1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

nguvan 10-11-12

133 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 339,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng dạy- học thơ Đờng hiện nay ở trờng trung học THCS và THPT, chúng tôi đã biên soạn cuốn dạy - học các tác phẩm thơ đờng ở trờng trung họccơ sở và trung học phổ th

Trang 1

lª xu©n soan (Chñ biªn) - ng« thÞ trang

Trang 2

lời nói đầu

Các thầy cô giáo, anh chị em sinh viên Ngữ văn cùng các em

học sinh thân mến !

Thơ Đờng là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của thơ ca Trung Quốc và nhân loại Thơ Đờng là biểu tợng huy hoàng nhất của ngôn ngữ nhân loại đạt đến đỉnh thăng hoa

Thơ Đờng có vai trò và vị trí quan trọng trong chơng trình SGK Ngữ văn THCS ( lớp 7) và THPT (lớp 10) Thực tế là thơ Đờng rất hay, rất hàm súc nhng rất khó dạy, khó học đối với thầy và trò ở tất cả các cấp học, bậc học

Xuất phát từ thực trạng dạy- học thơ Đờng hiện nay ở trờng trung học (THCS và THPT), chúng tôi đã biên soạn cuốn

dạy - học các tác phẩm thơ đờng

ở trờng trung họccơ sở và trung học phổ thông

Tập sách gồm 2 chơng và phần phụ lục:

Chơng I: Khái quát chung về thơ Đờng

và việc dạy học thơ Đờng ở trờng trung học

Chơng II: Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học

các tác phẩm thơ Đờng ở trờng trung học

Phần phụ lục: - Một số giáo án thể nghiệm bài dạy học thơ Đờng

- Một số bài viết, phân tích, cảm nhận, bình giảng các bài thơ Đờng trong SGK Ngữ văn lớp 7 và lớp 10 của các thầy cô giáo và các

em học sinh

Hy vọng tập sách sẽ là tài liệu quí đối với các thầy cô giáo dạy văn, với anh chị em sinh viên Ngữ văn các trờng Đại học, Cao đẳng và các em học sinh THCS và THPT

Chúng tôi mong nhận đợc những góp ý của quí thầy cô, anh chị em sinh viên, các em học sinh và bạn đọc xa gần

Tháng 6 năm 2006

Trang 3

Chủ biên

Thạc sĩ: Lê Xuân Soan

mục lục Trang

Chơng 1: Khái quát chung về thơ Đờng và việc dạy học thơ Đờng

ở trờng trung học

I Tầm quan trọng của vấn đề:

II Khái niệm thơ Đờng:

III Một số đặc điểm của thơ Đờng:

IV Vị trí, vai trò của phần thơ Đờng trong chơng trình SGK Ngữ văn Trung học:

V Thực trạng dạy học thơ Đờng ở trờng Trung học hiện nay:

Chơng II: Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học các tác phẩm

thơ Đờng ở trờng trung học

I Xuất phát từ nguyên tác và thờng xuyên đối chiếu với nguyên tác trong quá trình dạy học thơ Đờng

II Vận dụng thích hợp các yếu tố lịch sử, cái "tâm", cái "chí" của nhà thơ để cắt nghĩa tác phẩm

III Chú ý khai thác "ý tại ngôn ngoại" trong dạy học thơ Đờng

IV Chú trọng khai thác cách kết bài, mở bài trong dạy học thơ đờng

V Chú ý phân tích phép đối, nghệ thuật chấm phá, nghệ tả cảnh ngụ tình khi dạy học thơ Đờng

VI phân tích giá trị tu từ của niêm luật, vần vế, thể thơ

VII Phân tích chất nhạc, chất họa trong ngôn ngữ thơ Đờng

VIII Giải thích điển tích, điển cố trong dạy học thơ Đờng

IX Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trong dạy học thơ Đờng

X Phân tích và dạy học thơ Đờng theo bố cục và mạch cảm xúc

Phần phụ lục:

I Thiết kế một số bài dạy học tác phẩm thơ Đờng

II Một số bài viết, phân tích, cảm thụ, bình giảng các bài thơ Đờng trong SGK Ngữ văn lớp 7 và lớp 10:

Trang 4

- Vọng L Sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi L)

- Hồi hơng ngẫu th (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê)

- Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)

- Mao ốc vị thu phong sở phá ca (Bài ca nhà tranh bị gió thu phá)

- Hoàng Hạc lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)

- Hoàng Hạc lâu (Lầu Hoàng Hạc)

- Điểu minh giản (Khe chim kêu)

- Khuê oán (Nỗi oán của ngời phòng khuê)

- Thu hứng (Cảm hứng mùa thu)

Tài liệu tham khảo

Trang 5

chơng i

khái quát chung về thơ đờng

và việc dạy học thơ đờng ở trờng trung học

i Tầm quan trọng của vấn đề :

1 Thơ Đờng là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của thơ ca Trung Quốc và nhân loại Thơ Đờng là biểu tợng huy hoàng nhất của ngôn ngữ nhân loại đạt đến đỉnh thăng hoa Cho đến hôm nay, những vần thơ ấy vẫn có sức lay động và cảm hoá mạnh mẽ đối với tâm hồn ngời đọc, là đề tài hấp dẫn các cây bút nghiên cứu lí luận phê bình văn học, là một trong những trọng tâm chú ý của các nhà soạn chơng trình SGK Ngữ văn phổ thông.

2 Thơ Đờng có vai trò, vị trí quan trọng trong chơng trình SGK Ngữ văn bậc Trung học Thơ Đờng đợc học ở hai khối: lớp 7 và 10 Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Đờng nhng việc nghiên cứu tìm kiếm ph-

ơng pháp, biện pháp dạy học các tác phẩm thơ Đờng ở trờng Trung học hầu

nh cha đợc các tác giả chú tâm nghiên cứu

Trong thực tế, thơ Đờng thuộc loại khó dạy đối với giáo viên, khó tiếp cận với học sinh Thờng thì giáo viên ít hứng thú và ít chuyên tâm khi dạy, còn học sinh ít hứng thú hoặc không thích học Làm thế nào để việc dạy học thơ Đờng ở trờng phổ thông không phải là một gánh nặng mà thực sự có hứng thú và hiệu quả? Thực tiễn đang đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về những phơng pháp, biện pháp dạy học thơ Đờng nhằm thay đổi thực trạng trên

3 Lịch sử nghiên cứu thơ Đờng:

Cho đến nay th mục nghiên cứu về thơ Đờng không ít Trong “Diện mạo thơ Đờng” NXB VHTT 1998 GS Lê Đức Niệm nhìn nhận thơ Đờng ở

đặc trng mỹ học nh: biểu hiện tính hàm súc, lời ít ý nhiều, ý ở ngoài lời Ông khái quát những nét cơ bản nhất về thơ Đờng và có một số trang dành riêng

để nói đến những tác giả tiêu biểu nh Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị

Trang 6

Trong cuốn “Về thi pháp thơ Đờng” NXB Đà Nẵng 1997 tác giả

Nguyễn Khắc Phi đã khái quát một số đặc trng tiêu biểu của thơ Đờng về đề tài, thể loại, bút pháp nghệ thuật

ở “Thơ Đờng bốn ngữ ” NXB VHHN 1992 do Hữu Ngọc biên soạn thì

từ một bài thơ Đờng đợc dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau: Việt, Pháp, Anh, soạn giả đã gợi mở cho ngời đọc nhận thấy đợc vẻ đẹp của thơ Đờng so với ngôn ngữ khác

Với “Thi pháp thơ Đờng- th gửi các bạn làm thơ Đờng” NXB Trẻ

Thành phố HCM 2002 thông qua hình thức viết th, Quách Tấn dẫn ra một số cách thức để làm thơ theo đúng luật, mang âm hởng đờng thi Các công trình trên đã khái quát đợc diện mạo chung của thơ Đờng đồng thời nghiên cứu một số tác giả lớn trên các phơng diện cuộc đời sự nghiệp, đặc điểm nổi bật trong thơ ca, sự sáng tạo và đóng góp về nội dung và nghệ thuật của thơ

Đờng nói chung, một số tác giả lớn nói riêng Những thành tựu của các nhà nghiên cứu phê bình đạt đợc sẽ là nền tảng quan trọng giúp chúng tôi tiếp tục

đi sâu vào nghiên cứu các phơng pháp, biện pháp dạy học thơ Đờng ở trờng Trung học

4 Lịch sử nghiên cứu phơng pháp dạy học thơ Đờng

Có thể nói trong phần Văn học nớc ngoài (VHNN) đợc học ở phổ thông, thơ

Đờng là phần đợc đa vào chơng trình SGK Ngữ văn từ lâu với số lợng đáng

kể Song cho đến nay vẫn cha có một công trình chuyên biệt bằng tiếng Việt nào (đã công bố) nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về những phơng pháp, biện pháp dạy học thơ Đờng ở nhà trờng phổ thông

Trong bài “Văn học nớc ngoài trong chơng trình môn văn phổ thông Trung học”- Tạp chí VHNN số 1.1996 Hội nhà văn Việt Nam, tác giả Vũ

Quốc Anh nhấn mạnh: “Rất cần đến những bài viết về văn học nớc ngoài nhằm mở rộng tầm hiểu biết cho giáo viên môn Văn các trờng phổ thông còn tơng đối xa lạ với họ” [21; 250]

Trang 7

Có một số công trình đã nêu lên một vài khía cạnh nhỏ trong việc phân tích giảng dạy thơ Đờng ở bài: “Một số vấn đề giảng dạy phần Văn học nớc ngoài ở trờng Trung học phổ thông”- “Phơng pháp dạy học văn”- tập 1-

NXB GD 2001, GS Phùng Văn Tửu có đề cập đến một số ý kiến về việc giảng dạy thơ Đờng Tác giả cho rằng khi dạy học thơ Đờng ở trờng phổ thông không nhất thiết phải dừng lại quá lâu ở nguyên tác bởi với đối tợng học sinh Trung học phổ thông chúng ta sa đà vào quá nhiều bài thơ chữ Hán

sẽ không hợp với khả năng của học sinh

Trong cuốn “Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng theo loại thể”-

NXB ĐHQGHN 2002, tác giả Nguyễn Viết Chữ nêu ra một số định hớng dạy học thơ Đờng nh dựa vào thi đề, thi ý và thi tứ để xác định chất Đờng thi của

nó, từ đó mới lựa chọn đợc phơng pháp, biện pháp dạy học thích hợp

Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn “Bình giảng thơ Đờng”-

NXB GD 2003 có một số gợi ý hết sức quan trọng cho việc cảm thụ phân tích và dạy học thơ Đờng: “Vì đặc trng của thơ Đờng là tạo lập các mối quan

hệ nên ngời đọc thơ Đờng cần phải phát hiện những mối quan hệ ấy, mà để phát hiện đợc phải dành nhiều thời gian suy nghĩ và tởng tợng, liên tởng” [6; 22]

Gần đây trong “Một vài điểm lu ý trong dạy học các bài thơ Đờng” (Ngữ văn 7) Nhóm tác giả trờng ĐH Hồng Đức- Tạp chí khoa học XHNV-

số 13.2003 đã lu ý một số nguyên tắc khi phân tích thơ Đờng nh xuất phát từ nguyên tác, cách mở bài kết bài, các từ có tính chất chìa khoá và “không nên

có định kiến cho rằng dạy thơ Đờng là khó” [22;4]

Nh vậy ngoại trừ một vài bài viết lẻ tẻ, vấn đền phơng pháp dạy học thơ Đờng ở trờng Trung học vẫn cha đợc một công trình chuyên biệt nào ( bằng tiếng Việt ) đề cập tới.Tuy nhiên, những khía cạnh mà ngời đi trớc nêu ra sẽ là gợi ý quan trọng và bổ ích giúp chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống hơn các cách thức, biện pháp cụ thể trong dạy học thơ

