩa là không phụ thuộc vàotình hình sản xuất kinh doanh của công ty) Nếu như cổ phiếu thường chỉ cho

Trang 32

phép cổ đông quyền truy đòi cuối cùng đối với tài sản của công ty phát hànhthì cổ phiếu ưu đãi cho phép cổ đông được ưu tiên chia lãi cổ phần trước cổphiếu thường, được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty (khi công ty

bị phá sản hoặc giải thể) trước so với cổ phiếu thường Nghĩa là cổ phiếu ưuđãi mang tính rủi ro ít hơn cổ phiếu thường – chính vì lẽ đó, giá cả của cổphiếu ưu đãi trên thị trường thường không dao động lên xuống nhiều như giá

cả của phiếu thông thường

Vì vậy, loại cổ phiếu này phù hợp với những nhà đầu tư muốn có thunhập ổn định, đều đặn, không thích mạo hiểm, rủi ro Nhưng lại không phùhợp với những nhà đầu tư muốn tham gia quản lý kiểm soát công ty, vì cổđông của cổ phiếu ưu đãi không có tiếng nói và quyền bầu Hội đồng quản trịcông ty như cổ phiếu thường

Để tạo nên sự hấp dẫn hơn cho cổ phiếu ưu đãi, phù hợp với tâm lýmuôn vẻ của các nhà đầu tư, cổ phiếu ưu đãi được đa dạng hoá và phân chiathành nhiều loại khác nhau

+ Cổ phiếu ưu đãi dồn lãi và cổ phiếu ưu đãi không dồn lãi

Loại cổ phiếu ưu đãi được công ty bảo đảm cho sở hữu chủ, nếu năm tàichính này không được chia lợi tức thì sẽ được cộng dồn vào năm tài chínhtiếp theo – gọi là cổ phiếu ưu đãi dồn lãi

Ngược lại, loại cổ phiếu ưu đãi mà số nợ lãi cổ phiếu sẽ bị công ty huỷ

bỏ khi công ty không có lợi nhuận để trả đủ - gọi là cổ phiếu ưu đãi khôngdồn lãi

+ Cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần và cổ phiếu ưu đãi không tham

Trang 33

khoản lợi nào, ngay cả khi công ty làm ăn phát đạt vượt bậc – gọi là cổ phiếu

ưu đãi không tham dự chia phần

+ Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi

Đây là loại cổ phiếu ưu đãi được các cổ đông rất ưa chuộng, loại cổphiếu này bao gồm một điều khoản cho phép người chủ sở hữu cổ phiếu đượcchuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thông thường trongmột thời gian nhất định

Vì cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi luôn gắn liền với cổ phiếu thường,

do đó giá cả của loại cổ phiếu ưu đãi này giao động nhiều hơn so với giá cảcủa các loại cổ phiếu ưu đãi khác Nếu công ty thành đạt, giá trị cổ phiếuthường gia tăng trên thị trường thì giá cả các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi cũnggia tăng tương ứng Ngược lại, nếu giá cổ phiếu thường sụt giảm thì giá cả cổphiếu ưu đãi chuyển đổi cũng bị tác động theo

+ Cổ phiếu ưu đãi có thể bồi hoàn

Đây là loại cổ phiếu ưu đãi mà khi phát hành có ghi kèm điều khoảnrằng: Công ty có thể bồi hoàn trọn số tiền mua cộng thêm một khoản chithưởng theo tỷ lệ phần trăm (thường là 5%) trên mệnh giá cho sở hữu chủ đểchuộc lại cổ phiếu ưu đãi

Thường thường, công ty sử dụng quyền bồi hoàn này để thu hồi các cổphiếu ưu đãi được hưởng lãi suất cổ phần cao để thay thế bằng những cổ phần

có lãi suất cổ phần thấp hơn nhằm cải thiện tình hình tài chính

Tóm lại, với những đặc trưng của mình đã tạo cho các công ty cổ phầnnhững ưu thế tuyệt diệu, có khả năng huy động tập trung được khối lượng vốnkhổng lồ cho sự phát triển từ những số vốn lẻ trong dân chúng Nhờ có cổphiếu, vốn đầu tư của các nhà cổ đông không bị bất động, họ có thể chuyểnvốn đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ công ty này sang công tykhác bằng cách mua bán cổ phiếu trên thị trường Chính vì lẽ đó, giáo sưWolfan Engels, trong tác phẩm “TTCK và công ty cổ phần” đã khẳng định:

