Tuynhiên, khi hệ thống đã ổn định thì một trong các mục tiêu quan trọng của doanhnghiệp là phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng của hệ thống bán lẻ, bao gồm cả việc nâng cao chát
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 01/11/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) Cùng với những cơ hội mà quá trình hội nhậpmang lại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải đứng trước những khó khăn và thửthách không nhỏ, đó là áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài và mộttrong những lĩnh vực chịu áp lực cạnh tranh lớn nhất đó chính là dịch vụ phân phốibán lẻ
Tổng Công ty Thương mại Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Uỷban nhân dân Thành phố Hà Nội hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, kinhdoanh dịch vụ và phân phối bán lẻ, trong đó hoạt động phân phối bán lẻ đóng vaitrò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của Tổng Công ty Toàn bộ hoạt độngphân phối bán lẻ của Tổng Công ty được thực hiện thông qua hệ thống bán lẻ Tínhđến thời điểm này, hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội có tớitrên 400 địa điểm kinh doanh tập trung hầu hết trên địa bàn nội thành Hà Nội Tuynhiên, nhìn chung các địa điểm này đều nhỏ, lẻ, manh mún, kinh doanh không hiệuquả hoặc bị sử dụng sai mục đích dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao Vì vậy,trước áp lực cạnh tranh từ chính các doanh nghiệp bán lẻ trong nước cũng như sựxuất hiện của các tập đoàn kinh doanh bán lẻ quốc tế khổng lồ tại Việt Nam nhưMetro, Bourbon, Parkson và sắp tới là Walt-mart, Carefour, 7-Eleven… đã tạo ramột áp lực lớn cho Tổng Công ty Thương mại Hà Nội trong việc phải sớm cónhững giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của hệ thống bán lẻ
Tổng Công ty Chính vì lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản về phát triển hệ thống bán lẻhàng hoá, luận văn tập trung vào việc phân tích thực trạng phát triển hệ thống bán lẻhàng hoá của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội nhằm hướng tới việc hoàn thiện hệthống, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bán lẻ của Tổng Công ty
Trang 2Với mục đích đó, luận văn sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề sau: Xácđịnh rõ những vấn đề cơ bản nhất đối với việc phát triển hệ thống bán lẻ hàng hoá;Đánh giá thực trạng hệ thống bán lẻ hàng hoá của Tổng Công ty Thương mại HàNội; Đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển hệ thống bán lẻ của Tổng Công tytrong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bán lẻ của Tổng Công tyThương mại Hà Nội gồm: Các Trung tâm thương mại, siêu thị và cửa hàng kinhdoanh bán lẻ của Tổng Công ty
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ hệ thốngbán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội
- Về thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2007
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháptiếp cận hệ thống làm cơ sở phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu
Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp cụ thể để phân tích và
xử lý các thông tin như: phương pháp quan sát thực tế, phân tích so sánh và cácphương pháp thống kê để từ đó rút ra những đánh giá, nhận xét và kiến nghị giảipháp
6 Kết cầu của đề tài
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn bao gồm 3 chương với nội dung như sau:
* Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển hệ thống bán lẻ trong
hoạt động kinh doanh thương mại
* Chương 2: Thực trạng hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại
Hà Nội
* Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển hệ thống bán lẻ của
Tổng Công ty Thương mại Hà Nội trong quá trình hội nhập
Trang 3CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1 HỆ THỐNG BÁN LẺ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI
1.1.1 Bán lẻ, hệ thống bán lẻ và phát triển hệ thống bán lẻ trong hoạt động kinh doanh thương mại
1.1.1.1 Bán lẻ và hệ thống bán lẻ
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá từ người sản xuất hoặc người sở hữuhàng hoá (sau đây gọi chung là “người sản xuất”) đi đến người tiêu dùng hoặcngười sử dụng cuối cùng (sau đây gọi chung là “người tiêu dùng”) phải qua mộtchuỗi các hoạt động mua và bán Căn cứ vào các công đoạn chuyển quyền sở hữuhàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng, người ta chia quá trình lưu thônghàng hoá thành các kênh khác nhau:
- Kênh trực tiếp (còn gọi là kênh cực ngắn): là kênh phân phối mà tại đó nhàsản xuất trực tiếp bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng, không qua trunggian thương mại nào cả
- Kênh ngắn: là kênh phân phối mà tại đó nhà sản xuất đưa hàng hoá đến cácnhà bán lẻ và từ đó đưa hàng hoá đến với người tiêu dùng thông qua vai trò trunggian thương mại của người bán lẻ
- Kênh trung bình: là kênh phân phối mà tại đó hàng hoá phải qua hai cấp độtrung gian thương mại là người bán buôn, người bán lẻ rồi mới đến tay người tiêudùng
- Kênh dài: là kênh phân phối mà tại đó hàng hoá đi từ nhà sản xuất, qua cácđại lý môi giới, đến người bán buôn, người bán lẻ rồi mới đến người tiêu dùng cuốicùng
Trang 4Sơ đồ 1.1: Các kênh lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
Ngược lại, bán lẻ là hình thức “bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm
thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ, từ đây hàng hoá kết thúc quá trình lưu thông và
đi vào lĩnh vực tiêu dùng cá nhân; giá trị hàng hoá được thực hiện đầy đủ”2
Ngoài ra còn có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ:
1 Từ điển Kinh tế thị trường (tra cứu trực tuyến)
2 Từ điển Kinh tế thị trường (tra cứu trực tuyến)
Người sản xuất
Người tiêu dùng
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùngNgười
sản xuất
Đại lý môi giới Người
bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Kênh ngắn
Kênh trung
bình
Kênh dài
Trang 5- Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bán lẻ là hình thức “bán từng cái, từng ít một
trực tiếp cho người tiêu dùng”3.
- Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120(W/120) của vòng đám phán Uruguay của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và danh
mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên hợp quốc (CPC) định nghĩa: “Bán lẻ là hoạt động bán các hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc các hộ tiêu dùng từ một địa điểm
cố định (cửa hàng, kiốt) hay một địa điểm khác (bán trực tiếp) và các dịch vụ phụ liên quan”.
- Trong cuốn sách “Quản trị Marketing” Philip Kotler đã định nghĩa bán lẻ
như sau: “Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh” 4
- Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: “Bán lẻ bao gồm việc bán hàng cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan” 5
Như vậy, mặc dù có thể định nghĩa bán lẻ theo nhiều cách khác nhau nhưng
tất cả đều thể hiện một đặc điểm chung của án lẻ đó là việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm phục vụ nhu cầu của cá nhân hay gia đình Nghĩa
là, bán lẻ là công đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông để sản phẩm đến với ngườitiêu dùng
Trong lĩnh vực bán lẻ, mỗi lần chỉ bán một số lượng nhỏ, nhưng cũng cótrường hợp bán lẻ những lô hàng lớn, chẳng hạn bán hàng cho những đơn vị tiêudùng tập thể (trường học, trại điều dưỡng, nhà máy, bệnh viện ) Doanh số bán lẻ
là tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội Hoạt động bán lẻ thường được thựchiện thông qua các địa điểm bán lẻ, như: Trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng,quầy hàng, kiôt, quán hàng, nhà ăn, xe bán hàng rong v.v Cũng giống như người
3 Đại từ điển Tiếng Việt (trang 95)
4 Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống Kê, Hà Nội, trang 628
5 http://en.wikipedia.org/wiki/Retail
Trang 6bán buôn, người bán lẻ không phải là người trực tiếp sản xuất hay sở hữu sản phẩm.
Người bán lẻ đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng Chỉ
khi nào người bán lẻ thực hiện xong chức năng phân phối của mình thì quá trình lưu
thông hàng hoá mới kết thúc, giá trị hàng hoá mới được thực hiện đầy đủ6 Quá
trình lưu thông hàng hoá chịu ảnh hưởng rất lớn của việc phát triển hệ thống bán lẻ
hàng hoá
Từ việc phân tích về quá trình lưu thông hàng hoá và khái niệm về bán lẻ, ta
có thể rút ra định nghĩa về hệ thống bán lẻ hàng hoá như sau: “Hệ thống bán lẻ
hàng hoá là tập hợp các nhân tố độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá
trình đưa hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng” Có thể mô tả chi tiết
hệ thống bán lẻ hàng hoá trong nền kinh tế thị trường như sau:
