1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị di sản văn hóa của hệ thống lễ hội trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ

8 626 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 173,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đang sở hữu một hệ thống di sản văn hóa có giá trị của dân tộc, trong đó lễ hội dân gian là giá trị văn hóa tiêu biểu nhất. Vấn đề nhận diện một cách chính xác những giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học của lễ hội ở Việt Trì nói riêng, Phú Thọ nói chung để có hướng bảo tồn, phát huy phù hợp là một việc làm cấp thiết. Kết quả nghiên cứu của đề tài hướng tới nhận diện và định vị những giá trị di sản văn hóa của hệ thống lễ hội trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Từ đó, chúng tôi đề xuất những giải pháp, khuyến nghị khoa học nhằm giữ gìn, phát huy hơn nữa giá trị văn hóa ấy trong bối cảnh hiện nay.

Trang 1

GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA HỆ THỐNG LỄ HỘI TRÊN đỊA BÀN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Bùi Huy Toàn

1 Mở ựầu

Là một vùng ựất phát tắch của dân tộc Việt Nam, Phú Thọ ựang sở hữu một hệ thống các

di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nằm trong dòng chảy mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Trong ựó, hệ thống lễ hội dân gian là giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu, chiếm vị trắ hết sức quan trọng trong ựời sống văn hóa, tinh thần của người dân đất Tổ từ ngàn ựời nay Việc gìn giữ hệ thống di sản văn hóa truyền thống chắnh là một cách ựể nền văn hóa của dân tộc ta không bao giờ bị phai nhạt, lãng quên

Luật Di sản văn hoá nêu rõ: ỘDi sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng ựồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân taỢ

Tuy vậy, Di sản văn hóa của Phú Thọ nói chung, thành phố Việt Trì nói riêng hiện nay ựều

có thực trạng là ựang bị mai một và xuống cấp nghiêm trọng Người dân thiếu ý thức tôn trọng, thậm chắ còn tàn phá di sản Bên cạnh ựó, một vài ựịa phương có di sản văn hóa ựược xếp hạng thì lại tự tu bổ, sửa chữa tùy hứng, thậm chắ tùy tiện, ựiều ựó làm biến tướng di sảnẦ Vấn ựề giáo dục nhận diện di sản, tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức về di sản trong cộng ựồng nói chung, trong các trường học nói riêng cần ựược chúng ta quan tâm một cách nghiêm túc và toàn diện Vấn ựề là làm cách nào ựể nhận diện một cách chắnh xác những giá trị văn hóa, lịch sử khoa học của di sản ựể có hướng bảo tồn, phát huy phù hợp là một trăn trở lớn của các nhà giáo dục và văn hóa

Thực hiện ựề tài này, chúng tôi hướng tới việc nhận diện và ựịnh vị giá trị cội nguồn của các di sản văn hóa trong hệ thống lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; từ ựó, chúng tôi có những khuyến nghị khoa học và ựề xuất các mô hình cụ thể nhằm gìn giữ và phát huy hơn nữa những giá trị to lớn của di sản văn hóa trên quê hương đất Tổ

2 Nội dung

2.1 Khái quát về hệ thống lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Khái quát v ề thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

Việt Trì nằm ở phắa đông Nam của tỉnh Phú Thọ, là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là kinh ựô Văn Lang - kinh ựô ựầu tiên của người Việt và là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc, có diện tắch tự nhiên 11.175,11ha, gồm 13 phường nội thị và 10 xã ngoại thị, dân số là 277.539 người (tắnh ựến 31/12/2010); phắa đông giáp với huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc); phắa Nam giáp huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (Hà Nội); phắa Tây giáp

huyện Lâm Thao; phắa Bắc giáp huyện Phù Ninh

Việt Trì là vùng ựất nằm ở vị trắ chuyển tiếp từ ựịa hình ựồi núi sang ựiạ hình ựồng bằng, ựỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng Từ trung tâm thành phố nhìn về phắa Tây Nam là núi Ba

