CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: 1.1 TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: 1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại: Luật thương mại của Việt Nam số 36/2005/QH11 được Quốc hội
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN GIỚI THIỆU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: 4
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại: 4
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của NQTM (Franchise) 4
1.2 CÁC MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 8
1.2.1 Nhượng quyền có tham gia quản lý (Management franchise): 8
1.2.2 Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (Full business format franchise): .8
1.2.3 Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (Non-business format franchise) 9
1.2.4 Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (Equity franchise) 10
1.3 LỢI ÍCH CỦA NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI: 10
1.3.1 Ý nghĩa bên doanh nghiệp tiến hành NQTM 10
1.3.2 Ý nghĩa đối với bên nhận NQTM 11
1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP MUA BÁN FRANCHISE: 12
1.4.1 Đại lý nhượng quyền thương mại độc quyền (Master franchise): 12
1.4.2 Nhượng quyền thương mại phát triển khu vực (Area development franchise) .12
1.4.3 Mua bán franchise riêng rẻ (Single unit franchise) 13
1.4.4 Mua bán franchise thông qua công ty liên doanh (Joint venture): 15
2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÌNH THỨC NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG
Trang 2MẠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 16
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 16
2.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH FRANCHISE: 17
2.2.1 Mô hình franchise trên thế giới 17
2.2.2 Mô hình franchise tại Việt Nam 21
2.3 THỰC TRẠNG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TIẾN HÀNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN QUA: 23
2.3.1 Hệ thống nhượng quyền Trung Nguyên Coffee .23
2.3.2 Hệ thống cửa hàng Kinh Đô Bekery 26
2.3.3 Hệ thống nhà hàng Phở 24 28
2.4 NHỮNG THÀNH QUẢ TỪ PHÁT TRIỂN KINH DOANH BẰNG HÌNH THỨC NHƯỢNG QUYỀN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2011 .32
2.4.1.Tại thị trường Việt Nam: 32
2.4.2.Tại thị trường nước ngoài .33
2.5 NHỮNG TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN NQTM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: 34
2.5.1 Những triển vọng phát triển nhượng quyền thương mại ở Việt Nam: 34 2.5.2 Những hạn chế và thách thức đối với phát triển NQTM của các doanh nghiệp Việt Nam 37
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3là bước tiến thể hiện sự hội nhập của kinh tế, nhưng đồng thời cũng có nghĩa là các doanhnghiệp trong nước phải cạnh tranh khốc liệt hơn để tồn tại và phát triển Bằng con đườngnhượng quyền thương hiệu, nhiều tên tuổi lớn thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề của thếgiới đã thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua hình thức nhượng quyền thươngmại Trong lĩnh vực đồ ăn nhanh, người tiêu dùng đã dần quen thuộc với các thương hiệunổi danh thế giới như KFC, Lotteria, Mc Donald’s,… Trong lĩnh vực siêu thị, Đức “đổ bộ”vào Việt Nam với hệ thống siêu thị Metro nằm ở những địa thế đẹp và thuận lợi “Đại gia”mực in Cartridge World cũng không chịu kém cạnh khi bắt đầu chiến lược nhượng quyềnthương mại qui mô tại nước ta.
Đó là những thương hiệu lớn đã thành danh ở Việt Nam nhờ nhượng quyền thươngmại, còn rất nhiều những công ty, tập đoàn của nước ngoài khác cũng đang phát triểnmạnh mẽ tại thị trường nước ta nhờ hình thức kinh doanh này
Vậy cần hiểu nhượng quyền thương mại là gì?
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:
1.1 TỔNG QUAN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:
1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại:
Luật thương mại của Việt Nam số 36/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày
14 tháng 6 năm 2005 định nghĩa : “ Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
- Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành kinh doanh.”
Như vậy, bản chất của NQTM là một doanh nghiệp chuyển giao mô hình kinhdoanh để phân phối các sản phẩm, dịch vụ cho các đối tác kinh doanh trên cơ sở giữđược các tiêu chuẩn căn bản của mô hình và thỏa mãn quyền lợi của hai bên
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của NQTM (Franchise)
Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh Singer đã ký hợp đồng nhượng
quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền.Năm 1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong lĩnhvực xe hơi, dầu lửa, gas
Trong thời gian này, phạm vi hoạt động nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phânphối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thứcnày đã thực sự phát triển rất mạnh mẽ Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo
Trang 5theo sự tăng vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền
đã trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong ngànhcông nghiệp thức ăn nhanh và khách sạn Vào thập niên 60-70, nhượng quyền bùng
nổ và phát triển mạnh ở Mỹ, Anh và một số nước khác
Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra rất nhanh, mạnh trong tất cảcác lĩnh vực Hình thức nhượng quyền càng phát huy vai trò của nó trên toàn thếgiới Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12 phút lại có một hệ thống nhượng quyềnmới ra đời Ở Mỹ, 90% công ty kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thươngmại tiếp tục hoạt động sau 10 năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa vàcũng chỉ có 5% công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên sovới 38% công ty độc lập Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế giới làđiều tất yếu
Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế giới : Doanhthu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới năm 2000 đạt 1.000 tỷUSD với khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác nhau Nếu so sánh với GDPcủa Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượthơn nữa trong những năm gần đây Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên40% tổng mức bán lẻ, thu hút được trên 8 triệu người lao động tức là 1/7 tổng laođộng ở Mỹ và có hơn 550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có mộtcửa hàng nhượng quyền mới ra đời
Ở Châu Âu, tổng cộng có hơn 4.000 hệ thống NQTM; với 167.500 cửahàng NQTM, doanh thu đạt khoảng 100 tỉ Euro Tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm.Riêng ở Anh, NQTM là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nềnkinh tế với khoảng 32.000 DN nhượng quyền, doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh,thu hút một lượng lao động khỏang 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bánlẻ
Tại Úc, tổng cửa hàng NQTM khoảng 54.000, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động Theo Hiệp hội nhượng quyền Quốc tế(IFA) thì nhượng quyền kinh doanh ở châu Á đã tạo doanh thu hơn 500 tỷ USD mỗi
Trang 6năm Một số nước có hệ thống nhượng quyền đóng góp vai trò quan trọng trong sựphát triển của mình như: Tại Thái Lan, số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rấtnhanh, trong đó có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn banđầu cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD.