Sơ đồ 1.2: Hệ thống bán lẻ hàng hoá trong nền kinh tế thị trường
6 Việc phân tích sẽ được trình bày kỹ ở phần sau của chương này.
Ghi chú: đường đi của dòng sản phẩm (1 chiều)
đường đi của dòng thông tin (2 chiều)
NGƯỜI
SẢN
XUẤT
Người bán buôn
Người nhập khẩu Người phân phối
Đại lý
CH bán lẻ Siêu thị TTTM Chợ
Xe bán hàng rong
Cá nhân
Doanh nghiệp
Tổ chức
HỆ THỐNG BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trang 71.1.1.2 Phát triển hệ thống bán lẻ trong hoạt động kinh doanh thương mại
Phát triển hệ thống bán lẻ là việc tập trung các nguồn lực hiện có vào việcthúc đẩy hệ thống bán lẻ tăng trưởng cả về chiều rộng (mở rộng mạng lưới kinhdoanh bán lẻ) và chiều sâu (nâng cao chất lượng hệ thống bán lẻ, tăng doanh thubán lẻ)
Trên thực tế, trong thời gian đầu khi triển khai hệ thống bán lẻ, các doanhnghiệp thường có xu hướng tập trung đầu tư phát triển các điểm kinh doanh bán lẻmới, nhằm mục đích mở rộng quy mô, tăng khả năng bao phủ thị trường Tuynhiên, khi hệ thống đã ổn định thì một trong các mục tiêu quan trọng của doanhnghiệp là phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng của hệ thống bán lẻ, bao gồm
cả việc nâng cao chát lượng cung ứng hàng hoá và chất lượng dịch vụ, từ đó làmtăng doanh thu bán lẻ của hệ thống, góp phần tăng tỷ trọng về doanh số bán lẻ củadoanh nghiệp so với tổng mức bán lẻ của toàn thị trường Phát triển hệ thống bán lẻcũng là giải pháp quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO, giúp các doanhnghiệp kinh doanh bán lẻ tồn tại và ngày càng phát triển
Vì vậy, đối với các doanh nghiệp phân phối trong nước, để hình thành vàphát triển hệ thống bán lẻ đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp bán lẻ nướcngoài, dự báo trong thời gian tới sẽ có một quá trình tích tụ và tập trung mạnh mẽgiữa các nhà phân phối nội địa nhằm tạo thành các chuỗi liên kết với các nhà sảnxuất, các ngân hàng để tăng cường sức cạnh tranh Đây là việc bắt buộc phải làm đểduy trì sự tồn tại và phát triển cho các nhà phân phối trong nước trong bối cảnhcạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt khi lộ trình mở cửa đã cận kề Vấn đề quantrọng là càng làm sớm thì càng giúp doanh nghiệp trong nước có nhiều thời gian đểthích nghi và tăng năng lực cạnh tranh của mình trước khi bước vào cuộc cạnh tranh
“nảy lửa” này
1.1.2 Vai trò của hệ thống bán lẻ trong hoạt động kinh doanh thương mại
Trang 81.1.2.1 Góp phần giải quyết các mâu thuẫn cơ bản về phân phối hàng hoá của nền kinh tế thị trường
Hệ thống phân phối hàng hoá nói chung và hệ thống bán lẻ hàng hoá nóiriêng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn cơ bản vốn có củanền kinh tế thị trường, góp phần đảm bảo cho nền kinh tế thị trường của mỗi quốcgia phát triển một cách bền vững Các mâu thuẫn cơ bản về phân phối của nền kinh
tế thị trường được giải quyết đó là:
- Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên mônhoá sâu với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ nhưng đặc biệt và đa dạng Mỗinhà sản xuất chuyên môn hoá sản xuất và bán ra thị trường một số lượng lớn mộthoặc một số hàng hoá và dịch vụ, nhưng mỗi người tiêu dùng chỉ mua số lượng nhỏtrong số hàng hoá này Sở dĩ có mâu thuẫn này là do thị trường là một tập hợp gồm
vô số những người tiêu dùng với nhiều nhu cầu và mong muốn khác nhau Xã hộicàng phát triển, thu nhập của dân cư càng tăng lên, nhu cầu tiêu dùng càng đa dạng,phong phú Trong khi đó, các doanh nghiệp sản xuất lại phải sản xuất ra một khốilượng lớn để đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, giảm chi phí sản xuất Sản xuất lớn,hiệu quả cao không thể giải quyết vấn đề thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng Hệthống bán lẻ hàng hoá giúp giải quyết mâu thuẩn này thông qua việc thiết lập mạnglưới bán lẻ để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng
- Mâu thuẫn thứ hai là sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng.Thông thường, việc sản xuất thường tập trung lại ở một địa điểm nhất định, còn tiêudùng lại phân bố rộng khắp hoặc ngược lại Tạo sự ăn khớp về không gian giữa sảnxuất và tiêu dùng đòi hỏi phải tối thiểu hoá tổng số các trao đổi Sự xuất hiện củangười trung gian bán lẻ chính là để giảm tổng số các trao đổi và tạo điều kiện vậnchuyển sản phẩm với khối lượng lớn ở cự ly dài, nhờ đó giảm chi phí vận chuyển
Sơ đồ 1.3: Vai trò của người bán lẻ trong việc giảm số lần tiếp xúc
giữa người cung cấp và người tiêu dùng cuối cùng
Trang 9(a) Khi chưa có người bán lẻ thì số lần tiếp xúc là 9 lần
(b) Khi có người bán lẻ thì số lần tiếp xúc chỉ còn 6 lần
- Mâu thuẫn thứ ba là sự khác biệt về thời gian do thời gian sản xuất và thờigian tiêu dùng không trùng khớp Hoạt động sản xuất và phân phối thường mangtính ổn định và liên tục Trong khi đó, tiêu dùng lại mang tính biến đổi và thời điểm
Vì sản xuất thường không xảy ra cùng thời gian với nhu cầu tiêu dùng nên đã nảysinh nhu cầu dự trữ hàng hoá Sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùngđược giải quyết thông qua dòng chảy sản phẩm của các kênh lưu thông và dự trữ
Người tiêu dùng 2
Người tiêu dùng 1
Người tiêu dùng 2
Người tiêu dùng 1
Ngườibán lẻ
Trang 10hàng hoá trong Hệ thống bán lẻ hàng hoá đảm bảo đúng thời gian mong muốn củakhách hàng.
Ngoài ba vấn đề cơ bản trên, trong nền kinh tế thị trường còn chứa đựngnhiều mâu thuẫn khác như sự khác biệt về thông tin và giá trị, sự khác biệt về quyền
sở hữu… Các hệ thống bán lẻ hàng hoá có vai trò và chức năng giải quyết những sựkhác biệt và mâu thuẫn trên qua quá trình phân phối tổng thể Hệ thống bán lẻ hànghoá hiệu quả là cần thiết để nối người cung cấp với người tiêu dùng, có nghĩa làphân phối hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu mong muốn của khách hàng Cungcấp hàng hoá cho họ đúng thời gian, đúng địa điểm và với một mức giá phù hợp Sơ
đồ dưới đây đã thể hiện khái quát vai trò của hệ thống bán lẻ hàng hoá giải quyếtcác vấn đề khác biệt và mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế thị trường
Sơ đồ 1.4: Hệ thống bán lẻ hàng hoá nối cung cấp với tiêu dùng
* Sự khác biệt về số lượng
* Sự khác biệt về không gian
* Sự khác biệt về thời gian
* Sự khác biệt về chủng loại
* Sự khác biệt về thông tin
* Sự khác biệt về giá trị
* Sự khác biệt về sở hữu
1.1.2.2 Tạo lập và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Các quyết định về hệ thống bán lẻ hàng hoá đã và đang trở thành nhữngchiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, là một công cụ cực kỳ quan trọng và phức
Khu vực cung cấp: Chuyên môn hoá và phân
công lao động dẫn đến khả năng cung cấp đa dạng
HTBLHH cần thiết để giải quyết những khác biệt và mâu thuẫn
Khu vực tiêu dùng: Nhu cầu và mong muốn đa dạng
về chủng loại, thời gian, địa điểm và quyền sở hữu
Trang 11tạp trong chiến lược marketing hỗn hợp của doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệptạo lập được lợi thế cạnh tranh bền vững dài hạn trên thị trường và thành công trongkinh doanh Phát triển và quản lý được hệ thống bán lẻ hàng hoá hiệu quả sẽ giúpdoanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm của mình
Tổ chức và tham gia vào các hệ thống bán lẻ hàng hoá hiệu quả cũng cónghĩa là doanh nghiệp chủ động xây dựng các liên kết đảm bảo thực hiện phân côngchuyên môn hoá và hợp tác hoá trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng của các ngànhkinh tế, điều đó giúp các doanh nghiệp tập trung được mọi nỗ lực vào những hoạtđộng mà mình có lợi thế, vì vậy đảm bảo được năng suất cao hơn với chi phí thấphơn và nhờ vậy mà nâng cao hơn sức cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnhtranh trên thị trường Nhờ tổ chức và tham gia vào liên kết như vậy, mỗi doanhnghiệp đều được hưởng nhưng lợi ích kinh tế nhờ hoạt động phối hợp, nhờ sự giámsát và phối hợp bên trong của Hệ thống bán lẻ hàng hoá, nhờ tránh các giao dịch thịtrường trong hệ thống, nhờ tiếp cận tốt hơn và rẻ hơn thông tin về thị trường, nhờcác mối quan hệ ổn định , vì vậy mà đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Đồng thời, dotham gia vào những liên kết như vậy sẽ còn giúp các doanh nghiệp tận dụng đượccông nghệ lẫn nhau, bảo đảm nguồn cung ứng hoặc nhu cầu ổn định, nâng caoquyền lực thương lượng đáng kể, tăng cường khả năng khác biệt hoá sản phẩm vàdịch vụ so với đối thủ cạnh tranh
Các doanh nghiệp của Việt Nam nếu tạo dựng được cho mình những hệthống bán lẻ hàng hoá hiệu quả cũng có nghĩa là tạo lập được lợi thế cạnh tranh đảmbảo cho lợi ích của mình trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài khi nước ta thựchiện các cam kết hội nhập kinh tế vào khu vực và thế giới, bởi họ phải mất nhiềuthời gian và tiền của mới có thể tạo lập cho hệ thống bán lẻ của mình Mặt khác,cùng với các cam kết tự do hoá thương mại và đầu tư để hội nhập kinh tế quốc tế,nhà nước sẽ dần dần dỡ bỏ các rào cản thuế và phi thuế bảo hộ cho các ngành sảnxuất trong nước, khi đó các hệ thống bán lẻ hàng hoá hiệu quả sẽ chính là các ràocản hiệu lực nhất của doanh nghiệp Việt Nam để bảo vệ mình trước các đối thủcanh tranh từ bên ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa
Trang 121.1.2.3 Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
