Đây là những tiền đề đầu tiên để tác giả suy nghĩ cần có một nghiên cứu khoa học về mức độ tác động của việc hợp tác này, cụ thể là các cách thức hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp,
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Phạm Văn Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kinh tế và Quản lý Nguồn nhân lực, Viện Sau đại học Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS TS
Vũ Hoàng Ngân và TS Phạm Thị Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án
Tác giả xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo trường đại học Thương Mại đã cho phép tác giả đến tìm hiểu và nghiên cứu thực tế tại trường Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo các trường đại học khối kinh tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã giúp đỡ tác giả trong định hướng nghiên cứu cũng như tạo điều kiện cho tác giả thu thập các dữ liệu Xin cảm ơn 206 doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia trả lời bản câu hỏi của tác giả qua thư và cung cấp các tài liệu, thông tin bổ ích để tác giả hoàn thành Luận án
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả
Phạm Văn Nam
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1 Giới thiệu đề tài 1
2 Lí do chọn đề tài 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Những đóng góp mới của đề tài 9
7 Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu 9
8 Kết cấu của luận án 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP 13
1.1 Một số vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học 13
1.1.1 Khái niệm về chất lượng và đào tạo 13
1.1.2 Các quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học 15
1.2 Một số vấn đề lý luận về hợp tác nhà trường và doanh nghiệp 18
1.2.1 Khái niệm về hợp tác 18
1.2.2 Các hình thức hợp tác 19
1.2.3 Mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp 21
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp ở một số quốc gia 22
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore 22
1.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ 32
1.4 Phát triển mô hình nghiên cứu từ lý thuyết 38
1.4.1 Một số lý thuyết nền trong các nghiên cứu trước 38
1.4.2 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 50
Chương 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 51
2.1 Quy trình nghiên cứu 51
2.2 Nghiên cứu định tính 52
2.1.1 Mục tiêu phỏng vấn sâu 52
2.1.2 Phương pháp thực hiện phỏng vấn sâu 52
2.3 Nghiên cứu định lượng 54
Trang 42.3.1 Thiết kế mẫu 54
2.3.2 Thu thập số liệu 55
2.3.3 Phân tích số liệu 56
2.4 Kết quả phân tích và kiểm định mô hình 59
2.4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 59
2.4.2 Độ tin cậy và xác thực của thang đo 62
2.4.3 Kiểm định hệ số tương quan 67
2.4.4 Kiểm định ANOVA 68
2.4.5 Kiểm định giả thuyết 71
2.4.6 Mô hình kiểm định M1 và M2 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP 76
3.1 Một số đặc điểm của các trường đại học khối kinh tế 76
3.1.1 Chức năng và nhiệm vụ 76
3.1.2 Đặc điểm của trường đại học khối kinh tế 76
3.2 Đào tạo trình độ đại học đáp ứng nhu cầu xã hội 79
3.2.1 Sơ lược tình hình kinh tế-xã hội và nhân lực Việt Nam 79
3.2.2 Quy mô đào tạo trình độ đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực 81
3.2.3 Thực hiện chính sách đào tạo trình độ đại học theo nhu cầu xã hội 83
3.2.4 Tình hình việc làm của lực lượng lao động đã qua đào tạo trình độ đại học 86
3.2.5 Sự đáp ứng về chất lượng của nhân lực có trình độ đại học 88
3.2.6 Các hoạt động hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp ở một số trường đại học khối kinh tế 91
3.3 Nghiên cứu điển hình chất lượng đào tạo thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp tại trường đại học Thương Mại 97
3.3.1 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu 97
3.3.2 Thực trạng chất lượng đào tạo thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp 98
3.4 Sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trình độ đại học 110
3.4.1 Tác động của các hình thức hợp tác 110
3.4.2 Tác động của Cơ sở vật chất 112
3.4.3 Tác động của Chương trình đào tạo 113
Trang 53.4.4 Tác động của Chất lượng đội ngũ giảng viên 113
3.4.5 Tác động của Quản lý đào tạo 114
3.4.6 Tác động của Kiểm soát chất lượng đào tạo 114
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 117
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP 118
4.1 Một số giải pháp 118
4.1.1 Đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của các doanh nghiệp 118
4.1.2 Tăng cường cơ sở vật chất 119
4.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 119
4.1.4 Đổi mới về quản lý đào tạo 120
4.1.5 Cải tiến kiểm tra chất lượng đào tạo 121
4.1.6 Hợp tác nhà trường và doanh nghiệp 121
4.2 Khuyến nghị 123
4.2.1 Với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo 123
4.2.2 Với các trường đại học khối kinh tế 124
4.2.3 Với doanh nghiệp 126
PHẦN KẾT LUẬN 128
1 Tổng kết các kết quả đạt được của luận án 128
2 Những hạn chế của luận án và kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo 130
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 139
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Ví dụ về thu nhập từ cấp phép của ba trường đại học 36
Bảng 1.2 Sản phẩm của trường đại học và đối tượng khách hàng 44
Bảng 1.3 Sản phẩm là sinh viên tốt nghiệp 45
Bảng 1.4 Sản phẩm là các khóa học 45
Bảng 1.5 Sản phẩm là khoa học-công nghệ 46
Bảng 1.6 Mô tả các biến độc lập 48
Bảng 1.7 Biến phụ thuộc 49
Bảng 2.1 Thông tin về các đối tượng tham gia phỏng vấn 52
Bảng 2.2 Hệ số factor loading đạt yêu cầu theo cỡ mẫu 57
Bảng 2.3 Kết quả thu thập phiếu điều tra 59
Bảng 2.4 Kết quả sàng lọc phiếu điều tra 60
Bảng 2.5 Thông tin về đối tượng trả lời phiếu điều tra 60
Bảng 2.6 Độ tin cậy của biến phụ thuộc: Chất lượng đào tạo QUA 63
Bảng 2.7 Độ tin cậy của biến: Trao đổi thông tin INF 63
