1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc

130 267 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 16,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về học sinh trung học phổ thông dân tộc Sán Dìu và dân tộc Ki

Trang 1

LE THANH HA

MOT SO CHi SO SINH HỌC CỦA HỌC SINH

TRUNG HOC PHO THONG DAN TOC SAN DiU VA DAN TOC KINH HUYEN TAM DAO, TINH VINH PHUC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Trang 2

Trong quá trình thực hiện dé tài nghiên cứu, tôi đã luôn nhận được sự

giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến hết sức quý báu của TS Đỗ Hồng Cường Tôi vô cùng kính trọng và chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS TSKH Tạ Thúy Lan,

PGS TS Trần Thị Loan, PGS TS Mai Văn Hưng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi

trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy, Cô trong Ban giám hiệu, phòng

Sau đại học, khoa Sinh - Kĩ thuật nông nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà

Nội 2 đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập,

nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo và các

em học sinh trường THPT Tam Đảo và THPT Tam Đảo 2 đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động

viên, cô vũ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2013

Tác giả

Lê Thanh Hà

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Học viên

Lê Thanh Hà

Trang 4

FEVI Thể tích thở ra tối đa trong 1,0 giây

Trang 5

Trang

Trang phu bia

Loi cam on

Loi cam doan

Bảng các chữ viết tắt trong luận văn

4 Déi trong va pham vi nghién CUU cecceecssesssseesseessseessseessessseeesseeess 3

5 Phuong phap nghién ctu cccccecsseseseeseseeseeeeseeecseeseeeeseeeeseeeeeeees 3

6 Nhitng dong gop mi ctia dé ti eee cecsseesseessseesseesssesssseesseessees 3 Phần II NỘI DUNG -2-©222222c+2ExeErxrrrrerrrerrerrrerree 4

Chương! TỐNG QUAN TÀI LIỆU 2-©2©2s222+z+c5sc+ẻ 4 1.1 Các vấn đề nghiên cứu về hình thái - thé lye co thể người 4

1.1.1 Các vấn đề chung về hình thái - thể lực cơ thể người - 4 1.1.2 Các nghiên cứu về chỉ số hình thái - thể lực con người 5 1.2 Các nghiên cứu về chỉ số chức năng sinh lý -2- 2 cszs+ 13 1.2.1 Các vấn đề chung về chỉ số chức năng sinh lý - 13 1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng sinh Ïÿ cc+ccssccccsces 16 Chương2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 Đối tượng nghiên cứu -2:+¿©+++2++t2Ex+tEExeerxeetrxrerrrrrrkecee 23

Trang 6

2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số se ccccccerriereerrerree 24 2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 5s cccccEccEkrrrkerrrrrrrreerrvee 28

Chương3 KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 31 3.1 Một số chỉ số hình thái của hoc sinh THPT dan toc San Diu

và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ‹ 31

BLD, Chidu CO0 AUN cecscccsssssssessssesssssessessssessssessssesssestsuesssiessiessssesssees 31

3.1.3 Vịng ngực trung ĐÌHh -.- sen kshneteirerereereree 39

E2 1/4 45 3.1.6 Vịng cánh tay phải CO tt Sky 48 3.2 Các chỉ số thể lực của học sinh THPT dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - «5 «+s+s£+s+sezscee 51

3.2.1, Chi Y1 sanh e<4dHAqđHA)|H ,), ,),H, , 51

3.2.2 B.MI HH HH HH TH TH 54

EU nxs ¡12 /2aa14gAäÄA,., HĂH 58

3.2.4 Khối mỡ ở học sinh NAM VÀ H se c6cecececkrrkrrrerkereeree 61 3.2.5 Khối nạc ở học sinh na Và H e-csccceccecxerreerxereersee 63 3.2.6 Tỉ lệ phân trăm mỡ ở học sinh nam VÀ Hữ .- «+ <s=<+ 64

3.3 Một số chỉ số chức năng sinh lý của học sinh THPT dân tộc Sán Dìu

và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - - 67 3.3.1 TâN SỐ timeccccccccsscessscesssessssesssesssesssssesssesssssssesssuesssestasesssecsssetsees 67

3.3.3 Huyết áp toi dQ ceeccecccccsccssesssesssessessessesssesssesssecsuessessesssesssecseeesee 72 3.3.4, Huyết áp toi thideecccccccscsccssesssecsssessssessssesssecsssessssessssessessssessseee 75

Trang 7

3.3.7 Chi SO DOMONY 6s h6 “6“(.(dAđŒ[AgAH,,.HH, 84

3.4 Mối tương quan giữa một số chỉ số hình thái và chức năng

sinh lý của học sinh THPT huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc 87 3.4.1 Tương quan giữa chiều cao đứng với một số chỉ số chức

năng hệ tuần NOG eecseescseessssscssescsvecsssesssssssesssscesssssssessssecssissssesssvecs 87 3.4.2 Tương quan giữa cân nặng với một số chỉ số chức năng

NE tu NOAM eveesrecrecsvesessssersssecsecsessuesvsssssseceessussussussaseasesesaussecsaveneens 90

3.4.3 Tương quan giữa BMI với một số chỉ số chức năng hệ

21817 NBRRRREEEEESeeaa 92 3.4.4 Giá trị phương trình hỗi quy tính số đối chiếu các thông

số chức năng phổi :-©-e+©+e©c+e+EExtSEkeeErkttrkrsrkkrrkrerrrrerreee 95

Phần 3 KẾT LUẬN -©222-©22<22EEceEkECEEkCEEEkrrrkkrrrkrrrrrerrvee 97

Kt ae cccc cece ecceesseessecsscsseesseesecssecssesssessessnessesssesssesseeesesssesees 97 Kiến nghị - 2-22 SCS 2 E2 E71 21117112711211211711112112111 11k 99

IV )80)9)009:7),/8.4 (G15 100

lb) )À¿ .—- )HẰHẬHH 100

3:080001590777 108

Trang 8

Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi, giới tính và dân tộc

Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của học sinh nam theo tuổi

và dân tộc

Bảng 3.2 Chiều cao đứng (cm) của học sinh nữ theo tuổi và

dân tộc

Bảng 3.3 Chiều cao đứng (cm) của học sinh THPT theo

nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bang 3.4 Cân nặng (kg) của học sinh nam theo tuổi và dân

tộc

Bang 3.5 Cân nặng (kg) của học sinh nữ theo tuổi và dân

tộc

Bảng 3.6 Cân nặng (kg) của học sinh THPT theo nghiên

cứu của các tác giả khác

Bảng 3.7 VNTB (cm) của học sinh nam theo tuổi và dân tộc

Bảng 3.8 VNTB (cm) của học sinh nữ theo tuổi và dân tộc

Bang 3.9 VNTB (cm) cua hoc sinh theo nghiên cứu của các

tac gia khac nhau

Bảng 3.10 Vòng đùi phải (cm) của học sinh nam theo tuổi

và dân tộc

Bảng 3.11 Vòng đùi phải (cm) của học sinh nữ theo tuổi và

dân tộc

Bảng 3.12 Vòng đùi phải (cm) của học sinh THPT theo

nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Trang 9

Bảng 3.15 Vòng bụng (cm) của học sinh THPT theo nghiên

cứu của tác giả khác nhau

Bảng 3.16 Vòng cảnh tay phải co (cm) cua hoc sinh nam

theo tuổi và dân tộc

Bảng 3.17 Vòng cảnh tay phải co (cm) của học sinh nữ theo

tuổi và dân tộc

Bảng 3.18 Vòng cảnh tay phải co (cm) của học sinh THPT

theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bang 3.19 Chỉ số Pignet của học sinh nam theo tuổi và dân

tộc

Bang 3.20 Chỉ số Pignet của học sinh nữ theo tuổi và dân

tộc

Bang 3.21 Chỉ số Pignet của học sinh THPT theo nghiên

cứu của các tác giả khác nhau

Bảng 3.22 BMI của học sinh nam theo tuổi và dân tộc

Bảng 3.23 BMI của học sinh nữ theo tuổi và dân tộc

Bang 3.24 BMI của học sinh THPT theo nghiên cứu của các

Trang 10

Bang 3.33 Tân số tim (nhịp/phúU của học sinh THPT theo

nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bảng 3.34 Lưu lượng tim (lít) của học sinh nam theo tuổi và