Vì, phắa đông Bắc là dãy núi Tam đảo Ở phắa Tây - Tây Bắc Thành phố là núi Nghĩa Lĩnh, nơi

có ựền thờ các vua Hùng Thành phố Việt Trì nằm trong vùng khắ hậu cận nhiệt ựới ẩm, có một mùa ựông lạnh sâu sắc với trên ba tháng nhiệt ựộ xuống dưới 18 ựộ C, nét ựặc trưng của miền Bắc Việt Nam

Về mặt ựịa chất, ựất ựai ở Việt Trì thuộc vùng ựất cổ có niên ựại cách ựây từ 50 ựến 200 triệu năm Theo tài liệu khảo cổ học cách ngày nay khoảng 2 vạn năm, ở ựây ựã có sự ựịnh cư của người Việt cổ

Trang 2

Thành phố Việt Trì ngày nay - kinh ựô cổ của quốc gia Văn Lang thời Hùng Vương dựng nước nằm trên một vùng rộng lớn từ ngã ba Hạc - nơi hợp lưu của ba dòng sông lớn là Hồng - Lô

- đà ựến chân núi Nghĩa Lĩnh Từ các xã ở tả ngạn sông Lô như Hùng Lô, Phượng Lâu, Trưng Vương ựến các xã Thanh đình, Chu Hoá (Lâm Thao) ựều nằm trong phạm vi của kinh ựô xưa của

nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang

Trên mảnh ựất này ựã hội tụ rất nhiều dấu tắch vật thể và phi vật thể phản ánh quá trình ựịnh ựô dựng nước Văn Lang khai sinh, phát triển ựất nước mà các vua Hùng là những người có

công khai quốc

Tất cả những ựặc trưng văn hóa trên khẳng ựịnh tắnh chất cổ xưa và bề dày văn hóa của vùng ựất Việt Trì đây có thể coi là tài nguyên nhân văn vô tận ựể thành phố Việt Trì nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung hoạch ựịnh những chắnh sách khai thác giá trị văn hóa nhằm phát triển

kinh tế - xã hội và chuyển ựổi sinh kế cho người dân

2.1.2 Th ống kê, phân loại lễ hội ở thành phố Việt Trì

Lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách Lễ là phần tắn ngưỡng, là phần thế giới tâm linh của con người, là phần ựạo Còn hội là phần tập hợp vui chơi giải trắ, ựời sống văn hoá thường nhật, phần ựời của mỗi con người, của cộng ựồng Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy

ựịnh nhất ựịnh của lễ, có lễ mới có hội

Lễ hội truyền thống ở Việt Trì có những ựặc trưng cơ bản sau:

Th ứ nhất: lễ hội truyền thống ở ựây ựều gắn với tắn ngưỡng thờ cúng các vua Hùng, vợ

con và tướng lĩnh thời ựại các vua Hùng

Th ứ hai: lễ hội truyền thống ở Việt Trì tái hiện và gắn liền với sinh hoạt nông nghiệp của

cư dân

Th ứ ba: lễ hội truyền thống ở Việt Trì chủ yếu ựược tổ chức vào mùa xuân

Th ứ tư: các lễ hội truyền thống ở Việt Trì ựều gắn với di tắch ựình, ựền, chùa Có thể gọi các

di tắch gắn với lễ hội như phần hồn và phần xác, di tắch là phần xác còn lễ hội là phần hồn

Trong số các ựặc trưng trên, ựặc trưng thứ nhất là căn bản Các lễ hội liên quan ựến Hùng Vương chắnh là trung tâm hội tụ, lan tỏa và chi phối các lễ hội khác trên ựịa bàn Việt Trì Có thể phân chia lễ hội truyền thống ở Việt Trì thành các nhóm cơ bản sau ựây:

Bảng 1 Lễ hội gắn với Hùng Vương

ST

T

1 Lễ hội đền Hùng, xã Hy

Cương

thờ vua Hùng và các nhân vật liên quan.

2 Lễ hội ựình Bảo đà,

phường Dữu Lâu

thờ Tam vị đại Vương.