Hệ thống phân phối bán lẻ giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quá trìnhsản xuất mở rộng xã hội, bởi nó đảm bảo một khâu quan trọng của quá trình tái sảnxuất là khâu tiêu thụ Có thể nói, hệ thống phân phối hàng hoá nói chung và hệthống bán lẻ nói riêng, đang ngày càng củng cố vai trò là động lực thúc đẩy sản xuấthàng hoá phát triển và đem lại lợi ích to lớn cho người tiêu dùng Hệ thống bán lẻcung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hoá mà họ cần, đúng thời gian,tại một địa điểm và ở một mức giá mà người tiêu dùng chấp nhận Khi nhu cầu củangười tiêu dùng biến đổi không ngừng, hệ thống bán lẻ có những thông tin phản hồi
từ người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứng những thay đổi đó Hệ thống bán lẻ cũng cóthể tác động tới việc tạo nhu cầu mới cho người tiêu dùng để đặt hàng đáp ứngnhững thay đổi đó, hệ thống bán lẻ cũng có thể tác động tới việc tạo nhu cầu mớicho người tiêu dùng thông qua việc bổ sung và tập hợp hàng hoá của mình nhữngsản phẩm mới, tạo nhiều sự lựa chọn khác nhau Qua quá trình phân phối hàng hoá
hệ thống bán lẻ nắm bắt được nhu cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thờigian và không gian nên có thể truyền tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thịtrường cho những người sản xuất và cung ứng hàng hoá để điều chỉnh theo nhữngđiều kiện của thị trường
Hệ thống bán lẻ có thể dẫn dắt người sản xuất định hướng vào nhu cầu thịtrường, thúc đẩy phương thức kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế thị trường,trên cơ sở đó mà tăng cường thương mại hàng hoá và phát triển thị trường cho cácngành kinh tế và sản phẩm có lợi thế, cũng như mở rộng thị trường tiêu thụ, nângcao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước
1.2 PHÂN LOẠI VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG BÁN LẺ
1.2.1 Phân loại hệ thống bán lẻ
Trang 13Theo quy mô hoạt động người ta có thể chia mạng lưới bán lẻ thành các loạisau: Đại siêu thị, siêu thị, siêu thị mini, trung tâm thương mại Ở Việt Nam, việcphân chia các cửa hàng bán lẻ được thực hiện theo Quy chế về siêu thị, TTTM đượcban hành kèm theo quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/3/2004 của Bộtrưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) Theo Quy chế này, siêu thị vàTTTM được định nghĩa như sau:
a) Siêu thị: Là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên
doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đápứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổchức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãnnhu cầu mua sắm hàng hoá của khác hàng7
b) Trung tâm thương mại: Là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện
đại, đa chức năng, bao gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ:hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê… được bố trí tập trung, liên hoàn trongmột hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tíchkinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có cácphương thức phụ vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động kinhdoanh của thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng8
Việc phân hạng được căn cứ vào diện tích kinh doanh và số lượng mặt hàngđược bày bán tại siêu thị, trung tâm thương mại
Bảng 1.1: Phân hạng Siêu thị, TTTM theo Quy chế về siêu thị, TTTM
của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương)
Hạng I Siêu thị kinh doanh tổng hợp 5.000 20.000
Siêu thị chuyên doanh 1.000 2.000Hạng II Siêu thị kinh doanh tổng hợp 2.000 10.000
7 Khoản 1, Điều 2, Quy chế về Siêu thị, Trung tâm thương mại - Bộ Thương mại
8 Khoản 2, Điều 2, Quy chế về Siêu thị, Trung tâm thương mại - Bộ Thương mại
Trang 14Hạng III Siêu thị kinh doanh tổng hợp 500 4.000
TTTM
Hạng I Hoạt động đa chức năng 50.000 Không quy địnhHạng II Hoạt động đa chức năng 30.000 Không quy địnhHạng III Hoạt động đa chức năng 10.000 Không quy định
c) Cửa hàng bán lẻ: Là những cửa hàng bán lẻ không được xếp hạng siêu thị
hay trung tâm thương mại
1.2.1.2 Theo lĩnh vực kinh doanh
Theo lĩnh vực kinh doanh người ta chia hệ thống bán lẻ hàng hoá thành cửahàng chuyên doanh, cửa hàng bách hoá, cửa hàng tiện dụng:
a) Các cửa hàng chuyên doanh: là cửa hàng bán những dòng sản phẩm hẹp
và chuyên sâu
b) Cửa hàng bách hoá: là cửa hàng bán nhiều mặt hàng khác nhau, mỗi mặt
hàng là một quầy riêng
c) Cửa hàng tiện dụng (hay còn gọi là cửa hàng tiện lợi, cửa hàng tiện ích):
là những cửa hàng bán lẻ nhỏ, chỉ bán một số mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếuhàng ngày của người tiêu dùng Hàng hoá trong cửa hàng tiện ích chủ yếu tập trungvào nhóm mặt hàng chính sau: Hoá mỹ phẩm; thực phẩm khô; đồ uống; thuốc lá;bánh kẹo; văn hoá phẩm; văn phòng phẩm; đồ gia dụng, thiết bị cầm tay; đồ chơi,quà lưu niệm Ngoài ra, các cửa hàng tiện dụng còn có thể cung cấp các dịch vụ tạinhà như: tư vấn mua sắm, thông tin du lịch; sửa chữa đồ điện, thiết bị điện gia dụng;sửa chữa nội thất, trang thiết bị gia đình, văn phòng; lau dọn nhà cửa, hút bụi, làmsạch thảm
Tuy nhiên, trong thực tế việc phân chia này chỉ có tính chất tương đối Ví dụmột cửa hàng chuyên doanh về lĩnh vực thực phẩm thì cũng có thể coi là một dạngcửa hàng tiện dụng vì cũng đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người tiêudùng
Trang 15Theo phương thức phục vụ, người ta có thể chia ra thành cửa hàng bán lẻtruyền thống và cửa hàng hiện đại
Trên thực tế, người ta thường dựa theo phương thức phục vụ để phân loại hệthống bán lẻ Theo phương thức phục vụ, có thể chia hệ thống bán lẻ ra thành 2 loại
là hệ thống bán lẻ truyền thống và hệ thống bán lẻ hiện đại
Sơ đồ 1.5: Phân loại hệ thống bán lẻ
a) Hệ thống bán lẻ truyền thống: Hệ thống bán lẻ truyền thống là hệ thống
bán lẻ trong đó chủ yếu sử dụng phương thức bán hàng thủ công, trực tiếp Ngườimua hàng thực hiện việc lựa chọn hàng hoá dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của ngườibán hàng9 Hệ thống bán lẻ truyền thống thường được tổ chức dưới dạng các cửahàng nhỏ, chợ, xe bán hàng rong
b) Hệ thống bán lẻ hiện đại: Hệ thống bán lẻ hiện đại là hệ thống bán lẻ
trong đó có sử dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại vào việc quản lý và
tổ chức hoạt động kinh doanh Người mua hàng tự mình thực hiện việc toàn bộcông đoạn lựa chọn và mua hàng mà không cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía ngườibán hàng Hệ thống bán lẻ hiện đại bao gồm các siêu thị và trung tâm thương mại
9 “Siêu thị phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam” - Nguyễn Thị Nhiễu (trang 42).
Hệ thống bán lẻ hiện đại
Hệ thống bán lẻ truyền thống
CH bán lẻ Siêu thị TTTM
Chợ
Xe bán hàng rong
Hệ thống
bán lẻ
Trang 16Đặc trưng của hệ thống bán lẻ hiện đại chính là phương thức bán hàng tựchọn, sử dụng công nghệ quản lý, đảm bảo yếu tố văn minh, hiện đại và thườngđược tổ chức với quy mô lớn, chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng có thể thoảmãn nhiều nhu cầu của khách hàng Việc tổ chức bán lẻ theo hình thức này sẽ giúpcho người bán lẻ tập trung được nhiều chủng loại hàng hoá cũng như xây dựngđược hệ thống các phương tiện hỗ trợ hoạt động bán lẻ kèm theo, như: kho bãi, thiết
bị bảo quản, thiết bị bốc xếp hàng hoá, thiết bị bán hàng… Nhờ đó, người tiêu dùngcùng một lúc có thể đồng thời lựa chọn nhiều loại sản phẩm hàng hoá khác nhauđáp ứng các nhu cầu khác nhau của họ Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thóiquen mua sắm tại các địa điểm bán lẻ tập trung ngày càng tăng cả về số lượng vàchất lượng phục vụ, dẫn đến việc hình thành ngày càng nhiều các điểm bán lẻ cóquy mô lớn tới hàng nghìn m2, tập trung tới hàng trăm nghìn chủng loại sản phẩmhàng hoá như: các đại siêu thị, các trung tâm mua sắm, các cửa hàng hạ giá…
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hệ thống bán lẻ
Sự phát triển của hệ thống bán lẻ được thể hiện thông qua sự mở rộng về quy
mô và sự của nâng cao về chất lượng, hiệu quả của hệ thống bán lẻ Vì vậy, để đánhgiá sự phát triển của hệ thống bán lẻ, người ta thường dựa vào các tiêu chí sau: Sốlượng các địa điểm bán lẻ và tổng mức lưu chuyển bán lẻ (doanh thu bán lẻ)
1.2.2.1 Số lượng địa điểm bán lẻ
Số lượng địa điểm bán lẻ cho thấy quy mô của hệ thống bán lẻ, không gianbao phủ và mật độ bao phủ của hệ thống bán lẻ trên thị trường Số lượng địa điểmbán lẻ càng tăng cao thì quy mô của hệ thống bán lẻ càng lớn, độ bao phủ thị trườngcàng rộng qua đó thể hiện tiềm lực của doanh nghiệp, nhất là về tài chính, cũng như
về khả năng tổ chức, quản lý và vận hành hệ thống
Doanh thu bán lẻ cho thấy hiệu quả hoạt động của hệ thống bán lẻ Bên cạnh
đó, để đánh giá được chính xác mức độ phát triển của hệ thống bán lẻ so với tìnhhình thực tế của thị trường, người ta còn phải dựa vào tốc độ tăng trưởng doanh thubán lẻ và tỷ trọng doanh thu bán lẻ của hệ thống so với tổng doanh thu bán lẻ củatoàn bộ thị trường để từ đó có đánh giá xác thực
Trang 17Kể từ khi đất nước ta thực hiện chính sách mở cửa thị trường, kinh tế đã từngbước phát triển một cách vững chắc Sản xuất phát triển, thu nhập của người dânngày một tăng, nhu cầu cũng ngày một đa dạng Hàng hóa trên thị trường luôn đượcthay đổi phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Lĩnh vực phân phối bán lẻ của ViệtNam cũng trên đà tăng trưởng Trong vòng 10 năm từ 1996 tới 2006, doanh thu từkinh doanh bán lẻ đã tăng gần gấp 3 lần đạt 36,29 tỉ USD vào năm 2006 Tốc độtăng trưởng trong những năm qua khá cao, từ năm 2003 tới nay tốc độ tăng trưởngluôn đạt trên 15%/năm.