Bảng 2.8 Độ tin cậy của biến: Tham gia đào tạo TRA 64
Bảng 2.9 Độ tin cậy của biến: Hỗ trợ tài chính FIN 64
Bảng 2.10 Độ tin cậy của biến: Cơ sở vật chất INS 64
Bảng 2.11 Độ tin cậy của biến: Quản lý đào tạo MAN 64
Bảng 2.12 Độ tin cậy của biến: Kiểm soát chất lượng đào tạo COT 65
Bảng 2.13 KMO và Bartlett's Test với biến phụ thuộc 65
Bảng 2.14 Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 65
Bảng 2.15 Tổng biến động các thang đo (Total Variance Explained) 67
Bảng 2.16 Ma trận hệ số tương quan (với biến phụ thuộc QUA) 68
Bảng 2.17 Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 69
Bảng 2.18 Kiểm định ANOVA phương sai trung bình giữa các nhóm 69
Bảng 2.19 Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo70 Bảng 2.20 Tóm tắt kiểm định giả thuyết 71
Bảng 2.21 Hệ số xác định sự phù hợp của mô hình 74
Bảng 3.1 Số lượng cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam 81
Bảng 3.2 Quy mô sinh viên 82
Bảng 3.3 Chất lượng lao động được đào tạo của 3 khối trường đại học 88
Bảng 3.4 Cơ cấu đội ngũ cán bộ và giảng viên của nhà trường 97
Bảng 3.5 Mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp 99
Bảng 3.6 Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy thực hành 105
Bảng 3.7 Đánh giá của CBQL doanh nghiệp về mức độ hợp tác NT-DN 115
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình Deming về chất lượng 39
Hình 1.2 Sơ đồ đánh giá trong đào tạo 39
Hình 1.3 Độ chênh lệch về chất lượng đào tạo 42
Hình 1.4 Chu trình phát triển giá trị 43
Hình 1.5 Mô hình nghiên cứu 47
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu 51
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 54
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Ý kiến DN về việc thường xuyên nhận SV đến thực tập từ các trường đại học khối kinh tế 93
Biểu đồ 3.2 Ý kiến DN về việc tuyển dụng SV kinh tế đã thực tập tại DN 94
Biểu đồ 3.3 Ý kiến CBQL, GV về thực trạng tham gia của DN vào quá trình đào tạo của nhà trường 108
Biểu đồ 3.4 Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 116 DANH MỤC HỘP Hộp 3.1 Ý kiến của DN chất lượng đào tạo 89
Hộp 3.2 Hiệu quả khóa thực tập của sinh viên 93
Hộp 3.3 Hợp tác, liên kết giữa nhà trường và DN 95
Hộp 3.4 Xây dựng chương trình đào tạo 100
Hộp 3.5 NT cần có sự hỗ trợ của DN về tài chính 100
Hộp 3.6 Đào tạo theo đơn đặt hàng 101
Hộp 3.7 Tăng cường thực tập tại DN 101
Hộp 3.8 Chất lượng sinh viên tốt nghiệp Khoa quản trị doanh nghiệp 102
Hộp 3.9 Yêu cầu hợp tác với DN của Khoa tài chính-ngân hàng 103
Hộp 3.10 Chất lượng sinh viên Khoa tài chính-ngân hàng qua ý kiến DN 103
Hộp 3.11 Đổi mới phương thức quản lý và đào tạo 104
Hộp 3.12 Chiến lược hợp tác của trường 104
Hộp 3.13 Trang thiết bị thực hành 106
Hộp 3.14 Trang bị cơ sở vật chất tiếp cận thực tiễn 106
Hộp 3.15 Đội ngũ giảng viên trẻ 107
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CLĐT : Chất lượng đào tạo
CSĐT : Cơ sở đào tạo
ĐTNL : Đào tạo nhân lực
GD-ĐT : Giáo dục-Đào tạo
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Giới thiệu đề tài
Sự hình thành ý tưởng nghiên cứu: Vấn đề chất lượng đào tạo của sinh viên sau khi ra trường là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và toàn xã hội Trước thực tế, các sinh viên tốt nghiệp tìm được việc phù hợp là không dễ dàng, sinh viên tốt nghiệp phải có năng lực chuyên môn có thể đáp ứng được yêu cầu của
cơ quan tuyển dụng Các trường đại học nói chung và trường đại học khối kinh tế nói riêng đều nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn Câu hỏi đặt ra việc phối hợp, hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động - đó là các doanh nghiệp có nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học hay không? Trong những năm gần đây, một số trường ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội đã tiến hành các hoạt động phối hợp với một số doanh nghiệp về hỗ trợ đào tạo, thực tập tốt nghiệp, tuyển dụng sinh viên ra trường Đặc biệt trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội” thì vấn
đề phối hợp đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp càng trở nên cấp thiết Đây
là những tiền đề đầu tiên để tác giả suy nghĩ cần có một nghiên cứu khoa học về mức độ tác động của việc hợp tác này, cụ thể là các cách thức hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, với chất lượng đào tạo trình độ đại học Hơn nữa, việc nghiên cứu thực trạng hợp tác đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp là cần thiết
để đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp
Về kết cấu tổng thể của luận án: ngoài phần mở đầu và tổng quan các vấn đề nghiên cứu gồm 8 mục, phần nội dung gồm 4 chương Trong đó luận án có 35 bảng,
7 hình, 4 biểu đồ và 15 hộp
Về các kết quả của luận án: Luận án đã làm sáng tỏ các định nghĩa về chất lượng đào tạo trình độ đại học qua các cách tiếp cận khác nhau, trong đó cách tiếp cận thông qua khách hàng làm thay đổi các khái niệm truyền thống về chất lượng đào tạo trình độ đại học Trong đó luận án xác định được thêm một yếu tố - hợp tác với doanh nghiệp - bổ sung vào hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào
Trang 10tạo đã được đề cập trong các nghiên cứu trước đây Hơn nữa, luận án đã đưa ra được các biến hợp tác cụ thể bao gốm: Trao đổi thông tin, tham gia đào tạo và hỗ trợ tài chính, thước đo cho các yếu tố này được phát triển mới dựa trên quá trình tổng quan tài liệu và kết quả nghiên cứu định tính Luận án khẳng định sự ảnh hưởng của các yếu tố hợp tác trên cơ sở kết quả kiểm định thực nghiệm trên 176 doanh nghiệp (thành viên của VCCI ) trên địa bàn Hà Nội từ đó các bên liên quan thấy rõ sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp Luận án cho rằng, mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là điều có ý nghĩa rất quan trọng, được coi là động lực cốt yếu để nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học khối kinh tế đáp ứng nhu cầu xã hội Luận án xác định và chỉ ra mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, từ đó giúp nhà trường và doanh nghiệp kiểm soát các yếu tố này theo tỷ lệ tác động để nâng cao chất lượng đào tạo Nhà nước cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, gắn chặt giữa nhà trường với doanh nghiệp từ việc xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, tham gia đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập đến việc hỗ trợ cơ sở vật chất thông qua các hợp đồng Nhà trường coi doanh nghiệp như là những khách hàng đặc biệt, vừa tham gia tiêu dùng, vừa tham gia sản xuất Các trường đại học cần chủ động hơn nữa trong việc xây dựng các mối quan hệ với các doanh nghiệp Doanh nghiệp cùng với nhà trường tổ chức các diễn dàn nghề nghiệp, tuyển dụng, quảng bá thông tin tuyển dụng, đặt hàng trường đại học trong việc đào tạo
2 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ngành giáo dục và các trường ĐH, CĐ đã triển khai một số biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo Năm 2004 Bộ GD-ĐT đã thành lập Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, hướng dẫn các trường tự đánh giá chất lượng đào tạo Triển khai chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội bằng các hội thảo quốc gia đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế chủ lực như công nghệ thông tin, đóng tàu, tài chính - ngân hàng, du lịch, chế biến nông sản, y tế, qua đó có hơn 600 hợp đồng, thỏa thuận đào tạo đã được ký kết giữa các trường ĐH, CĐ và các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước Mặc dù các giải pháp nói trên là đúng
Trang 11đắn, song thực tế chưa tạo được chuyển biến đáng kể trên diện rộng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo [8]
Ngày 6-1-2010, Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Nghị quyết
về Đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 Ngày 11 - 1-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình hành động đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 Và ngày 27-2-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu: "Cần quán triệt nhận thức: Phát triển quy mô giáo dục đại học phải
đi đôi với bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo Kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soát được chất lượng đào tạo Cần tạo ra cơ chế và động lực trong quản
lý nhà nước và quản lý của các cơ sở đào tạo để thực hiện mục tiêu bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo" [11, trang 1]
Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội được Bộ GD&ĐT quan tâm, phối hợp với các bộ ngành liên quan tổ chức một số Hội thảo quốc gia về “Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”, với mục tiêu tìm ra những định hướng và giải pháp cho đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội cả về số lượng và chất lượng [5] Theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, việc chuyển từ đào tạo dựa theo khả năng sẵn có của mình sang đào tạo theo nhu cầu xã hội là chuyển biến quan trọng nhất, cơ bản và bức bách trong giai đoạn hiện nay [8]
Hội thảo Hợp tác hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính-kế toán đáp ứng yêu cầu xã hội được Diễn đàn giáo dục ACCA Việt Nam tổ chức ngày 6-5-2010, tại Hà Nội Đại diện nhiều doanh nghiệp và các trường đã cùng nhau bàn thảo các giải pháp hợp tác trong thời gian tới Đại diện nhiều doanh nghiệp phát biểu ý kiến, cho rằng chất lượng sinh viên mới tốt nghiệp còn kém, không sử dụng được ngay Để sử dụng được, các doanh nghiệp đã phải tốn kém chi phí và thời gian để đào tạo lại Đại diện Học viện Tài Chính, Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội phát biểu ý kiến đều cho rằng, chất lượng đào tạo nhân lực chưa cao cũng có một phần “lỗi” của chính doanh nghiệp, các nhà tuyển dụng Để sự hợp tác, phối hợp giữa doanh nghiệp và nhà trường trong việc đào tạo nguồn nhân lực có hiệu quả, nhiều đại biểu cho rằng, đã đến lúc cần có một chế tài, có thể đưa vào Luật giáo dục về trách nhiệm của cả hai bên[8]
Trang 12Công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta được tiến hành năm 1986 từ Đại hội Đảng lần thứ VI Đi cùng với sự nghiệp đổi mới, nền giáo dục nước ta cũng đã có
sự thay đổi đáng kể, trong đó có hệ thống đào tạo khối các trường kinh tế Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc đào tạo đại học khối các trường kinh tế gần như đã được thay đổi cơ bản về nội dung, chương trình, giáo trình, cơ cấu ngành nghề và chuyên ngành đào tạo [4]
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của bước ngoặt lịch sử, khi nước ta đã chính thức gia nhập WTO, việc đào tạo trình độ đại học khối các trường kinh tế đang đứng trước những thách thức lớn Chúng ta cần tiếp tục đổi mới đào tạo trình độ đại học khối các trường kinh tế để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới [16] Yêu cầu hội nhập kinh tế của nước ta với WTO, AFTA là phải cạnh tranh với các nước có nền giáo dục chất lượng cao, hiện đại nhưng các cơ sở giáo dục đại học khối kinh tế lại chưa theo kịp về nội dung chương trình, trang thiết bị Hơn nữa, yêu cầu của thị trường lao động cạnh tranh lớn cả thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc tế nhưng đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu xã hội về chất lượng [10]
Trong quá trình đổi mới, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các trường đại học khối kinh tế đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực Nhưng trong giai đoạn mới khi nước ta gia nhập WTO, việc đào tạo trình độ đại học lại đứng trước những thử thách lớn, đòi hỏi các trường đại học khối kinh tế phải đối mặt để vượt qua [20]
Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Nguồn nhân lực con người với tiềm năng là tri thức là lợi thế cạnh tranh của các công ty, ngành và nền kinh tế [15] Cùng với việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam như một con rồng châu Á đang vươn mình với nhiều lợi thế như tốc độ kinh tế cao, nguồn nhân lực dồi dào trong đó có đến 50% lao động trẻ đưới 30 tuổi [18] Tuy nhiên,
“nguồn nhân lực Việt Nam tuy thừa mà vẫn thiếu-thừa lượng, thiếu chất” Hiện nay
hệ thống đào tạo của chúng ta chưa tuân thủ quy luật cung-cầu, đào tạo chưa gắn được với nhu cầu của thị trường lao động nên gây tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu lao động kỹ thuật [8] Đây là một vấn đề quan tâm hàng đầu và cũng là một thách
Trang 13thức to lớn từ cả hai phía nhà truờng và doanh nghiệp để có thể nâng cao chất lượng đào tạo Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn nhiều hạn chế, như trình độ chuyên môn lành nghề thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế, sự mất cân đối về cơ cấu đào tạo giữa các loại trình độ, sự lệch pha giữa đào tạo và sử dụng [30]
Trước sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế về kinh tế, văn hoá và các hoạt động khác như hiện nay, giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn [16] Yêu cầu cung cấp nhân lực có trình độ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ngày càng được xác định là nhiệm vụ tối quan trọng, là trọng trách của giáo dục - đào tạo [15] Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy việc gắn kết giữa đào tạo nhân lực và nhu cầu của xã hội về nhân lực còn rất hạn chế Hiện tại, cung nhân lực chưa đáp ứng được cầu đang là vấn đề rất được dư luận quan tâm
Đa số các trường đại học chủ yếu tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo sẵn có, không nắm bắt được nhu cầu về nhân lực theo trình độ, ngành nghề của thị trường lao động nên nhiều người tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của người tuyển dụng [2] Vậy làm thế nào để gắn đào tạo với sử dụng, để nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học đáp ứng được nhu cầu nhân lực của nhà sử dụng, của các bộ, ngành, các cơ quan, doanh nghiệp là vấn đề lớn không chỉ đặt ra đối với ngành giáo dục- tác nhân chính, mà còn là đối với Nhà nước và các ban, ngành khác Câu hỏi này đã được “bàn” trong rất nhiều hội thảo để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhưng dường như chưa có hồi kết thúc, chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa các trường đại học khối kinh tế và doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội” ngoài việc
đóng góp thực tiễn còn đóng góp về lý luận nhằm hoàn thiện hơn nữa các khái niệm chất lượng, chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác đào tạo
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Các nghiên cứu nước ngoài:
Trong nghiên cứu của mình Harvey & Green (1993) cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học được thể hiện ở các khía cạnh: (1) Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu
Trang 14tú, xuất sắc; (2) Sự hoàn hảo; (3) Sự phù hợp, thích hợp; (4) Sự thể hiện giá trị; (5)
Sự biến đổi về chất [45] Còn Philip, B (1980) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với yếu cầu [57]
Astin (1991) đã đề xuất mô hình Đầu vào – Ngoại cảnh – Đầu ra (I-E-O) và được nhiều nhà nghiên cứu dùng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, yếu tố ngoại cảnh và chất lượng đầu ra của sinh viên [33] Nghiên cứu tiếp theo, Kerr, C (1987) đánh giá sự phát triển, chất lượng đào tạo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến các biến phụ thuộc này [47] Ngoài ra còn có Clark, NR (1983), Harman,
G (1998), Ellis, R (1993), Soutar, G and McNeil, M (1996) Tất cả các biến được phân thành 3 khối: Đầu vào, Ngoại cảnh và Đầu ra Giả thuyết đưa ra là các đặc điểm đầu vào của sinh viên đồng thời ảnh hưỏng đến quá trình và chất lượng đào tạo [37], [44], [65] Theo Astin (1993), các yếu tố đầu vào có thể là nhân thân, nền tảng giáo dục, định hướng chính trị, kiểu hành vi, khát vọng học tập, động cơ chọn trường, tình trạng tài chính, tình trạng thể chất, lựa chọn nghề nghiệp, lĩnh vực chuyên ngành, mục tiêu cuộc đời Các yếu tố ngoại cảnh có thể là chương trình, giảng viên, cán bộ, môi trường học thuật, thiết bị, môn học, phương pháp giảng dạy, bạn bè và các hoạt động ngoại khoá Và đầu ra là chất lượng giáo dục được thể hiện qua kết quả kiểm tra sau khoá học, kết quả tốt nghiệp [33]
Wong, Poh-Kam, Yuen-Ping Ho (2006) đưa ra các mô hình mô tả mối quan
hệ giữa kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực Mô hình đã đưa ra 5 mức độ kết hợp giữa chiến lược kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp [71] Nhu cầu của người sử dụng lao động được biểu hiện bằng mong muốn của họ có được những lao động được đào tạo với những kiến thức và phẩm chất con người đáp ứng được yêu cầu của những vị trí công việc mà những lao động này phải đảm nhiệm trong các cơ quan, tổ chức cũng như trong doanh nghiệp Bằng cách đó, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có được nguồn lực quan trọng, thậm trí là quan trọng bậc nhất để làm tròn sứ mạng của mình, để tồn tại và phát triển; đặc biệt là trong điều kiện thời đại của kinh tế tri thức ngày càng chiếm vai trò chủ đạo [34]
Nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác nhà trường – doanh nghiệp (University Business Cooperation- UBC), các tác giả tổng kết: Mối quan hệ hợp tác giữa nhà
Trang 15trường và doanh nghiệp được hiểu như là những giao dịch giữa các trường đại học
và các tổ chức sản xuất kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên Mối quan hệ này đang chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố trong đó có nhận thức về lợi ích của sự hợp tác, cũng như những rào cản và động lực của sự hợp tác đó [60], [67], [69] Hơn nữa, theo Carayon (2003); Gibb & Hannon (2006) những nhân tố thuộc về hoàn cảnh như tuổi tác, giới tính, số năm học đại học, số năm làm việc trong giới doanh nghiệp, đặc điểm của nhà trường và của quốc gia…cũng ảnh hưởng tới phạm vi của việc hợp tác [38], [42]