Trang 34

“Không có sáng kiến tìm ra cổ phiếu thì không thể nghĩ đến phát triển” Cổphiếu đã trở thành công cụ để chuyển những dành dụm trong mọi tầng lớpdân cư vào đầu tư sản xuất Cổ phiếu tạo điều kiện tách bạch chức năng củanhà kinh doanh với chức năng của nhà cấp vốn Một người có tài kinh doanh

có thể trở thành nhà kinh doanh kể cả khi anh ta không giàu

b./ Trái phiếu (Bond)

Khác với cổ phiếu là một CK vốn, trái phiếu là một CK hứa nợ dài hạncủa chủ thể phát hành Người phát hành trái phiếu phải có nghĩa vụ trả lãi tráiphiếu và hoàn trả vốn gốc của trái phiếu cho sở hữu chủ trái phiếu (trái chủ)khi đáo hạn Vì vậy, trái phiếu còn được gọi là CK nợ

Đặc điểm cơ bản của trái phiếu là:

- Chủ thể phát hành không chỉ là công ty mà còn có chính phủ hoặcchính quyền địa phương

- Nếu như người mua cổ phiếu của công ty, trong thực tế là người muamột phần của công ty, là người sở hữu công ty, thì trái lại người mua tráiphiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền, là chủ nợ của chủ thể pháthành trái phiếu

- Nếu như thu nhập chủ yếu của sở hữu chủ cổ phiếu là cổ tức – phụthuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, thì trái lại thu nhập chủyếu của trái phiếu là tiền lãi – là khoản thu cố định, không phụ thuộc vào tìnhhình sản xuất kinh doanh của người chủ phát hành

- Nếu như cổ phiếu là CK, cung cấp cho người chủ sở hữu quyền truyđòi cuối cùng đối với tài sản công ty, thì trái lại trái phiếu là CK nợ, vì vậynếu công ty bị giải thể hoặc bị phá sản thì trước hết công ty ưu tiên trả nợ chocác trái chủ trước, sau đó còn lại mới phân chia cho các cổ đông Thứ tự bồihoàn là:

(1) Trái chủ hay các chủ nợ

Trang 35

(2) Cổ đông của cổ phiếu ưu đãi.

(3) Cổ đông của cổ phiếu thường

Với những đặc điểm trên, cho phép trái phiếu có tính ổn định và chứađựng ít rủi ro hơn cổ phiếu Vì vậy, đây là dạng đầu tư được các nhà đầu tư vàcác định chế đầu tư ưu chuộng

Căn cứ vào phương thức tổ chức phát hành, trái phiếu bao gồm có

2 loại:

+Trái phiếu công ty

Trái phiếu công ty là trái phiếu do công ty phát hành với mục đích huyđộng vốn để bổ sung vốn tạm thời thiếu phục vụ cho đầu tư phát triển

Trái phiếu công ty có rất nhiều loại, tuỳ thuộc vào điều kiện, sự tính toán

mà công ty có thể lựa chọn cho mình một trong những loại trái phiếu đặctrưng sau để phát hành bao gồm: trái phiếu thế chấp, trái phiếu tín chấp, tráiphiếu chuyển đổi, trái phiếu thu nhập, trái phiếu cầm cố ưu tiên, trái phiếuchiết khấu, trái phiếu hỗ trợ hàng hoá, trái phiếu lãi suất thả nổi…

+ Trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương

Trái phiếu chính phủ hoặc chính quyền địa phương là CK nợ do chínhphủ hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp sự thiếuhụt ngân sách và tài trợ cho các dự án xây dựng các cơ sở hạ tầng, công trìnhphúc lợi công cộng trung ương và địa phương

Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất vì có nguồn vốnngân sách Nhà nước là đảm bảo, người mua trái phiếu chính phủ thường đượcmiễn thuế thu nhập

Tương tự như trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ cũng bao gồmnhiều loại phong phú và đa dạng như : trái phiếu đô thị, công trái Nhà nước,trái phiếu thế chấp

c./ Các chứng khoán khác

Trang 36

+ Chứng quyền (Preemtive Right)

Nếu công ty quyết định tăng thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới

và nếu các cổ phiếu mới này được bán cho các cổ đông mới, thì việc pháthành cổ phiếu mới sẽ ảnh hưởng đến quyền sở hữu đối với công ty của các cổđông hiện hữu – nghĩa là quyền sở hữu, quyền kiểm soát đối với công ty củacác cổ đông hiện hữu bị “Pha loãng” Để khắc phục nhược điểm này, công ty

đã cho phép các cổ đông hiện hữu được hưởng quyền ưu đãi, được quyền mua

cổ phiếu mới với giá thấp hơn giá thị trường và với số lượng tỷ lệ với số cổphiếu mà mỗi cổ đông đang nắm giữ

Ví dụ: Công ty cho phép các cổ đông quyền mua thêm 01 cổ phiếu mớiphát hành thêm tương ứng với mỗi cổ phiếu họ đã có Giấy xác nhận quyềnđược mua số cổ phiếu mới phát hành, do công ty cấp gọi là giấy bảo đảmquyền mua cổ phiếu Các cổ đông hiện hữu, nếu thực hiện quyền này, sẽ duytrì được tỷ lệ sở hữu đối với công ty Nếu không thực hiện quyền thì họ có thểbán quyền đó cho người khác trên TTCK để hưởng một phần chênh lệch giá

Do đó, giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu cũng là một CK – được gọi làchứng quyền

Như vậy, chứng quyền là một CK, cung cấp cho người sở hữu chủquyền được mua số lượng nhất định cổ phiếu mới phát hành, với giá cả nhấtđịnh, trong một thời hạn nhất định (thường là kỳ hạn ngắn)

+ Chứng khế (Warrant)

Một chứng khế gắn với một loại CK, cho phép người giữ nó được quyềnchuyển đổi CK đó sang CK khác hoặc sang một công cụ nào đó khác theomột tỷ giá nhất định trong một thời hạn nhất định (thường là kỳ hạn dài hơnchứng quyền)

Trong thực tế, các chứng khế được phát hành cùng với các trái phiếuhoặc các cổ phiếu ưu đãi để giúp cho việc chào bán lần đầu những CK này trởnên hấp dẫn hơn

Trang 37

Ví dụ: Một công ty có thể phát hành kết hợp giữa các trái phiếu vàchứng khế Các trái phiếu được phát hành dưới hình thức thông thường, cònchứng khế được phát hành nhằm giúp cho việc chào bán hấp dẫn hơn Nếucông ty có chiều hướng phát triển, trên cơ sở theo dõi các báo cáo hoàn thànhnhững mục tiêu của nó, chứng khế sẽ hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

# Bên thứ hai: Người viết quyền lựa chọn đồng thời là người bán quyền

(gọi là người thu trái) , thu một khoản tiền từ người mua để có nghĩa vụ thựchiện giao dịch đã nêu trong hợp đồng

# Bên thứ ba: Cơ quan quản lý, đảm bảo cho giao dịch nêu trong hợpđồng sẽ được thực hiện đúng

Hợp đồng quyền chọn có đặc điểm:

- Muốn trở thành người chủ quyền lựa chọn phải mua quyền lựa chọn,giá mua là do sự thoả thuận giữa hai bên trên cơ sở cung cầu thị trường

- Hợp đồng quyền lựa chọn có 2 loại như : quyền chọn mua (call option)

và quyền chọn bán (Put option)