Bang 3.39 Huyết áp tối thiểu (mmHg) của học sinh nam

theo tuổi và dân tộc

Bang 3.40 Huyết áp tối thiểu (mmHg) của học sinh nữ theo

Trang 11

theo nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bảng 3.42 Dung tích sống (lít) của học sinh nam theo tuổi

và dân tộc

Bảng 3.43 Dung tích sống (lí) của học sinh nữ theo tuổi và

dân tộc

Bang 3.44 Dung tích sống (lí) của học sinh THPT theo

nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bang 3.45 Dung tích sống thở mạnh (lít) của học sinh nam

theo tuổi và dân tộc

Bang 3.46 Dung tích sống thở mạnh (lít) của học sinh nữ

theo tuổi và dân tộc

Bảng 3.47 Dung tích sống thở mạnh (lít) của học sinh theo

nghiên cứu của các tác giả khác nhau

Bang 3.48 Chỉ sé Demeny (ml/kg) ctia hoc sinh nam theo

tuổi và dân tộc

Bang 3.49 Chỉ sé Demeny (ml/kg) ctia hoc sinh nữ theo tuổi

va dân tộc

Bảng 3.50 Tương quan giữa chiều cao đứng của học sinh

dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu với một số chỉ số chức năng

hệ tuần hoàn

Bảng 3.51 Tương quan giữa cân nặng của học sinh dân tộc

Kinh và dân tộc Sán Dìu với một số chỉ số chức năng hệ tuân

Trang 12

55

56

Bảng 3.53 Giá “ phương trình hồi quy tính số đối chiếu % của các thông số chức năng phối — VC

Bang 3.54 Giá trị phương trình hồi quy tính số đối chiếu 96

của các thông số chức năng phối — FVC

Trang 13

10

11

12

Hinh 3.1 Biéu dé chiéu cao đựng của học sinh nam dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.2 Biểu đồ chiều cao đứng của học sinh nữ dân tộc

Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.3 Biểu đô cân nặng của học sinh nam dân tộc Kinh

và dân t6c San Diu

Hình 3.4 Biểu đô cân nặng của học sinh nữ dân tộc Kinh và

Hình 3.8 Biểu đô vòng đùi phải học sinh nữ dân tộc Kinh và

dan toc San Diu

Hình 3.9 Biểu đồ vòng bụng học sinh nam dân tộc Kinh và

dân tộc Sản Dìu

Hình 3.10 Biểu đồ vòng bụng học sinh nữ dân tộc Kinh và

dân tộc Sản Dìu

Hình 3.11 Biểu đỗ vòng cánh tay phải co học sinh nam dân

tộc Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.12 Biểu đồ vòng cánh tay phải co học sinh nữ dân

Trang 14

Kinh và dân tộc Sản Diu

Hình 3.14 Biểu đô chỉ số Pignet học sinh nữ dân tộc Kinh và dan toc San Diu

Hình 3.15 Biểu đô BMI của học sinh nam dân tộc Kinh và

dan toc San Diu

Hình 3.16 Biéu do BMI ctia hoc sinh nit dén tộc Kinh và Sản

Hình 3.19 Biểu đô khối mỡ học sinh nam dân tộc Kinh và

dan toc San Diu

Hình 3.20 Biểu do khối mỡ học sinh nữ dân tộc Kinh và dân

tộc Sản Dìu

Hình 3.21 Biếu đô khối nạc của học sinh nam dân tộc Kinh

và Sán Dìu

Hình 3.22 Biểu đồ khối nạc của học sinh nữ dân tộc Kinh và

dân téc San Diu

Hinh 3.23 Biéu do ti lé phan trăm mỡ của học sinh nam dân

tộc Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.24 Biểu đồ tỉ lệ phan trăm mỡ của học sinh nữ dân

tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu

Hình 3.25 Biểu đô tần số tim của học sinh nam dân tộc Kinh

Trang 15

Hình 3.27 Biểu đô lưu lượng tìm của học sinh nam dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.28 Biểu đồ lưu lượng tìm của học sinh nữ dân tộc

Kinh và Sán Dìu

Hình 3.29 Biểu đồ huyết áp tối đa của học sinh nam dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.30 Biểu đỗ huyết áp tối đa của học sinh nữ dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.31 Biểu đồ huyết áp tối thiểu của học sinh nam dân

tộc Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.32 Biểu đồ huyết áp tối thiểu của học sinh nữ dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.33 Đà thị dung tích sống cúa học sinh nam dân tộc

Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.34 Đồ thị dụng tích sống của học sinh nữ dân tộc Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.35 Đà thị dụng tích sống thở mạnh của học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sản Dìu

Hình 3.36 Do thi dung tich song tho manh cua hoc sinh nit dân tộc Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.37 Biểu đồ chỉ sô Demeny của học sinh nam

dân tộc Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.38 Biểu đồ chỉ sô Demeny của học sinh nữ dân

tộc Kinh và dân tộc San Diu

Hình 3.39 Đà thị biểu diễn mối tương quan giữa chiều cao

Trang 16

đứng với huyết áp toi đa của học sinh nữ dân tộc Kinh

Hình 3.41 Đà thị biểu diễn mối tương quan giữa chiều cao đứng với huyết áp tối thiểu của học sinh nam dân tộc Kinh

Hình 3.42 Đô thị biểu diễn mỗi tương quan giữa cân nặng

với tần số tim của học sinh nam dân tộc Kinh

Hình 3.43 Đô thị biểu diễn mối tương quan giữa cân nặng với huyết áp tối da của học sinh nam dân tộc Kinh

Hình 3.44 Đ thị biểu diễn mối tương quan giữa BMI voi tan

số tìm của học sinh nữ dân tộc Kinh

Hình 3.45 Đà thị biểu diễn mối tương quan giữa BMI với huyết áp tối đa của học sinh nữ dân tộc Sán Dìu

Hình 3.46 Đỗ thị biểu diễn mối tương quan giữa BMI với huyết áp tối thiểu của học sinh nữ dân tộc Kinh

Trang 17

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta

đang trên đà phát triển, từng bước hội nhập với nền kinh tế các nước trong

khu vực cũng như trên thế giới Đề nền kinh tế phát triển đòi hỏi nhiều yếu tố,

một trong những yếu tố quyết định cho nền kinh tế phát triển bền vững là nhân tố con người, trong đó thế hệ trẻ được xác định là chủ nhân tương lai của đất nước

Để có nhận định chính xác về thể chất trí tuệ của thế hệ trẻ nhất là học sinh, sinh viên đang là nhu cầu cấp thiết đối với mỗi cấp, mỗi ngành nước nhà Cũng chính vì vậy mà ngày càng có nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu thể chất, trí tuệ trên đối tượng thanh niên, học sinh, sinh viên Điển hình là

công trình nghiên cứu của Tạ Thúy Lan, Mai Văn Hưng, Trần Thị Loan [27],

[34], [35], [26] Kết quả nghiên cứu của các công trình đã cho thấy thể lực

sinh lý của con người thay đổi theo tuổi và điều kiện xã hội Điều này nhận thấy rõ đối với học sinh trung học phố thông Việc đánh giá các chi sé thé lực

và sinh lý của học sinh cần tiến hành thường xuyên và theo định kì Các nghiên cứu này góp phần cung cấp những dữ liệu mới, chính xác, nhằm cung cấp thông tin khoa học cần thiết không chỉ cho các nghiên cứu y sinh học

phục vụ công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân mà còn sử dụng

trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Từ đó đề ra các biện pháp giáo dục thích hợp nâng cao thể chất trí tuệ cho học sinh trên địa bản nghiên cứu nói riêng và trên cả nước nói chung

Tam Đảo là một huyện miền núi có diện tích tự nhiên là 236,42 km2

Vào thời điểm thành lập huyện năm 2003, dân số huyện là 65 912 người Trên

địa bàn huyện có các dân tộc: Kinh, Sán Dìu, Lào, Mường, Hoa, Mông, Dao,

Trang 18

phần rất nhỏ Người Sán Dìu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền trung

du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam Các tên gọi khác: Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ Dân tộc này thuộc về nhóm ngôn ngữ Hoa

Dân tộc Sán Dìu được tạo lập từ thời nhà Minh tại Quảng Đông, Trung Quốc, sau đó dần dần di chuyển đến Việt Nam

Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về học sinh trung

học phổ thông dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh trên địa bàn huyện Tam Đảo,

tỉnh Vĩnh Phúc Xuất phát từ những lí do trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên

cứu là: ''Mội số chỉ số sinh học của học sinh trung học pho thông dân tộc San Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ``