Đờng ở trờng Trung học

Trang 8

II Khái niệm thơ Đờng

“Thơ Đờng” là một khái niệm đợc dùng với nhiều hàm nghĩa Theo

niệm khá co giãn, có khi chỉ tất cả các bài thơ đợc sáng tác vào đời Đờng ở Trung Quốc (bất kể thuộc thể thơ nào) có khi lại chỉ tất cả các bài thơ làm theo thể Đờng luật (bất kể đợc sáng tác vào lúc nào ở Việt Nam hay ở Trung Quốc )

ở khoá luận này chúng tôi dùng khái niệm thơ Đờng theo nghĩa thứ nhất, tức chỉ các bài thơ đợc sáng tác vào đời Đờng ở Trung Quốc (bất kể thuộc thể thơ nào)

III Một số đặc điểm cơ bản của thơ Đờng

Khi nói tới “thơ Đờng” là ngời ta nhằm chỉ chung thành tựu thơ ca 300 năm của Trung Quốc đời Đờng Nhng bản thân thơ Đờng lại phát triển qua các giai đoạn khác nhau, cụ thể gồm 4 giai đoạn:

Sơ Đờng (618 - 713)Thịnh Đờng (713- 766)Trung Đờng (766 - 835)Văn Đờng (735 - 907)

Chúng ta có thể khái quát thơ Đờng trên một số khía cạnh sau:

1 Đề tài, chủ đề phong phú và đa dạng:

Đề tài là đối tợng đợc phản ánh, là nơi gửi gắm cách nhìn nhận đánh giá, bộc lộ t tởng tình cảm của tác giả về cuộc sống con ngời Thơ Đờng có phạm vi đề tài hết sức rộng rãi nh: đề tài xã hội, thiên nhiên, lịch sử, đề tài về chiến tranh, về cuộc sống nói chung và đời sống nội tâm phong phú, sâu thẳm của con ngời Sự phong phú về đề tài đó bắt nguồn từ hiện thực xã hội

đời Đờng Hiện thực đầy biến động với nhiều tài năng đem đến thơ Đờng vẻ

đẹp riêng

1.1 T hơng là cảm hứng nổi bật trong thơ Đờng

Trang 9

Quê hơng là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi ngời, là nơi nuôi dỡng tâm hồn ta khôn lớn từng ngày Dù ít hay nhiều trong mỗi chúng ta đều lu giữ những ký ức đẹp nhất của tuổi thơ để đến khi xa quê tình cảm ấy lại thờng trực chuyển thành sức mạnh giúp con ngời vững vàng hơn trong cuộc sống Tô Đông Pha có câu : “Tấm lòng báo quốc đến chết mới thôi” nghĩa là mang trong mình lòng biết ơn sâu sắc đối với quê hơng Rất tự nhiên những vần thơ viết về quê hơng trong thơ Đờng bao giờ cũng nhiều và thắm thiết nhất.

Nỗi “t hơng” của Lý Bạch đợc khơi gợi từ vẻ bàng bạc của ánh trăng trên đất khách Cảnh quê ngời lạ, con ngời nơi khác duy chỉ ánh trăng là không đổi, vẫn thân thiết gần gũi nhất với quê hơng Trăng là ánh sáng của quê hơng “nguyệt thị cố hơng minh” (Đỗ Phủ) Trong một đêm khuya nơi

đất khách, mọi vật chìm trong tĩnh lặng mình thi nhân đối diện với ánh trăng

ánh sáng ấy gọi dậy cái nôn nao da diết của nỗi nhớ:

Đầu giờng ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất nh sơng Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hơng

( Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh - “ ” Lý

Bạch )

“Cử đầu vọng minh nguyệt” mở ra một không gian mênh mông bát ngát của đất trời: không gian mơ màng của hồi ức kỷ niệm Thi sĩ chìm đắm trong suy t nỗi nhớ thơng quê hơng đến thắt lòng Tình thơng mến ấy lúc nào cũng day dứt trong tâm can những ngời con xa quê nên chỉ cần bắt gặp cảnh vật gần gũi lập tức nỗi “t hơng” trỗi dậy mãnh liệt Với “Thu hứng” của Đỗ

Phủ, tình quê lại là nỗi khao khát khôn nguôi đợc trở về sống yên bình ở nơi

đã từng gắn bó:

Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà

Trang 10

Lạnh lùng giục kẻ tay dao thớc Thành Bạch, chày vang bóng ác tà”

(Nguyễn Công Trứ dịch)Tiếng chày giặt áo là một âm thanh có sức gợi cảm lớn, báo hiệu mùa

đông đang về Nào ai biết đâu nỗi quặn thắt trong lòng một con ngời tha

ph-ơng Câu thơ cộng thêm nỗi chua xót và cảm giác lạc lõng của nỗi niềm không biết tỏ cùng ai Nó không nức nở nhng là tiếng khóc dội vào trong

Âm thanh vẫn cứ rộn rịp thôi thúc thi nhân hớng về quê hơng, khát khao đến cháy bỏng đợc trở về quê hơng

Chúng ta còn bắt gặp những vần thơ viết về quê hơng trong sáng tác của Thôi Hiệu, Hạ Tri Chơng Tất cả những nỗi nhớ chồng chất ấy đã trở…thành âm hởng vang vọng của thơ Đờng, còn đọng lại trong nỗi niềm của thế

hệ sau, trong sáng tác văn học Việt Nam qua các giai đoạn

1.2 Chiến tranh loạn li-một trong những đề tài phổ biến của thơ Đờng

Thơ Đờng phát triển trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến động nhất Chính bối cảnh lịch sử ấy khiến cho thơ văn đời Đờng phát triển theo chiều sâu “Đời Đờng chiến tranh xảy ra liên miên Chiến tranh đã phơi bày một cách rõ nét hơn mọi mâu thuẫn xã hội, cuộc sống điêu linh của dân chúng và trực tiếp ném nhiều nhà thơ vào vòng đói khổ Không phải ngẫu nhiên mà chiến tranh trở thành một trong những đề tài chủ yếu của thơ Đ-ờng, ngay trớc năm 1949 học giả Hồ Vân Dực đã viết cuốn “Thơ ca về chiến tranh đời Đờng” ”[12;97] Trong số các nhà thơ đó, Đỗ Phủ viết về cảm hứng chiến tranh một cách sâu sắc nhất Vãn Thiên Tờng- nhà thơ yêu nớc đời Tống- ngời anh hùng dân tộc Trung Quốc đọc thơ Đỗ Phủ trong tù đã phải thốt lên “Phàm cái gì tôi định nói thì Tử Mĩ đã thay tôi nói cả rồi”

Loạn An- Sử mở đầu thời loạn lạc đời Đờng, Đỗ Phủ bám sát hiện thực này và thể hiện nó trong những bài thơ tiêu biểu “Khơng thôn bắc chinh ,

Bi trân đào

“ ” với cảnh loạn li, chết chóc khốn khổ của nhân dân trong chiến tranh Đặc biệt chùm thơ “Tam lại , Tam biệt” “ ” đã phản ánh vấn đề trên hết

Trang 11

sức điển hình Bởi lẽ nó phản ánh vến đề nóng hổi của thời đại đồng thời thể hiện tâm sự trầm lắng u uất và cả mâu thuẫn trong t tởng nhà thơ.

Trong “Chiến thành nam” Lý Bạch dựng lại cảnh tàn phá của cuộc chiến tranh xâm lợc nhằm mở rộng bờ cõi biên cơng của giai cấp thống trị, phong kiến nhà Đờng, cảnh tợng nơi biên tái vô cùng bi thảm Xác chết ngập

đồng, ngựa mất chủ hí bi ai, quạ diều moi ruột ngời mắc lên cành cây khô héo, xác binh lính làm phân bón cỏ…

Xơng trắng chất thành núi gò Dân đen nào có tình gì ? ”Những cảnh điêu linh, ai oán nh thế còn trở đi trở lại rất nhiều trong thơ của Đỗ Phủ và nhiều nhà thơ đời Đờng khác

1.3.Thiên nhiên mang vẻ đẹp Đờng thi

Thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác văn chơng Thiên nhiên với vẻ đẹp nguyên sơ, thanh khiết, khoáng đạt của nó luôn là ng-

ời bạn tâm tình, nơi gửi gắm tâm sự tình cảm, nơi di dỡng tinh thần, nơi trú ngụ của tâm hồn thi nhân mỗi lúc u phiền, bất đắc chí trớc cuộc đời Hầu nhthi nhân nào cũng có bài viết về thiên nhiên bởi nói đến thiên nhiên là nói

đến một không gian kỳ vĩ, ở đó tâm hồn con ngời đợc thanh thản hơn Đây là hình ảnh thiên nhiên sống động và huyền ảo trong “Vọng L sơn bộc bố” của

Lý Bạch:

Nắng chói Hơng Lô khói tía bay

Xa trông dòng thác trớc sông này Nớc bay thẳng xuống ba nghìn thớc Tởng dải ngân hà tuột khỏi mây ”Nhà thơ đứng từ xa tầm mắt bao quát đợc toàn cảnh thiên nhiên hùng

vĩ trớc mắt Trí tởng tợng phong phú, sự khoa trơng của các hình ảnh trong bài thơ đã tạo nên bức tranh thiên nhiên hoành tráng Qua đó ta có thể thấy

Lý Bạch là một hồn thơ phóng khoáng, giàu rung động, có những cảm xúc mãnh liệt Cùng viết về thác nớc L Sơn, Từ Ngng cũng đã tả đợc độ cao, sự hùng vĩ của thác Thơ của Từ Ngng có âm thanh dòng thác mạnh mẽ: “ầm

Trang 12

ầm lao xuống sông cha bao giờ ngớt’ mà trong thơ Lý Bạch không có Nhng

nhìn toàn cục thì bức tranh thác nớc của Lý Bạch lung linh hơn Trong khi thác nớc của Từ Ngng không ảo, chỉ là thác mà thôi

ở bài “Phong Kiều dạ bạc” Trơng Kế lại đem đến cho ta một cảm giác

Nớc mất, còn sông núi Thành xuân, cảnh um tùm Biệt li, lòng chim hãi Cám cảnh, lệ hoa tuôn

Nh vậy, thiên nhiên là đề tài thờng thấy trong thơ văn cổ với nhiều dáng vẻ Nhiều bài thơ đề vịnh đã lu danh thiên cổ cùng với những danh lam thắng cảnh Đến Hoàng Hạc lâu là ngời ta nhớ ngay bài thơ cùng tên của Thôi Hiệu, trèo lên Thái Sơn là ngời ta nghĩ ngay tới “Vọng nhạc” của Đỗ

Phủ, tới Xích Bích là ngời ta nhớ đến bài từ điệu Niệm nô kiều của Tô Đông Pha…

1.4 Đề tài thân phận ngời phụ nữ trong thơ Đờng.

Vichto Huygô từng nói: “Bên cạnh thứ ánh sáng lung linh của các vì sao còn có thứ ánh sáng dịu hiền của ngời phụ nữ” Viết về ngời phụ nữ các nhà thơ thờng thể hiện sự nâng niu, trân trọng, niềm cảm thông với số phận của họ Đặc biệt trong thơ Đờng hình ảnh ngời phụ nữ trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi trớc nỗi niềm không biết tỏ cùng ai cuả những ngời cô phụ Chẳng hạn, hoàn cảnh của ngời chinh phụ trong bài “Ô dạ đề” thật đáng th-

ơng Nàng đang dệt vải bỗng nghe tiếng ai thì thầm bên song cửa, chạnh nhớ

đến cảnh mình tê tái trong lòng về nỗi cô đơn, nàng nức nở nghẹn ngào:

Trang 13

Dừng thoi buồn bã nhớ ai Phòng không khối chiếc giọt dài tuôn ma”

Sức tởng tợng của ngời thiếu phụ trong bài “Xuân tứ” thật phong phú:

Cỏ yên nh sợi tơ xanh Dâu tần xanh ngắt rủ cành sum suê Khi chàng tởng nhớ ngày về Chính là khi thiếp tái tê nỗi lòng Gió xuân ai biết chi cùng

Cớ sao len lỏi vào trong màn là?”