Bộ thương mại Thái Lan công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thươnghiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua NQTM Các doanh nghiệp kinh doanh theohình thức này được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về công nghệ NQTM Do vậy,năm 2004 đạt doanh số 25 triệu Baht, năm 2005 tăng 10% và tăng rất nhanh cho cácnăm tiếp theo Tại Nhật Bản, NQTM phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm 2004
đã có 1.074 hệ thống NQTM và 220.710 cửa hàng kinh doanh theo hình thứcNQTM, doanh thu từ hệ thống này vào khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm7%
Từ năm 1980, NQTM vào Trung Quốc Đến năm 2004, nước này đã có 2.100 hệthống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng nhượngquyền trong 60 lĩnh vực khác nhau Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượngquyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO
Từ năm 2000, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng 10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng55% Đặc biệt, hệ thống NQTM của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh nganghàng với thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài Ở Malaysia,nhìn thấy lợi ích của NQTM từ 1992, Chính phủ thành lập chương trình quốc
gia về chuyển nhượng (Franchise Development Programme - FDP) với 2 mục tiêu:
(i) Gia tăng số DN bán / mua NQTM;
(ii) Thúc đẩy phát triển những SP / dịch vụ đặc thù nội địa thông qua NQTM
Tại Việt Nam, Thương hiệu Phở 24 đã có 35 cửa hàng sau 3 năm nhượng quyền Đến năm 2008, đã có khoảng 100 cửa hàng tại Việt Nam Phở 24 đã xuất hiện tạiPhilippines, Indonesia và chuẩn bị ra mắt tại Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản và TrungQuốc Mức giá nhượng quyền thương hiệu trong nước là 7.000 USD và ởnước ngoài là 12.000 USD, chưa kể phí vận hành 3% trên tổng doanh thu của từng
Trang 7cửa hàng đã chuyển nhượng Foci đã áp dụng nhượng quyền từ năm 1998 với 35 đốitác nhận nhượng quyền và đã mở 48 cửa hàng trên cả nước.
Đến cuối năm 2007, Foci sẽ có mặt tại tất cả địa phương và năm 2008 dự kiến cótối thiểu 100 cửa hàng Dự kiến 2007 Foci mở 7 cửa hàng tại Mỹ theo hình thứcNQTM Công ty Kinh Đô đã mở được 30 cửa hàng bánh Bakery, theo kế hoạch sẽ
có 100 cửa hàng và tiến đến mở rộng hình thức kinh doanh thành tiệm cà phê, bánhngọt và thức ăn nhanh Kinh Đô Trà sữa trân châu Tapio đã mở được 10 cửa hàng
và đang cho ra mô hình mới là Grand Tapio – bán kèm thêm thức ăn nhanh
Theo phân tích của chương trình dự báo bán lẻ tại TP.HCM, cơ hội kinh doanhNQTM ở Việt Nam rất lớn do 3 yếu tố: kinh tế vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởngtốt Các trung tâm mua sắm, đô thị, khu thương mại dịch vụ còn phân bố rải rác,thích hợp để các thương hiệu mạnh phát triển chuỗi - hệ thống bán hàng và tâm lýkinh doanh thích làm chủ của người Việt Nam trong điều kiện vốn và kinh nghiệmđều có giới hạn thì kinh doanh nhượng quyền là phương pháp thích hợp nhất Thực
tế cho thấy, ở Việt Nam đã hình thành một số hệ thống nhượng quyền và rất thànhcông
Nhưng so sánh với sự phát triển của hình thức này với tiềm lực phát triển của đấtnước là rất khiêm tốn Nếu so sánh với tốc độ phát triển cùng hình thức với các nướctrong khu vực vẫn còn nhiều khập khiểng nhưng nhìn chung là chưa xứngtầm Trong tương lai, hy vọng sau khi Việt Nam vào WTO, đặc biệt là những luật lệ
về nhượng quyền thương mại được Việt Nam qui định tại trong Luật Thương mại2006