Biểu đồ 1.1: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực bán lẻ của Việt
Nam giai đoạn từ năm 1996 - 2006
Với kết quả đó, trong những năm gần đây, Việt Nam luôn được đánh giá làmột trong những thị trường bán lẻ có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới Tập đoàn
tư vấn AT Kearney đã xếp hạng về độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Namđứng vị trí thứ 3 thế giới năm 2006 và vị trí thứ 4 năm 2007 sau Ấn Độ, Nga và
(Nguồn: Viện Nghiên cứu Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 18Trung Quốc Đặc biệt, bước sang năm 2008, năm cuối cùng trước thời điểm chínhthức mở cửa thị trường bán lẻ, Việt Nam đã xuất sắc vượt qua Ấn Độ, Trung Quốc
và Nga để vươn lên chiếm vị trí số 1 trong danh sách thị trường đầu tư bán lẻ hấpdẫn nhất do A.T Kearney công bố Đây là bước đột phá lớn có ý nghĩa rất quantrọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ của Việt Nam, đặc biệt là với cáctập đoàn bán lẻ đang có kế hoạch mở rộng thị trường như Tổng Công ty Thươngmại Hà Nội Tiềm năng đầy hứa hẹn đó kết hợp với việc mở cửa thị trường phânphối sẽ thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của lĩnh vực phân phối bán lẻ của TổngCông ty
Sơ đồ 1.6: Xếp hạng các thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới năm 2008
(Nguồn: http://www.vietnam-ustrade.org ngày 06/06/2008)
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG BÁN LẺ NÓI CHUNG VÀ CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI
HÀ NỘI NÓI RIÊNG
Sự hình thành và vận động của các hệ thống bán lẻ hàng hoá chịu tác độngcủa rất nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan Sự thay đổi của những yếu tố này cóthể làm mất đi những hình thức phân phối cũ và xuất hiện những hình thức phânphối mới, một số trung gian thương mại cũ mất đi thay vào đó là các loại trung gian
10 A.T Kearney, Global Retail Development Index, 2006, 2007
Trang 19thương mại mới Cấu trúc cạnh tranh trên thị trường thường xuyên thay đổi cũngkéo theo những sự thay đổi trong các hệ thống bán lẻ hàng hoá Sự thay đổi các yếu
tố hành vi mua của người tiêu dùng, những công nghệ buôn bán mới cũng làm tăngthêm khả năng thay đổi của các hệ thống bán lẻ hàng hoá Các hệ thống bán lẻ hànghoá phải được điều chỉnh cho phù hợp với những thay đổi đó Để phát triển các hệthống bán lẻ hàng hoá hiệu quả, các doanh nghiệp và các cấp quản lý cần phân tíchđầy đủ các yếu tố này
Sơ đồ 1.7: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống bán lẻ
1.3.1 Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Từ những cơ hội và thách thức chung đối với nền kinh tế mà quá trình hộinhập mang lại, hệ thống bán lẻ cũng chịu những tác động hết sức mạnh mẽ trong đó
có cả những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực Một mặt, quá trình hộinhập đem lại cơ hội hợp tác to lớn trong lĩnh vực bán lẻ giữa các doanh nghiệp ViệtNam với các doanh nghiệp nước ngoài, mở rộng thị trường bán lẻ cho các doanhnghiệp, cũng như tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho hệ thống bán lẻ trong nước
HỆ THÔNG BÁN LẺ Công nghệ
Kinh tế
Trang 20Mặt khác, quá trình hội nhập cũng tạo ra sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt giữa hệthống bán lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam còn “non trẻ” với các doanh nghiệpnước ngoài đã có rất nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ.
Thực hiện các cam kết để gia nhập WTO, Việt Nam sẽ từng bước mở cửa thịtrường dịch vụ phân phối cho các nước, trước hết là Hoa Kỳ và Nhật Bản, sau đó làcác thành viên WTO Việt Nam cam kết sẽ tự do hoá lĩnh vực bán buôn, bán lẻ vànhượng quyền kinh doanh Sau thời điểm gia nhập, các doanh nghiệp Hoa Kỳ tronglĩnh vực này được phép thành lập liên doanh với phía Việt Nam và từ 1/1/2009, cácdoanh nghiệp Hoa Kỳ được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài Cácdoanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được cung cấp cả các hànghoá nhập khẩu và sản xuất trong nước Điều này sẽ tạo ra một áp lực cạnh tranh cực
kỳ lớn đối với hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội trước những
ưu thế nổi trội của các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài, đặc biệt là về tài chính, hậucần, kinh nghiệm quản lý và thương hiệu Mốc thời điểm 1/1/2009 không còn xanữa và Tổng Công ty Thương mại Hà Nội cần phải tập trung đánh giá và phân tíchđầy đủ thế mạnh cũng như hạn chế mình cũng như của các doanh nghiệp bán lẻnước ngoài để từ đó có chiến lược phát triển hệ thống bán lẻ cho phù hợp với nănglực của mình
Bên cạnh đó, mặc dù lĩnh vực bán lẻ của Việt Nam mới thực sự sôi động vàđược các doanh nghiệp quan tâm trong mấy năm gần đây nhưng đến nay mức độcạnh tranh trong lĩnh vực này đã vô cùng quyết liệt Điều này thể hiện ngay ở trongnội bộ từng doanh nghiệp cũng như là giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau
và giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài Nếu nhưvài năm trước đây người tiêu dùng chỉ biết đến tên tuổi của một vài doanh nghiệpbán lẻ như Công ty Cổ phần Nhất Nam với chuỗi siêu thị Fivi Mart, Công ty XNKIntimex với chuỗi siêu thị Intimex, Công ty Cổ phần Đông Hưng với chuỗi siêu thịCitimax thì đến nay chúng ta đã rất quen thuộc với những thương hiệu mới tronglĩnh vực phân phối bán lẻ như Tổng Công ty Thương mại Hà Nội với chuỗi siêu thịHapro Mart, Công ty TNHH Thiên Giang với chuỗi siêu thị Sao Hà Nội, Công ty
Trang 21Cổ phần Bài Thơ với chuỗi siêu thị Bài Thơ (Rosa) Bên cạnh đó, ngay bản thâncác doanh nghiệp bán lẻ hiện có cũng đang không ngừng gia tăng số lượng các siêuthị mới khai trương để bổ sung thêm vào chuỗi siêu thị hiện có nhằm không ngừngcủng cố thị phần và thương hiệu của doanh nghiệp Điều này càng cho thấy mức độcạnh tranh khá gay gắt giữa chính các doanh nghiệp bán lẻ trong nước với nhautrước thời điểm mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài chính thức gia nhập thịtrường bán lẻ của Việt Nam.