- Các nghiên cứu trong nước:
Nguyễn Hữu Châu (2008) đưa ra mô hình (I-P-O-C) kết hợp giữa các yếu tố chất lượng của các thành phần tạo nên một cơ sở giáo dục, mô hình bao gồm: chất lượng đầu vào, chất lượng quá trình, chất lượng đầu ra và hoàn cảnh cụ thể Các tiêu chí và chỉ số cụ thể cần được xác định để chỉ rõ mức độ đạt được của các thành phần này [14] Trong đào tạo, chất lượng đào tạo trình độ đại học được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo [20] Cụ thể hơn, chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh
ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành cụ thể [27] Một cách khái quát có thể hiểu chất lượng đào tạo trình độ đại học được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với chương trình đào tạo [14] Qua các quan điểm trên ta có thể thấy, chất lượng đào tạo trình
độ đại học thể hiện cả hai khía cạnh: khía cạnh thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do nhà trường đề ra, ở khía cạnh này chất lượng đào tạo được xem là chất lượng bên trong [33] Ở khía cạnh thứ hai, chất lượng được xem là sự thoả mãn nhu cầu của người sử dụng lao động, ở khía cạnh này chất lượng được xem là chất lượng bên ngoài Như vậy, mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ được uỷ thác, nhiệm vụ này thường được do các chủ sở hữu quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường Vấn đề đặt ra là, nhà trường làm thế nào để xác định các mục tiêu của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp
- đạt chất lượng bên ngoài Về chất lượng, nhu cầu về chất lượng đối với sản phẩm đào tạo là những kiến thức, các kỹ năng và phẩm chất con người mà người học đòi
Trang 16hỏi phải có được sau khi kết thúc quá trình đào tạo hoặc sử dụng lao động mong muốn ở những người lao động mà họ sẽ tuyển dụng [27] Trong thực tế, bấy lâu nay chúng ta vẫn đào tạo theo chỉ tiêu được Bộ GDĐT giao và theo yêu cầu của nhà trường Còn nó có phù hợp với yêu cầu cụ thể của xã hội hay không thì thực ra chúng ta cũng không biết rõ Bao nhiêu phần trăm sinh viên ra trường có việc làm,
có phù hợp với nghề đào tạo hay không, chất lượng đào tạo có đáp ứng yêu cầu thực
tế không là những câu hỏi mà các cơ sở đào tạo khó có câu trả lời chính xác [25]
Để đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học đáp ứng NCXH thì phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa CLĐT và NCXH về đào tạo Cần có
sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp để giải quyết một loạt các vấn đề cả hai phía đều quan tâm [24] Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước thường đề cập đến mục tiêu của từng phía hoặc nhà trường hay doanh nghiệp (người sử dụng lao động), chưa đi sâu vào nghiên cứu làm thế nào để gắn kết nhà trường và doanh nghiệp, nhất là chưa có nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của nhân tố hợp tác với doanh nghiệp đối với chất lượng đào tạo trình độ đại học Mặc dù đã có các nghiên cứu trên thế giới đưa ra các hình thức hợp tác cho riêng trường của mình phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của họ Nhưng chưa có nghiên cứu một cách tổng thể các hình thức hợp tác một cách có hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp đặc biệt là các hình thức nào phù hợp và có thể áp dụng ở Việt Nam
4 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các quan điểm về chất lượng, chất lượng đào tạo trình độ đại học Phát triển lý luận hợp tác đào tạo trình độ đại học giữa các trường đại học với doanh nghiệp
- Xác định yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp Mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Yếu tố hợp tác với doanh nghiệp được cụ thể hóa bằng các hình thức hợp tác có mức độ tác động như thế nào trong nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo của các trường đại học khối kinh tế
- Khuyến nghị các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa trường đại học khối kinh tế và doanh nghiệp
Trang 175 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế về thông tin, dữ liệu, lý luận, phương pháp nghiên cứu, thời gian, kinh phí,…nghiên cứu xác định phạm vi nghiên cứu như sau:
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng sẽ được giới hạn trong thời kỳ 2000 – 2012
- Về không gian: Nghiên cứu được xác định khảo sát các trường đại học khối kinh
tế và doanh nghiệp trên phạm vi Hà Nội là chủ yếu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp
6 Những đóng góp mới của đề tài
Thông qua nghiên cứu của mình tác giả đã có một số đóng góp tri thức mới
cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Cụ thể:
- Về mặt lý luận: Luận án có những đóng góp mới về mặt lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học: (1) Đưa ra 6 yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo trình độ đại học đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong đó yếu tố hợp tác với doanh nghiệp được cụ thể hóa thành các yếu tố: Trao đổi thông tin, tham gia đào tạo và hỗ trợ tài chính (2) Nghiên cứu chỉ ra được việc hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp là nhân tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học Đồng thời, luận án cũng đưa ra các nhân tố hợp tác và xác định mức độ tác động cụ thể của những nhân tố này đến chất lượng đào tạo trình độ đại học
- Về mặt thực tiễn: Việc thực hiện hợp tác giữa trường đại học khối kinh tế
và doanh nghiệp nhằm tận dụng nguồn nội lực và ngoại lực để nâng cao hiệu quả hoạt động của từng tổ chức trong đào tạo nguồn nhân lực Từ kết quả nghiên cứu luận án đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua các hình thức: (1) Tham gia đào tạo, (2) Hỗ trợ tài chính, (3) Trao đổi thông tin
7 Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố nào tác động đến chất lượng đào tạo trình độ đại học?