Nếu là quyền chọn mua, người chủ của quyền có quyền mua một loại CKnào đó, vì số lượng và giá cả xách định trong một thời hạn nhất định

Nếu là quyền chọn bán, người chủ của quyền có quyền bán một loại CKnào đó, với số lượng và giá cả xác định trong một thời hạn nhất định

1.2.2.2 Ủy ban chứng khoán Nhà nước

UBCKNN là cơ quan thuộc Chính phủ, có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ,

Trang 38

thẩm quyền của một cơ quan quản lý nhà nước về CK và TTCK, quản lý nhànước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực CK và TTCK Đây là cơ quan ban hànhnhững luật lệ liên quan đến kinh doanh CK, tham mưu và soạn thảo dự thảo luậtkinh doanh CK cho Quốc hội và các nghị định hướng dẫn thi hành luật này choChính phủ Các công ty cổ phần muốn được niêm yết tại SGDCK đều phải được

sự chấp thuận của ủy ban này SGDCK là đơn vị trực thuộc của UBCKNN.Sau đây là một số chức năng của UBCKNN:

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch về CK, TTCK sau khi được phê duyệt

- Ban hành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm chuyên môn nghiệp vụ, địnhmức kinh tế - kỹ thuật để áp dụng trong các tổ chức, đơn vị trực thuộc theoquy định của pháp luật và của đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật

về CK và TTCK

- Cấp, gia hạn, đình chỉ hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký phát hành,đăng ký giao dịch, giấy phép niêm yết, giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hànhnghề kinh doanh và dịch vụ CK theo quy định của pháp luật

- Tổ chức, quản lý Trung tâm giao dịch, SGDCK và các TTCK có tổchức, trung tâm lưu ký, đăng ký, thanh toán bù trừ CK

- Thanh tra, kiểm tra và giám sát các tổ chức và cá nhân tham gia hoạ tđộng tại TTCK và xử lý các vi phạm về CK và TTCK theo quy định củapháp luật

1.2.2.3 Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch CK

SGDCK là thị trường giao dịch CK được thực hiện tại một địa điểm tậptrung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ thống máy tính Đây là một tổchức có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính, có nhiệm vụ tổ chức mua,bán, trao đổi CK không vị mục đích lợi nhuận

Chức năng của SGDCK: Việc thiết lập một thị trường giao dịch CK có

tổ chức, vận hành liên tục với các CK được chọn lựa là một trong những

Trang 39

chức năng quan trọng nhất của SGDCK Mặc dù hoạt động của SGDCKkhông mang lại vốn trực tiếp cho tổ chức phát hành, nhưng thông quaSGDCK các CK phát hành được giao dịch liên tục, làm tăng tính thanhkhoản cho các CK Các tổ chức phát hành có thể phát hành để tăng vốn quaTTCK, các nhà đầu tư có thể dễ dàng mua hoặc bán CK niêm yết một cách

dễ dàng và nhanh chóng

Chức năng xác định giá cả công bằng là cực kỳ quan trọng trong việc tạo

ra một thị trường liên tục Giá cả không do SGDCK hay thành viên SGDCK

áp đặt mà được SGDCK xác định dựa trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán

CK Giá cả chỉ được xác định bởi cung – cầu trên thị trường Qua đó SGDCKmới có thể tạo ra được một thị trường tự do, công khai và công bằng Hơnnữa, SGDCK mới có thể đưa ra được các báo cáo một cách chính xách và liêntục về các CK, tình hình hoạt động của các tổ chức niêm yết các CTCK

1.2.2.4 Công ty chứng khoán

Hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) rất đa dạng và phức tạp,khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại thông thường vìCTCK là một định chế tài chính đặc biệt

CTCK có thể hiểu là các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạnđược thành lập hợp pháp và được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện mộthoặc một số loại hình kinh doanh CK