2 Mục đích nghiên cứu

- Xác định thực trạng hình thái — thể lực, chức năng sinh lý của học sinh trung học phổ thông dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

- Xác định một số mối liên hệ giữa sự tăng trưởng hình thái, thể lực và

chức năng sinh lý theo độ tuổi và dân tộc của học sinh trung học phổ thông

huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh trung học phổ

thông dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tuổi

Trang 19

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 có độ tuổi từ 16

đến 18, các em là học sinh dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu thuộc trường THPT

Tam Đảo và THPT Tam Đảo 2, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

- Tuổi của các đối tượng nghiên cứu được tính theo quy ước chung của các

tài liệu y tế Trẻ em sinh ra là tính 1 tuổi

- Số lượng là 795 học sinh

- Địa điểm thuộc trường THPT Tam Đảo và THPT Tam Đảo 2, huyện Tam

Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

5 Phương pháp nghiên cứu

- Các chỉ số sinh học được xác định theo các phương pháp hiện hành

- Kết quả phân tích và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Cho thấy thực trạng một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ

thông dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

- Các kết quả thu được trong đề tài nghiên cứu này có thể sử dụng cho việc nâng cao thê chât của học sinh

Trang 20

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Các vấn đề nghiên cứu về hình thái - thế lực cơ thế người

1.1.1 Các vấn đề chung về hình thái - thể lực cơ thể người

Tầm vóc và thể lực là những khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của

cơ thể đặc biệt có liên quan chặt chẽ đến khả năng, sức lao động và thắm mỹ của con người Vì vậy, các chỉ số này từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan

tam [24]

Trong mối quan hệ giữa môi trường và sức khoẻ, các đặc điểm hình thái

thể lực được coi là thước đo một mặt về sức khoẻ, mặt khác về khả năng lao

động Cùng với sự phát triển của y học và sinh học, các công trình nghiên cứu hình thái thể lực được bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử và đến nay vẫn là vấn

đề thời sự khoa học về con người nên việc nghiên cứu hình thái thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ [24]

Chiều cao đứng của cơ thể là dấu hiệu được nhận xét sớm nhất trong hầu

hết các lĩnh vực ứng dụng của nhân trắc học trước cả giai đoạn hình thành

khoa học nhân trắc Ý nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao là ở chỗ được coi

như biểu hiện của thể lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác

tuyển chọn vào quân đội, tuyển học sinh, tuyển thợ [24]

Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể lực của con người Cân nặng gồm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 khối

lượng cơ thể gồm có xương, da, nội tạng, thần kinh và phần không cố định

chiếm 2/3 khối lượng cơ thể là khối lượng cơ, khối lượng mỡ và nước [49] Ở người trưởng thành, sự tăng cân chủ yếu là tăng phần không cố định và có liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng [6], [16].

Trang 21

XIX, khi họ nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ phát triển của lồng ngực

và các bệnh hô hấp Dần dần cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành chỉ tiêu

quan trọng trong các cuộc tuyển chọn biïnh lính và nhân công lao động [24]

Trong khi tiếp tục khảo sát những đặc điểm hình thái có liên quan đến

việc đánh giá mức độ tăng trưởng và phát triển thể lực, người ta dần dần nhận

ra rằng ở mức độ khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau, với các loại hình cơ thể khác nhau, các chỉ tiêu hình thái có tương quan theo nhiều mức

độ Thể lực không chỉ thể hiện đồng nhất ở từng loại chỉ tiêu riêng rẽ, ngược lại là tổng hoà của một số yếu tố cấu thành Người ta bắt đầu suy nghĩ đến việc tính các chỉ số dựa trên một số chỉ tiêu quan trọng nhất và phương pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số ra đời Chỉ số thể lực là tổng hợp các tương

quan của các dấu hiệu nhân trắc được biểu thị dưới dạng công thức toán học

Các chỉ số khác nhau bao gồm các dấu hiệu khác nhau [24]

Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy sự khác nhau giữa trẻ

em thành phó và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ Trên thực tế, sự phát triển

thể lực của trẻ em phụ thuộc rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua

lại giữa cơ thê và môi trường [36], [40], [53]

1.1.2 Các nghiên cứu về chỉ số hình thái — thể lực con người

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu chỉ số hình thái - thể lực trên thể giới

Từ thế kỷ XIII, Tenon đã coi cân nặng là chỉ số quan trọng để đánh giá thể lực Sau này các nhà giải phẫu học kiêm hoạ sĩ thời phục hưng (Leonard

de Vinci; Mikenlangielo; Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mối tương

quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa của mình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên

cứu tương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold

Trang 22

tác phẩm nỗi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp và dụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn

được sử dụng [25] Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bố sung và hoàn

thiện thêm các đề xuất của ông cho phủ hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình của P.N Baskirov- “Nhân trắc học”, Evan Dervael - “Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A.M Uruxon Song

song với sự phát triển của các bộ môn di truyền, sinh lý học, toán học việc

nghiên cứu nhân trắc học ngày càng hoàn chỉnh va da dang hon Van dé nay

được thể hiện qua các công trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tomner, M.Sempé, G.Pédron, M.P Rog-Pernot [27]

Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu trong quá trình nghiên cứu sự tăng trưởng về mặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thé va các đại lượng có thê đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc [54] Công trình đầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuối từ 1 đến 25 là luận án tiến sĩ của Christian Fridrich Jumpert người Đức

vào năm 1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang

(Cross - sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh

và thực hiện được trên nhiều đối tượng cùng một lúc [27]

Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao của Philiuert Gueneau de

Montbeilard thực hiện trên con trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Trong

18 năm liên tục, mỗi năm được đo 2 lần, cách nhau 6 tháng Đây là một

nghiên cứu tốt nhất được tiến hành cho đến nay và được trích dẫn trong các nghiên cứu về tăng trưởng trong suốt thế ky XIX [54]

Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick ở Anh,

Trang 23

mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới [27]

Như vậy, từ nhiều năm nay trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên

cứu về thê lực trong đó có cả vấn đề đánh giá chung mức độ béo gầy Song

việc nghiên cứu cụ thể về bề dày lớp mỡ dưới da, khối nạc khối mỡ lại chỉ

mới được đặt ra trong những năm gần đây Năm 1955, Tanner và Whitehouse

đã giới thiệu một thước đo bề dày lớp mỡ dưới da một cách chính xác được

gọi là Harpenden Skinfold caliper Với thước đo này, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã ra đời [14]

Năm 1969 Wilmore và Behnke đã đưa ra công thức đánh giá tỉ trọng cơ

thể, từ đó tác giả đề nghị công thức tính khối mỡ (Fat body mass), khối nạc

(Lean body mass) [14]

1.1.2.2 Nghiên cứu một số chỉ số hình thái - thể lực ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nhân trắc học được bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ

trước tại Ban nhân trắc học thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ Kết quả nghiên cứu nhân trắc đã được công bố trong các công trình nghiên cứu của Viện giải

phẫu học, Đại học Y khoa Đông Dương 1936 - 1944 Cuốn “Hình thái học và

giải phẫu học mỹ thuật” là một trong những tác phâm đầu tiên của bác sĩ Đỗ

Xuân Hợp (cộng tác với Huard) [27]

Nghiên cứu đầu tiên được biết đến là công trình của Đỗ Xuân Hợp,

Nguyễn Quang Quyền [26] nghiên cứu một số kích thước cơ bản ( chiều cao

đứng và cân nặng ) trên học sinh Hà Nội tuổi từ 7 đến 17 Kết qua cho thay,

học sinh ở tuổi 11 không có sự khác biệt về tầm vóc — thể lực giữa nam và nữ

Sau đó, ở nữ tăng nhanh về kích thước đo so với ở nam Điều này được các tác giả giải thích bằng sự dậy thì sớm ở nữ so với nam

Từ năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đây mạnh

Trang 24

chức nhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia và địa phương được thực hiện Đó là công trình “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [57] Đây

cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người

Việt Nam ở mọi tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 16 đến 18 Đây mới là các chỉ số

sinh học của người miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau này cũng đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể người Việt

Nam [58], [61]