1.3.2 Chính trị, pháp luật
Tất cả các loại hình, các lĩnh vực kinh doanh đều chịu sự điều tiết từ các cơchế, chính sách của nhà nước Hệ thống bán lẻ hàng hoá cũng không phải là mộtngoại lệ Những ảnh hưởng của cơ chế chính sách sẽ tác động rất mạnh đến sự pháttriển của hệ thống này Những quy định và ràng buộc pháp lý cũng ảnh hưởng đếnquy mô của hệ thống bán lẻ, các quy định về điều kiện nhượng quyền thương mại
có thể làm hạn chế sự gia tăng các nhà bán lẻ chuyên nghiệp Luật pháp ngăn cảnviệc phát triển các hệ thống bán lẻ có xu hướng triệt tiêu cạnh tranh và tạo độcquyền Sự phân bố lại dân cư cũng kéo theo sự thay đổi của hệ thống bán lẻ hànghoá
Sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp bán lẻ trongnước thể hiện qua việc Chính phủ và các bộ ngành liên quan ban hành hàng loạt cácvăn bản liên quan đến việc khuyến khích và tạo điều kiện để các doanh nghiệp trongnước phát triển hệ thống bán lẻ cũng như hạn chế tốc độ gia nhập thị trường bán lẻViệt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài
Đặc biệt, với việc ban hành quyết định số 27/2007/QĐ-TTg ngày 15/02/2007
của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt Đề án phát triển thị trường thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” đã tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp bán lẻ trong nước nói chung và Tổng Công ty Thương mại HàNội nói riêng những điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống bán lẻ trong nước
Đề án đã xác định rõ những mục tiêu cơ bản sau:
Trang 22- Tăng tỷ trọng mức bán lẻ hàng hoá theo loại hình thương mại hiện đại(trung tâm thương mại, siêu thị, mạng lưới cửa hàng tiện lợi…) đạt 20% (khoảng160.000 tỷ đồng) vào năm 2010, đến năm 2020 đạt 40% (khoảng 800.000 tỷ đồng),trong đó khu vực kinh tế trong nước (bao gồm khu vực kinh tế nhà nước và khu vựckinh tế ngoài nhà nước) chiếm khoảng 93%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoàichiếm khoảng 7%; đến năm 2020 tỷ lệ tương ứng là 80% và 20%”;
- Hiện đại hoá kết cấu hạ tầng thương mại; chú trọng xây dựng và phát triển
hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại hiện đại;
- Phát triển đa dạng các loại hình và phương thức kinh doanh thương mạihiện đại khác, như: Sàn giao dịch hàng hoá, trung tâm đấu giá, nhượng quyền kinhdoanh, thương mại điện tử…;
- Hình thành và phát triển một số tập đoàn thương mại mạnh, kinh doanhhàng hoá chuyên ngành hoặc tổng hợp, có đủ sức cạnh tranh và điều kiện để hợp táhiệu quả với các tập đoàn phân phối nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trườngdịch vụ phân phối;
- Phát triển nguồn nhân lực thương mại có kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụkinh doanh hiện đại và chuyên nghiệp, theo kịp yêu cầu phát triển của thương mạitrong nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;
- Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về thương mại, bảo đảm hoạt độngthương mại phát triển lành mạnh và bền vững, nâng cao khả năng tự điều chỉnh củathị trường trong nước khi thị trường thế giới biến động
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thương mại cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ
cơ chế, chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa bàn mà doanh nghiệphoạt động Đối với Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, việc Uỷ ban nhân dân Thành
phố Hà Nội ban hành Quyết định số 146/2006/QĐ-UB về việc ban hành “Cơ chế khuyến khích đầu tư xây dựng trung tâm thương mại và siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội” với những chính sách cụ thể cũng đã mang lại cho Tổng Công ty
những điều kiện rất thuận lợi để phát triển hệ thống bán lẻ của mình
1.3.3 Văn hoá, xã hội
Hiện Việt Nam đang thuộc nhóm các nước có quy mô, mật độ và tốc độ tăngdân số ở mức cao với mức tăng khoảng 1 triệu người/năm Với dân số trên 84 triệu
Trang 23người, trong đó có 65% là dân số trẻ, thu nhập ngày càng cao, tốc độ tiêu dùng tăngmạnh mẽ và là cửa ngõ dẫn tới các thị trường như Ấn Độ, Trung Quốc, Campuchia
và Lào… Không những thế, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng ởmức cao kỷ lục là 118 điểm và đứng thứ 5 thế giới trong khi mức trung bình của thếgiới chỉ là 97 điểm đã đưa nước ta đang trở thành một trong những nước có thịtrường bán lẻ hấp dẫn nhất của thế giới Thủ đô Hà Nội, một trong những trung tâmkinh tế - chính trị - văn hoá – xã hội lớn nhất của cả nước có quy mô dân số đến nay
là trên 6 triệu dân và tốc độ tăng dân số bình quân trên 2,2%/năm (tính đến31/12/2007)
Biểu đồ 1.2: Tốc độ tăng dân số của Hà Nội giai đoạn từ năm 2003 – 2007
(Nguồn: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007)
Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH ngày 20/05/2008 của Quốc hội vềviệc “Điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô” trên cơ sở hợp nhất Thủ đô Hà Nội,Tỉnh Hà Tây, Huyện Mê Linh - Tỉnh Vĩnh phúc và 4 xã của Huyện Lương Sơn -Tỉnh Hoà Bình, kể từ ngày 01/08/2008, Thủ đô Hà Nội “mới” sẽ có tổng diện tích là3.300 km2 (tăng thêm 2.100 km2), gấp 3,6 lần diện tích cũ với dân số hơn 6,2 triệungười và Hà Nội trở thành 1 trong 17 quốc gia có diện tích thủ đô lớn nhất thế giới.Như vậy, với quy mô dân số tăng lên gần gấp đôi thì Hà Nội đã trở thành một thịtrường tiêu dùng rất hấp dẫn đối với các doanh nghiệp bán lẻ nói chung và Tổng
Trang 24Công ty Thương mại Hà Nội nói riêng Đây là những nhân tố có tác động tích cựcđến phát triển kinh doanh bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội.
1.3.4 Kinh tế
Thu nhập của người tiêu dùng và thói quen mua sắm tại các hệ thống bán lẻhiện đại của người tiêu dùng tại Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêngngày càng tăng Về mức sống của người tiêu dùng, thu nhập bình quân đầu người làyếu tố rất quan trọng để nhà đầu tư quyết định có kinh doanh bán lẻ hiện đại ở khuvực đó hay không Về điểm này, có thể nói thu nhập bình quân đầu người Việt Namkhông ngừng tăng lên trong 10 năm qua là kết quả của quá trình tăng trưởng kinh tếliên tục và ổn định, đặc biệt trong 5 năm từ 2003 – 2007, thu nhập bình quân đầungười đã tăng từ mức 480 USD năm 2003 lên gần 800 USD năm 2007 (tăng gần66,7%)
Biểu dồ 1.3: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 2003 – 2007
(Nguồn: Số liệu công bố của Tổng cục Thống kê n 2007)
Bên cạnh đó, tỷ lệ quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam cũngđược xem là một chỉ tiêu có tác động rất lớn đến hệ thống bán lẻ Theo số liệu thống
kê trong năm 2006, tỷ lệ quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam là 70%cao nhất so với một số nước trong khu vực như Singapore 55,9%, Malaixia 58,2%
và Thái Lan 67,7%
Biểu đồ 1.4: Tỷ lệ quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của Việt Nam
Trang 25so với các nước trong khu vực
(Nguồn: Số liệu Niên giám thống kê 2007)
Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng bán lẻ hàng năm cũng là một chỉ tiêu quan trọngtác động đến sự phát triển của lĩnh vực kinh doanh bán lẻ Khi xem xét tiêu chí này
có thể hiểu tại sao hệ thống bán lẻ của Việt Nam có thể có sự phát triển tương đốimạnh mẽ trong thời gian qua Đặc biệt, trong 5 năm từ 2003 – 2007, tốc độ tăngtổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ cao mức kỷ lục với tốc độ tăng trưởngtrên 16%
Biểu đồ 1.5: Tổng mức lưu chuyển hàng hoá của VN giai đoạn 2003 – 2007
(Nguồn: Số liệu Niên giám thống kê 2007)
Tuy nhiên, trên thực tế việc triển khai hệ thống bán lẻ hiện đại của TổngCông ty cũng gặp không ít những đối thủ cạnh tranh quyết liệt, trong đó phải kể đến
Trang 26hệ thống chợ truyền thống, chợ cóc, cửa hàng Cũng giống như những quốc giaChâu Á khác, chợ ở Việt Nam vẫn là một hình thức bán lẻ truyền thống giữ vai tròquan trọng, đặc biệt là đối với những món hàng thực phẩm phục vụ hằng ngày Hệthống chợ được hình thành và trải khắp mọi nơi từ những chợ đầu mối bán buôncho đến những chợ cóc nằm ở mọi ngóc ngách nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêudùng Dù cho hệ thống bán lẻ hiện đại có ưu điểm như thế nào đi nữa thì chợ vẫnmang trong nó những ưu điểm, như: phần lớn những hàng hóa bán ở chợ luôn rẻhơn so với hàng hóa cùng loại được bày bán tại siêu thị; hay là theo văn hóa tiêudùng của người Việt thì khi đi mua sắm luôn được mặc cả, mà điều này thì các hệthống bán lẻ hiện đại như siêu thị không thể có được.