3 Lễ hội ựình Dữu Lâu, phường Dữu Lâu thờ tướng lĩnh thời Hùng Vương và 5 vị thành

hoàng có công giúp Hùng Vương thứ 18.

4

Lễ hội ựình Hương Trầm,

phường Dữu Lâu

thờ 3 vị: Quý Minh ựại vương, Quốc Mẫu thánh phi ựại vương, Càn Nương Bảo Hoa công chúa.

5 Lễ hội ựình Việt Trì,

phường Bến Gót

thờ các vua Hùng có công ựánh giặc giữ nước.

Trang 3

T

6 Lễ hội làng Triệu Phú, xã Hy Cương thờ các vua Hùng, Tản Viên, công chúa Ngọc

Hoa, Tiên Dung và 3 vị thần Núi.

7 Lễ hội làng Vân Luông,

xã Vân Phú

thờ các tướng nhà Hùng và Tản Viên.

Bảng 2 Lễ hội gắn với nông nghiệp trồng lúa nước

1 Lễ hội hạ ựiền, xã Hy Cương lễ tế thần lúa.

2 Lễ hội vua Hùng dạy dân cấy lúa, xã Minh

Nông

diễn xướng dân gian vua Hùng dạy dân cấy lúa và lễ tế Thần Nông.

3 Lễ hội rước ông Khiu bà Khiu, xã Thanh

đình

nghi lễ cầu mùa.

4 Lễ hội ựình Phú Nông, phường Minh

Phương

chơi ựu, rước thuyền.

5 Lễ hội ựền Tam Giang, phường Bạch Hạc cướp còn và nấu cơm thi.

6 Lễ hội ựình Phương Châu, phường Minh

Phương

chơi ựu.

7 Lễ hội ựi săn Thanh đình, xã Thanh đình săn muông thú

Bảng 3 Lễ hội gắn với lịch sử

1

Lễ hội ựền Quách A Nương, phường

Bạch Hạc

gắn với nữ tướng Quách A Nương giúp Hai Bà Trưng ựánh ựuổi quân Hán dành ựộc lập vào năm 40 Ờ 42.

2

Lễ hội ựền Thượng, xã Thụy Vân gắn với nhân vật Lân Hổ, người có

công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỉ XIII.

3

Lễ hội bơi chải, phường Bạch Hạc gắn với công cuộc rèn luyện thủy

quân của Trần Nhật Duật thế kỉ XIII.

4 Lễ hội làng Mộ Chu Hạ, phường

Bạch Hạc

gắn với thờ vua Lê đại Hành.

Trang 4

Bảng 4 Lễ hội hát Xoan

làng Phù đức làng Thét 1

Lễ hội hát Xoan xã Kim đức

làng Kim đái

2 Lễ hội hát xoan xã Phượng Lâu làng An Thái

Ngoài 4 nhóm lễ hội cơ bản trên, thành phố Việt Trì còn duy trì thường niên một số lễ hội tái hiện các phong tục tập quán của dân tộc Tuy nhiên, số lượng các lễ hội này không nhiều Một số lễ hội tiêu biểu ở Việt Trì như: Lễ hội đền Hùng, Lễ hội làng He (Cổ Tắch, Vi Kiêng, Triệu Phú), Lễ

hội làng Triệu Phú (xã Hy Cương), Lễ hội làng Vân Luông (xã Vân Phú)Ầ

Hệ thống lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì rất phong phú và ựa dạng Các lễ hội ở ựây tái hiện và gắn liền với sinh hoạt nông nghiệp của cư dân, cho thấy một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ Bên cạnh ựó các lễ hội trên còn gắn liền với các nhân vật lịch sử, với hát Xoan và phong tục tập quán của cư dânẦ

2.2 Hệ giá trị cội nguồn của lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ

2.2.1 Giá tr ị văn hóa, hệ giá trị văn hóa

Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức ựều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của ựời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh ựời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Cho nên, quan ựiểm cho rằng văn hoá hay giá trị văn hoá chỉ là lĩnh vực ựời sống tinh thần thôi thì chưa thật thoả ựáng