Ở miền Bắc trong những năm 1975 và 1976, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh [45], [46], [47] đã tiến hành nghiên cứu tầm vóc thể lực của 2100 người (§16 nam và 1284 nữ), tuôi từ 16-70 theo những kỹ thuật và phương pháp tiêu chuẩn trong nhân trắc học Qua nghiên cứu, các tác giả rút ra nhận định về sự tăng trưởng tầm vóc thể lực theo tuổi như sau: ở nam, các biểu

hiện tuổi dậy thì xuất hiện lúc 15-16 tuổi, trong lớp tuổi 16-25 tầm vóc thể lực

phát triển mạnh và đạt cao nhất ở lớp tuổi 26-40 Ở nữ, quy luật tăng trưởng

hơi khác, dậy thì sớm hơn (trước tuổi 15) rồi tầm vóc thê lực phát triển mạnh

và đạt cực đại vào lớp tuổi từ 16-25 Như vậy nữ dậy thì sớm hơn và cũng già sớm hơn so với nam giới [50]

Năm 1977, lần đầu tiên ở Việt Nam, Nguyễn Quang Quyền, Lê Gia Vinh

và Trịnh Hùng Cường [48] đã nghiên cứu một cách hệ thống bề dày lớp mỡ

dưới da bằng compas Harpenden Skinfold Caliper theo sơ đồ 36 điểm đo của

Erdheim, cùng với các chỉ số khối nạc, khối mỡ, khối cơ thê bề dày lớp mỡ

dưới da là một chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng Các chỉ số này phần nào cũng phản ánh tầm vóc thê lực của cơ thẻ

Trang 25

55 tuổi ở 8 tỉnh thuộc 3 miền của đất nước Kết quả nghiên cứu cho thấy, các

chỉ số thu được trong công trình này đều cao hơn hắn so với các chỉ số nghiên cứu trước đó Các tác giả cho thấy chiều cao đứng ở trẻ nam tuổi 16-18 tăng

từ 159,94 + 162,15 cm; ở nữ chiều cao đứng tăng từ 151,5 z 152,73 cm; vòng

ngực của nam tăng từ 74,89 + 77,9 cm, của nữ tăng từ 75,42 ~ 79,09 em Như

vậy, ở tuổi từ 16-18 chiều cao đứng của nam vượt lên hắn so với nữ, có lẽ do thời kỳ này nam đã bước vào tuổi dậy thì Theo khoa học, vì nam dậy thì

muộn hơn nữ nên tuổi 16-18 chiều cao đứng của nam vượt trội so với nữ

Trong khi đó kích thước vòng ngực của trẻ nữ luôn cao hơn trẻ nam, điều này

cũng phù hợp với sự xuất hiện của các đặc điểm sinh dục thứ cấp ở cơ thể nữ

khác với cơ thé nam

Năm 1991, thông qua việc nghiên cứu gần 50 chỉ số nhân trắc của 1478 học sinh phổ thông, Đào Huy Khuê [ 31] đã rút ra một số kết luận về sự tăng trưởng kích thước thể lực ở cá hai giới, tốc độ tăng trưởng các thông số này không đồng đều theo tuổi và giới tính Đa số các kích thước ở nam tăng trưởng bình quân hàng năm cao hơn ở nữ, riêng về kích thước vòng thì của nữ tốt hơn của nam Tác giả cũng cho rằng nhìn chung các kích thước ở nữ tốt

hơn ở nam, đặc biệt là ở tuổi 13 Các chỉ số nhân trắc như Pignet, QVC,

Hirz, cua hoc sinh phổ thông phản ánh quy luật không đồng đều về phát triển kích thước theo thời gian Đa số các chỉ số này biểu hiện nam giới phát triển cơ thể tốt hơn so với nữ giới ở hầu hết các tuổi Tác giả cũng nhận định

về sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của điều kiện sống và văn hóa xã hội lên sự tăng trưởng và phát triển cơ thể con người ở giai đoạn đang lớn này Năm 1992, bằng phương pháp nghiên cứu dọc đối với 31 chỉ số nhân trắc

học của 100 học sinh phổ thông từ 16-17 tuổi ở Hà Nội, Thẩm Thị Hoàng

Trang 26

Điệp [19] đã đưa ra những kết luận rất đáng chú ý về đặc điểm hình thái và thé lực của học sinh phỏ thông Tác giả kết luận rằng chiều cao đứng của học sinh phát triển mạnh nhất lúc 11-12 tuổi ở nữ và 13-15 tuổi ở nam; còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Tác giả cũng nhận thấy rằng, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phủ hợp với quy luật

chiều cao còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng

Năm 1994, Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cộng sự [41] da nghiên

cứu một số chỉ tiêu nhân trắc của cư dân trưởng thành (từ 16 tuổi trở lên tại phường Thượng Đình và xã Định Công- Hà Nội) gồm 595 nam và 841 nữ Kết quả cho thấy về chiều cao trong mỗi giới đều có xu hướng tăng trong đó

nam cao hơn nữ rõ rệt ở mọi tuổi Tương tự, với chỉ số cân nặng, nam cũng

tăng hơn nữ ở mọi tuổi Vòng ngực trung bình và vòng cánh tay phải co cũng

cao hơn nữ, chứng tỏ sức mạnh về thể lực và cơ bắp Các BMI, QVC, Pignet

của nữ tốt hơn nam (do lợi thế về dinh dưỡng cộng với chiều cao thấp) Như

vay, ca hai chi sé Pignet va QVC đều chưa đánh giá đầy đủ sức mạnh cơ bắp

mà vẫn chịu sự ảnh hưởng của sự tích mỡ Đặc biệt QVC của nữ tốt hơn của nam nhiều đo nữ có chiều cao thấp và vòng đùi lớn hơn nam

Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam tuổi lao động giai đoạn 1981-1985” [25] và đi đến kết luận là người

Việt Nam trong tuổi lao động có chiều cao thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có phần thân trên thuộc loại trung bình hơi dài, một số chỉ số

nhân trắc hình thái có số đo trung bình tăng dần từ bắc vào nam

Từ năm 1991-1995, nhóm tác giả Trần Van Dan va cộng sự [10] đã

nghiên cứu trên học sinh một số tỉnh thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và

nhận thấy so với dẫn liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [57]

thì sự phát triển chiều cao của trẻ em 8-14 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em

Trang 27

thành phó, thị xã; còn ở khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể Năm 1996, nhóm tác giả A Goran, Nguyễn Công Khanh và cộng sự [22] nghiên cứu trên học sinh Hà Nội về chiều cao, cân nặng, BMI cho thấy cả 3 chỉ số này đều tăng theo tuổi Điều này cũng thể hiện trong các nghiên cứu

khác [1], [30], [37]

Trần Thị Loan [36] từ năm 1999 đến 2002 nghiên cứu trên học sinh Hà Nội từ 6-17 tuổi đã nhận thấy các chỉ số hình thái gồm chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực của học sinh lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả từ thập kỷ 80 trở về trước và lớn hơn so với học sinh các tỉnh Thái Bình,

Hà Tây, ngoại thành Hải Phòng Điều này chứng tỏ điều kiện sống đã ảnh

hưởng đến các chỉ số hình thái thê lực của học sinh

Trong quyền “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ

90 - thế kỷ XX” [2] các nghiên cứu cũng cho thấy ở tuổi 16-18 có sự khác

biệt khá rõ về nhiều chỉ số hình thái, nhân trắc giữa nam và nữ Cụ thể là

chiều cao đứng của nam tăng tir 160,29+163,4 cm, cua nit ting tt

152,45+152,77 cm Cân nặng của nam tăng từ 45,33+49,71 kg, của nữ tăng từ

42,13+43,84 kg Vòng ngực trung bình của nam tăng từ 71,44+75,08 cm, của

nữ tăng từ 69,18z72,61 cm Công trình này cũng đã tiến hành nghiên cứu một

số chỉ số nhân trắc của trẻ tuổi 16-18 và cho thấy BMI ở nam tăng từ

17,67+18,64 cm, ở nữ tang tir 18,14+19,05 cm Chi số Pignet ở nam giảm từ

43,/29:41,27; ở nữ giảm từ 41,19:36,35 Chỉ số QVC ở nam giảm từ 16,63+11,44 ở nữ giảm từ 9,05+6,04

Năm 2006, Trung tâm tâm lý học và sinh lý tuổi thuộc Viện chiến lược

và Chương trình giáo dục [60] đã tiến hành nghiên cứu các chỉ số cơ bản về sinh lý và tâm lý của học sinh phổ thông tuổi từ 8-20 Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng ở học sinh nam và nữ ở mọi tuổi 11-15 và nữ ở mọi tuổi (trừ