Nàng đau khổ vì sự ly biệt nhng vẫn tởng tợng ngời chồng cách xa vạn dặm vẫn thuỷ chung với nàng, vẫn hớng về nàng Nhng đến câu cuối thì có

sự oán trách rất ngây thơ và đáng yêu Cái gì vào màn the đánh thức nàng? Gió, không phải là chồng Cùng cảm xúc đó, ngời phụ nữ trong “Khuê oán”của Vơng Xơng Linh cũng có nỗi niềm ân hận vì đã để chồng ra đi chiến trận

chi) Đỗ Phủ lại thông cảm với nỗi lòng của ngời vợ mới lấy chồng đêm trớc, hôm sau chồng đã lên đờng:

“Cới chiều hôm, vắng sớm mai Duyên đâu lật đật cho ngời xót xa”

Những vần thơ trên không chỉ là tiếng nói xót thơng của những tấm lòng nhân đạo cao cả mà còn là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến đã đày

đọa con ngời vào nỗi đau khổ, sự bế tắc trong cuộc đời

Nh vậy đề tài phong phú và đa dạng đã làm nên diện mạo nội dung thơ

Đờng vừa có bề rộng vừa có chiều sâu và có giá trị hiện thực cao

2 Thể thơ, kết cấu, niêm luật

Thơ Đờng đợc sáng tác theo một bố cục, kết cấu niêm luật đặc trng

Nó đợc xem nh một khuôn mẫu và có ảnh hởng mạnh mẽ đến văn chơng đời sau cũng nh thơ cổ Việt Nam qua các giai đoạn Cuối thời Sơ Đờng ngời ta mới quy định luật thơ Đờng

Trang 14

2.1 Về thể thơ

Nếu tính theo số chữ trong dòng, thơ luật Đờng có thể là ngũ ngôn (tức một dòng 5 chữ ) có thể là thất ngôn (mỗi dòng 7 chữ)

Nếu tính theo số dòng thì có thể là tứ tuyệt (toàn bài 4dòng) trong đó

có loại ngũ ngôn và thất ngôn tứ tuyệt hoặc bát cú đợc xem là cơ bản nhất

2.2 Về niêm luật

Trong một bài thơ, các cặp câu 1 và 2, 3 và 4 làm thành một liên Trong một liên thì câu trên là xuất cú, câu dới là đối cú Đối của liên trên và xuất cú của liên dới phải niêm với nhau (niêm nghĩa là dính) nghĩa là tiếng thứ 2,4,6 phải cùng thanh bằng (hoặc cùng thanh trắc) Cùng một liên các tiếng 2,4,6 có thanh đối với nhau về bằng trắc

Luật: Là cách sắp xếp chữ bằng, trắc trong các dòng của một bài thơ theo quy định trớc cốt bảo đảm tính nhịp điệu của bài thơ Bài thơ nào mở

đầu bằng hai thanh bằng (thực tế chỉ căn cứ vào thanh thứ hai thuộc câu mở

đầu của bài thơ) là thơ luật bằng Bài thơ nào mở đầu bằng hai thanh trắc gọi

là thơ luật trắc “Nhất tam ngũ bất luận” cho thơ thất ngôn, “nhất tam bất luận” cho thơ ngũ ngôn nghĩa là trong một câu thơ thì tiếng thứ nhất, thứ ba, thứ năm có thể chuyển đổi bằng trắc

2.3 Về kết cấu

Theo Nguyễn Khắc Phi thì “trình tự khai, thừa, chuyển, hợp là cái khung chung mà ngời đời sau choàng lên cho thơ Đờng luật” [12;14] Các nhà thơ cũng nh các nhà phê bình đều đòi hỏi luật thi phải có kết cấu bố cục chặt chẽ nhng sự sắp xếp đó nh thế nào là do yêu cầu diễn đạt ý tứ quy định chứ không phải vấn đề thuần tuý hình thức Ngay từ đời Tống đã có ý kiến xuất sắc về phơng diện này Khi bàn về thơ Đỗ Phủ, Phạm Ôn nhận xét:

“Thơ luật của ngời xa có khi có lời lẽ nh không có thứ tự gì cả nhng lại nh chuỗi ngọc”

Nh vậy, khác với thơ tự do, thơ ca lãng mạn, thơ cách mạng, thơ Đờng luôn tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về bố cục, kết cấu niêm luật

Trang 15

Điều này có những hạn chế riêng trong khi phân tích cảm thụ nhng cũng làm nên vẻ đẹp rất riêng của thơ Đờng.

3 Ngôn ngữ và tứ thơ

Ngôn ngữ trong tác phẩm văn chơng là ngôn ngữ nghệ thuật Nếu nh ngôn ngữ kịch hàm súc mang tính khẩu ngữ có tính hành động hành, tính cách hoá nhiều khi có tính hành động hơn hành động còn ngôn ngữ thơ nhìn chung mang tính hình tợng, gợi cảm và hàm súc cao Trong đó ngôn ngữ thơ

Đờng là một trong những đỉnh cao của ngôn ngữ thơ ca nhân loại, có cách thể hiện riêng

Vốn từ sử dụng trong thơ Đờng không nhiều, hơn nữa thờng lại là những từ đơn giản phổ biến Ví dụ về động vật, thực vật, ta thấy chỉ xuất hiện một lợng từ hạn chế chỉ một số loài cây, con nhất định Nhng ngôn ngữ thơ

Đờng lại có khả năng diễn đạt vô cùng tinh tế và phong phú Sở dĩ đợc nh vậy trớc hết là nhờ công phu tinh luyện của các nhà thơ, làm sao để với một

số “mã” tối thiểu, có thể đem lại một lợng thông tin mới mẽ và tối đa Muốn làm đợc điều ấy, bên cạnh ngôn ngữ tinh luyện còn phải có tứ thơ độc đáo

“Học thơ Đờng, trớc hết là học tinh thần sáng tạo đó của các nhà thơ” [26;38]

Để xây dựng đợc những tứ thơ mới lạ đó, cũng nh làm nổi bật sự tơng

đồng hoặc đối lập giữa các sự vật, các trạng thái tình cảm, các nhà thơ Đờng thờng dựng lên các mối quan hệ (quan hệ xa và nay, mộng và thực, tiên và tục, sống và chết, vô cùng và hữu hạn, không gian và thời gian ) Các nhà thơ Đờng chủ trơng không nói hết “ý tại ngôn ngoại” ý ở ngoài lời, “ngôn tận nhi ý bất tận” lời hết mà ý cha hết, không trực tiếp nói ý mình Từ các mối quan hệ, độc giả có thể luận ra điều tác giả muốn gửi gắm Chẳng hạn khi b-

ớc vào thế giới nghệ thuật “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên ta thấy tác giả không nói “mừng xuân” mà nỗi mừng xuân cứ hiện ra trong tiếng chim rộn rã, không nói “tiếc xuân” mà nỗi tiếc nuối hiện ra trong câu hỏi không không đợi câu trả lời: “Hoa rụng nhiều hay ít” Thử đọc bài thơ một lần nữa

ta sẽ thấy rõ điều đó

Trang 16

Giấc xuân sáng chẳng biết Khắp nơi chim ríu rít Đêm nghe tiếng gió ma Hoa rụng nhiều hay ít”

Một trong những bút pháp nghệ thuật độc đáo của thơ Đờng còn phải

kể đến nghệ thuật chấm phá, bút pháp tả cảnh ngụ tình Bằng một vài đờng nét phác họa cũng dựng lên một bức tranh tuyệt đẹp, gửi gắm bao tâm sự thầm kín của tác giả Chẳng hạn hình ảnh “cô chu” trong bài “Thu hứng” của

Đỗ Phủ đã khắc họa hình ảnh con ngời lẻ loi trên chiếc thuyền nơi đất khách cùng với tình yêu quê hơng sâu nặng của mình

Trên đây là vài nét khái quát nhất về thơ Đờng, một thành tựu xuất sắc của thơ ca nhân loại Để hiểu đợc cặn kẽ giá trị của nó là cả một qúa trình không ngừng tìm tòi sáng tạo Thơ Đờng vốn uyên thâm nên ngời đọc, ngời học cũng phải có năng lực cảm xúc và những kỹ năng t duy nhất định mới thẩm thấu đợc giá trị sâu sắc của nó

IV Vị trí, vai trò của phần thơ Đờng

trong chơng trình SGK Ngữ Văn Trung học

1 Vị trí của phần thơ Đờng trong cấu trúc chơng trình SGK Ngữ văn Trung học.

Từ trớc đến nay, thơ Đờng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong

ch-ơng trình SGK Ngữ văn các cấp Mấy năm gần đây, chch-ơng trình SGK Ngữ văn đã có nhiều đổi mới Một trong những thay đổi quan trọng của chơng trình phần Văn là sự gia tăng tỉ trọng giữa Văn học Nớc ngoài và Văn học Việt Nam trong tổng thời lợng dành cho phần Văn học Trong số đó, thơ Đ-ờng so với các thành tựu Năn học Nớc ngoài khác cũng đợc dành nhiều thời gian hơn

Thơ Đờng đợc dạy ở lớp 7 và lớp 10 gồm 9 tác giả: Lý Bạch, Hạ Tri Chơng, Đỗ Phủ, Trơng Kế, Vơng Xơng Linh, Thôi Hiệu, Mạnh Hạo Nhiên, Vơng Duy, Bạch C Dị Tác phẩm của Lý Bạch và Đỗ Phủ đợc học nhiều

Trang 17

nhất, điều này cũng hợp lý Cả hai nhà thơ đều là những gơng mặt tiêu biểu trong lịch sử Văn học Trung Quốc ở đời Đờng.

Thơ Đờng có mối liên hệ mật thiết với Văn học Việt Nam Thơ Đờng

đã cung cấp cho các nhà thơ Việt Nam những chất liệu sống động, những gợi

ý qúy báu về nhiều phơng diện nh: chọn đề tài, thể thơ, xây dựng hình ảnh, cấu tạo tứ thơ, sử dụng ngôn ngữ Truyền thống hiện thực và nhân đạo của thơ Đờng đã tác động tích cực và mạnh mẽ tới các sáng tác của các nhà thơ qua nhiều giai đoạn Trong thực tế, phần thơ Việt Nam đợc học ở bậc phổ thông, các bài thơ đợc sáng tác theo thể Đờng luật chiếm tỷ lệ cao

1.1 Chơng trình SGK Ngữ văn bậc THCS ( chủ yếu lớp 7 )

- “Vọng L sơn bộc bố”- Lý Bạch 1 tiết

- “Tĩnh dạ tứ”- Lý Bạch 1 tiết

- “Hồi hơng ngẫu th”- Hạ Tri chơng 1 tiết

- “Mao ốc vị thu sở phá ca”-Đỗ Phủ 1 tiết

- “Phong Kiều dạ bạc”- Trơng Kế 1 tiết

- Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng“ ”-Lý Bạch 1 tiết

- “Khuê oán”- Vơng Xơng Linh 1 tiết

- “Hoàng Hạc lâu”-Thôi Hiệu 1 tiết

Đọc thêm bắt buộc ( 2 tiết )

Trang 18

- “Xuân hiểu”-Mạnh Hạo Nhiên

- “Thu hứng”- Đỗ Phủ

- “Tì bà hành”- Bạch C Dị

Các bài đợc chọn giảng ở trên chủ yếu là thơ cận thể (luật thi và tuyệt cú) hoàn toàn tơng ứng với thực tế Song điều đáng lu ý là, trong số đó có tới

8 bài tuyệt cú-thể thơ ngắn nhất của Trung Quốc- chiếm u thế nhiều hơn

Điều này có phần phù hợp với hứng thú, tâm lý tiếp nhận của con ngời hiện

đại, nhng mặt khác cũng cho thấy sức sống của thể thơ tuyệt cú

2 Khả năng, tác dụng giáo dục của thơ Đờng ở trờng trung học.

Văn học là tấm gơng phản ánh của cuộc sống và thể hiện gửi gắm những nỗi niềm thầm kín của nghệ sĩ tới bạn đọc Văn học có những khả năng diệu kỳ mà các bộ môn khác không có Văn học đến với ngời đọc bằng con đờng tình cảm Mỗi tác phẩm văn học là một sự khám phá về những vấn

đề xã hội và con ngời trong những thời đại nhất định Các tác phẩm thơ Đờng cũng không nằm ngoài quy luật đó

2.1 Khả năng cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về một thời đại huy hoàng trong lịch sử thơ ca nhân loại.