Biểu đồ 1.6: Tỷ lệ lựa chọn các kênh phân phối ở Việt Nam
(Nguồn: Trung tâm Thông tin Thương mại - Bộ Công thương 2007)
Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng của người dân Thủ đô cũng thay đổi theohướng ngày càng thích nghi hơn với các hệ thống dịch vụ hiện đại Theo thống kê,trong các yếu có ảnh hưởng đến chọn lựa của người tiêu dùng khi mua hàng thì dẫnđầu là chất lượng sản phẩm với 35%, tiếp theo là hình thức phân phối với 24% caohơn yếu tố giá là 21%, tiếp theo là các yếu tố ấn tượng thương hiệu, yếu tố mới vàtiếp thị với các tỷ lệ lần lượt là 10%, 6% và 4%
Biểu đồ 1.7: Tỷ lệ các yếu tố chọn lựa của người tiêu dùng khi mua hàng
Trang 27(Nguồn: Trung tâm Thông tin Thương mại - Bộ Công thương 2007)
Bên cạnh đó, kinh doanh bán lẻ còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm vănhóa xã hội của phần đông người tiêu dùng Ở thành phố nét văn hóa nổi trội củangười tiêu dùng là văn hóa đô thị: Năng động, cởi mở, lịch thiệp và có yêu cầu dadạng về chủng loại và chất lượng hàng hóa Đặc điểm văn hóa thành thị đã ảnhhưởng đến nhận thức, hành vi thái độ khách hàng trong việc lựa chọn và quyết địnhtiêu dùng sản phẩm cũng như địa điểm mua sắm Người tiêu dùng thành thị luôn cóyêu cầu cao hơn người tiêu dùng thôn quê về chất lượng hàng hóa, về các dịch vụkhách hàng đầy đủ chất lượng hơn, về thái độ phục vụ… Kết quả thăm dò dư luậnmới đây của người tiêu dùng đô thị trong việc lựa chọn địa điểm mua sắm cho thấy:47,28% người tiêu dùng muốn đi mua sắm ở các siêu thị vì sự nhanh gọn, thuận tiệnkhông sợ hàng kém chất lượng: 15.16% muốn mua sắm ở các chợ gần nhà: 10,68%thích mua sắm ở các hội chợ vì sự đông vui: 10,07% muốn mua sắm trên mạng quađiện thoại trên mạng hoặc nhờ mua sắm giúp… Rất có thể nhờ một phần ủng hộtích cực của người dân thành thị mà hệ thống bán lẻ hiện đại có được sự phát triểnnhư ngày nay
Trên thực tế, các yếu tố thuộc về văn hoá như phong tục, tập quán, lối sống,trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng v.v có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cơ cấu củanhu cầu thị trường và hành vi, thị hiếu, xu hướng mua sắm, tiêu dùng của dân cư.Điều tra các siêu thị tại TPHCM và Hà Nội cho biết: trên 50% khách hàng của siêu
Trang 28thị này là cán công nhân viên chức và cán bộ trong các nhà máy, xí nghiệp; 40% làcác bà nội trợ và khoảng 10% người vào chơi vào xem mà không qua quầy thanhtoán Trong khi đó, theo kết quả khảo sát nghiên cứu thị trường tiêu dùng cá nhâncủa Công ty Dịch vụ Phát triển kinh doanh (BDS) trong năm 2006 với số lượngmẫu là 230 người tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Lạng Sơn cho thấy người tiêu dùngViệt Nam có thói quen mua hàng thường xuyên ở các loại hình phân phối như sau:
Biểu đồ 1.8: Thói quen mua hàng của người dân tại các thành phố lớn Việt Nam
(Nguồn: Kết quả khảo sát thị trường tiêu dùng cá nhân của BDS năm 2006)
Như vậy, thói quen mua hàng của người tiêu dùng đang thay đổi theo hướngtiến đến gần hơn với các loại hình bán lẻ văn minh hiện đại Đây là điều rất quantrọng đối với Tổng Công ty Thương mại HN trong việc phát triển hệ thống bán lẻ
1.3.5 Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng Internet đã tạo điều kiện cho
sự phát triển các loại hệ thống bán lẻ hàng hoá mới, hiện đại có sử dụng các hìnhthức thương mại điện tử Các doanh nghiệp có thể cải thiện dòng thông tin của hệthống bán lẻ nhờ các phương thức truyền tin qua mạng Internet Các doanh nghiệp
có thể sử dụng mạng Internet để quảng bá cho sản phẩm Một số doanh nghiệp kinhdoanh trong những ngành hàng nhất định có thể phát triển các hệ thống bán hàngtrực tiếp qua mạng Internet Đó chính là sự phát triển của thương mại điện tử bán lẻ
Trang 29“Siêu thị ảo” là hình thức bán lẻ mới, hiện đại được tổ chức dựa trên việc
ứng dụng thương mại điện tử bán lẻ Bán lẻ trực tiếp cho phép người tiêu dùng muasản phẩm nhờ sử dụng các phương tiện thông tin mà không cần gặp trực tiếp ngườibán Trên thế giới, ngày càng nhiều doanh nghiệp đang sử dụng hệ thống bán lẻhàng hoá trực tiếp để khai thác thị trường Người bán lẻ có thể tổ chức ra các khônggian giao dịch “ảo” như “Cửa hàng ảo”, “Siêu thị ảo” hoặc thông qua các ấn, vậtphẩm quảng cáo như cataloge, tờ rơi để thông tin tới người tiêu dùng về các sảnphẩm, dịch vụ, hàng hoá mà mình sẵn có Người tiêu dùng nếu có nhu cầu có thểđặt hàng cho người bán lẻ thông qua email, điện thoại, thư, tin nhắn SMS Ngườibán lẻ sẽ tiếp nhận đơn đặt hàng của khách hàng và cung cấp sản phẩm tới địa điểm
mà khách hàng yêu cầu Tham gia vào phương thức bán lẻ này, người tiêu dùngkhông phải mất công đến tận nơi bán hàng để lựa chọn sản phẩm và thanh toán tiền
mà chỉ cần sử dụng các công cụ hỗ trợ để lựa chọn và đặt hàng với người bán lẻ,người bán lẻ sẽ có trách nhiệm chuyển hàng đến đúng nơi, đúng thời gian, đúngchủng loại, số lượng và chất lượng theo yêu cầu Việc thanh toán được thực hiệntrực tiếp tại nơi nhận hàng hoặc chuyển khoản Trong tương lai, khi mà lĩnh vựccông nghệ thông tin ngày càng phát triển, khi mà thời gian sinh hoạt của mỗi ngườingày càng eo hẹp thì hình thức bán hàng này sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ Sựphát triển của thương mại điện tử bán lẻ có ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen muasắm của người tiêu dùng và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinhdoanh bán lẻ của hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội Vì vậy,trong định hướng phát triển hệ thống bán lẻ của Tổng Công ty Thương mại Hà Nộithì đây cũng là một giải pháp mà Tổng Công ty có thể áp dụng Tuy nhiên, để sửdụng được hình thức bán lẻ này thông thường người tiêu dùng phải trả một khoảnphí vận chuyển nhất định tuỳ thuộc vào khoảng cách với người bán lẻ, điều đó đôikhi cũng tạo ra những khó khăn và hạn chế nhất định cho Tổng Công ty khi triểnkhai hình thức bán lẻ mới này
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN LẺ CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
Trang 301.4.1 Trung Quốc
Với 1,3 tỉ người tiêu dùng có mức thu nhập ngày càng tăng, Trung Quốc hiệnđược coi là thị trường kinh doanh tuyệt vời nhất của các tập đoàn bán lẻ hàng đầuthế giới như Wal-Mart (Mỹ), Carefour và Leroy Mertin (Pháp), Metro vàTengelmann (Đức), Tesco và B&Q (Anh) Qui mô thị trường bán lẻ của TrungQuốc vào khoảng 980 tỉ USD Theo dự kiến tới năm 2020 thị trường bán lẻ TrungQuốc sẽ vào khoảng 2,4 ngàn tỉ USD
Theo cam kết của Trung Quốc khi gia nhập WTO ngày 11.12.2004 sẽ mởcửa hoàn toàn thị trường bán lẻ Doanh thu của một siêu thị đã vượt quá doanh sốcủa một số trung tâm mua bán hàng đầu của Trung Quốc Do thành công của cácsiêu thị đã thu hút rất nhiều tập đoàn bán lẻ trên thế giới đầu tư vào Trung Quốc Córất nhiều nhà bán lẻ lớn trên thế giới đã bắt đầu đầu tư vào thị trường Trung Quốc.Nhờ có kinh nghiệm và sức mạnh nên thị phần của các tập đoàn quốc tế ngày càngtăng lên Tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới Wal-Mart thâm nhập thị trường TrungQuốc vào năm 1996 và cho đến năm 2006 đã có 64 siêu thị với đội ngũ nhân viên33.000 người Dự kiến cho tới năm 2011 Wal-Mart sẽ tuyển thêm khoảng 150.000nhân viên Trong khi đó, nhà bán lẻ đứng thứ hai thế giới Carefour cũng lên kếhoạch mở thêm khoảng 20 cửa hàng mới trong năm 2006 ở nước này Bắt đầu xuấthiện tại Trung Quốc vào năm 1995, đến nay Carefour đang dẫn đầu các tập đoànbán lẻ ở đây với hơn 80 cửa hàng Năm 2005, Carrefour đạt doanh thu trên 2,4 tỉUSD tại Trung Quốc Một khảo sát mới đây cho thấy Carefour hiện là sự lựa chọn
số 1 của người tiêu dùng Trung Quốc, vị trí trước đây thuộc về Wal-Mart Các tậpđoàn nhỏ hơn cũng đang ráo riết chạy đua giành thị phần Tập đoàn Lotus của TháiLan đặt mục tiêu nâng số cửa hàng của họ tại Trung Quốc lên đến con số 100 vàocuối năm nay từ mức 69 cửa hàng hồi đầu năm Tập đoàn B&Q của Anh cũng bịcuốn hút bởi thị trường đầy tiềm năng này khi đưa ra kế hoạch tăng số cửa hàng ởTrung Quốc lên 100 vào năm 2010