(có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động nhượngquyền thương mại trong Nghị định 35-2006-ND-CP ngày 31/03/2006 của Chính phủhướng dẫn chi tiết về hoạt động nhượng quyền thương mại và thông tư số 9-2006-TT-BTM ngày 25/05/2006 của Bộ Thương mại hướng dẫn đăng ký hoạt độngnhượng quyền thương mại sẽ là những tiền đề cơ bản cho sự bùng nổ sự phát triểnnhượng quyền thương mại tại Việt Nam
Nhượng quyền thương mại đã thực sự có chổ đứng quan trọng trong nền kinh tế
Trang 8thế giới Từ thế kỷ 19, thế kỷ 20 và thế kỷ 21 đã, đang và sẽ còn chứng kiến sự lớnmạnh không ngừng của hệ thống này Tính ưu việt của hình thức nhượngquyền thương mại sẽ còn được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, nhiều công ty, nhiều khuvực và nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhượng quyền thương mại trong lịch sử đã thể hiện tính ưu việt của nó, tronghiện tại đã thể hiện sức mạnh của hệ thống và chắc rằng trong tương lai sẽ là mộttrong những hình thức để tiến hành hoạt động kinh doanh ưu việt của các công ty,các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi mà nguồn vốn,kinh nghiệm quản lý, thương hiệu thành công luôn là đòn bẩy cho sự phát triển củamột đất nước Hình thức này cũng được biết đến như hình thức của niềm tin và của
sự cam kết Đó phải chăng là một trong những điều tiên quyết, cốt lõi của các hành
vi giao dịch làm ăn trong tương lai
1.2 CÁC MÔ HÌNH NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Khái niệm NQTM (Franchise) được hiểu là một phương thức phát triển
kinh doanh nhưng bản thân nó có phạm vi khá rộng với nhiều cách thức cụthể khác nhau Dựa vào các tính chất về mức độ đầu tư, kiểm soát người ta chiaNQTM làm 4 loại cơ bản như sau:
1.2.1 Nhượng quyền có tham gia quản lý (Management franchise):
Hình thức nhượng quyền phổ biến hay gặp ở các chuỗi khách sạn lớn như
Holiday Inc, Marriott, trong đó bên nhượng quyền hỗ trợ cung cấp người quản lý và
điều hành doanh nghiệp ngoài việc chuyển nhượng sở hữu thương hiệu và mô hình,công thức kinh doanh
1.2.2 Nhượng quyền mô hình kinh doanh toàn diện (Full business
format franchise):
Mô hình này được cấu trúc chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất trong các mô hìnhnhượng quyền, thể hiện mức độ hợp tác và cam kết cao nhất giữa các bên, có thờihạn hợp đồng từ trung hạn (5 năm) đến dài hạn (20 hay 30 năm) Điển hình của loại
franchise này có thể kể đến chuỗi thức ăn nhanh KFC, Subway, McDonald’s, Starbucks, hoặc Phở 24 của Việt Nam.
Trang 9Bên nhượng quyền chia sẻ và chuyển nhượng ít nhất 4 loại “sản phẩm” cơ bản,bao gồm:
Hệ thống: chiến lược, mô hình, quy trình vận hành được chuẩn hóa, chínhsách quản lý, cẩm nang điều hành, huấn luyện, tư vấn và hỗ trợ khai trương, kiểmsoát, hỗ trợ tiếp thị, quảng cáo;
Bí quyết công nghệ sản xuất, kinh doanh
Hệ thống thương hiệu
Sản phẩm, dịch vụ
Bên nhận quyền có trách nhiệm thanh toán cho bên nhượng quyền hai khoản phí
cơ bản là: phí nhượng quyền ban đầu (up-front fee) và phí hoạt động (royalty fee),
thường được tính theo doanh số bán định kỳ Ngoài ra bên nhượng quyền có thể thuthêm các khoản chi phí khác như chi phí thiết kế và trang trí cửa hàng, mua trangthiết bị, chi phí tiếp thị, quảng cáo, các khoản chênh lệch do mua nguyên vật liệu,chi phí tư vấn…
1.2.3 Nhượng quyền mô hình kinh doanh không toàn diện (Non-business format franchise)
Việc chuyển nhượng một số yếu tố nhất định của mô hình nhượng quyền hoànchỉnh theo nguyên tắc quản lý “lỏng lẻo” hơn, bao gồm các trường hợp phổ biến:
Nhượng quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ (product distribution franchise)như sơ mi cao cấp Pierre Cardin cho An Phước, Foci, chuỗi cà phê Trung Nguyên…
Nhượng quyền công thức sản xuất sản phẩm và tiếp thị (marketing franchise)
như CocaCola.