Tác phẩm văn học thể hiện kết quả của quá trình nhà văn quan sát, nghiền ngẫm về những vấn đề xã hội và thông thờng là những vấn đề đang diễn ra trong xã hội mà họ đang sống Do đó các tác phẩm thơ Đờng giúp

Trang 19

cho ngời đọc, ngời học có hiểu biết cơ bản về một thời đại huy hoàng trong lịch sử thơ ca nhân loại

Trớc hết là những hiểu biết lịch sử đời Đờng qua thơ Đờng Văn học bắt nguồn từ cuộc sống và theo lẽ tất nhiên hoàn cảnh xã hội lịch sử sẽ đợc phản ánh qua các tác phẩm Thơ Đờng tồn tại trong thời gian dài (618-907)

là giai đoạn phồn vinh song cũng có những biến động của nó Sự biến động

đó đợc in dấu khá rõ trong sáng tác của các nhà thơ Chẳng hạn, sự biến An Lộc Sơn - Sử T Minh (755-763 ) Đất nớc Trung Quốc chìm ngập liên miên trong cảnh loạn li Những vần thơ của Đỗ Phủ đã nêu lên mâu thuẫn giai cấp sâu sắc nhất trong xã hội:

Cửa son rợu thịt để ôi

Có thằng chết rũ xơng phơi ngoài đờng

Sớng khổ cách gang tấc trời vực Nói bao nhiêu cơ cực bấy nhiêu”

Và ông đã kết thúc bài “Binh xa hành” bằng mấy câu gợi cảm phác về thảm họa mà nhân dân phải chịu:

ơng Quýnh, S Chiếu Lân) Thơ của họ một mặt thể hiện hào khí của những ngời mang chí lớn, mặt khác lại thể hiện sự bất mãn của họ đợc sự đồng cảm

Trang 20

của ngời đọc Thịnh Đờng là giai đoạn phồn thịnh nhất của thơ Đờng Thơ Thịnh Đờng đã đạt đến sự thống nhất hài hoà giữa nội dung và hình thức Hai khuynh hớng chính đều đợc khẳng định ở thời Thịnh Đờng: khuynh hớng lãng mạn tích cực và khuynh hớng hiện thực sâu sắc Tinh thần này đợc các nhà thơ thời Trung và Vãn Đờng tiếp tục phát triển nhng nội dung thơ ca của

họ thờng có tính chất bi trầm, thể hiện nỗi bi quan thất vọng trớc buổi hoàng hôn của triều đại

Thứ ba, các tác phẩm thơ Đờng còn cung cấp những hiểu biết về tác giả xuất sắc trong lịch sử thơ ca nhân loại Có thể nói cha có thời đại nào mà

có nhiều đỉnh cao đến nh vậy: Lý Bạch (701 - 762), Đỗ Phủ (712- 770),

V-ơng Duy (701- 761), Bạch C Dị (772 - 846) Và thơ lãng mạn Trung Quốc phát triển lên đến đỉnh cao ở “thi tiên” Lý Bạch Nhà thơ Đỗ Phủ thì sáng tạo nên những vần thơ giàu giá trị hiện thực bởi một tấm lòng chan chứa tinh thần nhân đạo cao cả

Thứ t, học tập thơ Đờng sẽ cung cấp cho các em hiểu biết về những kiệt tác còn mãi với thời gian nh “Hoàng Hạc lâu” (Thôi Hiệu), “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” (Lý Bạch), “Đêm hoa trăng trên sông xuân” (Trơng Nhợc H), “Phong kiều dạ bạc” (Trơng Kế), “Khuê oán” (Vơng Xơng Linh)

Nh vậy, dạy học các tác phẩm thơ Đờng có khả năng cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về một thời đại huy hoàng trong lịch sử thơ ca nhân loại Đây cũng là những hành trang sống giúp các em mở mang kiến thức và hiểu biết về văn học nói chung, về một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại nói riêng

2.2 Bồi dỡng cho Học sinh tình yêu thiên nhiên, niềm tin vào cuộc sống.

Tác phẩm văn chơng không chỉ có khả năng phản ánh, thể hiện mà còn có khả năng thức tỉnh kỳ diệu tâm hồn con ngời Trong nhận thức đã có giáo dục, trong tri thức đã có t tởng, trong hiểu biết đã có hành động Văn chơng là chuyện tâm hồn Các tác phẩm viết về thiên nhiên chiếm số lợng khá nhiều trong thơ Đờng Từ những vần thơ ấy, thiên nhiên trở nên gần gũi

Trang 21

gieo vào lòng ngời tình yêu thơng gắn bó Cũng nh thế, t tởng của các nhà thơ cũng đợc bộc bạch; ngời đọc, ngời học đợc tiếp nguồn sức mạnh mới từ văn chơng Ví dụ, đọc bài “Tơng tiến tửu” của Lý Bạch và soi rọi vào cuộc

đời ông, có khát vọng "phò đời giúp nớc” mà không thành ta sẽ thấy yêu mến tâm hồn ông biết nhờng nào Nhất là ngời xa luôn thể hiện cái “chí” trong suy nghĩ và hành động, ở đây Lý Bạch cũng vậy Bài thơ đặc biệt bởi

nó không đơn thuần nói về chuyện uống rợu mà thực ra nó còn đề cập đến một vấn đề lớn của nhân sinh Tác giả khẳng định đầy tin tởng vào tài năng của mình:

Trời sinh ra ta, đã có tài thì ắt phải có chỗ dùng

Còn nghìn vàng kia có tiêu tan hết rồi cũng sẽ trở về”

Một tâm hồn lạc quan đầy tin tởng, đầy ý chí và nghị lực hớng theo cánh đại bàng tới đại dơng mênh mông:

Đại bàng một lúc lên theo gió Chín vạn dặm cao vút tầng mây Dẫu khi gió ngừng sa xuống đất Chân còn lê tới tận biển khơi”

Nh vậy, qua thơ Đờng có thể dạy cho học sinh biết yêu cuộc sống có niềm tin vào cuộc sống Điều này rất cần thiết đối với thế hệ trẻ - những chủ nhân tơng lai của đất nớc

2.3 Khả năng giáo dục học sinh biết sống gắn bó với nhân dân, biết chia sẻ đồng cảm với những số phận đau khổ.

Không giống nh những áp đặt của pháp luật quy định con ngời phải có thái độ nh thế nào với cuộc sống xung quanh cho đúng mực Văn học giáo dục con ngời theo cách tự họ chiếm lĩnh lấy những cách sống, tình cảm của mình khi tiếp cận với tâm hồn của nhà thơ gửi gắm qua tác phẩm ở bài

“Hựu trình Ngô Lang” Đỗ Phủ giáo dục cho học sinh biết đồng cảm với số phận của bà hàng xóm (không có ăn, không có con cái) Đỗ Phủ sau khi rời

Trang 22

đi nơi khác nhờng nhà lại cho Ngô Lang, sợ Ngô Lang không thông cảm với ngời đàn bà goá ông làm bài thơ gửi lại:

Thờng sang vặt trộm táo ngoài sân.

Bà ấy không con chẳng có ăn Chẳng bởi quá nghèo đâu đến thế Để cho khỏi sợ phải làm thân

Dè chừng chú mới lo xa quá

Rấp lại rào tha sợ hiểu lầm

Từ bảo xác xơ vì thuế má

Nghĩ cơn khói lửa lệ đầm khăn ”Chỉ có Đỗ Phủ mới có một tấm lòng thơng ngời bao la đến thế, mới hiểu đời, hiểu ngời Chí nghĩa chí nhân đến thế mới không buộc tội ngời dân nghèo trộm táo mà phê phán chế độ nghiêm khắc đến thế Vậy, học thơ Đỗ Phủ nói riêng, thơ Đờng nói chung học sinh biết thông cảm sẻ chia với nỗi niềm tâm sự của ngời phụ nữ trong cảnh chờ chồng nơi chiến trận, cảnh ngời lính nơi biên ải Từ đó học sinh cảm thấy cần sống chan hoà yêu thơng hơn với mọi ngời, biết trân trọng những tình cảm mà mình đang có

2.4 Khả năng rèn luyện năng lực t duy sáng tạo cho học sinh

Thơ Đờng vốn hàm súc, cô đọng và thờng dùng điển tích điển cổ Muốn hiểu đợc nội dung t tởng mà nhà thơ gửi gắm phải giải mã, cắt nghĩa hàng rào ngôn từ đó Vì thông thờng các nhà thơ không bao giờ nói hết những ý nghĩ của mình Đây là điều kiện để t duy sáng tạo của ngời học đợc bộc lộ, phát triển Hơn nữa, mỗi tác phẩm văn học, mỗi sáng tác là một cách nhìn đời, cách đánh giá, thể hiện một lối t duy riêng của mỗi tác giả Để cho tác phẩm có chỗ đứng riêng trong lòng học sinh, dạy học thơ Đờng phải h-ớng học sinh tìm ra nét độc đáo riêng của mỗi tác giả, tác phẩm Điều này chỉ có đợc khi dạy học sinh biết t duy độc lập sáng tạo

Mặt khác, đặc trng cơ bản của thơ Đờng là tạo lập nên những mối quan hệ Đây cũng là cơ hội tốt để giáo viên có cách thức tổ chức giờ học, từng bớc kích thích trí tởng tợng, liên tởng phong phú của học sinh trong qúa

Trang 23

trình phân tích cảm thụ giá trị sâu sắc của tác phẩm Chẳng hạn, “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu có sự phá cách sáng tạo ở câu 1, câu 3, câu 4 để nói lên

sự chiêm nghiệm về lẽ hng phế cuộc đời, từ đó ngậm ngùi cho sự hữu hạn của đời ngời Có thể nêu vấn đề : “Theo em sự phá cách trong bài thơ có làm mất đi giá trị của nó không?” Để giải quyết vấn đề này học sinh phải thực hiện các thao tác giải thích, cắt nghĩa, đánh giá, so sánh t duy sáng tạo sẽ

có điều kiện bộc lộ và phát triển

Nh vậy, khả năng giáo dục của thơ Đờng là rất lớn Nó không chỉ cung cấp kiến thức cần thiết cho học sinh mà còn hớng tới tạo điều kiện cho việc rèn luyện những kỹ năng cảm thụ văn học cần thiết cho học sinh Do đó dạy học thơ Đờng phải chú ý khai thác tối đa tác dụng của nó góp phần nâng cao chất lợng giáo dục đào tạo của nhà trờng phổ thông

V Thực trạng dạy học thơ Đờng ở trờng

Trung học hiện nay:

Qua khảo sát thực trạng dạy học thơ Đờng ở một số trờng phổ thông bậc Trung học trong tỉnh, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề sau:

1 Giáo viên không thích dạy, học sinh không thích học do hàng rào ngôn ngữ khó hiểu.

Để nắm bắt đợc thực trạng hứng thú dạy - học thơ Đờng chúng tôi đã

điều tra phỏng vấn hơn 1.000 GV và HS THCS và THPT huyện Quảng Xơng

và Thành phố Thanh Hoá Về giáo viên, trong số trên 30 giáo viên đợc phỏng vấn có tới 70% giáo viên trả lời thực sự không thích dạy thơ Đờng, 30% giáo viên còn lại thích dạy nhng chỉ với một số tác phẩm nhất định Về phía học sinh trong số gần 1.000 em đợc khảo sát có đến 75% em trả lời không có hứng thú trong giờ học thơ Đờng Chúng tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra, đề nh sau: “Em hãy phân tích bài thơ Thu hứng” của Đỗ Phủ Kết quả bài

làm rất thấp: điểm dới 5: 30%; Trung bình: 50%; Khá: 18%; Giỏi: 2% Kiến thức về thơ Đờng rất mơ hồ nhiều sự nhầm lẫn ngây ngô Chẳng hạn: “Hàn y

xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm” của Đỗ Phủ học sinh

Trang 24

nhầm là Bạch C Dị, “thi tiên” Lý Bạch học sinh nhầm Vơng Duy Nh vậy, kiến thức cơ bản các em cha nắm đợc thì cha thể nói gì nhiều đến chất lợng cảm thụ, hứng thú khi dạy học thơ Đờng.