Giá tr ị văn hoá (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá ựã hình thành thì nó lại có vai trò ựịnh hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành ựộng của con người trong các xã hội ấy Nó chắnh là một thứ vốn

xã h ội (Social Capital) Như thế, khi nói bản chất của giá trị hay nói tới vai trò ựịnh hướng, chi phối, ựiều tiết của hệ giá trị thì về thực chất ựang nói tới mối quan hệ ựa chiều của con người

Cũng như văn hoá, giá trị ựược sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội

Giá trị văn hoá của mỗi cộng ựồng (tộc người, quốc gia ) bao giờ cũng tạo nên một hệ

th ống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác ựộng hữu cơ với nhau Chúng ta nói hệ giá trị (Value System) hay bảng giá trị văn hoá của mỗi cộng ựồng thì thường

hàm hai ý nghĩa: 1) Các giá trị riêng lẻ liên kết nhau tạo nên một hệ thống các giá trị, 2) Có sự sắp ựặt trước sau, ựộ nhấn về tầm quan trọng của từng nhân tố giá trị trong một bảng giá trị Thắ dụ,

với người Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng ựầu trong bảng (hệ) giá trị dân tộc,

nhưng với người Nhật Bản hay một số dân tộc khác thì có thể chủ nghĩa yêu nước lại ựược xếp ở các vị trắ khác Thường thì nhiều dân tộc ựều có chung những giá trị, như yêu nước, cần cù, tắnh cộng ựồng , tuy nhiên, trong từng hệ giá trị của mỗi dân tộc thì việc xếp ựặt thứ tự ưu tiên, ựộ nhấn của từng yếu tố giá trị ấy trong bảng giá trị thì có thể khác nhau

Có thể nói, bất cứ lễ hội nào cũng mang trong mình những giá trị văn hóa mang tắnh phổ quát như: cố kết cộng ựồng Ờ dân tộc, hướng vệ cội nguồn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc hay giá trị văn hóa tâm linh v.vẦ Tuy nhiên, tắnh chất của những giá trị ấy không giống nhau bởi vì mỗi lễ hội ựều gắn với một ựịa bàn cư trú nhất ựịnh với các ựiều kiện tự nhiên và lịch sử hình thành khác nhau, ựặc biệt là gắn với các chủ thể văn hóa khác nhau Theo ựó, giá trị văn hóa của

hệ thống lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ sẽ mang ựầy ựủ những tắnh chất, sắc thái cội nguồn, phát tắch của dân tộc Việt Nam

Trang 5

2.2.2 Tắnh ch ất cội nguồn của hệ thống lễ hội ở Việt Trì

C ố kết tinh thần cộng ựồng quốc gia Ờ dân tộc, cộng ựồng làng xã:

Nếu lễ hội nào cũng có giá trị cố kết tinh thần cộng ựồng thì không ựâu có sức mạnh như ở vùng đất Tổ Bởi hơn hết, sự cố kết tinh thần cộng ựồng ở ựây ựã vượt ra phạm vi của một làng, một vài làng ựể vươn ra quy mô quốc gia Ờ dân tộc

Tắn ngưỡng thờ cúng Hùng Vương khẳng ựịnh rằng, tất cả những con người Việt Nam ựều thuộc một dòng máu Lạc Ờ Hồng, ựã là người Việt Nam ai cũng phải có tổ tiên và tổ tiên chung ấy chắnh là Hùng Vương Tắn ngưỡng thờ cúng Hùng Vương sở dĩ ựược công nhận là di sản văn hóa ựại diện của nhân loại là bởi có tắnh cộng ựồng mạnh mẽ Tắn ngưỡng ấy có thể thu hút mọi người

từ khắp nơi trên ựất nước Việt Nam, kể cả những người xa xứ sống ở Pháp, Mĩ, AnhẦ cùng bái vọng về lễ hội đền Hùng với tấm lòng thành kắnh, biết ơn Bởi vậy, lễ hội đền Hùng nói riêng và

hệ thống lễ hội ở Việt Trì nói chung có sức thu hút, cố kết cộng ựồng mạnh hơn bất cứ lễ hội nào khác