Nhượng quyền thương hiệu (brand franchise/trademark license) như Crysler
nhượng quyền sử dụng thương hiệu Jeep và Pepsi cho sản phẩm thời trang may mặc ở châu Á; nhượng quyền thương hiệu Hallmark (sản phẩm chính là thiệp) để sản
xuất các sản phẩm gia dụng như ra giường, nệm gối; nhượng quyền sử dụngcác biểu tượng và hình ảnh của Disney trên các sản phẩm đồ chơi
Nhượng quyền “lỏng lẻo” theo kiểu các nhóm dùng chung tên thương hiệu
(banner grouping hoặc voluntary chains), thường hay gặp ở các công ty cung cấp
Trang 10dịch vụ chuyên nghiệp (professional service) hoặc loại tư vấn kinh doanh, tư vấn pháp lý như KPMG, Ernst&Young, Grant Thornton…
1.2.4 Nhượng quyền có tham gia đầu tư vốn (Equity franchise)
Người nhượng quyền tham gia vốn đầu tư với tỉ lệ nhỏ dưới dạng liên doanh, như
trường hợp của Five Star Chicken (Mỹ) ở Việt Nam để trực tiếp tham gia kiểm soát
hệ thống Bên nhượng quyền có thể tham gia HĐQT công ty mặc dù vốn tham giađóng góp chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ
Tùy theo năng lực quản lý, sức mạnh thương hiệu, đặc trưng ngành hàng, cạnhtranh thị trường, bên nhượng quyền sẽ cân nhắc thêm ba yếu tố quan trọng sau khi
lựa chọn mô hình franchise phù hợp cho doanh nghiệp mình Đó là mức độ kiểm
soát hệ thống, chi phí phát triển hệ thống và mức độ bao phủ thị trường Những yếu
tố này cũng bao phủ đến chiến lược franchise và cách lựa chọn các cấu trúc
franchise phù hợp khi ký kết hợp đồng như: franchise một hoặc nhiều đơn vị (single/multiple-unit franchise), đại diện (franchise) toàn quyền (master franchise), franchise phụ trách phát triển khu vực (area development) hay đại diện
franchise
(representative franchise), đặc biệt khi công ty mở rộng thị trường mới hay
định hướng xuất khẩu
Đối với các công ty trong nước, franchise là lãnh vực còn khá mới Rất ít doanh nghiệp hiểu biết sâu sắc về franchise và có thể áp dụng một cách toàn diện và thành
công mô hình này vào thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, ngoại trừ vài trườnghợp hiếm hoi như Phở 24 Mặt khác, tại nước ta do những hạn chế về công tác quảntrị thương hiệu và các quy trình của hệ thống kiểm soát được tiêu chuẩn hóa nên các
doanh nghiệp chủ yếu đang áp dụng mô hình franchise không toàn diện, đặc biệt theo phương thức nhượng quyền phân phối sản phẩm, dịch vụ như thegioididong, Foci, Trung Nguyên
1.3 LỢI ÍCH CỦA NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI:
1.3.1 Ý nghĩa bên doanh nghiệp tiến hành NQTM
Trang 11a) Những ưu điểm đối với doanh nghiệp tiến hành NQTM.
- Mở rộng được quy mô kinh doanh và hệ thống phân phối của mình một cáchnhanh nhất
- Giảm chi phí phát triển thị trường và thêm nguồn thu ổn định từ khoản phí
nhượng quyền
- Tạo dựng cho một hệ thống liên kết mạnh về thương mại và tài chính
- Thâm nhập và thăm dò hiệu quả đầu tư trên các thị trường mới một cách nhanhchóng với chi phí rủi ro thấp nhất
- Tận dụng nguồn lực “địa phương” để thâm nhập hiệu quả vào thị trường nộiđịa của các quốc gia đang phát triển mà không phải đối mặt với bất kỳ một rào cảnthương mại hoặc pháp lý nào…
b) Những nhược điểm đối với doanh nghiệp tiến hành NQTM.
- Mất quyền kiểm soát và quyền năng trong kinh doanh
- Sự tranh chấp của các cơ sở kinh doanh
- Thiên vị cho một bên nhận nhượng quyền nào đó
- Hoạt động không kém của một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu…
1.3.2 Ý nghĩa đối với bên nhận NQTM.
a) Những ưu điểm đối với doanh nghiệp nhận NQTM.
- Kinh doanh một thương hiệu có uy tín với số vốn đầu tư nhỏ
- Giảm thiểu các rủi ro do không phải đầu tư xây dựng một thương hiệu mới
- Sản phẩm, dịch vụ và hệ thống họat động được chuẩn hóa
- Hệ thống tài chính và số sách kế toán được thực hiện theo một chuẩn mực
- Được đào tạo, huấn luyện về quản lý và kinh doanh
- Hỗ trợ từ các chương trình tiếp thị và khuyến mãi của thương hiệu
- Quảng cáo tại nơi bán hàng
- Các họat động hỗ trợ trọn gói, thống nhất
- Có phương pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm đồng bộ
b) Những nhược điểm đối với doanh nghiệp nhận NQTM.
Trang 12- Không phải là thương hiệu riêng của mình.