- Bên cạnh những yếu tố đã được xác định là có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, mức độ ảnh hưởng của yếu tố hợp tác đến chất lượng đào tạo trình độ đại học như thế nào?
Trang 18- Hợp tác giữa các trường đại học với doanh nghiệp như thế nào thì sẽ nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học?
- Thực trạng chất lượng đào tạo trình độ đại học của các trường đại học khối kinh tế thông qua hợp tác với các doanh nghiệp?
- Giải pháp nào để nâng cao chất lượng đào tạo thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp?
7.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành qua các bước nghiên cứu chính như: (1) Thiết kế mô hình nghiên cứu (2) Nghiên cứu định tính (3) Nghiên cứu định lượng
+Thiết kế mô hình nghiên cứu:
Trên cơ sở các lý thuyết và các nghiên cứu trước tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu và các thang đo
+ Nghiên cứu định tính:
Dựa trên cơ sở lý luận và những nghiên cứu trước đây, tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 biến độc lập tương ứng với 6 yếu tố tác động đến biến phụ thuộc chất lượng đào tạo trình độ đại học Tác giả dựa vào phương pháp nghiên cứu điển hình tại một trường đại học khối kinh tế (ĐH Thương Mại) và tham khảo ý kiến 6 nhà quản lý tại các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội Khi áp dụng phương pháp này tác giả dùng công cụ phỏng vấn sâu, kết hợp thu thập dữ liệu thứ cấp với mục đích là xem xét, đánh giá sự phù hợp của mô hình đã đưa ra trong điều kiện thực tế tại một trường đại học, tác giả chọn trường đại học Thương Mại vì trường đã và đang triển khai một số hoạt động liên quan đến hợp tác đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp Đầu tiên tác giả tiến hành thu thập các tài liệu, báo cáo của các hội thảo, hội nghị tổng kết tại trường ĐH Thương Mại cũng như các trường có phỏng vấn sâu lãnh đạo Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm: (1) Lãnh đạo trường đại học khối kinh tế phụ trách mảng đào tạo (2) Lãnh đạo các khoa và giảng viên các khoa có các hoạt động, đang triển khai hoặc quan tâm tới hợp tác đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp (3) Sinh viên của trường đã tốt nghiệp đang làm việc trong các doanh nghiệp Kết quả của nghiên cứu này giúp tác giả có thể điều chỉnh lại mô hình Từ đó, tác giả có thể điều chỉnh câu hỏi phục vụ cho nghiên cứu định lượng
Trang 19+ Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được tiến hành nhằm kiểm định lại các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát Phiếu điều tra dựa trên cách đo lường các biến được thực hiện ở các nghiên cứu trước đây Tác giả có bổ sung các biến được rút ra từ nghiên cứu định tính Thử nghiệm phiếu điều tra được tiến hành trên một bộ phiếu hỏi gồm 300 phiếu hỏi sẽ được phát ra cho các DN thành viên của VCCI đang hoạt động trên địa bàn Hà Nội Các dữ liệu thu thập dùng để kiểm định mô hình, đánh giá thang đo cũng như là kiểm định giả thuyết
Xử lý số liệu: Tác giả dùng phần mềm SPSS để phân tích tương quan nhằm đánh giá sự tác động của các nhân tố hợp tác và các nhân tố chất lượng đào tạo Trước tiên, dùng phương pháp đo độ tin cậy của các biến (reliability) thông qua hệ
số Cronbach Alpha và các hệ số tương quan biến - tổng (item-to-total correlation)
và giá trị tương quan bội bình phương (squared multiple correlation) Do mỗi biến trong mô hình được đo lường bằng một thước đo có nhiều tiêu chí nên phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis – EFA) được thực hiện để kiểm tra tính đơn hướng (udinimentionality) của thước đo nhằm loại bỏ một số tiêu chí đo lường không phù hợp Sau khi phân tích EFA cho từng biến, trước khi sử dụng cho các phân tích tiếp theo, thước đo của các biến được kiểm tra lại cùng một lúc, thực hiện thao tác varimax rotation với tiêu chí egenvalue > 1.0 cho toàn bộ các tiêu chí
đo lường Sau khi thực hiện phân tích độ tin cậy EFA cho các thước đo đo lường cho các biến độc lập và phụ thuộc sẽ phân tích tương quan theo cặp, cuối cùng là phân tích hồi quy đa biến (regression) để kiệm định lại giả thuyết và mối tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Ngoài ra, phương pháp phân tích thống
kê mô tả sẽ được dùng để phân tích các đánh giá của các nhà quản lý, giảng viên và sinh viên
8 Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm 3 phần chính, có bố cục như sau:
- Phần mở đầu gồm 8 mục:
Trang 20Giới thiệu đề tài; Lý do chọn đề tài; Tổng quan tình hình nghiên cứu; Mục đích nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Những đóng góp mới của đề tài; Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu; Kết cấu của luận án
- Phần nội dung gồm 4 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ
VÀ DOANH NGHIỆP
Chương 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP
- Phần kết luận gồm 2 mục: Tổng kết các kết quả đạt được của đề tài luận
án và những hạn chế của đề tài luận án
Ngoài ra, luận án còn bao gồm những nội dung sau:
- Các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 21Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TRÌNH
ĐỘ ĐẠI HỌC THÔNG QUA HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHỐI KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP
1.1 Một số vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo trình độ đại học
1.1.1 Khái niệm về chất lượng và đào tạo
- Khái niệm về chất lượng:
Trong các nghiên cứu chất lượng là một khái niệm được xem xét từ các tiếp cận khác nhau:
Với cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng thì chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất) Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu
so sánh với những sự vật có cùng đặc tính với sự vật đang được xem xét [14] Nếu với cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng thì chất lượng được xem xét trên cơ sở thuộc tính đo được Điều đó có nghĩa là chất lượng được đo lường khách quan và chính xác Một sự vật có thuộc tính nào đó “cao hơn” cũng có nghĩa là nó “tốt hơn” và do đó cũng “đắt hơn” Còn tiếp cận dựa trên sản xuất thì chất lượng được xem là sự phù hợp với nhu cầu Các sản phẩm và dịch vụ được
“sản xuất” một cách chính xác với những “đặc tính kĩ thuật” đã định; mọi sự lệch lạc đều dẫn đến giảm chất lượng [14] Nguyễn Hữu Châu (2008) cho rằng chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu); là đáp ứng được nhu cầu khách hàng Chất lượng được xem xét đơn giản chỉ trong con mắt của người chiêm ngưỡng sự vật hoặc sử dụng chúng [14, trang 6]
Theo tiêu chuẩn Pháp – NFX 50-109, chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng Trong khi đó tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN – ISO 8402) thì đưa ra khái niệm chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn Ở cách tiếp cận đa dạng hơn Harvey & Green (1993) cho rằng chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh sau: Sự
Trang 22xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú, xuất sắc; Sự hoàn hảo; Sự phù hợp, thích hợp; Sự thể hiện giá trị; Sự biến đổi về chất [45]
- Khái niệm về đào tạo:
Trong Đại từ điển Tiếng Việt Nguyễn Như Ý (1999) đã đưa ra thuật ngữ
"Đào tạo" là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; Đào tạo thành người có tri thức, chuyên môn nghiệp vụ
Theo Trần Xuân Cầu & Mai Quốc Chánh (2008) Để hiểu rõ về đào tạo, trước hết, cần hiểu một số khái niệm liên quan:
• Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của nguồn nhân lực Nó biểu hiện ở sự hiểu biết lý thuyết về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động để hoàn thành những công việc có trình độ phức tạp nhất định thuộc về một nghề hoặc chuyên môn nào đó
• Nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định
• Chuyên môn là một hình thức phân công lao động sâu sắc hơn do sự chia nhỏ của nghề Nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết và thói quen trong phạm vi hẹp hơn và sâu hơn
• Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực là con đường duy nhất hình thành và phát triển vốn nhân lực Mỗi quốc gia có quy định chính thức về hệ thống giáo dục quốc dân và chiến lược phát triển nguồn nhân lực thích hợp xuất phát từ tình hình
và điều kiện cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển
• Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ đại học; giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ
• Giáo dục và đào tạo cung cấp sức lao động có chất lượng, năng suất cao là một yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ hiện nay, khi môi trường luôn thay đổi tác động đến tổ chức, đến ngành, giáo dục và đào tạo đáp ứng những thay đổi đó và con người có trình độ sẽ nhận biết được sự thay đổi, làm chủ sự thay đổi [29, trang 111]
Trang 23• Cán bộ chuyên môn là những người được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, có trình độ học vấn cao, có khả năng lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn nghiệp vụ nào đó Căn cứ vào trình độ đào tạo cán
bộ chuyên môn có thể chia thành các loại sau: cán bộ trung cấp; cán bộ chuyên môn
có trình độ cao đẳng; cán bộ chuyên môn có trình độ đại học; cán bộ chuyên môn có trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) [29, trang 122]
Như vậy, đào tạo trình độ đại học là quá trình chuẩn bị cho sinh viên kiến thức làm việc trong một thế giới nối kết, liên thông toàn cầu hóa Các trường đại học đóng một vai trò to lớn trong việc truyền bá và phát triển kiến thức Bên cạnh chức năng truyền thụ kiến thức, một trong những đặc trưng quan trọng nhất của trường đại học là kết hợp được việc giảng dạy và nghiên cứu [14] Tuy nhiên, trường đại học không phải là trung tâm nghiên cứu, cũng như không phải trường dạy nghề đơn giản Tính tự chủ của các cơ sở đào tạo trình độ đại học rất cao Trường đại học vừa là nơi giảng viên chia sẻ các kết quả nghiên cứu của mình với sinh viên, tổ chức cho sinh viên làm nghiên cứu mới Trường đại học cũng vừa là nơi kết nối với doanh nghiệp, với thị trường lao động trong quá trình đào tạo, nghiên cứu và cung ứng nguồn nhân lực
1.1.2 Các quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học
Hiện nay, chất lượng không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục và đào tạo mà là mối quan tâm hàng đầu của mọi hệ thống Chất lượng là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức [1] Chất lượng là một vấn đề rất trừu tượng, không ai nhìn thấy được và cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan của mình, không thể đo lường bằng những công cụ đo thông thường [13] Về bản chất, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học là một khái niệm mang tính tương đối Với mỗi người quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường dặt câu hỏi “chất lượng của ai” Ở mỗi vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng đào tạo trình độ đại học ở những khía cạnh khác nhau Các sinh viên, nhà tuyển dụng, giảng viên, chính phủ, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng [13] Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được