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là bởi hàng rào ngôn ngữ Hán xa lạ, khó hiểu với bản thân ngời dạy và học Ngôn ngữ thơ Đờng quá súc tích, tứ thơ độc đáo nhng dung lợng ngắn, sử dụng nhiều điển tích điển

cố nên học sinh khó tiếp cận Trong khi đó Thơ Mới là ngôn ngữ dễ hiểu, học sinh dễ phân tích, cảm thụ hơn Ngoài ra lý luận về các phơng pháp, biện pháp cụ thể trong dạy học thơ Đờng, cha có nhiều thành tựu nhằm hạn chế bớt những khó khăn của giáo viên trong qúa trình dạy học thơ Đờng Ưu

điểm của phơng pháp dạy học phải đợc kiểm nghiệm bằng thực tế hiệu quả của bài dạy Thơ Đờng vốn có những đặc trng riêng mà khi dạy giáo viên phải có kiến thức lý luận về thơ Đờng; nắm vững nguyên tắc, biện pháp dạy học thơ Đờng “phải tĩnh tâm, đặt mình vào trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới cảm nhận đợc những điều mà thi nhân muốn gửi gắm”[6;18]

Về dạy học Văn học nớc ngoài (VHNN), Tiến sĩ Vũ Quốc Anh nhận xét : “Chơng trình VHNN đợc giảng dạy trong trờng PTTH là khá phong phú, đa dạng và sang trọng Nhng để chuyển tải những giá trị của các tác phẩm ấy đến học sinh lại có vô vàn những khó khăn Trớc hết đó là những tác phẩm dịch, kể cả những bản dịch có chất lợng dịch thuật tốt nhất cũng không thể lột tả hết những t tởng và phong cách nghệ thuật của tác giả cũng

nh những đặc sắc rất riêng của từng nền văn học, từng ngôn ngữ văn học” [21; 249]

Tác giả bài viết còn khẳng định ngời nghiên cứu và viết bài giảng cho các tác phẩm VHNN thì nhiều, mỗi ngời chỉ có thể hiểu sâu một nền văn học, thậm chí một dòng haymột tác giả Trong khi để chuyển tải đến học sinh thì chỉ có một ngời thầy cho một cấp học Làm sao một ngời thầy có thể thông thạo ngọn nguồn của hàng chục tác gia thuộc hàng chục nền văn học khác nhau trên thế giới? ý kiến của Tiến sĩ Vũ Quốc Anh phần nào giúp

Trang 25

chúng ta nhận thấy cái nhọc nhằn khó khăn của giáo viên dạy Văn đặc biệt dạy VHNN ở trờng PTTH.

2 Không khí trầm buồn, thiếu sự giao cảm đồng điệu giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh và nhà văn.

2.1 Biểu hiện:

Một giờ học có hiệu quả khi giáo viên và học sinh có mối giao cảm, cùng mong muốn giải mã lớp ngôn từ tác phẩm Qua khảo sát hàng chục tiết dạy và trực tiếp giảng dạy một số tác phẩm thơ Đờng ở trờng phổ thông chúng tôi nhận thấy một thực trạng nổi bật là giờ học ít có mối giao cảm thực

sự giữa ba chủ thể giáo viên, học sinh và nhà văn Những tâm sự sâu kín, những ý chí tình tứ mà nhà nghệ sĩ đã âm thầm gửi gắm với tất cả cảm xúc mãnh liệt dờng nh chẳng khơi gợi đợc ở học sinh, sự xúc động đáng kể nào Câu hỏi của giáo viên đa ra thờng chìm trong im lặng, nếu có trả lời thì cũng mắc vào những cái sai rất sơ đẳng Chẳng hạn, khi giảng bình đến nghệ thuật

đối trong câu thơ:

Lng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa”

(“Thu hứng” - Đỗ Phủ)

Giáo viên hỏi: “Theo em tín hiệu nghệ thuật mà tác giả sử dụng ở đây

là gì ?” Phần lớn học sinh cho đây là nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ, một số em không biết Giữa giáo viên và học sinh không có sự đồng điệu trong cảm xúc Học sinh ít có nhu cầu tìm hiểu đời sống riêng t của nhà văn nhà thơ nên khi tiếp cận tác phẩm, những tâm sự sâu kín đợc gửi gắm trong cấu tứ, hình ảnh không làm rung động học sinh

2.2 Nguyên nhân:

Thơ Đờng cách xa chúng ta cả về không gian, thời gian và phơng thức

t duy nghệ thuật Về không gian, thơ Đờng gắn liền với phong tục xứ sở, tập quán sinh hoạt Trung Hoa Môi trờng văn hoá ở hai nớc khác nhau Một khi học sinh không có vốn hiểu biết về đặc trng xứ sở đó sẽ khó đồng cảm với những gì nhà văn, nhà thơ trăn trở, gửi gắm qua tác phẩm Về thời gian, thơ

Trang 26

Đờng tồn tại cách chúng ta hàng nghìn năm Trong khoảng thời gian đó mọi thứ đều biến đổi Điều này có thể là đúng, là hay, là có ý nghĩa với đơng thời nhng cha hẳn đã có ý nghĩa và hấp dẫn con ngời hiện đại Do đó sự thiếu giao cảm đồng điệu giữa học sinh và nhà văn là điều không thể tránh khỏi nếu giáo viên không giỏi về kiến thức và không có tài năng s phạm.

Quan điểm thẩm mĩ ở mỗi thời đại khác nhau cũng là lý do để các em không thích thơ Đờng Có những tiêu chí thời Đờng quan niệm là hay là đẹp nhng thời nay lại không Mỗi thời có tiêu chuẩn thẩm mĩ riêng Chính khoảng cách đó khiến ba chủ thể giáo viên - học sinh - nhà văn khó xác lập

đợc một mối giao hoà cảm xúc nếu giáo viên không giúp học sinh vận dụng quan điểm lịch sử vào việc cảm thụ tác phẩm Mặt khác, để có thể cảm thụ t tởng kín đáo, ý tứ thâm trầm trong thơ Đờng; ngời đọc, ngời học phải thực sự tĩnh tâm, kết hợp đọc với suy ngẫm, chiêm nghiệm Nhng yêu cầu này đối với lứa tuổi học sinh phổ thông vốn thích sôi nổi, hiếu động, cảm tính là một yêu cầu khá khó khăn

Một nguyên nhân nữa khiến cho ngời dạy học trầm buồn là do giáo viên khởi động giờ học cha tốt Cách vào đề ở một số giờ học còn rời rạc, khô cứng thiếu màu sắc văn chơng, không tạo đợc tâm lý tiếp nhận tốt cho học sinh Ví dụ, khi dạy: “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu, giáo viên chỉ giới

thiệu sơ sài về tác giả nh một thao tác chiếu lệ cha tạo nên sự tò mò hứng thú của học sinh Với bài này có thể vào bài bằng cách dẫn dắt: “Nếu kể tên các tác giả tiêu biểu nhất đời Đờng có lẽ không có Thôi Hiệu, nhng nếu kể tên những bài thơ hay nhất đời Đờng thì chắc chắn sẽ có “Hoàng Hạc lâu” Vậy

điều gì đã khiến cho bài thơ trở thành một trong những kiệt tác của thơ cổ Trung Quốc? Bài học hôm nay sẽ giúp các em lý giải đợc điều đó” Nh vậy

từ đầu giáo viên đã có thể tạo cho học sinh một tâm thế đặc biệt, sẵn sàng đi vào thế giới nghệ thuật của bài thơ để lý giải đợc câu hỏi mà giáo viên nêu

ra Nếu mở đề thiếu sự “thách thức”, “lôi cuốn”, thiếu sức gợi, học sinh sẽ không khỏi tỏ ra chán chờng, mệt mỏi

Trang 27

Nh vậy khoảng cách thời gian, không gian, quan niệm thẩm mĩ cũng

nh cách vào đề cha lôi cuốn của giáo viên là nguyên nhân dẫn tới không khí giờ học trầm buồn, thiếu sự giao cảm của ba yếu tố cơ bản trong qúa trình dạy học Văn

3 Tâm lý thực dụng trong dạy học thơ Đờng:

Thơ Đờng đợc học ở lớp 7 và lớp 10 không nằm trong nội dung thi tốt nghiệp, thi Đại học, Cao đẳng Điều này lý giải vì sao dạy học thơ Đờng ở trờng phổ thông có tính thực dụng rõ rệt Học sinh học chỉ để đối phó tạm thời, soạn bài và trả lời câu hỏi dựa và sách “Để học tốt văn”, thi kiểm tra để

đủ điểm lên lớp, khi làm bài hoặc là sao chép tài liệu hoặc là suy diễn tùy tiện và chép thơ sai khá phổ biến Ví dụ, hai câu thơ cuối trong bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ có em viết:

Lạnh lùng giục kẻ tay dao thớc Thành Bạch, chày vang ác tà ma”

Việc học tập thơ Đờng không bắt nguồn từ động cơ đúng đắn là làm tăng thêm vốn hiểu biết, kiến thức về con ngời và văn hoá Trung Hoa - một thời phồn vinh, do đó kiến thức về thơ Đờng nhìn chung không lu lại lâu trong bộ nhớ của học sinh, học xong “chữ thầy lại trả cho thầy” Tâm lý thực dụng trong dạy học thơ Đờng chính là “tâm lý học gì thi nấy” Học sinh ngày càng “bỏ rơi” thơ Đờng nói riêng, VHNN nói chung để thi Đại học, Cao

đẳng Học sinh khối C cũng chỉ tập trung vào phần Văn học Hiện đại Nhất

là trong xu thế hiện nay tỷ lệ học sinh đăng ký thi khối C giảm hẳn thì thơ ờng cũng có vai trò rất mờ nhạt trong suy nghĩ của học sinh ngày nay

Đ-Học sinh đã vậy, giáo viên cũng không chú ý đúng mức tới phần thơ

Đờng, không tâm huyết nh các phần thơ khác Thi học sinh giỏi thì đề ra chủ yếu ở mảng thơ văn Việt Nam, đặc biệt là thơ văn hiện đại nên thơ Đờng không nằm trong động cơ học thi của học sinh, ít khơi gợi hứng thú thẩm mĩ cho học sinh, học sinh học nh một nghĩa vụ bắt buộc