Trang 31Trong khi đó, các doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc tuy rất nhiều nhưngthường có quy mô nhỏ Đây chính là một điểm yếu của hệ thống bán lẻ của TrungQuốc Hiện nay chỉ có 122 công ty bán lẻ Trung Quốc có doanh thu nhiều hơn 50triệu nhân dân tệ Sau khi Trung Quốc thực hiện mở cửa có khoảng 40 tập đoànphân phối lớn của nước ngoài đã gia nhập thị trường này Với hơn 60% doanh thubán lẻ rơi vào tay họ, các công ty bán lẻ của Trung quốc đã rơi vào tình thế rất khókhăn, một số bị phá sản11 Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức rõ điều này và banhành pháp lệnh về bán lẻ để giúp các tập đoàn trong nước giành lại thị phần Đây làmột giải pháp quản lý mà Việt Nam cần học tập trong quá trình mở cửa thị trườngbán lẻ Việt Nam
Cùng với quá trình cải tạo các dãy phố buôn bán truyền thống thành các siêuthị, Chính phủ Trung Quốc cũng đã xây dựng Kế hoạch phát triển 5 năm của siêuthị ở các thành phố nhỏ và vùng nông thôn, kế hoạch để phát triển các mô hình bán
lẻ hiện đại nói chung và các siêu thị nói riêng ở Trung Quốc
Bảng 1.2: Tiêu chuẩn siêu thị của Trung Quốc
Kích thước \ Loại siêu thị Đại siêu thị phức hợp Siêu thị Cửa hàng giảm giá truyền thống Siêu thị
11 Các chuyên gia cho biết, Wall-Mart và Carefour có mặt ở đâu tại Trung Quốc thì trong bán kính 30 km đó, các cửa hàng bán lẻ khác bị tiêu diệt
Trang 32nhất là một khía cạnh quan trọng trong mô hình kinh doanh theo chuỗi Do vậy, cácdoanh nghiệp kinh doanh theo chuỗi hết sức coi trọng việc xây dựng các kênh lưuthông hàng hóa, từng bước xây dựng và hoàn thiện một hệ thống thông tin về phânphối và lưu thông hàng hóa, hệ thống kho hàng, nâng cao trình độ về quản lý phânphối và lưu thông hàng hóa Ví dụ: Trung Quốc hiện có trung tâm phân phối và lưuthông hàng hóa của các doanh nghiệp kinh doanh theo dạng chuỗi có qui mô lớn vàvừa có diện tích xây dựng lên đến 20.000m2 có thể cho phép hơn 80 xe vận tải chởhàng xếp dỡ hàng hóa, có bán kính phục vụ lên tới 250km2, có trình độ ứng dụngđiện tử và cơ giới hóa tương đối cao; có những doanh nghiệp kinh doanh theo dạngchuỗi có qui mô lớn vừa chuyên về thiết bị có năng lực phân phối lưu thông hànghóa tương đối mạnh, đảm bảo cả việc bán lẻ, bảo đảm giao hàng đến nhà trong vòng
12 giờ…
Nhằm thích ứng với yêu cầu toàn cầu hóa kinh tế và việc ra nhập tổ chứcThương mại quốc tế WTO, nâng cao hiệu suất vận hành của nền kinh tế, trongnhững năm gần đây chính phủ Trung Quốc đã tích cực khuyến khích và đưa ra cácchính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực lưu thông phân phối hiệnđại, như:
- Cải cách các qui định và phương thức quản lý có liên quan, tạo môi trườnglành mạnh cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa hiện đại
- Áp dụng các biện pháp tích cực thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực bán lẻ:Khuyến khích phát triển phân phối và lưu thông hàng hoá theo hướng chuyênnghiệp hoá, nâng cao hiệu quả phân phối và lưu thông hàng hoá Khuyến khích cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá liên quantiến hành sát nhập, cải tổ và liên hợp; Hỗ trợ các doanh nghiệp phân phối và lưuthông hàng hoá mở rộng các kênh lưu thông vốn, khuyến khích doanh nghiệp phânphối và lưu thông hàng hoá thu hút vốn trên thị trường vốn trong nước Khuyếnkhích các ngân hàng duy trì các khoản vay cho các doanh nghiệp phát triển tốt; Tíchcực thúc đẩy thị trường phân phối và lưu thông hàng hoá có quy mô lớn và vừa của
Trang 33nước ngoài đến Trung Quốc, thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phânphối và lưu thông hàng hoá theo quy định của pháp luật Trung Quốc Khuyến khíchviệc xây dựng các tổ chức phân phối lưu thông hàng hoá hoặc kinh doanh củaTrung Quốc với nước ngoài; Đẩy nhanh việc xây dựng các trung tâm phân phối vàlưu thông hàng hoá khu vực mang tính xã hội hoá, chấn chỉnh lại các tổ chức phânphối và lưu thông hàng hoá Xây dựng quy hoạch một cách hợp lý cho các trungtâm phân phối và lưu thông hàng hoá khu vực, phát triển các dịch vụ, nghiệp vụphân phối và lưu thông hàng hoá công cộng mang tính xã hội hoá và chuyênnghiệp hoá.
- Tăng cường bồi dưỡng giáo dục về lĩnh vực phân phối và lưu thông hànghóa, khuyến khích sử dụng trang thiết bị hiện đại trong lĩnh vực phân phối và lưuthông hàng hóa
- Xây dựng qui hoạch phát triển cho phân phối và lưu thông hàng hóa, chỉđạo và thúc đẩy cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa.Hiện tại, các ban ngành có liên quan của nhà nước đang xem xét xây dựng quihoạch phát triển hệ thống phân phối và lưu thông hàng hoá thống nhất trên toànquốc Trung Quốc, chỉ đạo thúc đẩy sự phát triển của lưu thông hàng hoá hiện đạiTrung Quốc Một số các chính quyền địa phương đã xây dựng qui hoạch phát triển
hệ thống phân phối và lưu thông hàng hoá của địa phương
- Tăng cường điều tiết giữa các ban nghành chính phủ liên quan đến lưuthông hàng hóa: Chính phủ tăng cường việc điều tiết giữa các ban, ngành như Hàngkhông, đường sắt, giao thông, thương mại… nhằm quản lý việc phân phối và lưuthông hàng hoá liên quan
- Có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài hợp lý vào phát triển của hệ thốngsiêu thị: Ngay từ năm 1992 Chính phủ Trung Quốc đã cho phép các doanh nghiệpnước ngoài đầu tư vào lĩnh vực phân phối hàng hoá ở Trung Quốc Cùng với vốnđầu tư các doanh nghiệp nước ngoài đã đem vào Trung Quốc phương thức quản lý,kinh doanh mới đi cùng với một số loại hình tổ chức bán buôn, bán lẻ văn minh
Trang 34hiện đại đặc biệt là kinh doanh siêu thị Các thương nhân Trung Quốc không cầnphải ra nước ngoài mới có thể học tập được kinh nghiệm trong việc thành lập, vậnhành và phát triển các siêu thị Việc cho phép các doanh nghiệp phân phối lớn củanước ngoài đầu tư xây dựng và mở rộng hệ thống siêu thị của họ ở trung Quốc làmột bước đi quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển loại hình cửa hàng văn minh,hiện đại ở Trung Quốc
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển hệthống bán lẻ: Bên cạnh việc thu hút FDI, Trung Quốc cũng dành nhiều ưu đãi về tíndụng, thông tin, đào tạo, trợ giúp kỹ thuật cho các doanh nghiệp kinh doanh siêu thịtrong nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các siêu thị trong nước trên thịtrường Trung Quốc Đặc biệt, Trung Quốc cũng khuyến khích các nhà bán lẻ củaTrung Quốc đầu tư ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường của các nước trong khuvực thậm chí cả các nước phát triển như EU, Hoa Kỳ
Chính phủ Trung Quốc cũng khuyến khích hoạt động mua lại, sát nhập cácdoanh nghiệp nhỏ, các nhà kinh doanh siêu thị nhỏ… để hình thành lên các tập đoànsiêu thị lớn có đủ sức cạnh tranh với các siêu thị của nước ngoài; khuyến khích cácdoanh nghiệp vận hành theo mô hình chuỗi siêu thị nhằm tăng cường hiệu quả kinhdoanh của hệ thống
Việc lựa chọn một số doanh nghiệp bán lẻ lớn (dựa trên thành tích hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế) để hỗ trợ phát triểncũng được Chính phủ Trung Quốc áp dụng và đã phát huy hiệu quả trong hệ thốngbán lẻ hàng hoá
- Chính sách không phải là bất di bất dịch mà có thể thay đổi hoạt bát chophù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển hệ thống bán lẻ
Hiện nay số lượng siêu thị tại một số thành phố lớn như Bắc Kinh, ThượngHải, Quảng Châu, Thâm Quyến và một số thành phố khác ở vùng duyên hải đã bãohoà Trong khi đó, một số thành phố khác nhỏ hơn ở phía trung và tây Trung Quốcvẫn chưa phát triển hoặc chưa có Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp
Trang 35để phát triển các siêu thị ở các tỉnh miền trung và miền tây Trung Quốc Ngoài ra,
để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thương mại trong nước phát triển, tăng khảnăng cạnh tranh trước nguy cơ bị các tập đoàn thương mại nước ngoài chiếm ưuthế trong lĩnh vực bán lẻ đang phát triển rất nhanh ở Trung Quốc, Chính phủ TrungQuốc đã phải đưa ra một số quy định nhằm hạn chế sự phát triển siêu thị của các tậpđoàn nước ngoài đang đầu tư mở thêm siêu thị ở Trung Quốc như hạn chế về diệntích kinh doanh, hạn chế về số lượng siêu thị tại một tỉnh hay một thành phố thôngqua quy hoạch về hệ thống bán lẻ và hạ tầng thương mại