- Chia sẽ rủi ro kinh doanh của bên nhượng quyền
- Sự bùng nỗ của các đối thủ cạnh tranh trong cùng hệ thống
- Hoạt động kinh doanh theo khuôn khổ được qui định trước
- Không phát huy được khả năng sáng tạo trong kinh doanh
- Giúp thương hiệu của bên nhượng quyền ngày càng lớn mạnh…
1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP MUA BÁN FRANCHISE:
1.4.1 Đại lý nhượng quyền thương mại độc quyền (Master franchise):
Đây là hình thức phát triển kinh doanh mà bên tiến hành NQTM cho phép bênnhận nhượng quyền được độc quyền phát triển hệ thống các cơ sở nhậnNQTM trong một khu vực nhất định hoặc độc quyền phát triển hệ thống trên khắp thếgiới Đối với dạng độc quyền khu vực: Doanh nghiệp bán quyền phát triển chuỗicửa hàng kinh doanh của mình cho đối tác tại một vùng lãnh thổ nhất định và đối tác
nàyđược quyền bán lại cho các đối tác khác trong khu vực độc quyền
Mô hình 1.4.1: Sơ đồ mua bán franchise độc quyền
Đối với việc phát triển mô hình nhượng quyền thương mại cho đối tác độc quyềnkhai thác thì đối tác này sẽ toàn quyền lo liệu phát triển hệ thống ra khắp các thịtrường và bên chủ sở hữu thương hiệu sẽ nhận một khoản phí cố định nào đó theothỏa thuận trên mỗi một đơn vị mới phát triển của hệ thống Còn việc phát triển theohướng nào? ở đâu?…… hoàn toàn do đối tác mua độc quyền phát triển hệ thốngnhượng quyền tự quyết định Đây là hình thức như Mc Donald đã bán cho Ray Krok
để độc quyền phát triển thương hiệu Mc Donald trên toàn thế giới
Các doanh nghiệp nhận nhượng quyền có thể là cá nhân riêng lẻ hoặc có thể là
CHỦ DOANH NGIỆP ĐẠI LÝ NQTH
ĐỘC QUYỀN
Franchise riêng lẻ Hoặc
Trang 13đại lý độc quyền khu vực và có quyền bán lại cho đối tác khác.
1.4.2 Nhượng quyền thương mại phát triển khu vực (Area development franchise).
Đây là hình thức bán quyền phát triển nhiều cửa hàng nhượng quyền kinh doanhtrong khu vực cho một đối tác Điểm khác biệt so với hình thức phát triển thông quađại lý độc quyền là ở chỗ: thương nhân mua NQTM khu vực không được bán lạicho bất cứ đối tác nào khác mà phải tự mình phát triển các cửa hàng do mình quản
lý Hệ thống các cửa hàng nhượng quyền này phát triển trong một vùng là do mộtchủ quản lý Trong hợp đồng cũng quy định bên mua NQTM được độc quyền pháttriển hệ thống trong một khu vực và một thời gian nhất định với số lượng tối thiểunào đó; nếu không phát triển được theo kế hoạch thì sẽ mất quyền phát triển mới vàbên nhượng quyền có quyền bán cho đối tác khác
Mô hình 1.4.2: Sơ đồ mua bán franchise phát triển khu vực
Hình thức phát triển hệ thống nhượng quyền này giúp cho bên mua NQTM tiếtkiệm được kinh phí ban đầu do giá mua cùng lúc nhiều cửa hàng thường sẽ đượcgiảm Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi bên bán nhượng quyền phải tìm được đối tác đủ
CHỦ DOANH NGHIỆP ĐẠI LÝ NQTH ĐỘC QUYỀN
NQTH PHÁT TRIỂN KHU VỰC
Cửa hàng Cửa hàng Cửa hàng
Hoặc
Trang 14tiềm năng để phát triển Hình thức bán sỉ như vậy sẽ tạo cho doanh nghiệp tiếnhànhNQTM cung cấp các dịch vụ cũng như kiểm soát trực tiếp các cửa hàng tốt hơn,đảm bảo cho tính đồng nhất của toàn hệ thống.
1.4.3 Mua bán franchise riêng rẻ (Single unit franchise)
Đây là hình thức bán trực tiếp NQTM cho từng thương nhân trong quá trình pháttriển của hệ thống Chủ thương hiệu NQTM trực tiếp tìm kiếm và đàm phánvới từng đối tác để ký các hợp đồng NQTM Cách làm này đòi hỏi bên bán NQTMphải có đội ngũ nhân lực đông đảo để có thể đảm nhận được các công việc nhất làkhi hệ thống được mở rộng Các hoạt động của bên bán NQTM ngoài các côngviệc của hai cách bán NQTM kể trên còn phải tăng cường thêm sự giám sát, đàotạo, cung ứng… cho các đối tác riêng lẻ nên khối lượng công việc sẽ tăng đáng kể.Hình thức này sẽ càng khó khăn, tốn kém đối với việc phát triển ra nước ngoài Ưuđiểm cơ bản của hình thức bán lẻ NQTM đến từng cá nhân, doanh nghiệp trongqúa trình phát triển hệ thống NQTM là việc kiểm tra giám sát chặt chẽ hơn Mặtkhác, khả năng tìm hiểu hỗ trợ của chủ thương hiệu đến các đối tác cũng tốt hơn vàkhả năng thành công sẽ cao hơn Tuy nhiên đây là một cách làm khó đối với các chủthương hiệu không có nguồn nhân lực mạnh và ít kinh nghiệm trong lĩnh vực NQTM
Mô hình 1.4.3: Sơ đồ mua bán franchise riêng lẻ:
Franchise riêng lẻ
Hoặc
Trang 15Phát triển hệ thống nhượng quyền bằng hình thức bán lẻ, sẽ cần phải thiết lập hệ thốngkiểm soát và cung cấp các dịch vụ theo từng khu vực để đáp ứng cho nhu cầu của đối tác,đảm bảo tính đồng nhất của toàn thể hệ thống, chi phí sẽ gia tăng.