Một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng là do tác động mặt trái kinh tế thị trờng tới tâm lý của ngời dạy, ngời học.Bên cạnh những

Trang 28

tác động tích cực của xã hội ngày nay nh trình độ học vấn đợc nâng cao, nhu cầu thởng thức các giá trị văn hoá tăng cao, thì cũng có những tác động tới tâm lý con ngời theo chiều hớng thực dụng, vật chất hoá Việc học tập với đa

số học sinh đều nhằm mục đích thi vào những ngành nghề có thể đảm bảo cuộc sống vật chất đầy đủ cho tơng lai, khối C giảm hẳn kéo theo sự giảm sút hứng thú đối với môn Văn

Các em có nhu cầu học vào vùng kiến thức để thi cử và giáo viên khi dạy cũng đáp ứng nhu cầu đó của học sinh Học sinh cho rằng học thơ Đờng chẳng giúp ích gì cho cuộc sống sau này thì tốt nhất nên dành thời gian để học những môn khác, những phần có lợi ích thực tế hơn Đây là một xu hớng khó cỡng lại, chính vì thế mà thơ Đờng dần rơi vào sự quên lãng của học sinh Qua phiếu điều tra mà chúng tôi thu nhận đợc, có tới hơn 80% số học sinh đã học qua thơ Đờng mà không có kiến thức về thơ Đờng Chẳng hạn, câu hỏi trắc nghiệm là: “Tác phẩm “Tĩnh dạ tứ ” là của ai trong số các tác giả sau: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị, Vơng Duy” Đa số các em trả lời sai trong khi tác phẩm này đã học ở lớp 7 mà đối tợng học sinh đợc khảo sát là lớp 10

Cuộc sống hiện đại bên ngoài xã hội ít nhiều cũng tác động tới tâm lý ngời dạy Nhịp sống bận rộn hàng ngày cùng với nhiều lý do khác khiến giáo viên ít có hứng thú và điều kiện để tìm hiểu thêm thơ Đờng Để hiểu thấu đáo thơ Đờng không thể chỉ dựa vào SGK, SGV mà phải mất nhiều thời gian, công sức nghiên cứu tài liệu tham khảo Thế nhng thời gian dành cho việc này không nhiều

Tâm lý của ngời dạy và ngời học có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự thiếu nhiệt tình của giáo viên sẽ khó làm học sinh say mê thơ Đờng Ngợc lại tâm lý thực dụng trong việc học tập của học sinh sẽ dẫn tới sự thiếu hứng thú

đối với ngời dạy bởi học sinh coi trọng giờ học, chú ý lắng nghe là nguồn

động viên rất lớn đối với giáo viên ở trên lớp

4 Giáo viên ham phân tích tỉ mỉ câu chữ, phân phối thời gian cho bài dạy thiếu hợp lý.

Trang 29

Chúng ta đã nói, ngôn ngữ thơ Đờng rất hàm súc, thông thờng mỗi bài thơ có những vẻ đẹp riêng từ ngôn từ, tứ thơ cho đến hình ảnh, tâm trạng, cảm xúc Tuy nhiên thời lợng dành cho mỗi bài là rất ít Để giảng giải cặn kẽ

đòi hỏi phải có thời gian nhiều trong khi đó quỹ thời gian cho phép trong phân phối chơng trình thờng rất hạn chế Chẳng hạn mỗi bài: “Tĩnh dạ tứ ,

Vọng L

Trong một tiết đó giáo viên và học sinh phải đi qua các bớc: đọc nguyên tác,

đọc bản dịch nghĩa, bản dịch thơ, giải thích từ khó, điển tích điển cố, tìm hiểu bố cục, kết cấu rồi mới phân tích tác phẩm, củng cố kiến thức Trong một tiết với đối tợng học sinh lớp 7 mà phải trải qua các bớc nh vậy với một

đối tợng văn bản nh thơ Đờng là một thử thách vô cùng khó khăn Do vậy, không thể giữ thói quen diễn giảng tỉ mỉ, tham kiến thức đầy đủ, chi tiết nhlối dạy thuyết trình độc tôn trớc đây

Trong thực tế, ngời giáo viên luôn có tâm lý muốn nói hết những điều mình biết, mình hiểu nên dẫn đến tình trạng ôm đồm kiến thức, “cháy giáo

án” rồi chắp vá “chạy” cho nhanh để đảm bảo kết thúc bài trọn vẹn Lại có nhiều giờ giảng, phần giới thiệu tác giả, tác phẩm GV không mấy chú trọng

mà đi thẳng vào phần phân tích, trong khi những hiểu biết về tác giả tác phẩm là rất quan trọng cho việc lý giải, cắt nghĩa tác phẩm Tác phẩm khó, quỹ thời gian ít buộc giáo viên phải biết chọn lọc những yếu tố chi tiết đặc sắc, cơ bản trong quá trình dạy học Ví dụ khi dạy “Vọng L Sơn bộc bố” của

Lý Bạch nên chọn lọc một số từ, hình ảnh là điểm sáng thẩm mĩ của bài thơ

nh các động từ : “sinh”, “quải”, “dao khan”, “phi lu”, hình ảnh nớc bay thẳng xuống ba ngàn thớc, dải ngân hà tuột khỏi mây

Giải thích tình trạng “cháy giáo án” trong dạy học thơ Đờng một số giáo viên cho rằng: phân phối thời gian trong chơng trình là không hợp lý

Điều này là có cơ sở nhng vấn đề này chúng ta sẽ bàn tới sau Chỉ biết rằng, chơng trình là pháp lệnh Khi chơng trình đã phân phối trong một tiết chẳng hạn thì buộc phải chọn lọc những đơn vị kiến thức thật cơ bản, khái quát và

đặc sắc để dạy đúng trong một tiết Một giờ giảng hay, có hệ thống có khi

Trang 30

chỉ cần dừng lại ở “nhãn tự” ở thủ pháp nghệ thuật đặc sắc là ra đợc cái hồn của bài thơ Để khắc phục tình trạng “cháy giáo án”, việc tính toán cân đối dung lợng thời gian phù hợp với nội dung từng phần và đặc điểm tâm lý của học sinh là một yêu cầu có tính nguyên tắc và cần thiết.

Trên đây là một số thực trạng phổ biến mà chúng tôi đã rút ra đợc qua thực tế khảo sát ở trờng phổ thông Thực tế này càng khẳng định sự cần thiết phải giải đáp câu hỏi: Phơng pháp, biện pháp nào hạn chế những khó khăn trong dạy học thơ Đờng giúp cho việc dạy học phần thơ này trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn đối với cả giáo viên và học sinh?

Trang 31

Chơng II Một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học các tác phẩm thơ Đờng ở trờng trung học.

Dạy học tác phẩm văn chơng muốn đạt hiệu quả chất lợng phải tuân thủ những nguyên tắc, phơng pháp, biện pháp nhất định Dạy học thơ Đờng cũng nh các tác phẩm khác cần tuân thủ tất cả các nguyên tắc, phơng pháp chung trong dạy học Văn Tuy nhiên nó có đặc trng nghệ thuật riêng nên khi dạy học các tác phẩm thơ Đờng cũng có cách thức tổ chức đặc thù riêng Sau

đây là một số biện pháp nâng cao chất lợng dạy học các tác phẩm thơ Đờng ở trờng Trung học

I Xuất phát từ nguyên tác và thờng xuyên đối chiếu nguyên tác trong qúa trình dạy học thơ Đờng

Nguyên tác là biểu hiện trực tiếp nhất của t tởng và những nỗi niềm thầm kín của tác giả Chúng ta chỉ có thể hiểu đúng, hiểu đủ và hiểu sâu sắc tác phẩm khi xuất phát và trung thành với nguyên tác trong qúa trình phân tích Dẫu có nhiều bản dịch thơ hay nhng không hẳn nó đã lột tả đợc hết những điều tác giả gửi gắm trong đó

Đặc điểm của cảm thụ văn chơng là mang tính chủ quan sâu sắc mà tác phẩm văn chơng có giá trị thờng đa nghĩa có tính “mở” Có những tác phẩm ở mỗi thời đại khác nhau lại có thêm những giá trị, ý nghĩa mới Song không phải ngời đọc có quyền tự do vô hạn trong tiếp nhận Bám sát nguyên bản ta sẽ tránh đợc sự suy diễn tuỳ tiện So sánh đối chiếu nguyên bản với bản dịch thơ có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp chúng ta hiểu đúng, hiểu sâu giá trị tác phẩm, t tởng tình cảm của tác giả Hơn nữa ở một góc độ nhất

định, khả năng t duy của học sinh cũng đợc phát triển Chẳng hạn ở hai câu

đầu:

Bạn từ lầu Hạc lên đờng Giữa mùa hoa khói Châu Dơng xuôi dòng

Trang 32

(“Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” Lý Bạch).

Trong bản dịch thơ Ngô Tất Tố dùng chữ “bạn” để dịch từ “cố nhân”

là đúng nhng cha đủ, cha lột hết thần thái của “cố nhân” Trong thơ từ “cố nhân” (bạn cũ) bao giờ cũng hàm nghĩa rất thiết tha Từ “cố” trong thơ Đờng rất hay đợc sử dụng (cố hơng, cố quốc, cố viên tâm ) nh gợi về cái đã qua, cái quá khứ níu giữ bền chặt với tâm hồn mỗi ngời Lý Bạch chia tay với Mạnh Hạo Nhiên là chia tay với một ngời bạn Nhng có điều gì không bình thờng ở đây? “Cố nhân” vừa hàm nghĩa là bạn cũ lại vừa chỉ ngời bạn tâm giao, bạn tri âm tri kỷ, là ngời bạn hiểu mình hơn ai hết Còn từ “bạn” chỉ mang nét nghĩa bình thờng Từ “cố nhân” còn gợi nỗi lòng của Lý Bạch dờng

nh đang chia tay với chốn đi - về của lòng mình Từ việc đối chiếu bản dịch với nguyên tác chúng ta có thể giúp cho học sinh cảm nhận đợc cái hay của nguyên tác cũng nh bản dịch thông qua một số câu hỏi nh: “Theo em bản dịch đã lột tả hết ý nghĩa của nguyên tác cha ? Hoặc có thể dùng câu hỏi gợi mở: “Đối chiếu với bản dịch thì em thấy bản dịch thơ cha sát với từ nào trong nguyên bản? Hoặc dùng từ , câu ( ) nào hay hơn? “Trong suy nghĩ của em

từ “cố nhân”, gợi lên điều gì?”

Bằng cách đối chiếu với nguyên tác, giáo viên sẽ giúp học sinh nhận ra

ý tứ thâm trầm sâu xa của nguyên tác mà nếu chỉ dừng lại ở bản dịch thôi thì cha đủ Một ví dụ khác, hai câu thực bài '”Hoàng Hạc lâu”' (Thôi Hiệu) diễn

tả trạng thái tình cảm của tác giả vừa nuối tiếc lại vừa có sự bình thản vì chợt nhận ra quy luật của cuộc đời nhng trong bản dịch không diễn tả đợc nh phần phiên âm đặc biệt về mặt thanh điệu:

Bạch Vân thiên tải không du du '”(Hạc vàng đi mất từ mất từ xaNghìn năm mây trăng bây giờ còn bay)

Để học sinh cảm nhận đợc điều này có thể đặt câu hỏi: “Em có nhận xét gì về âm điệu, cách ngắt nhịp của 2 câu thơ trên? Âm điệu, cách ngắt nhịp ấy có tác dụng nghệ thuật nh thế nào?”