16 và 18) đã thoát khỏi trạng thái còi cọc Các số liệu về cân nặng cho thấy su

Trang 28

phân hoá sâu sắc ngay trong nhóm trẻ cùng độ tuổi, bên cạnh trẻ nhẹ cân đã

xuất hiện những trẻ có dấu hiện béo phì, đặc biệt là các trẻ ở các thành phố

lớn, chỉ số Pignet cũng tăng Như vậy là đã có sự chuyên biến tích cực về mặt thể lực của học sinh trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, các tác giả cũng lưu

ý đến BMI ở học sinh nông thôn và nhận thấy tình trạng dinh dưỡng ở nông thôn còn hạn chế

Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây của học sinh, sinh viên và thanh

niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu từ những năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay, tình

hình kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi tốt hơn chắc chắn

đã ảnh hưởng đến tầm vóc, sức khỏe của con người Việt Nam Học sinh thành phố thường có các chỉ số nhân trắc tốt hơn ở nông thôn [5], [9], [10] Đề giải

thích sự khác biệt này có tác giả [34] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện

hiện tượng này là chất lượng cuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được

cải thiện nên học sinh thành phố thường có chiều cao, cân nặng tốt hơn học

sinh nông thôn cùng tuổi

Những nghiên cứu ở các dân tộc khác nhau, có các điều kiện sống và rèn

luyện thân thế khác nhau cho thấy sự khác biệt về chủng tộc cũng là yếu tố tác động đến hình thái- thể lực của học sinh [44] Nguyễn Quang Mai và cộng sự

[40] năm 1998 đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân tộc ít người cho thấy: Chiều cao, cân nặng trung bình của nữ sinh các dân tộc thiểu số thấp hơn nữ

sinh ở vùng đồng bằng và thành thị Năm 2000, Đào Mai Luyến [39] nghiên

cứu thể lực của người Êđê và người Kinh định cư ở Đắc Lắc cho thấy, hình thái thể lực của người Êđê tốt hơn của người Kinh Tác giả cho đây là điểm

khác biệt mang tính dân tộc và do môi trường sống ảnh hưởng nhất định đến

khả năng tăng trưởng các chỉ số hình thái Đoàn Văn Huyền và các cộng sự cũng cho răng, giữa cơ thê và môi trường có môi liên quan chặt chẽ với nhau

Trang 29

Môi trường sống ảnh hưởng đến trao đổi chất và điều hòa thân nhiệt nên ảnh

hưởng đến các chỉ số thể lực của cá thể Ngoài ra, sự rèn luyện thé luc cũng

tác động đến chiều cao, cân nặng và kích thước một số vòng của cơ thê [43]

Các yếu tố xã hội cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là ở

tuổi dậy thì [60]

Năm 2008, Đỗ Hồng Cường [7] nghiên cứu các chỉ số chiều cao, cân nặng

của các học sinh trung học cơ sở ở tỉnh Hòa Bình thuộc các dân tộc Mường; Thái; Kinh; Tày; Dao và nhận thấy các chỉ số này ở học sinh Mường; Thái;

Kinh cao hơn rõ ràng so với học sinh Tày; Dao Tác giả cho rằng điều này

liên quan tới nơi cư trú của các em Học sinh các dân tộc Mường; Thái; Kinh

sống ở vùng đồng bằng, thành phó và thi tran, còn đa số học sinh các dân tộc Tày; Dao sống ở các vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đà Bắc, nơi có các điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển hơn so với thành phố và đồng bằng

Gần đây, Trần Thị Minh Hạnh [23] nghiên cứu học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 — 2009 đã cho thấy, chiều cao của học

sinh nam tăng 1,2 — 2,4 em nhưng chiều cao của nữ lại không có sự thay đổi

đáng kể So với học sinh ngoại thành, học sinh nội thành cao hơn 3 — 4 cm và

nang hon 8,5 — 10 kg, ti lệ suy đinh dưỡng thấp hơn nhưng tỉ lệ thừa cân lại cao hơn gấp 2 — 5 lần

1.2 Các nghiên cứu về chỉ số chức năng sinh lý

1.2.1 Các vẫn đề chung về chỉ số chức năng sinh lý

Trong các loại thông số chức năng sinh lý phải kế đến chức năng sinh lý

của phổi Các trị số thé tích phổi không chỉ phụ thuộc những yếu té thé chat

như tuổi, giới tính, chiều cao mà còn phụ thuộc vào trình độ học vấn đề hiểu cách thở, phụ thuộc tâm lý, phụ thuộc lối sống Người ta gọi các thông số hô

hấp là loại thông số phụ thuộc vào đối tượng (subject dependent), hoặc phụ

thuộc vào sự nỗ lực của đối tượng (effort dependent) [17].

Trang 30

Dung tích sống, ký hiệu là VC (vital capacity), là số lít tối đa thở ra được sau khi đã hít vào hết sức Nói cách khác, đó là thể tích khí qua miệng, từ vị trí hít vào hoàn toàn đến vị trí thở ra hoàn toàn Dung tích sống thở mạnh, ký hiệu là FVC (forced vital capacity), là dung tích sống đo bằng phương pháp thở ra mạnh (forced expiration) Đối tượng hít vào cho đến vị trí hít vào hoàn

toàn, rồi thở ra một hơi mạnh hết sức, liên tục như vậy cho đến khi kết thúc ở

vị trí thở ra hoàn toàn Thê tích thở ra tối đa trong 1,0 giây, ký hiệu là FEVi

(forced expiratory volume in one second) là thể tích khí thở ra trong giây đầu của động tác thở mạnh FVC [17] Ngoài ra người ta còn tính các chỉ số

Tiffeneau, Demeny dựa vào các chỉ s6 VC, FVC, FEV, va can nang

Có những thông số hô hấp của người Việt Nam thấp hơn của người Âu -

Mỹ đó là dung tích sống, các thể tích hô hấp, biến thiên dung tích sống theo

chiều cao, độ dẻo phổi ngực, hệ số SỬ dụng ôxy, các dự trữ hô hấp tĩnh và

động, các lưu lượng tối đa Ý nghĩa của đặc điểm này được phân tích chủ yếu

không phải là dấu hiệu của thể lực yếu, mà chủ yếu là liên quan với cơ thé

nhỏ và mảnh dẻ [16]

Có những thông số hô hấp của người Việt Nam cao hơn người Âu- Mỹ

đã được phân tích ý nghĩa, chủ yếu không phải là chỉ tiêu của thể lực khoẻ

hơn người Âu- Mỹ, mà chủ yếu là liên quan đến cấu trúc cơ thể hoặc với chức năng khác Lưu lượng thông khí/ phút cao do chức năng điều nhiệt [14] Tỉ lệ

FEVI/VC tức tỉ số Tiffeneau hơi cao, đặc biệt nhất là chỉ số thể lực Demeny

cao rõ rệt, có liên quan với cơ thể mảnh dẻ có tỉ lệ cơ học cao [14]

Để có luận cứ vững chắc cho bàn luận về đặc điểm chỉ số nhỏ của thông

khí phối trong điều kiện mọi phòng thí nghiệm trên thế giới đều nhận định

rằng thông khí phối là thông số phụ thuộc vào sự nỗ lực của đối tượng (effort-

dependent, subject-dependent) [16] Các tác giả Việt Nam đã đề cập tới điều

quan tâm của các phòng thí nghiệm hô hấp trên thế giới về trình độ kỹ thuật

Trang 31

viên và mức cộng tác của đối tượng và từ năm 1972 đã sơ kết kinh nghiệm và

độ tin cậy của kết quả về mặt này Điều này phù hợp với tinh thần Hội thao quốc tế gần đây ở Florida về hô hấp và cũng là điều chúng ta cần quan tâm trong thời gian tới Hơn nữa, các tác giá của ta đã đưa luận cứ về trị số cao

của chỉ số thể lực Demeny và tỉ lệ FEV1/V C (tức tỉ số Tiffeneau) dé có thể nghĩ rằng các thê tích hô hấp tĩnh mà thấp như vậy là có thê tin cậy được [14]

Tóm lại trong phạm trù hô hấp, nếu như các khí trong máu có thành phần

ôn định và giống của người Âu-Mỹ thì các thông số liên quan đến thông khí phổi rất biến động và có những thông số chắc chắn là khác biệt rõ so với

người Âu- Mỹ Sự khác biệt đó thể hiện đặc điểm của cơ thể người Việt Nam

là nhỏ, nhẹ, mảnh đẻ, ít mỡ (nên tỉ lệ cơ nạc tức khối gầy cao), và ở môi trường nhiệt đới, nóng ẩm) [16]

Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể là hoạt động của hệ tuần hoàn Trong đó tần số tim và huyết áp

động mạch là những chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn [56] Tìm có chức năng vừa hút máu vừa day máu, là động lực chính của hệ

tuần hoàn Công suất của tim phụ thuộc vào tần số co bóp và thể tích cơ tim Bởi vậy, tan số tim là một trong các chỉ số dùng đề đánh giá hoạt động của hệ

tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con người

Tim co bóp tạo nên lực đây máu trong động mạch lại chịu lực cản của

mạch máu Tuần hoàn máu có thể coi là kết quả của hai loại lực đối lập nhau:

lực đây mau của tim và lực cản của động mạch Trong đó lực day cua tim da

thắng nên máu chảy trong động mạch với một áp suất nhất định gọi là huyết

áp Cách khác, huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch máu Huyết áp khi tim co và khi tim giãn không giống nhau Huyết áp khi tìm giãn là huyết áp tối thiểu hay huyết áp tối thiểu vì áp suất đẩy máu đi trong động mạch tăng cao khi tâm thất co và giảm khi tâm thất giãn Huyết áp trong

Trang 32

giai đoạn tim co có trị số lớn nhất nên gọi là huyết áp tối đa Ngược lại, khi

tim giãn không có sức đây của tim nhưng tính đàn hồi của thành động mạch

gay ap luc day mau đi Vì vậy huyết áp trong giai đoạn tim giãn có trị số thấp

nhất nên gọi là huyết áp tối thiểu

Mức độ chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu là huyết áp

hiệu số Do là điều kiện cần thiết cho sự tuần hoàn máu Khi huyết áp hiệu số

giảm xuống thấp thì tuần hoàn máu bị ứ trệ, huyết áp hiệu số lớn nhất ở các động mạch chủ và các động mạch lớn

Năm 1982, Trịnh Bình Dy đưa dẫn cứ [14] huyết áp người Việt Nam

thấp hơn người Âu- Mỹ (số thường gặp 110/70 mmHg so với 120/80 mmHg

ở người Âu - Mỹ) tăng theo tuổi chậm hơn người Âu - Mỹ và cho rằng đặc điểm này liên quan với cơ thể ít mỡ Cholesterol thấp của người Việt Nam,

đồng thời minh họa đặc điểm sinh lý đó bằng thực tế lâm sàng Việt Nam với

tiêu chuẩn tăng huyết áp của ngành tim học Việt Nam thấp hơn tiêu chuẩn

quốc tế Đặc điểm sinh lý này có thể là cơ sở của nhiều đặc điểm trong hình

ảnh điều tra dịch tế học về bệnh và tử vong ở Việt Nam so với các nước công

nghiệp phát triển

1.2.2 Các nghiên cứu về chức năng sinh lÿ

1.2.2.1 Những nghiên cứu về chức năng tuần hoàn trên thé giới

Các chỉ số chức năng hệ tuần hoàn được nghiên cứu thường tập trung

vào nhịp tim và huyết áp Theo một số tác giả (Arshavski và Tur, Waldo và Edmun) [7],nhịp tim của trẻ trong vài ngày đầu sau khi sinh khoảng 120- 140 nhịp/phút, ở trẻ đang bú mẹ khoảng I10- 160 nhịp/phút, ở trẻ trước tuổi đi học khoảng 85- 100 nhịp/phút, ở học sinh khoảng 70-74 nhịp/phút Các tác

giả trên cho rằng sự giảm nhịp tim trong quá trình phát triển của trẻ là do sự

thay đổi mức chuyền hoá và giảm tính hưng phấn của nút xoang cũng như do tăng ảnh hưởng trương lực của dây thần kinh số X lên tim [7]

Trang 33

Chỉ tiêu tiếp theo được nhiều người quan tâm là huyết áp động mạch

Huyết áp động mạch đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX do nhiều tác giả tiến

hành [67], [68], [69], [70] Huyét áp đã được Korotkow xác định bằng

phương pháp đo gián tiếp, phương pháp này hiện vẫn đang được dùng phổ

biến [27]

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy có sự biến đổi huyết áp theo các

giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của trẻ Điều này thấy rõ qua bảng 1.1 về huyết áp động mạch của trẻ ở các tuổi khác nhau [7]

Bảng 1.1 Huyết áp tối đa và tối thiểu ở trẻ thuộc các tuổi khác nhau

Tuổi Huyết áp tối đa (mmHg) | Huyết áp tôi thiêu (mmHg)

Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, huyết áp của nam thường cao hơn nữ và huyết áp còn chịu ảnh hưởng của môi trường con người đang sinh sống [27]

1.2.2.2 Những nghiên cứu về chức năng hô hấp phổi trên thể giới

Năm 1846 ra đời máy hô hấp kế (sprometer) do Hutchinson thiét kế [17],

Trang 34

đặt nền móng cho việc xét nghiệm chức năng phổi Từ đó trở đi, công tác này

phát triển tương đối tiệm tiến, nhưng đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước,

việc nghiên cứu chức năng phổi đã có những bước thay đối về chất [63], [64], [65], [66] Gitta thế kỷ 20 đã có hàng loạt máy đo thể tích phối ra đời, cho phép ghi và tính chính xác các thể tích, dung tích và lưu lượng khí trong

thông khí phối Bước ngoặt trong việc nghiên cứu này được đánh dấu bằng việc xuất bản toàn văn bộ “Tiêu chuẩn xét nghiệm chức năng phổi” vào năm

1983 do Cộng đồng than thép Châu Âu đề xuất và được Tổ chức Y tế thế giới

ung ho [18]

Các nghiên cứu về chỉ số chức năng phối cho thấy dung tích sống của trẻ

em phụ thuộc vào sự phát triển của phổi (số lượng, kích thước phế quản, phế

nang) Thể tích khí lưu thông ở trẻ 11- 12 tuổi khoảng 280- 350 ml, ở trẻ 12-

14 tuổi khoảng 300- 460 ml, ở trẻ 15-16 tuổi khoảng 300- 560 ml [7]

Theo một số tác giả, dung tích sống ở trẻ em tăng mạnh vào thời kỳ dậy thì [61] Có sự khác biệt về dung tích sống theo giới và chỉ số này ở nam luôn cao hơn nữ

1.2.2.3 Những nghiên cứu về chức năng tuần hoàn ở Việt Nam

Chức năng của tim mạch người Việt Nam cũng được nhiều tác giả Việt Nam nghiên cứu liên tục trong may chuc nam nay [2], [16], [21], [55], [57]

Trong quyên “Hằng số sinh học người Việt Nam” [57], các nhà khoa học

đã cho thấy huyết áp động mạch thay đổi theo tuổi, trong đó ở nhóm trẻ lớn

hơn 15 tuổi huyết áp tối đa là 110 mmHg và huyết áp tối thiểu là 70 mmHg

Công trình cũng nhận thấy một số yếu tố làm thay đổi huyết áp như vị trí đo,

tư thế đo, thời điểm đo và giới tính Các tác giả cũng tiến hành đếm mạch cổ

tay, ở cổ hoặc nghe tim trong 1 phút và tính trung bình trong cả cộng đồng

các đối tượng nghiên cứu và cho thấy tần số tim ở nam trưởng thành là 70 -

80 lần/phút và ở nữ trưởng thành là 75 - 85 lần/phút.