1.4.2 Thái Lan
1.4.2.1 Khái quát hệ thống bán lẻ của Thái Lan
Cho đến trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, thương mại truyền thốngvẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống bán lẻ của Thái Lan Trước cuộc khủnghoảng tiền tệ, hệ thống thương mại truyền thống chiếm đến 70% tổng số thươngmại của nước này và hệ thống bán lẻ hiện đại chỉ chiếm 30%
Sơ đồ 1.8: Hệ thống bán lẻ hiện đại của Thái Lan
Hệ thống
bán lẻ
Đại siêu thịSiêu thị
Cash & CarryCửa hàng tiện dụng
Bán theo cataloge
Trung tâm thương mạiCửa hàng đặc biệt
Hệ thống bán lẻ truyền thống
Hệ thống bán lẻ hiện đại
Trang 36(Nguồn: Thời báo Bưu điện Thái Lan)
Hiện nay hệ thống bán lẻ hiện đại của Thái Lan có tốc độ tăng trưởng nhanhhơn tốc độ tăng trưởng của hệ thống bán lẻ truyền thống Thị phần của hệ thống bán
lẻ hiện đại năm 2002 là 54% so với hệ thống bán lẻ truyền thống là 46% Thị phầncủa hệ thống bán lẻ hiện đại còn tiếp tục tăng thời gian tới do nhiều tập đoàn bán lẻquốc tế sẽ mở thêm các siêu thị và đại siêu thị ở Thái Lan
Số lượng cửa hàng hiện đại chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ (1,62%) trong tổng số cửahàng bán lẻ của Thái Lan, nhưng doanh thu của các cửa hàng này lại chiếm tới 54%tổng doanh số bán lẻ của Thái Lan Trong số các loại hình cửa hàng hiện đại, cửahàng giảm giá, cửa hàng bách hoá lớn, đại siêu thị chiếm ưu thế, tiếp đến là cáctrung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng và mô hình Cash & Carry, cuối cùng mớiđến các siêu thị truyền thống
Siêu thị đã phát triển rất nhanh ở Thái Lan Tuy nhiên, hệ thống siêu thị củaThái Lan đã phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đại siêu thị của nước ngoài.Chỉ còn rất ít siêu thị truyền thống của Thái Lan có thể tồn tại và phần lớn các siêuthị này đã phải liên doanh với các siêu thị của nước ngoài để cạnh tranh với các đạisiêu thị và các loại hình bán lẻ truyền thống Đến nay, đối thủ cạnh tranh chủ yếucủa các siêu thị Thái Lan vẫn là các chợ truyền thống
Một trong những kênh phân phối truyền thống của Thái Lan đó là các chợngoài trời Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế trong thập kỷ 90 cáchình thức bán lẻ khác đã rất phát triển đặc biệt là thực phẩm, vốn được coi là ưu thếcủa các chợ truyền thống Các loại hình siêu thị, đại siêu thị, trung tâm thương mại,cửa hàng tiện dụng đã phát triển rất nhanh đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củatầng lớp trung lưu
Trang 37Bảng 1.3: Tỷ trọng doanh thu bán lẻ qua hệ thống bán lẻ hiện đại và truyền
thống của Thái Lan năm 2006
STT Loại cửa hàng Số lượng Tỉ lệ (%) (Triệu bạt) Doanh thu Tỉ lệ (%)
(Nguồn: Bộ Thương mại Thái Lan 2006)
Ước tính hiện nay ở Thái Lan có đến 130 siêu thị nằm trong các trung tâmthương mại Các siêu thị này tập trung trong tay khoảng 15 tập đoàn bán lẻ lớn củaThái Lan Các tập đoàn này đang có dự định xây dựng hàng loạt siêu thị cỡ trungbình trên diện tích rộng nhằm đáp ứng nhu cầu hàng ngày của các tầng lớp dân cưkhác nhau Các doanh nghiệp trong nước cũng đã tiến hành liên doanh với các công
ty nước ngoài để mở thêm các siêu thị mới nhằm tăng khả năng cạnh tranh với cácnhà bán lẻ nước ngoài
Siêu thị ở Thái Lan chủ yếu tập trung ở Băng Cốc, tại đây có đến 75% siêuthị Trong khi đó, dân số của khu vực này chỉ chiếm 20% dân số của Thái Lan Siêuthị của Thái Lan thường nằm trong các Trung tâm thương mại và là một phần củatrung tâm thương mại
Biểu đồ 1.9: Thị phần các loại hình bán lẻ hiện đại của Thái Lan 2006
Trang 38(Nguồn: Thời báo Bưu điện Thái Lan năm 2006)
Các trung tâm thương mại vẫn chủ yếu do các nhà bán lẻ nước ngoài (Big C,Carrefour) nắm giữ, các tập đoàn bán lẻ nhỏ hơn chiếm những phân đoạn thị trườngnhỏ hơn Do chủ yếu là các nhà bán lẻ của nước ngoài nên mức độ cạnh tranh trênphân đoạn thị trường này là rất gay gắt
1.4.1.2 Chính sách của Chính phủ Thái Lan
Hiện các nhà bán lẻ nhỏ của Thái Lan phải chịu cạnh tranh rất lớn từ các nhàbán lẻ nước ngoài nên đã gây sức ép rất lớn đối với chính phủ Thái Lan trong việcquản lý các nhà bán lẻ nước ngoài Nếu như trước kia, chính phủ Thái Lan mở cửa
thị trường bán lẻ một cách tự do thì năm 2005 Chính phủ nước này đã đưa ra Dự thảo luật về bán lẻ Sau khi Thủ tướng Thái Lan xem xét và được Quốc hội thông
qua, luật sẽ chính thức có hiệu lực
Ngoài ra, các nhà bán lẻ nhỏ của Thái Lan đã gây sức ép đối với Chính phủnhằm thực thi các biện pháp chặt chẽ hơn đối với các nhà phân phối lớn Những
biện pháp có thể thực thi bao gồm kiểm soát về khu vực mở siêu thị, kiểm soát thời
gian mở cửa và các nhà bán lẻ lớn nếu muốn mở siêu thị tại các thành phố phải xingiấy phép mới được phép xây dựng
Trang 39Năm 2003 cơ quan Nhà đất của Thái Lan đã ban hành quy định về khu vựcbán lẻ đối với 75 tỉnh của Thái Lan trừ Thủ đô Băng Cốc Theo quy định mới, cácnhà bán lẻ có diện tích trên 1.000m2 phải được xây dựng cách trung tâm thành phố
ít nhất là 15km Quy định này cũng đưa ra diện tích đất tối thiểu mà các siêu thị nàycần phải có cũng như diện tích lưu không, cây xanh cần thiết đối với các siêu thịnày Quy định này cũng đưa ra các quy định cụ thể cho các siêu thị có diện tích từ
300 – 1.000m2
Đã có thời gian, 80% thị phần bán buôn và bán lẻ của Thái Lan nằm trongtay các tập đoàn nước ngoài Chính phủ nước này đã phải điều tiết bằng cách chỉcho các tập đoàn nước ngoài được mở từng siêu thị riêng lẻ, không cho hình thànhchuỗi liên kết để chi phối thị trường
Chính phủ cũng ban hành quy định về thương mại công bằng đối với các siêuthị nhằm ngăn chặn tình trạng hạ giá quá nhiều để chiếm lĩnh thị trường và sử dụngsức mạnh thị trường để gây sức ép đối với nhà cung cấp
Ngoài ra, Thái Lan còn thành lập “Liên minh bán lẻ” để giúp các siêu thị vàcác cửa hàng truyền thống trong nước làm quen với các hình thức bán lẻ hiện đại.Liên minh này giúp cho các siêu thị nhỏ trong nước có được quyền lực thị trườngtương đương với các siêu thị lớn của nước ngoài
Với nhiều quy định chặt chẽ hơn của chính phủ đối với các siêu thị như cácquy định về không gian và quy hoạch đất đai, các nhà bán lẻ hiện nay của Thái Lan
có xu hướng xây dựng các siêu thị ngày càng nhỏ hơn Và các nhà bán lẻ đang có
xu hướng xây dựng các siêu thị theo kiểu mua bán và giải trí, trong đó người tiêudùng có thể kết hợp hoạt động mua bán và giải trí
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn thực hiện một số biện pháp nhằm tăng nộilực và sức cạnh tranh của các cửa hàng bán lẻ vừa và nhỏ, đặc biệt là hình thức kinhdoanh truyền thống như:
Trang 40- Tổ chức các cuộc hội thảo trên toàn quốc cho chủ các cửa hàng bán lẻtruyền thống nhỏ để tăng nhận thức về sự đe doạ từ sự phổ biến các cửa hàng ưu đãigiá và thay đổi đối xử với khách hàng.
- Tổ chức đào tạo trên toàn quốc để tăng hiểu biết của các chủ cửa hàng nhỏbán lẻ truyền thống về quản lý và tham gia bán lẻ hiện đại phù hợp với thực tế pháttriển của hoạt động kinh doanh bán lẻ
- Hiện đại hoá các cửa hàng nhỏ bán lẻ truyền thống thông qua việc cử cácđội chuyên gia bán lẻ đến nâng cấp các cửa hàng bán lẻ truyền thống theo mô hìnhcác “cửa hàng tiện lợi”
- Trợ giúp các cửa hàng bán lẻ vừa và nhỏ trong công tác quản lý để nângcao hiệu quả kinh doanh
Từ kinh nghiệm của Thái Lan có thể rút ra kết luận: Chính phủ nên điều tiết
để đảm bảo cân bằng cơ hội thương mại cho mọi thành phần, từ nhà sản xuất, nhàcung cấp, nhà bán buôn, đến nhà bán lẻ lớn hoặc nhỏ, thương mại hiện đại hoặctruyền thống có thể cùng tham gia và có được vị trí kinh doanh riêng của họ
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁN LẺ CỦA TỔNG CÔNG TY
THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BÁN
LẺ CỦA TỔNG CÔNG TY THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Tổng Công ty Thương mại HN
Tháng 8/1991, Liên hiệp Sản xuất - Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Tiểu thủcông nghiệp Hà Nội cử đồng chí Nguyễn Hữu Thắng vào Sài Gòn thành lập Ban đạidiện phía Nam Chỉ sau 1 năm thâm nhập thị trường, Ban đại diện phía Nam đã đạt