Trang 33

Có ngời nói “dịch tức là phản” , dịch thơ lại càng khó khăn Do vậy trong quá trình dạy học thơ Đờng nói riêng và dạy học các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, thờng xuyên đối chiếu nguyên tác với bản dịch là một vấn đề có tính nguyên tắc giúp chúng ta cắt nghĩa, lý giải sâu sắc thuyết phục hơn ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.

II Vận dụng thích hợp các yếu tố lịch sử, cái “Tâm”, cái “Chí”', của nhà thơ để cắt nghĩa thơ Đờng.Vận dụng thích hợp các yếu tố ngoài văn bản còn gọi là hớng tiếp cận lịch sử - phát sinh Nó bao gồm các yếu tố: tác giả, hoàn cảnh văn hoá xã hội

đã sản sinh ra tác phẩm Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của một thời

đại lịch sử nhất định Vì vậy không thể hiểu rõ, hiểu đúng cơ cấu nội tại của tác phẩm văn chơng nếu không bắt đầu tìm hiểu cội nguồn tác phẩm, tình huống sáng tạo tác phẩm Tìm hiểu tác giả tức là tìm hiểu lịch sử tác giả bao gồm cuộc đời sự nghiệp, đặc điểm tính cách, cá tính sáng tạo và quá trình sáng tác bởi trong quá trình sáng tác của mỗi tác giả thờng không đơn điệu

mà luôn chuyển biến qua nhiều giai đoạn khác nhau với những quan điểm, quan niệm nghệ thuật khác nhau

Thơ Đờng là một sản phẩm của cả thế hệ nhà thơ rất mực tài hoa và cũng là những con ngời mang trong mình nỗi u t của thời đại Dờng nh mỗi tác phẩm họ viết ra thực sự là tiếng lòng của mình với thế giới xung quanh Thời gian tồn tại của thơ Đờng khá dài, chỉ chung thành tựu thơ ca 300 năm của Trung Quốc Trong đó thơ Thịnh Đờng đạt đến sự thống nhất hài hoà giữa nội dung và hình thức Những tác giả tiêu biểu của thơ Đờng đều tập trung ở giai đoạn này nh: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Vơng Duy, Cao Thích Nhng cũng trong giai đoạn này, xã hội đời Đờng cũng có nhiều phức tạp Đằng sau vẻ phồn vinh của Thịnh Đờng đã ấp ủ bao mầm mống tai hoạ Loạn An Lộc Sơn diễn ra, chiến tranh loạn lạc liên miên làm cho xã hội

có những biến động cực kỳ to lớn trên mọi phơng diện Những hiện thực lịch

sử khắc nghiệt đó đã in dấu đậm nét trong thơ Những tâm sự, ẩn ức thầm kín của tác giả một phần bắt nguồn từ thực trạng xã hội đó Vì vậy để cắt nghĩa

Trang 34

sâu sắc bài thơ không thể không bắt đầu từ việc vận dụng những hiểu biết về văn hoá, lịch sử xã hội đời Đờng Ví dụ, dạy bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ

SGK giới thiệu ông là một trong những nhà thơ hiện thực lớn nhất đời Đờng

Để giúp cho học sinh hiểu rõ con ngời tác giả có thể hỏi:

- Vì sao khẳng định ông là nhà thơ hiện thực ?

- Hình ảnh “khóm cúc nhỏ lệ” gợi cho em suy nghĩ gì về hiện thực xã hội cũng nh cuộc đời nhà thơ?

Khi phân tích nội dung bài thơ có thể hớng học sinh tìm hiểu hình ảnh

“cô chu” Hình ảnh này vừa chỉ con thuyền lẻ loi, đơn chiếc lại vừa chỉ ra số phận cô đơn của nhà thơ Câu thơ dờng nh báo hiệu về số phận sau này của

ông: chết trên chiếc thuyền nơi đất khách trong khi niềm khao khát về quê cũ cũng chỉ là ảo ảnh chập chờn giữa mênh mông sóng nớc Giáo viên có thể nêu vấn đề: “Theo em, tại sao tác giả lại sử dụng hình ảnh “cô chu”?”

Lý Bạch và Đỗ Phủ là hai ngôi sao sáng của thơ Đờng Mỗi ngời một

vẻ ngời này không làm mất đi giá trị của ngời kia, tên hai ngời gắn chặt với nhau làm cho khi nhắc đến ngời này không thể không nhắc tới ngời kia Thật vậy thơ của Lý Bạch và Đỗ Phủ gộp lại mới nói đợc đầy đủ nhất tâm hồn ng-

ời Trung Quốc thời đó

Cuộc đời Lý Bạch có khá nhiều biến động Ông là một ngời có tài năng nhng bất đắc chí Năm 755 xảy ra Loạn An Sử Huyền Tông chạy vào

đất Thục, Lý Bạch ra giúp cho anh em Lý Hanh sau đó bị khép vào tội chết vì giúp kẻ phản nghịch Cuộc đời ông đầy những lận đận cho nên về t tởng

ông cũng khá phức tạp, sự phức tạp ấy một phần phản ánh đặc điểm t tởng của thời đại một phần liên quan đến cá tính, nhân cách nhà thơ Ông chịu ảnh hởng của t tởng Nho giáo, Đạo giáo chủ yếu ở những hoạt động thần bí của

nó nh cầu tiên, luyện đan Đồng thời trong ông lại luôn có tinh thần của một hiệp sĩ Đặc điểm ấy khiến cho thơ ông vừa có yếu tố tích cực lại vừa có yếu

tố tiêu cực Ví dụ, trong “Tơng tiến tửu” lúc say rợu tác giả đã phủ nhận cả

bậc thánh hiền mà đề cao những ngời uống rợu “Xa nay thánh hiền đều vắng lặng tiếng tăm, chỉ có kẻ uống rợu là thanh danh còn lại” Trong tiệc rợu

Trang 35

đang vui tác giả cao hứng: “Này con ngựa năm sắc, này áo cừu ngàn vàng, hãy gọi trẻ con ra đổi lấy rợu ngon để các bạn cùng khuây khoả nỗi sầu muôn thuở” Cái gì là nguyên nhân của nỗi sầu đó? Phải chăng Lý Bạch là một ngời có chí lớn, có lý tởng cao đẹp nhng tài năng không đợc thực hiện thi thố, là một ngời khao khát tự do xong cá tính bị lễ giáo phong kiến gò bó, mợn rợu để giải toả, cho nên khi dạy bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” phân tích hình ảnh “yên hoa” gợi sự khao khát đợc

ra đi, đợc tung hoành bốn phơng Trong thơ xa con ngời có nhu cầu “tỏ lòng”

“tỏ chí” thi triển “chí khí” Cái quý nhất ở con ngời là có chí khí, có sức sống, có lý tởng và có tấm lòng ngay thật, trong sáng, ghét mọi thứ khuất tất,

ám muội Giáo viên có thể hỏi: “câu thơ trên gợi cho em liên tởng tới mấy không gian? Giữa khung cảnh mùa xuân tơi tắn tác giả phải đa tiễn ngời bạn của mình từ nơi thanh cao thoát tục tới chốn phồn hoa đô hội nhằm gửi gắm tâm sự gì?”

Hoặc có thể hỏi: “yếu tố cuộc đời đã chi phối nh thế nào đến quá trình sáng tác của Lý Bạch?” Từ hiểu biết về đặc điểm phong cách sáng tác học sinh sẽ dễ cảm nhận hơn vẻ đẹp của thác núi L với những liên tởng đột ngột khác thờng, những đờng nét phóng túng rộng lớn, những kích thớc mang tầm vóc vũ trụ khi dạybài “Vọng L sơn bộc bố”.

Giáo viên có thể dẫn thêm những vần thơ mang dáng dấp và khí phách của một con ngời có hoài bão đợc gửi gắm qua hình ảnh con chim đại bàng

đầy tráng khí:

Đại bàng một lúc lên theo gió Chín vạn dặm bay vút tận trời Dẫu khi gió ngừng sa xuống đất Chân còn lê tới tận biển khơi ”Bút pháp lãng mạn ấy của Lý Bạch còn thể hiện khá rõ trong bài thơ

"Sáng ra từ thành Bạch Đế":

Trang 36

"Sáng từ Bạch Đế giữa ngàn mây Muôn dặm giang lăng tới một ngày Tiếng vợn đôi bờ kêu không dứt Ngàn non thuyền nhẹ đã bay qua".

Khi dạy “Tì bà hành” của Bạch C Dị nếu hiểu hơn về cuộc đời của tác

giả ta sẽ hiểu mối đồng điệu giữa thi nhân và ngời kĩ nữ bên sông Tầm Dơng Bạch C Dị cũng là một trong những nhà thơ đời Đờng có nhiều lận đận Năm

816 trong một lần nghe khúc đàn của nàng ca nữ bị lu lạc, cảm thơng cho số phận của nàng khi thấy nàng ôm đàn tì bà gảy bài ai oán với chút hoài niệm của tuổi xuân bên dòng sông bạc ánh trăng Cảnh ngộ của kỹ nữ cũng chính

là cảnh ngộ của nhà thơ:

Cùng một lứa bên trời lận đận Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau”

Cả hai đều là những ngời tài hoa nhng lại bị vùi dập phũ phàng trong một xã hội không nâng niu cái đẹp, cái tài Tiếng đàn càng réo rắt, lời tâm sự của nhà thơ và ca nữ càng ai oán:

Nghe não nuột khác tay đàn trớc Khắp tiệc hoa sớt mớt lệ rơi

Lệ ai chan chứa hơn ngời Giang Châu T mã đợm mùi áo xanh”

Để dẫn dắt vấn đề trên đến với học sinh giáo viên có thể yêu cầu học sinh: “Theo em điều gì khiến Bạch C Dị có mối đồng cảm sâu sắc với ngời

kỹ nữ nh vậy? Sự đồng cảm với số phận của ngời tài hoa bị vùi dập gợi cho

em liên tởng suy nghĩ đến nhà thơ nào của Việt Nam thời Trung đại cũng đã

có những vần thơ nh thế?”