Trang 35

Các kết quả nghiên cứu về huyết áp động mạch trên người Việt Nam của

Trịnh Binh Dy trình bày trong cuốn “Về những thông số sinh học người Việt

Nam” [14] cho thấy, huyết áp của người Việt Nam không những thấp mà còn tăng chậm theo tuôi

Theo tác giá Phạm Thị Minh Đức [21] huyết áp tối đa bình thường có tri

số là 90 - 110 mmHg, nếu trên 140 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới

90 là hạ huyết áp Huyết áp tối thiểu bình thường có trị số là từ 50 - 70 mmHg, nếu vượt quá 90 mmHg được coi là tăng huyết áp và dưới 50 mmHg được coi là hạ huyết áp

Năm 1993, Đoàn Yên và cộng sự [61] đã nghiên cứu tần số tim và huyết

áp của người Việt Nam, nhận thấy từ sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18

tuổi, sau đó ôn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần, còn tần số tim lại giảm dần

cho đến 25 tuổi, sau đó ôn định đến 69 tuổi Huyết áp động mạch trên người Việt Nam ở mọi tuổi đều thấp hơn so với người Âu, Mỹ

Nghiêm Xuân Thăng [51] đã nghiên cứu mối tương quan giữa hoạt động tìm mạch và huyết áp với khí hậu của cư dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ở hai nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Kết quả nghiên cứu cho thấy tần số tim và huyết

áp ở bất cứ độ tuôi nào cũng chịu ảnh hướng của khí hậu Tần số tim tăng

theo sự tăng nhiệt độ môi trường và biến đổi theo ngày, theo mùa, theo mức

độ bức xạ Trong một ngày, tần số tim tăng dần từ sáng đến trưa, cao nhất lúc

12 - 14 giờ, sau đó giảm dần và thấp nhất lúc 22 - 24 giờ Cùng một thời

điểm, tần số tim về mùa hè thường cao hơn mùa đông Ngoài ra, tan s6 tim còn bị chi phối bởi các yếu tố như lao động và trạng thái tâm lý

Trần Đỗ Trinh và cộng sự [55] đã tiến hành nghiên cứu trị số huyết áp người Việt Nam và công bồ trong chương trình nghiên cứu một số chỉ số sinh

học người Việt Nam thập kỷ 90 Công trình được tiến hành tại 20 tỉnh thuộc 7

Trang 36

vùng địa lý trong cả nước từ tuổi 15 trở lên Kết quả cho thấy, trị số huyết áp tăng dần theo tuổi , mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi từ 15 - 19 Huyết áp ở nam giới cao hơn so với ở nữ giới, dù chênh lệch trung bình của hai giới không nhiều, chỉ khoảng 1 - 3 mmHg, nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê Đào Mai Luyến [39] qua nghiên cứu huyết áp của các dân tộc Tây Nguyên nhận thấy, dân tộc Êđê, Bana, Giarai có tần số tim và trị số huyết áp động mạch khác nhau, song các chỉ số này vẫn trong giới hạn sinh lý bình thường Trong số các dân tộc này thì dân tộc Êđê có các chỉ số huyết áp tốt hơn cả Cũng giống như người Kinh, ở cá 3 dân tộc huyết áp đều tăng dần theo tuổi

Nghiên cứu của Trần Thị Loan [35] cho thấy ở lớp tuổi học sinh phổ thông tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi tần số tim của nam và nữ khác nhau

Năm 2006, Trần Trọng Thuỷ và cộng sự [52] đã tiến hành nghiên cứu

huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 đến 20 tuổi

Các tác giả nhận thấy đối với nam nhóm tuổi từ 16 đến 18 huyết áp tối đa của

học sinh nam tăng tir 117,36 mmHg lên 120,32 mmHg, ở học sinh nữ tăng từ

113,51 mmHg lên 113,79 mmHg, huyết áp tối thiểu ở học sinh nam tăng từ

74,78 mmHg lên 76,31 mmHg, 6 hoc sinh ni tăng từ 73,46 mmHg lên 73,63

mmHg Két qua cho thay ca hai chỉ số này ở học sinh nông thôn đều cao hơn

so với học sinh thành phố và vẫn thấp hơn so với chuẩn về huyết áp theo độ

tuổi của tổ chức Y tế thế giới

1.2.2.4 Những nghiên cứu vẻ chức năng hô hấp phổi ở Việt Nam

Các nghiên cứu trên đối tượng là trẻ em Việt Nam trước đây tập trung

vào các thông số thông khí phổi như dung tích sống, khí lưu thông, khí bổ trợ, khí dự trữ, lượng ôxy tiêu thụ Các nghiên cứu này được các tác giả gắn liền với sự biến đổi theo hai hướng quan trọng là tuổi và giới tính [3] [4] [8],

Trang 37

[11], [15], [16], [18], [29]

Theo các số liệu được công bố trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [57] các tác giả đã đưa ra 19 chỉ số liên quan đến đặc điểm sinh lý hô hấp, trong đó dung tích sống đã được các tác giả nghiên cứu theo giới tính, tuổi và chiều cao Bên cạnh dung tích sống, các chỉ số thông khí tối đa, thể

tích thở ra trong I giây Đã được các tác giả nghiên cứu trên các đối tượng thuộc các nhóm tuổi khác nhau, trong đó có trẻ em Cũng theo tài liệu này thì

dung tích sống của trẻ em biến đối tỉ lệ thuận với tuổi, phụ thuộc vào chiều cao của đối tượng và dung tích sống của trẻ nam luôn cao hơn so với ở trẻ nữ thuộc tất cả các nhóm tuổi

Năm 1982, Trịnh Binh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền và Lê Thanh Uyên [14] cho rằng người Việt Nam có chỉ số phối (chi

số Demeny) cao, đó là số ml dung tích sống quy về 1 kg cân nặng

Năm 1975, Nguyễn Đoàn Hồng và cộng sự đã đưa ra công thức tính thông khí tối đa gián tiếp FEV075 x 32 Tuy nhiên, đến năm 1993, Trần Thị Dung, Kim Khánh khi phân tích số liệu đã cho rằng công thức MVVi x 30 là phù hợp với người Việt Nam hơn cả [ 17]

Năm 1996, Trịnh Binh Dy, Nguyễn Dinh Hường, Nguyễn Văn Tường đã tập hợp 32 công trình nghiên cứu của 4l tác giả trên cả nước và đưa ra các

thông số về chức năng phối, từ đó tiến tới xây dựng số lý thuyết chức năng

phổi người Việt Nam Các tác giả đã đưa ra phương trình cho 20 thông số trong xét nghiệm chức năng phổi ở nước ta Các phương trình hồi quy này có tính đại diện cho người Việt Nam, đó là kết quả của sự đóng góp từ 276 phương trình hồi quy gốc

Năm 1996, Nguyễn Dinh Hường, Trịnh Binh Dy và cộng sự [29] đã tiến hành nghiên cứu giá trị bình thường của 9 chỉ số thông khí phổi của người Hà

Nội từ 11 đến 80 tuổi Các tác giả đã chia các đối tượng theo 4 nhóm tuổi và

Trang 38

xác định các chỉ số: dung tích sống thở mạnh, dung tích sống thở chậm, thể

tích thở ra tối đa giây đầu, chỉ số Tiffeneau và nhận thấy các thông số chức

năng thông khí phổi này ở người Việt Nam thấp hơn so với người châu Âu Nguyễn Văn Tường, Lê Nam Trà và các tác giả khác [59] đã tiến hành

nghiên cứu giá trị bình thường các chỉ số chức năng phổi tại Thanh Trì và Thượng Đình, Hà Nội Các đối tượng trong nghiên cứu này ở độ tuôi từ 12

đến 82 và được chia thành 7 nhóm tuổi So sánh các chỉ số giữa nam và nữ đều cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Các tác giả đưa ra phương

trình hồi quy để tính số chuẩn của người bình thường làm cơ sở cho việc ứng

dụng vào lâm sàng

Đoàn Yên và cộng sự [61] đã tiến hành nghiên cứu nhịp thở, dung tích

sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79 tuổi Các tác giả cho thấy chỉ số thông khí phổi ở trẻ biến động không đều

Dung tích sống tăng nhanh đến khi 19 tuổi rồi đi vào ồn định ở cả hai giới, từ

30 tuổi chỉ số này bắt đầu giảm So với người Âu - Mỹ, dung tích sống của

người Việt Nam luôn có trị số nhỏ hơn

Nghiêm Xuân Thăng [51] tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên chức năng hô hấp của cư dân Nghệ An, Hà Tĩnh và thấy tần số hô hấp cũng như dung tích sống đều chịu ánh hưởng của khí hậu Dung tích sống đạt

giá trị lớn nhất ở nhiệt độ 30 - 32 độ, độ âm không khí vào khoảng 70 - 80%

Trong cùng một điều kiện thì dung tích sống ở nam luôn cao hơn ở nữ giới

Trang 39

Chương 2

ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 795 học sinh trung học phổ thông 2

trường là THPT Tam Đảo và THPT Tam Đảo 2 thuộc dân tộc Sán Dìu và dân tộc Kinh huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Các em học sinh có độ tuổi từ 16

đến 18 tuổi (đang học từ lớp 10 đến lớp 12) có trạng thái tâm lý và sức khỏe

bình thường, không có các di tat bam sinh và bệnh mạn tính Phân bố các đối

tượng nghiên cứu theo tuôi và giới tính thể hiện trong bảng sau:

Bang 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi, giới tính và dân tộc

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Các chỉ số được nghiên cứu

2.2.1.1 Nghiên cứu các chỉ số hình thái của học sinh

Trang 40

+ Chỉ số pignet

+BMI

+ Chỉ số QVC

+ Khối mỡ, khối nạc, tỉ lệ % mỡ

2.2.1.3 Nghiên cứu các chỉ số chức năng sinh l0

+ Chỉ số tuần hoàn: Nhịp tim, huyết áp động mạch

+ Thông số hô hấp: dung tích sống (VC), dung tích sống thở mạnh

Các chỉ số hình thái, thể lực được xác định theo phương pháp được dùng

trong nghiên cứu y, sinh học [12]

+ Chiêu cao đứng: Dụng cụ đo là thước hợp kim có độ chính xác đến 1

mm Đối tượng đo đứng thắng trên nền phẳng hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thắng, đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và điểm giữa bờ trên lỗ tai ngoài nằm trên đường thăng ngang vuông góc với trục của cơ thể, bốn điểm của cơ thé là chẩm, lưng, mông và gót chạm vào thước, đơn vị đo là em

+ Cân nặng: Được xác định bằng cân bàn tiêu chuân Nhật Bản có độ

Ngày đăng: 28/10/2014, 19:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Nguyễn Thị Chỉnh, Trịnh Binh Dy (1982), “Sức cản hô hấp và liên quan tới trị số Tiffeneau”, 7 ạp chỉ nội khoa, số 4, tr.21- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức cản hô hấp và liên quan tới trị số Tiffeneau
Tác giả: Nguyễn Thị Chỉnh, Trịnh Binh Dy
Năm: 1982
[4]. Nguyễn Thị Chỉnh (1989), “Giá trị tham kháo về thể tích phối, thông khí và cơ học hô hấp người Việt Nam”, 7ạp chí Lao và bệnh Phối, số 3, tr.86- 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tham kháo về thể tích phối, thông khí và cơ học hô hấp người Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Chỉnh
Năm: 1989
[5]. Nguyễn Hữu Choáng, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Hữu Chỉnh (1996), “Một số nhận xét về thể lực của nam thanh niên Hồng Bàng, Hải Phòng”, Két quả bước dau nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, tr. 401- 442 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về thể lực của nam thanh niên Hồng Bàng, Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Hữu Choáng, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Hữu Chỉnh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
[8]. Trịnh Hùng Cường (1998), “Thăm dò sự trao đổi khí ở phổi”, Chuyên đề Sinh lý học Bộ môn Sinh lý học trường Đại học Y Hà Nội, NXB Y học, Hà Nội, tr.103 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò sự trao đổi khí ở phổi
Tác giả: Trịnh Hùng Cường
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1998
[9]. Trần Văn Dần và cs (1996), “Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em tuổi học sinh”, Những kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu hình thái ở trẻ em tuổi học sinh
Tác giả: Trần Văn Dần và cs
Năm: 1996
[10]. Trần Văn Dần và cs (1997), “Một số nhận xét về sự phát triển thé lực của học sinh tuổi từ 8-14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90”, Bàn về đặc điểm tăng trưởng người Việt Nam, Đề tai KX 07-07, Hà Nội, tr.480 - 503 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về sự phát triển thé lực của học sinh tuổi từ 8-14 trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90
Tác giả: Trần Văn Dần và cs
Năm: 1997
[11]. Trần Đăng Dong (2002), “Các thể tích, dung tích và lưu lượng hô hấp”, Giáo trình Sinh lý học - Học viện Quân y, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể tích, dung tích và lưu lượng hô hấp
Tác giả: Trần Đăng Dong
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2002
[12]. Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà (1996), “Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội, tr.13 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về phương pháp luận trong nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học
Tác giả: Phan Văn Duyệt, Lê Nam Trà
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
[13]. Trịnh Binh Dy, Lê Thành Uyên (1978), “Bàn về mốc phân chia các lớp tuổi người Việt Nam”, SizJ jý học, Tổng hội Y dược học việt Nam, (1), HàNội, tr.66 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mốc phân chia các lớp tuổi người Việt Nam
Tác giả: Trịnh Binh Dy, Lê Thành Uyên
Nhà XB: SizJ jý học
Năm: 1978
[16]. Trịnh Binh Dy (1994) “Tổng quan tài liệu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam”, Bàn về đặc điểm sinh thể sinh thể con người Việt Nam, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr.67 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tài liệu về một số đặc điểm chức năng sinh lý người Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật
[1]. Nguyễn Kỳ Anh (1998), Mới số nhận xét về sự phát triển chiều cao, cân nặng của học sinh phổ thông Việt Nam trong những năm qua, Tuyền tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thé chất, sức khoẻ trong trường học các cấp,NXB Thể dục thể thao, Hà Nội, tr.184 - 187 Khác
[2]. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thé kỷ XX, NXB Y học, Hà Nội Khác
[6]. Cơ quan báo cáo phát triển con người Liên hợp quốc (1995), Cjỉ riêu và chỉ số phát triển con người, NXB Thông kê Hà Nội Khác
[7]. Đỗ Hồng Cường (2008), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trung học cơ sở các đân tộc tỉnh Hoà Bình, Luận án tiến sĩ Sinh học, Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
[14]. Trịnh Binh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Khuê, Nguyễn Quang Quyền, Lê Thành Uyên (1982), Vẻ những thông số sinh học người Việt Nam, NXB khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr.I I- 13 Khác
[17]. Trịnh Binh Dy, Lê Thành Uyên, Đoàn Yên (1995), Một số thăm dò chức nang sinh ly, NXB Y học, Hà Nội, tr.14 - 107 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1.  Chiều  cao  đứng  (cm)  của  học  sinh  nam  theo  tuổi  và  dân  tộc - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
ng 3.1. Chiều cao đứng (cm) của học sinh nam theo tuổi và dân tộc (Trang 47)
Hình  3.2.  Biểu  đồ  chiều  cao  đứng  của  học  sinh  nữ  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sán  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.2. Biểu đồ chiều cao đứng của học sinh nữ dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu (Trang 49)
Hình  3.4.  Biếu  đô  cân  nặng  học  sinh  nữ  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sản  Diu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.4. Biếu đô cân nặng học sinh nữ dân tộc Kinh và dân tộc Sản Diu (Trang 53)
Hình  3.5.  Biểu  đồ  VNTB  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dan  téc  San  Diu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.5. Biểu đồ VNTB học sinh nam dân tộc Kinh và dan téc San Diu (Trang 55)
Hình  3.13.  Biểu  đồ  chỉ  số  Pignet  của  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sán  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.13. Biểu đồ chỉ số Pignet của học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu (Trang 68)
Bảng  3.23.  BMI  (kg/m’)  cua  hoc  sinh  nữ  theo  tuổi  và  dân  tộc - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
ng 3.23. BMI (kg/m’) cua hoc sinh nữ theo tuổi và dân tộc (Trang 72)
Hình  3.18.  Biểu  đồ  QVC  học  sinh  nữ  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sán  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.18. Biểu đồ QVC học sinh nữ dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu (Trang 76)
Hình  3.19.  Biểu  đô  khối  mỡ  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sản  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.19. Biểu đô khối mỡ học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sản Dìu (Trang 78)
Hình  3.20.  Biểu  đồ  khối  mỡ  học  sinh  nữ  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sán  Diu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.20. Biểu đồ khối mỡ học sinh nữ dân tộc Kinh và dân tộc Sán Diu (Trang 78)
Hình  3.29.  Biếu  đô  huyết  áp  tối  ẩa  của  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sán  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.29. Biếu đô huyết áp tối ẩa của học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sán Dìu (Trang 89)
Hình  3.31.  Biểu  đô  huyết  áp  tối  thiểu  của  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sản  Dìu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.31. Biểu đô huyết áp tối thiểu của học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sản Dìu (Trang 92)
Hình  3.33.  Đô  thị  dụng  tích  sống  của  học  sinh  nam  dân  tộc  Kinh  và  dân  tộc  Sdn  Diu - một số chỉ số sinh học của học sinh trung học phổ thông dân tộc sán dìu và dân tộc kinh huyện tam đảo, tỉnh vĩnh phúc
nh 3.33. Đô thị dụng tích sống của học sinh nam dân tộc Kinh và dân tộc Sdn Diu (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w