1.4.4 Mua bán franchise thông qua công ty liên doanh (Joint venture):
Là hình thức nhượng quyền trong đó doanh nghiệp thực hiện phương thứcNQTMsẽ tham gia hùn một số vốn cùng đối tác để mở một cơ sở kinh doanh mớidưới hình thức NQTM Hình thức này đặc biệt cần thiết khi doanh nghiệpmuốn phát triển kinh doanh nhưng bị hạn chế của luật pháp hoặc một số rào cảnkhác mà bản thân doanh nghiệp khó vượt qua Phía doanh nghiệp tiến hành NQTM
sẽ đóng góp tài chính và các bí quyết, mô hình kinh doanh v.v v để cùng tiếnhành hoạt động NQTM cho các đối tác khác
Mô hình 1.4.4: Sơ đồ mua bán franchise thông qua công ty liên doanh
ĐỐI TÁC KINH DOANH
NQTH PHÁT TRIỂN KHU VỰC
ĐẠI LÝ NQTH
ĐỘC QUYỀN
LIÊN DOANH NQTH
CỬA HÀNG DOANH NGHIỆP
NHƯỢNG QUYỀN
Trang 16lực tài chính để chia sẻ cùng đối tác Hình thức này nhằm củng cố thêm sự cam kết hỗtrợ cho khả năng thành công với đối tác Việc tham gia góp vốn đầu tư ( gọi là liên doanh)
sẽ cho phép bên tiến hành NQTM có mức độ kiểm soát hoạt động kinh doanh đối vớibên nhận nhượng quyền cao hơn Thông thường, dù mức độ tham gia lớn hay nhỏ,bên nhượng quyền cũng sẽ có người trực tiếp tham gia vào hội đồng quản trị Từ đó,không chỉ tác động đến điều hành kinh doanh mà hiểu rõ hoạt động kinh doanh của đơn vịhơn Mặt khác nó cũng làm tăng khả năng hiểu biết và đảm bảo tính đồng nhất của toàn hệthống
Nhược điểm lớn của loại hình này là doanh nghiệp phải có vốn lớn và hệ thốngnhân sự tốt và vì vậy, khả năng mở rộng quy mô của hệ thống sẽ bị hạn chế lớn
2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HÌNH THỨC NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1 CƠ SỞ PHÁP PHÁP LÝ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
- Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11: được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 4năm 2005 làm nền tảng pháp lý cho các hoạt động dân sự trong đó các các phần liênquan tới hợp đồng và chuyển giao công nghệ, bí quyết kinh doanh, mô hình kinhdoanh …với khái niệm “ cấp phép đặc quyền kinh doanh”
- Luật Quyền sở hữu trí tuệ số: 50/2005/QH11 : được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005 làm cơ sở cho các hoạt động kinh doanh liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ, các giá trị vô hình của doanh nghiệp
- Bộ luật Thương mại số 36/2005/QH11: được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng
6 năm 2005 Đây là văn bản luật quan trọng đã nêu ra định nghĩa và các vấn
đề chung liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại Tại mục 8Nhượng quyền thương mại bao gồm từ điều khoản 284-291 cung cấp các kiến thức cơbản và quy định trách nhiệm của các bên liên quan đến hoạt động nhượng quyềnthương mại
- Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2006 giải thích và quy định
rõ hơn về nhượng quyền thương mại Là một bước cụ thể hóa về lĩnh vực hoạt động
Trang 17trình, thủ tục thực hiện NQTM… Ngoài các quy định quyền hạn, nghĩa vụ các bên,Thông tư còn chỉ rõ thời gian mà các cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện việccấp phép cho hoạt động nhượng quyền không qúa 10 ngày, nếu không chấp nhậnphải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Việc ban hành các văn bản pháp lý này đã góp phần làm minh bạch hóa các hoạtđộng NQTM, mặc dù vẫn còn những điều cần phải được cập nhật nhưng nó đã gópphần tạo điều kiện cho hình thức phát triển kinh doanh bằng NQTM nói riêng pháttriển thuận lợi hơn