Nh vậy, tác phẩm văn học là con đẻ của nhà văn, con đẻ của thời đại Vì vậy tìm hiểu các yếu tố ngoài văn bản là việc làm cần thiết phù hợp với quy luật sáng tác và tiếp nhận văn học, bởi muốn tìm hiểu đứa con tinh thần cần phải tìm hiểu hoàn cảnh và con ngời đã sản sinh ra nó

Trang 37

III Chú ý khai thác “ý tại ngôn ngoại”

trong dạy học thơ Đờng

Trớc hết có thể hiểu “ý tại ngôn ngoại” có nghĩa là ý ở ngoài lời Nghĩa là không thể nắm đợc hết ý nếu chỉ căn cứ trên lời Mà một trong những đặc điểm quan trọng của thơ Đờng là ngôn ngữ đạt đến sự tinh luyện, lời thơ ít ý tứ sâu xa, lời ít ý nhiều, lời hết mà ý cha hết Các nhà thơ Đờng ít khi bày tỏ hết lòng mình trên câu chữ mà phải thông qua mối liên hệ giữa các câu chữ Nhiều khi chỉ cần một vài từ đắc địa cũng góp phần diễn tả đợc dụng ý nghệ thuật của tác giả Dạy học thơ Đờng nếu chú ý đến “ý tại ngôn ngoại” sẽ làm nội dung bài giảng sâu sắc hơn, thấu triệt hơn Dạy học thơ Đ-ờng, ngời dạy, ngời học không chỉ cần có trình độ đọc trên dòng (on the line) mà còn phải đọc giữa dòng (between) và cao hơn nữa, phải đọc vợt xa khỏi dòng (beyond) Đọc trên dòng là trờng hợp câu trả lời có sẵn trong văn bản tác phẩm Đọc giữa các dòng là biết tìm ra mối liên hệ giữa các từ ngữ, hình ảnh tạo nên một ý nghĩa nhất định Còn đọc vợt ra khỏi dòng là biết khai thác, khái quát, liên hệ giữa văn bản với những yếu tố ngoài văn bản với cuộc đời tác giả, cuộc sống thời đại để cắt nghĩa và đánh giá tác phẩm một cách thấu đáo hơn Đọc vợt ra khỏi dòng là hớng để ta tìm ra ẩn ý đằng sau câu chữ mà nhà thơ gửi gắm tới ngời đọc Giáo viên phải biết khơi gợi, kích thích sự liên tởng tởng tợng của học sinh để tìm ra ý tứ sâu xa của nó

“ý tại ngôn ngoại” trong tác phẩm văn chơng đợc thể hiện ở nhiều cấp độ:

- Cấp độ từ ngữ

- Cấp độ hình ảnh

- Cấp độ câu

- Cấp độ văn bảnTuỳ nội dung, cách biểu hiện của từng bài mà ta có cách khai thác riêng Chẳng hạn, ở cấp độ từ ngữ khi dạy bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” của Lý Bạch, từ “yên hoa” bao hàm nhiều nét

nghĩa nh hoa trong khói, cảnh đẹp mùa xuân, cảnh phồn hoa đô hội Giữa

Trang 38

cảnh mùa xuân tơi tắn ấy từ nơi thanh cao thoát tục tiễn đa bạn tới chốn phồn hoa đô hội Lý Bạch đã gửi gắm nỗi niềm lo lắng không biết điều gì sẽ đến với bạn, cả nỗi ngậm ngùi cho sự cô lẻ của lòng mình Để học sinh phát hiện

và cảm nhận đợc điều đó có thể đặt câu hỏi:

- Trong câu thơ thứ hai có một cụm từ mang giá trị nghệ thuật đặc sắc

đó là cụm từ nào?

- Câu thơ trên gợi cho em liên tởng tới những không gian nào?

- Tâm sự của Lý Bạch gửi gắm qua câu thơ?

ở cấp độ hình ảnh, ví dụ hình ảnh “cô phàm” trong bài thơ trên, đó không chỉ là hình ảnh của bóng buồm cô đơn lẻ chiếc mà còn là hình ảnh ng-

ời đi kẻ ở trong trạng thái cô đơn Giáo viên có thể đặt câu hỏi: “Hình ảnh

“cô phàm” gợi lên trong em những cảm xúc và suy nghĩ gì ?”

Cấp độ câu, chẳng hạn câu “Duy kiến trờng giang thiên tế lu” câu thơ

có nghĩa là chỉ thấy dòng sông nhng thực ra là để nói đến tâm trạng Sự bàng hoàng hụt hẫng dâng đầy trong lòng thi nhân khi nhận ra bóng bạn đã không còn nữa Để phát hiện ra điều này giáo viên có thể gợi vấn đề : “Câu thứ 4 của bài thơ có đơn thuần là tả cảnh dòng sông Trờng Giang đang trôi bất tận không? Hay là nói đến điều gì khác?”

Cấp độ văn bản, “ý tại ngôn ngoại” cũng có khi đợc thể hiện ở văn bản Chẳng hạn bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu , một trong những

kiệt tác của thơ ca cổ Trung Quốc Tơng truyền “thi tiên” Lý Bạch đến đây

đã phải thốt lên: “Trớc mắt có cảnh đẹp nói chẳng nên lời vì đã có thơ Thôi Hiệu đề ở trên đầu” Cả bài thơ ngôn ngữ văn bản là miêu tả lầu Hoàng Hạc nhng sâu xa là nói về cõi tiên trong thế đối lập với cõi trần, nói về lẽ còn- mất trong cuộc đời để rồi đau đớn, hụt hẫng, luyến tiếc khi một thời vàng son

đã qua đi không trở lại

Bài “Hoàng Hạc lâu” ý tứ sâu xa ấy còn đợc biểu hiện cụ thể trong từ,

hình ảnh Chẳng hạn, hình ảnh Hoàng Hạc đã bay đi không trở lại tợng trng cho linh hồn của lầu đã mất, tức là cái đẹp, cái linh thiêng đã hút bóng cùng huyền thoại Chữ “sầu” ở cuối bài thơ có sức nặng nhiều nhất, thuộc âm bình

Trang 39

thanh nh nốt trầm gieo xuống, vừa khép lại bài thơ lại vừa nh mở ra một tâm trạng, một nỗi buồn mênh mang, một nỗi sầu dằng dặc Nh ta đã biết ngời làm thơ Đờng bao giờ cũng tích tụ năng lợng dồn hết trọng tâm ý nghĩa cho câu thơ cuối cùng Một chữ “sầu” gói trọn nỗi đau của cả một đời ngời, của một thời đại Có nên chăng ta nên dừng lại ở yếu tố nghệ thuật này? Yêu cầu học sinh: “Trong câu thơ cuối, từ nào gợi cho em nhiều suy nghĩ và tạo sức nặng cho bài thơ?”

Rõ ràng khai thác “ý tại ngôn ngoại” trong tác phẩm sẽ góp phần giúp cho học sinh hiểu sâu tác phẩm đồng thời giúp giáo viên phân bố thời gian giảng dạy hợp lý hơn nghĩa là chỉ nên dừng ở những từ ngữ, yếu tố chứa

đựng nhiều giá trị nghệ thuật mà ngời ta gọi đó là “nhãn tự”, “thần cú”

Theo cách khai thác đó khi dạy “Thu hứng” của Đỗ Phủ bài thơ thể

hiện sâu lắng nhất tâm sự lúc bấy giờ là lòng thơng nhớ quê hơng Giáo viên

có thể yêu cầu học sinh: “Tìm và chỉ ra những hình ảnh, những cụm từ nào góp phần diễn tả nỗi lòng của thi nhân nhiều nhất?”

Nh vậy, chú ý khai thác “ý tại ngôn ngoại” và thông qua một hệ thống câu hỏi nêu vấn đề gợi mở, sẽ tạo nên một không khí học tập sôi nổi, học sinh tự tìm ra giá trị sâu sắc của bài thơ Đây là một trong những cách để vừa cắt nghĩa lý giải sâu tác phẩm, vừa có khả năng rèn luyện cho học sinh năng lực cảm thụ và thởng thức thơ Đờng, lại vừa phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh thích tìm tòi, khám phá

IV Chú trọng khai thác cách kết bài, mở bài

trong dạy học thơ Đờng

Do đặc điểm của thơ Đờng đợc sáng tác theo niêm luật cấu tứ chặt chẽ nên việc lựa chọn từ ngữ đề là một vấn đề quan trọng mà bất cứ nhà thơ nào khi cầm bút đều chú ý đến Thông thờng phần mở đề bao giờ cũng hé mở một tâm sự gì đó, nh một cánh cửa khẽ mở ra đủ tạo nên một cảm hứng nhất

định để ngời đọc có tâm lý tiếp nhận Và quả vậy phần mở đề và kết bài trong thơ Đờng phần nào đã thâu tóm đợc tình ý của tác giả Kết bài trong

Trang 40

một số tác phẩm có tính chất mở taọ d vị riêng Bài “Khuê oán” của Vơng

X-ơng Linh là một ví dụ Nhan đề “Khuê oán” nỗi oán của ngời phòng khuê gợi

cho ngời đọc bao dự cảm về số phận éo le bất hạnh của ngời phụ nữ Câu cuối của bài thơ: “Hối giao phu tế mịch phong hầu” (Hối hận đã để chồng đi

tòng quân tìm kiếm ấn phong hầu) Kết thúc bài thơ nh một tiếng thở dài, một nỗi ngậm ngùi chua cay Ngời phụ nữ ấy đã ân hận vì lẽ gì? Vì đã nhận

ra bản chất của cuộc chiến tranh phi nghĩa mà nàng cũng nh bao ngời phụ nữ khác lầm tởng đó là con đờng để đi tới vinh hoá phú quý Thực chất chiến tranh chỉ gây tai họa, chết chóc biệt li mà thôi Câu kết bài đã giải thích nhan

đề cho bài thơ tạo thành một cặp hô ứng Giáo viên có thể đặt cho học sinh câu hỏi: “Em có cảm nhận gì về cách kết thúc bài thơ”

Trong “Kẻ ở Thạch Hào” ( Đỗ Phủ ) mấy câu thơ đầu đã nói đợc giá

trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm:

đình, “tróc” chứ không phải “tuyển” càng không phải là “chiêu”, “mộ” Từ chuyện bắt ngời vào lúc nửa đêm, tác giả cho thấy hoàn cảnh khốn khổ điêu

đứng của nhân dân trong chiến tranh tố cáo và lên án chiến tranh Đêm đêm nhân dân thấp thỏm sợ hãi trớc cảnh bọn nha lại đến từng nhà để lùng sục bắt ngời đẩy ra mặt trận Đối tợng đợc nhà thơ đề cập đến là những ngời tởng chừng nh sẽ không phải chịu cảnh khổ cực ấy lại phải sống trong lo âu sợ sệt Hàng loạt động từ mạnh đợc tác giả sử dụng một cách có hiệu quả để diễn tả những hành động có tính nguy cấp, khẩn trơng khi bắt đầu vào phần phân tích bài thơ giáo viên có thể nêu một số câu hỏi:

- Tác giả đã sử dụng những từ ngữ, hình ảnh nào để tái hiện bức tranh hiện thực của xã hội đơng thời?

Ngày đăng: 27/10/2014, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An- Kể chuyện tác gia văn học nớc ngoài- NXB VH 1999 Khác
2. Trần Xuân Đề- Lịch sử văn học Trung Quốc- NXB GD 2002 Khác
3. Lê Quý Đôn- Vân đài loại ngữ- Văn hoá 1962 Khác
4. Nguyễn Viết Chữ- Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng theo loại thể- NXB §HQG HN 2002 Khác
5. Nguyễn Hà- Đờng thi tứ tuyệt- NXB VHTT 1996 Khác
6. Nguyễn Thị Bích Hải- Bình giảng thơ Đờng- NXB GD 2003 Khác
7. Hoàng Ngọc Hiến- Văn học Học văn- Trờng CĐSP TP. HCM 1990 Khác
8. Phan Trọng Luận- Phơng pháp dạy học văn- NXB GD 2002 Khác
9. Hữu Ngọc- Thơ Đờng bốn ngữ- NXB VHHN 1992 Khác
10. Lê Đức Niệm- Diện mạo thơ Đờng- NXB VHTT 1998 Khác
11. Nguyễn Khắc Phi-Về thi pháp thơ Đờng-NXB Đà Nẵng 1997 Khác
12. Nguyễn Khắc Phi- Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất quen mà lạ- NXB GD 1998 Khác
13. Đặng Quốc Siêu- Thơ Đờng bình giảng- NXB GD 2001 Khác
14. Hoàng Trung Thông- Đỗ Phủ, nhà thơ hiện thực vĩ đại Khác
15. Lu Đức Trung- Tác gia tác phẩm văn học nớc ngoài trong nhà trờng- NXB GD 2003 Khác
16. Vgôtxki- Tâm lý học nghệ thuật- KHXH 1981 Khác
17. Nhóm tác giả- Lý luận văn học- Tập 2- NXB GD 1987 Khác
18. Nhóm tác giả- Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 10- NXB GĐ 2004 Khác
19. Nhóm tác giả- Thiết kế bài dạy Ngữ văn 7- Tập 1- NXB ĐHQG TP. HCM 2004 Khác
21. Tạp chí văn học nớc ngoài- Số 1- Hội nhà văn Việt Nam 1996 Khác

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh tâm lý hoá? - nguvan 10-11-12
nh ảnh tâm lý hoá? (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w