Trong tâm thức của người Việt ựương ựại Ộtắn ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ựã trở thành

m ột sợi chỉ ựỏ ựể liên kết cội nguồn, liên kết mọi người hướng về nguồn cộiỢ đó chắnh là cơ sở

tạo nên sức mạnh ựại ựoàn kết dân tộc

Giá tr ị cân bằng, làm ựiểm tựa cho ựời sống tâm linh dân tộc:

đối với hệ thống lễ hội ở Việt Trì, ựặc biệt là lễ hội đền Hùng còn tạo nên sự kết nối giữa quá khứ - hiện tại và tương lai, tạo nên sự kết nối của lớp lớp các thế hệ tiếp nhau của dân tộc Việt Nam đó chắnh là sự cố kết, sự kết nối về ựời sống tâm linh đời sống tâm linh có sức lan truyền mạnh mẽ, tạo ra những cảm xúc, rung ựộng thiêng liêng và do ựó, có tác dụng tập hợp, ựoàn kết, gắn bó con người một cách có hiệu quả đối với mỗi gia ựình, bàn thờ tổ tiên là hiện thân của quá khứ, của bề dày truyền thống Nói cách khác, ựó là ựiểm tựa quá khứ của hiện tại Bàn thờ tổ tiên

là biểu tượng hết sức thiêng liêng, có sức mạnh lôi cuốn các thành viên quây quần, ựoàn tụ ựể duy trì những giá trị truyền thống nhằm chuyển giao cho các thế hệ mai sau Tắn ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thực chất là một hình thức suy tôn lên tầm vĩ mô, phổ quát của tắn ngưỡng thờ cúng

tổ tiên ở mỗi gia ựình, dòng tộc Bởi vậy, tắn ngưỡng ấy chắnh là ựiểm tựa tâm linh cho toàn dân tộc Việt Nam

Giá tr ị hướng về cội nguồn:

Tất cả lễ hội cổ truyền ựều hướng về cội nguồn đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ ựó sinh ra và nay vẫn là bộ phận hữu cơ, nguồn cội cộng ựồng, như dân tộc, ựất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng về cội nguồn ựã trở thành tâm thức của người Việt, ỘUống nước, nhớ nguồnỢ, ỘĂn quả nhớ kẻ trồng câyỢ Do ựó, ngày nay lễ hội thường gắn với hành hương du lịch

Giá trị hướng về cội nguồn của lễ hội trên ựịa bàn thành phố Việt Trì nói chung và lễ hội đền Hùng nói riêng có sức lan tỏa mạnh mẽ Bởi vì, những lễ hội này không chỉ có sức mạnh quy

tụ mọi người từ mọi miền ựất nước trở về nơi ựây ựể tưởng nhớ, biết ơn những người ựã có công gây dựng nên non sông gấm vóc mà còn có sức mạnh tác ựộng vượt qua rào cản của không gian, thời gian

Kh ẳng ựịnh tắnh chất gốc nông nghiệp:

Bên cạnh những giá trị văn hóa trên, tắnh chất cội nguồn trong các lễ hội ở thành phố Việt Trì còn cho thấy một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ, cuộc sống của cư dân gắn liền với tắn ngưỡng nông nghiệp, các lễ hội gắn liền với thờ lúa thần, rước lúa thần, lễ hội tịch ựiền, lễ hội thờ thần Sông như lễ hội hạ ựiền (xã Hy Cương), lễ hội ựình Hương Trầm (phường Dữu Lâu), lễ hội vua Hùng dạy dân cấy lúa (xã Minh Nông), lễ hội ựình Phú Nông (phường Minh Phương) là minh chứng rõ ràng cho ựiều này

Trang 6

Với ngành kinh tế (ñặc biệt là du lịch), lễ hội cổ truyền là một sản phẩm ñặc biệt, giới thiệu vùng ñất, con người, truyền văn hoá ñặc sắc ở các vùng miền cho du khách trong và ngoài nước Do ñó, lễ hội tự mang trong mình giá trị kinh tế ñặc biệt “kinh tế du lịch văn hoá tâm linh” Vấn ñề ở chỗ, khai thác giá trị văn hóa ấy như thế nào trong xã hội hiện nay