2.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH FRANCHISE:
2.2.1 Mô hình franchise trên thế giới
Các trạm xăng dầu và các ga-ra buôn bán xe hơi được nhiều tài liệu ghi nhận làmột trong những loại hình kinh doanh đầu tiên được nhân rộng thông qua phươngthức nhượng quyền kinh doanh (đúng hơn là nhượng quyền phân phối sản phẩm).Tuy nhiên, ngay sau Thế Chiến Thứ Hai kết thúc, phương thức nhân rộng
mô hình kinh doanh này mới thật sự bùng nổ và trở nên rất phổ biến nhất là đối vớicác mặt hàng dịch vụ bán lẻ, phân phối, nhà hàng và khách sạn Vào thời điểm1994,
35% của tổng doanh số bán lẻ tại nước Mỹ là từ các cửa hàng nhượng quyền Đếnnăm 2000 tỷ lệ này tăng lên đến 40%, tạo việc làm cho hơn 8 triệu người Và ngàynay, 12 trên 52 tiểu bang của nước Mỹ đã có luật bắt buộc bất kỳ công ty nào muốntham gia vào thị trường chứng khoán đều phải có đăng ký nhượng quyền Đó là các
bang California, Illinois, Indiana, Maryland, Minnesota, New York, North Dakota, Rhode Island, South Dakota, Virginia, Wisconsin và Washington Điều này nói lên tính phổ biến và xác suất thành công cao của mô hình kinh doanh franchise đem lại
đối với doanh nghiệp Mỹ nói riêng hay cả một nền kinh tế nói chung Thật vậy, theo
số liệu của Phòng Thương mại Mỹ thì từ 1974 đến nay trung bình chỉ có 5%
số doanh nghiệp hình thành theo mô hình nhượng quyền kinh doanh tại Mỹ là thấtbại, trong khi đó con số này là 30 - 65% cho các doanh nghiệp không theo
Trang 18chắc quá tốt như các số liệu thống kê nêu trên của Phòng Thương mại Mỹ, vì chưathể hiện định nghĩa như thế nào gọi là ‘thất bại’ Con số 5% doanh nghiệp
mua franchise kinh doanh thất bại thì đã rõ (đóng cửa hay lỗ vốn) nhưng con số 95%
còn lại chưa chắc đã hoàn toàn ‘thành công’ đối với số doanh nghiệp vẫn tồn tạiđược nhưng kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá ít so với vốn đầu tư bỏ ra.Liệu số doanh nghiệp này đã được liệt vô loại ‘thất bại’ khi thống kê?
Theo số liệu thống kê của Châu Âu thì năm 1998 toàn Châu Âu có tổng cộng
3.888 hệ thống franchise với 167.432 cửa hàng nhượng quyền Những cửa hàng này
hàng năm đóng góp khoảng 95 tỉ Euro doanh số và tạo ra hơn 1,5 triệu việc làm chongười dân các nước Châu Âu Tại Nhật – dựa vào báo cáo của Hiệp hội Nhượng
quyền kinh doanh Thế giới (World Franchise Council) năm 1998 – thì các cửa hàng franchise của Nhật hàng năm làm ra gần 150 tỉ USD với mức tăng trưởng là 7% mỗi
năm Tại Úc, tổng số các cửa hang franchise trên toàn quốc là 54.000, đónggóp
12% vào tổng sản phẩm xã hội (GDP) và tạo ra hàng trăm ngàn công ăn việc làmcho người lao động Còn trên bình diện toàn thế giới, doanh thu từ hoạt động kinhdoanh nhượng quyền thời điểm năm 2000 đạt 1.000 tỷ USD với khoảng320.000 doanh nghiệp từ 75 ngành nghề khác nhau Sau đây là một số thống kê các
hệ thống franchise và số lượng cửa hàng nhượng quyền hiện hữu tại các nước Châu
Âu tính tới thời điểm 1995:
Bảng: Số lượng cửa hàng nhượng quyền tại các nước Châu Âu tính (1995):
Trang 19chính phủ cho thành lập hẳn một chương trình quốc gia gọi là Franchise Development Programme (tạm dịch là Chương trình phát triển nhượng quyền) từ
1992 và chương trình này được triển khai và giám sát chặt chẽ bởi một ban chuyêntrách trực thuộc Văn phòng Thủ tướng, và sau này mới chuyển cho Bộ Phát triển
Doanh nghiệp quản lý (Ministry of Entrepreneur Development).