Trong lịch sử và trên thực tế, các CTCK có nhiều loại hình tổ chức nhưcông ty cổ phần, doanh nghiệp góp vốn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệpnhà nước hay doanh nghiệp liên doanh Mỗi loại hình này đều có những ưuthế và bất lợi riêng của mình, song đa số các nước quy định loại hình CTCKphù hợp với TTCK là công ty cổ phần và doanh nghiệp góp vốn Vì trên thực

tế, hai loại hình tổ chức công ty này có những lợi thế về quyền sở hữu, quảntrị điều hành, huy động vốn, tư cách pháp lý rất phù hợp với nghiệp vụ CK

Trang 40

Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình phổ biến về CTCK như sau:

+ Mô hình công ty chuyên doanh CK

Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh CK sẽ do các CTCK độc lập,chuyên môn hoá trong lĩnh vực CK, đảm nhận, các ngân hàng không đượctham gia vào kinh doanh CK Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như:

Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada…

+ Mô hình công ty đa năng

Có hai loại công ty đa năng:

- Công ty đa năng một phần: Ở đây các ngân hàng thương mại muốnkinh doanh CK phải thành lập công ty con kinh doanh độc lập

- Công ty đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng thương mại được phép kinhdoanh tổng hợp (CK, bảo hiểm, tiền tệ…)

1.2.2.5 Các tổ chức phụ trợ trong TTCK

+ Bảo hiểm

Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợcấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trongtrường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này

có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo cácphương pháp của thống kê

Trong hầu hết các nước trên thế giới ngành bảo hiểm cũng là mộttrong ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, ngoài việc kinhdoanh về lĩnh vực của mình thường bảo hiểm cũng chuyển sang kinh doanh

về lĩnh vực CK

+ Tổ chức thanh toán bù trừ chứng khoán

Tổ chức thanh toán bù trừ CK là tổ chức có hoạt động luân chuyển CKtrên các tài khoản lưu ký dưới sự điều hành của tổ chức lưu ký Hoạt động của

tổ chức thanh toán bù trừ CK chỉ thực hiện được đối với các loại CK được

Ngày đăng: 28/10/2014, 22:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernadj. Foley (1995) - Thị trường CK – Nhà xuất bản tài chính Hà Nội (Tài liệu dịch) Khác
2. Nguyễn Thị Cành (1993) – Xung quanh vấn đề thành lập TTCK tại Việt Nam – Tạp chí thương mại số 7 Khác
3. Trần Mạnh Dũng (1995) – Làm gì để TTCK sớm hình thành ở Việt Nam - Tạp chí ngân hàng tháng số 11 Khác
4. Nguyễn Đồng (1995) - Để xây dựng một TTCK hoạt động có hiệu quả trong điều kiện Việt Nam – Táp chí thương mại số 7 Khác
5. Nguyễn Đắc Hưng (1994) – Thành lập TTCK ở Việt Nam – Câu hỏi về mặt thời gian - Tạp chí thông tin lý luận số 7 Khác
6. Giáo trình thị trường CK, Đại học kinhtế Quốc dân, PGS.TS. Nguyễn Văn Nam (2002) Khác
7. Giáo trình thị trường CK, Học viên Ngân hàng, TS. Lê Hoàng Nga (2001) Khác
8. Giáo trình Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Frederic S.Mishkin (2001) 9. PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang (1996) - Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhànước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn. NXB khoc học xã hội Hà Nội Khác
10. Xengxuly CHÂNXIPHON tháng 9 – 2002, sự phát triển kinh tế nước CHDCND Lào trong thời kỳ đổi mới – thành tựu, tồn tại và triển vọng.Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
11. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng NDCM Lào (1986), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TƯ Đảng, Viêng Chăn Khác
12. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng NDCM Lào (1996), Báo cáo chính trị Ban chấp hành TƯ Đảng, Viêng Chăn Khác
13. Thống kê thương mại xuất - nhập khẩu năm 2003 – 2007 (Bộ Công thương) Khác
14. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Lào 2001 – 2005 (Bộ Kế hoạch và đầu tư) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2006 - thiết lập các điều kiện để hình thành ttck tại chdcnd lào
Bảng 2.2 Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2001-2006 (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w