2.3 Phương hướng bảo tồn, khai thác giá trị văn hóa của hệ thống lễ hội ở Việt Trì

2.3.1 Tính c ấp thiết cần phải bảo tồn

Bên cạnh những thành tựu ñã ñạt ñược trong quá trình khai thác các giá trị lễ hội trên ñịa

bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ còn có những hạn chế sau:

Trong công tác tổ chức, chỉ ñạo phục dựng các lễ hội do chưa ñược nghiên cứu ñầy ñủ và công tác chuẩn bị cho tổ chức lễ hội chưa ñược chu ñáo dẫn tới việc ở một số lễ hội ñược phục dựng làm mất ñi một số nghi lễ và hình thức diễn xướng dân gian

Công tác ñào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý di tích - lễ hội, cán bộ thuyết minh viên tại các

lễ hội chưa ñược tổ chức thường xuyên hàng năm

Cơ sở hạ tầng phục vụ lễ hội, ñặc biệt là hệ thống nhà nghỉ, khách sạn còn thiếu vào nghèo nàn nên việc bố trí nơi ăn nghỉ cho du khách ở ñiểm tổ chức lễ hội lớn, có ñông người dự hội như Khu di tích lịch sử ðền Hùng còn nhiều khó khăn Hơn nữa, chưa có sản phẩm ñặc trưng của ñịa phương, ñặc thù của văn hóa cội nguồn ðất Tổ ñể bày bán Trong hoạt ñộng dịch vụ du lịch, công tác hướng dẫn khách tham quan vào những ngày hội tại các ñiểm di tích còn thiếu nên khách du lịch ñến tham quan chủ yếu là tự tìm hiểu

Các doanh nghiệp ñầu tư phát triển các dịch vụ, khai thác các chương trình du lịch lễ hội còn rất hạn chế

Chưa thực sự tạo dựng ñược môi trường du lịch tốt ở các ñiểm tổ chức lễ hội: vẫn còn có hiện tượng chèo kéo khách, tăng giá bắt chẹt khách trong mùa lễ hội Các tệ nạn mê tín dị ñoan cờ bạc chưa ñược ngăn chặn triệt ñể

2.3.2 Quan ñiểm bảo tồn, khai thác

B ảo tồn y nguyên:

Những người theo quan ñiểm này cho rằng, sản phẩm của quá khứ nên ñược bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có ñể tránh tình trạng thế hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản Mỗi di sản chứa ñựng những giá trị văn hóa xã hội nhất ñịnh mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một cách cụ thể ñể có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp

B ảo tồn trên cơ sở kế thừa:

Quan ñiểm này dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn ñến

di sản và quản lý di sản Quan ñiểm này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch

sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể; di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ ñi những gì không phù hợp với xã hội ấy

Thực tế cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn lẫn bảo tồn trên cơ sở kế thừa ñều có những ưu ñiểm và hạn chế riêng của nó Nếu như quan ñiểm bảo tồn nguyên vẹn gặp khó khăn trong việc xác ñịnh ñâu là yếu tố nguyên gốc, ñâu là yếu tố phái sinh, và giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào; thì quan ñiểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác ñịnh yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ; cũng cần phải khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ ñánh mất những giá trị văn hóa mà

chúng ta chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu ñáo

Quản lý một loại hình di sản (lễ hội là một ví dụ) không ñơn thuần chỉ là việc tìm những biện pháp ñể bảo tồn nguyên vẹn hay không, mà có thể theo một hướng khác: quản lý di sản một cách thích hợp với những yêu cầu của thời ñại hiện nay, trong một bối cảnh chính trị, kinh tế, xã

Trang 7

hội và văn hóa nhất ñịnh Mối quan hệ giữa di sản và những bối cảnh nêu trên là hai chiều, ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau

2.3.3 ðề xuất các mô hình bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong lễ hội ở Việt Trì

Mô hình t ổ chức quản lý và quy hoạch lễ hội:

Việc quy hoạch và quản lí di sản lễ hội ở thành phố Việt Trì cần phải dựa trên và ñảm bảo

một số tiêu chí: thứ nhất - về nguyên tắc, lễ hội dân gian truyền thống luôn kết tinh ở hai khía

cạnh tương ñối bền vững là tính biểu tượng và tính mô thức Nếu phá vỡ một trong hai khía cạnh

này thì nghi lễ hay lễ hội dân gian sẽ không giữ ñược bản sắc, không còn tính thiêng; thứ hai, cần quy chuẩn các hoạt ñộng của lễ hội; thứ ba, cần xác ñịnh ñúng trung tâm – phụ cận trong quy hoạch lễ hội Theo ñó, phải lấy lễ hội ðền Hùng là trung tâm, từ ñó lan tỏa ra phụ cận

Mô hình giáo d ục, nghiên cứu khoa học và truyền thông:

Muốn bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH nói chung, lễ hội nói riêng, trước hết cần nâng cao nhận thức hiểu biết của con người về lĩnh vực này, từ ñó có cơ sở ñể ñiều chỉnh hành vi xã hội của mỗi cá nhân con người và toàn thể cộng ñồng Thường xuyên ñào tạo nâng cao phẩm chất ñạo ñức và trình ñộ chuyên môn nghiệp vụ cho ñội ngũ cán bộ các cấp lãnh ñạo quản lý, cán bộ chuyên trách trong công tác bảo tồn và phát huy DSVH lễ hội Thông qua các phương tiện thông tin ñại chúng, thường xuyên tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về những giá trị và cả những mặt hạn chế của việc tổ chức và duy trì lễ hội hiện nay (lễ hội còn hay mất trước hết là do

nhận thức và hành ñộng của chính những người dân sở tại)

Cần ñẩy mạnh hoạt ñộng nghiên cứu khoa học về những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền Quá trình ñô thị hóa, CNH, HðH nông nghiệp, nông thôn là một xu thế tất yếu ðể tiến hành ñô thị hóa, nhiều giá trị văn hóa làng xã sẽ bị xói mòn, thất truyền, mai một Chính vì vậy, cẩn phải khẩn trương tiến hành các nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng ñược những hồ sơ về các giá trị di sản văn hóa nói chung, di sản lễ hội nói riêng Trên cơ sở ñó, kiến nghị với các cơ quan hữu quan

về những biện pháp bảo tồn phù hợp

Mô hình b ảo tồn và phát huy giá trị văn hóa gắn kết với phát triển sinh kế cộng ñồng:

Thực chất của mô hình này là gắn giá trị di sản văn hóa của lễ hội với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Trì Trong phạm vi của ñề tài này, chúng tôi ñề xuất mô hình gắn giá trị văn hóa của lễ

hội với phát triển du dịch

Trên cơ sở các ñiểm du lịch và hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống và

các di tích ñã xác ñịnh, tuyến du lịch có thể xác ñịnh tuyến Quốc tế, tuyến liên tỉnh và nội tỉnh

- V ề tuyến quốc tế: Vân Nam - Lào Cai - Phú Thọ - Hà Nội - Quảng

- Tuy ến liên tỉnh xác ñịnh ðền Hùng là trung tâm:

+ Hà Nội - Vĩnh Phúc (Tam ðảo - Hồ ðại Lải - ðầm Vạc) - Việt Trì (ðền Hùng và các di

tích lễ hội khu vực ðền Hùng thành phố Việt Trì)

+ Hà Nội - Việt Trì - Sơn La - ðiện Biên - Lào Cai (Sapa), ñây là tuyến Tây Bắc, vừa kết

hợp du lịch lễ hội với các di tích lịch sử và tham quan ngắm cảnh thiên nhiên

- Tuy ến nội tỉnh, lấy Việt Trì và khu di tích ðền Hùng làm trung tâm:

+ Tuyến Việt Trì - Phù Ninh - ðoan Hùng

+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Tam Nông - Hạ Hoà

+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Thanh Sơn - Tân Sơn

+ Tuyến Việt Trì - Lâm Thao - Tam Nông - Thanh Thuỷ

Từ lợi thế của nền văn hoá cội nguồn và lễ hội vùng ðất Tổ có thể hoạch ñịnh chiến lược nhằm phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là gắn lễ hội với hoạt ñộng du lịch văn hóa có tính ñặc

Trang 8

trưng của thành phố Việt Trì ðể phát huy ñược lợi thế và hoạt ñộng du lịch lễ hội có hiệu quả, hoạt ñộng bảo tồn phát huy các giá trị của lễ hội cần phải ñặt trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng trong khu vực và cả nước ñể phát triển Trong ñó, vấn ñề chính sách quy hoạch lễ hội phải ñặt lên hàng ñầu Sau ñó là các hoạt ñộng nghiên cứu khoa học, truyền thông và các mô hình tận dụng, khai thác tối ña giá trị văn hóa của lễ hội

3 Kết luận

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy Cuộc sống của của cộng ñồng làng xã không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm với bao âu lo, vất vả cuộc sống hàng ngày, rồi “xuân thu nhị kỳ” nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiến trống, tiếng chiêng, tưng bừng cờ hội, mọi người tụ hội nơi ñình (ñền, chùa) làng mở hội Ở nơi ấy, khi ñó con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến ñổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc

ñược hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là mảnh ñất phát tích, cội nguồn của dân tộc, là kinh ñô xưa của các Vua Hùng dựng nước, nơi có ñậm ñặc các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ñặc sắc và phong phú Trong hệ thống tài nguyên nhân văn ñể phục vụ du lịch ở thành phố Việt Trì, lễ hội truyền thống là tài nguyên phong phú và ñặc sắc, chiếm ưu thế nhất Qua ñó, ñề tài khẳng ñịnh văn hoá và lễ hội truyền thống ở Việt Trì chính là ñộng lực, là mục tiêu của sự phát triển kinh tế -

xã hội của thành phố nói riêng, tỉnh Phú Thọ nói chung

ðể bảo tồn, phát huy tốt giá trị của các lễ hội truyền thống ở Việt Trì nhằm phát triển kinh

tế - xã hội, cần phải có mô hình tổ chức quản lý và quy hoạch lễ hội, mô hình giáo dục, nghiên cứu khoa học và truyền thông và mô hình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa gắn kết với phát triển sinh kế cộng ñồng thật sự ñồng bộ, hợp lí và khoa học Chúng ta có thể tin tưởng rằng, một

mô hình phát triển, tác ñộng lan tỏa bền vững sẽ ngày càng ñược chứng thực trong sự ủng hộ thiết thực của cộng ñồng

Tài liệu tham khảo

1 ðinh Gia Khánh (1989), Trên ñường tìm hiểu văn hoá dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội

2 Nhiều tác giả (2012), Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, Sở VH,TT&DL Phú Thọ -

Hội Văn nghệ dân gian

3 Nhiều tác giả (2012), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Di sản văn hóa trên ñịa bàn kinh ñô Văn Lang,

Trường ðại học Hùng Vương

4 Bùi Thiết (2000), Từ ñiển lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin

5 Ngô ðức Thịnh (2007), Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hoá thông tin

6 Lê Trung Vũ (1991), Lễ hội mùa xuân vùng ðất Tổ, Nxb Khoa học xã hội

7 Trần Quốc Vượng (1986), Lễ hội, một cái nhìn tổng thể, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, số 1

Ngày đăng: 27/10/2014, 19:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Lễ hội gắn với nông nghiệp trồng lúa nước - Giá trị di sản văn hóa của hệ thống lễ hội trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 2. Lễ hội gắn với nông nghiệp trồng lúa nước (Trang 3)
Bảng 4. Lễ hội hát Xoan - Giá trị di sản văn hóa của hệ thống lễ hội trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ
Bảng 4. Lễ hội hát Xoan (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w