Đây là bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của lãnh vựcnhượng quyền kinh doanh nói riêng hay đối với giới doanh nhân Malaysia nóichung Chương trình phát triển nhượng quyền quốc gia này nhắm vào hai mục tiêuchủ yếu sau đây:
1/ Gia tăng số lượng doanh nghiệp tại Malaysia, cả hai khối bán và mua franchise;
2/ Thúc đẩy phát triển những sản phẩm và dịch vụ đặc thù nội địa thông qua hình thức nhượng quyền
Tại Thái Lan, Bộ Thương mại công bố một chương trình khuyến khích và quảng
bá kinh doanh nhượng quyền đối với các thương hiệu nội địa với mục đíchtăng cường uy tín sản phẩm Thái Lan trên thương trường quốc tế Các doanh nghiệp
chủ thương hiệu có tiềm năng phát triển để bán franchise (hầu hết nằm trong lãnh
vực kinh doanh nhà hàng) được Chính phủ hỗ trợ thông qua chương trình đào tạo
Trang 20Tại Mỹ, mô hình kinh doanh franchise rất được ưu đãi do đem lại lợi ích cho nền
kinh tế quốc gia Bằng chứng là từ 1990 luật nhập cư của Mỹ có bổ sung một điềukhoản mới có liên quan đến franchise, đó là bất kể người nước ngoài nàomua
franchise tại Mỹ với số vốn đầu tư từ 500.000 đến 1.000.000 đôla Mỹ và thuê ít nhất
10 nhân công địa phương sẽ được cấp thị thực thường trú nhân (green card) tại Mỹ
Các thương hiệu franchise của Mỹ có uy tín hàng đầu thế giới trong lãnh vực khách sạn phải kể đến Holiday Inn, Ramada Inn, Marriott, Sheraton, Hilton, Hyatt, Best Western; trong lãnh vực nhà hàng thức ăn nhanh thì có McDonald’s, Burger King, Wendy’s, KFC…
Cũng như nhiều nước trên thế giới có chủ trương phát triển kinh doanh nhượngquyền, Chính phủ Mỹ đã chủ động đứng ra xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp chủthương hiệu bán franchise ra nước ngoài để đem ngoại tệ về cho nền kinh tế nội địa.Như gần đây Thương vụ Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam đã đứng ra tổ chức, mời gọingay cả các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam đến đất nước của họ để tham dự cuộctriển lãm thường niên về franchise của chủ thương hiệu Mỹ được tổ chức tại
Washington DC (International Franchise Expo 2005) Những hội chợ triển lãm
quốc tế này sẽ giúp các đối tác tiềm năng tại nước ngoài tiếp cận và tìm hiểu muafranchise của các chủ thương hiệu Mỹ
Theo báo cáo thường niên của Hiệp hội franchise Quốc tế (International Franchise Association) tại San Diego vào tháng 2/2000 đăng trên tạp chí USA Today thì ngành kinh doanh franchise phổ biến nhất là ngành nhà hàng thức
ăn nhanh (fast food) Do đó cũng không có gì ngạc nhiên khi nói về franchise người ta
hay nghĩ tới các cửa hàng thức ăn nhanh và lấy ví dụ điển hình từ ngành này Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay hầu như ngành nghề nào cũng có thể nhân rộng mô hình qua phương thức bán franchise Các gian hang tham gia Hội chợ Triển lãm Quốc tế
về franchise (International Franchise Expo) tổ chức tại Washington DC vừa qua đã
cho thấy ngoài ngành nhà hàng ra còn rất nhiều ngành nghề khác Sau đây là danh sách 10 ngành kinh doanh franchise phổ biến nhất thế giới được xếp hạng thứ tự bởi
Trang 212.2.2 Mụ hỡnh franchise tại Việt Nam
Giữa thập niên 90, ở Việt Nam đã có một vài doanh nghiệp kinh doanh thiết bị lọc nớc do Việt kiều về đầu t đã đa ra hình thức nhợng quyền thơng mại nhng thị trờnglúc bấy giờ cha thực sự sôi động và bản thân thơng hiệu của các doanhnghiệp đó cũng cha nổi tiếng nên đã không thành công Nhiều năm trở lại đây, hìnhthức nhợng quyền thơng mại mới trở lại với các thơng hiệu tên tuổi nh Kinh Đô, TrungNguyên, Lotteria, Phở 24 Tập đoàn Kinh Đô đã trở thành một trong những công tysản xuất hàng tiêu dùng lớn trong cả nớc với tổng giá trị vốn hóa thị trờng khoảng 400triệu USD với mạng lới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trêncả nớc.Trong đó, có nhiều cửa hàng Kinh Đô đã áp dụng phơng thức nhợng quyềnthơng mại Còn đối với Công ty cà phê Trung Nguyên, đây là thơng hiệu cà phê số
1 và cũng là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng mô hình kinh doanh nhợngquyền thơng mại Hiện Trung Nguyên đã có 1.000 quán cà phê ở Việt Nam,Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và đang tiếp tục phát triển tại Mỹ,
Đức, Australia thông qua phơng thức nhợng quyền thơng mại Những tín hiệu mới từTrung Nguyên, Kinh Đô nh vừa nêu trên là dấu hiệu cho thấy không ít doanhnghiệp Việt Nam đã sớm khẳng định đợc vị thế của mình trên thơng trờng và cũng đãbiết cách nhợng quyền thơng mại thành công trong nền kinh tế mở cửa hội nhậpquốc tế Dù vậy, Việt Nam chỉ mới đang trong giai đoạn
khởi động nên tiềm năng phát triển trong lĩnh vực này còn rất lớn và chắc chắn sẽtăng trởng mạnh trong vài năm tới Trớc xu thế phát triển và nhu cầu tiếp