Trang 24mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo [14, trang 6] Cũng có nghiên cứu cho rằng chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể [27, trang 23]
Dưới đây là các trường phái nghiên cứu định nghĩa về chất lượng đào tạo trình độ đại học:
- Trường phái thứ nhất cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự vượt trội Tiêu biểu cho trường phái này là Harvey và Green (1993) Quan điểm này cho rằng chất lượng không được định nghĩa thông qua việc đánh giá những gì được cung cấp mà dựa trên cơ sở cho rằng chính bản thân tính nổi trội Chất lượng là cái sẵn có nằm trong trường đại học, và do vậy không cần có cơ quan nào bên trong hay bên ngoài trường đại học để làm nhiệm vụ đảm bảo chất lượng mà công việc đó được thực hiện bởi chính đội ngũ học thuật trong mọi thứ họ làm McDowell, L and Sambell, K (1999), Meister B (2004) thì nhấn mạnh vào đầu vào, đầu ra, chất lượng là sự xuất sắc để chỉ khái niệm của một nhóm sinh viên ưu tú giới hạn trong
“tháp ngà” của một số ít trường đại học
- Trường phái thứ hai cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự hoàn hảo nhất quán Nghiên cứu của Harman, G (1998), Crosby, B (1985) chỉ ra sự xuất sắc trở thành hoàn hảo “khiếm khuyết bằng không” Đồng tình với quan điểm này còn có Gudmund, H (2000) và Connolly, M (2010) Hoàn hảo đảm bảo rằng không xảy ra sai sót ở từng giai đoạn thay vì chờ kiểm tra đến đoạn cuối cùng mới phát hiện ra sai sót (Oldfield and Baron, 2000)
- Trường phái thứ ba cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là sự phù hợp với mục tiêu Cách tiếp cận này cho rằng chất lượng đào tạo chỉ có ý nghĩa trong mối liên hệ với mục tiêu (Bowles, 1976; Ramsden, 1991; Scott, 2001) Các nghiên cứu xác định chất lượng mức độ sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu của khách hàng Giả thuyết cho rằng một sản phẩm chất lượng khi khi đạt được yêu cầu
Trang 25của khách hàng Chất lượng đào tạo trình độ đại học theo nghĩa phù hợp mục tiêu được đánh giá bằng đầu ra chứ không phải bằng quá trình
- Trường phái thứ tư cho rằng chất lượng đào tạo trình độ đại học là giá trị chuyển đổi Quan niệm này dựa trên hiện tượng thực tế: Băng tan ra thành nước và cuối cùng bốc hơi nếu trài qua một sự tăng nhiệt độ Trong khi sự tăng nhiệt độ có thể đo đếm được, sự chuyển đổi đòi hỏi một thay đổi về chất Đào tạo có chất lượng nghĩa là đào tạo gây ảnh hưởng tới thay đổi ở những người tham gia (Astin, 1985, 1991; Kwek, Lau, Tan, 2010)
- Tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng thông qua khách hàng làm thay đổi quan điểm về chất lượng đào tạo trình độ đại học (Ellis, 1993) Trước đây, theo cách tiếp cận truyền thống, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học được thiết lập bởi các trường ĐH hay bởi các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục Nhiệm vụ các trường ĐH là quản lý theo kế hoạch nhằm đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng được chuẩn chất lượng đã thiết kế mà không lưu tâm đến nhu cầu của khách hàng, không tiến hành đánh giá, lấy ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm đào tạo [40] Đây là cách tiếp cận chưa toàn diện bởi lẽ khách hàng hiện nay không chỉ đơn thuần mong chờ họ được cung ứng cái gì, mà được cung ứng như thế nào, bao giờ và ở đâu với những kỹ năng và con người cung ứng như thế nào Vì vậy, khái niệm chất lượng đào tạo trình độ đại học cần được đề cập với cách tiếp cận mới toàn diện và phù hợp với bối cảnh, xu thế phát triển đào tạo trình độ đại học hiện nay đó
là tiếp cận thông qua khách hàng (Olsen, 2004)
Cách tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng thể hiện khái niệm chất lượng đào tạo trong đó vấn đề đáp ứng nhu cầu, kì vọng của khách hàng được ưu tiên hàng đầu Chất lượng sản phẩm được thể hiện qua các tính năng của sản phẩm và phải thỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng Trong sản xuất, nếu thiết kế không đúng ngay từ đầu, không xuất phát từ yêu cầu của khách hàng và người tiêu dùng để thiết kế sản phẩm thì sẽ dẫn đến việc sản xuất ra những sản phẩm không phù hợp, những sản phẩm sẽ tồn đọng hoặc phải bỏ đi Trong giáo
Trang 26dục, với tính chất sản phẩm giáo dục là sản phẩm “không mắc lỗi” điều này càng có
ý nghĩa quan trọng [49, trang 78]
Khách hàng là quan tòa của chất lượng Vì vậy, các trường ĐH bên cạnh đảm bảo chất lượng sản phẩm đào tạo, quan tâm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào cũng như uy tín, thương hiệu của một trường ĐH Chất lượng sản phẩm đào tạo của các trường ĐH phải được đánh giá bởi khách hàng và kết quả đánh giá là cơ sở để các trường ĐH xây dựng kế hoạch và tiến hành cải tiến nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường [42, trang 33] Quan điểm tiếp cận chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua khách hàng được tác giả sử dụng xuyên suốt luận án như là một lý thuyết nền
1.2 Một số vấn đề lý luận về hợp tác nhà trường và doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về hợp tác
Trong Pricipal Regional Omce for Asie and the Pacific 2001; Khi bàn đến sự khác nhau về "Hợp tác" và "Mạng lưới" ở mức độ cam kết của các bên đối tác, UNESCO giải thích khái niệm hợp tác như sau: Hợp tác (co-operation) là sự liên kết giữa các tổ chức A, B, C Mỗi tổ chức có những mục đích, mục tiêu khác nhau
Loại hợp tác này có thể là tạm thời hay lâu dài Hợp tác là sự liên kết với nhau từ
nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm một mục đích nào đó [12, trang 13]
Tham khảo một số nguồn khác: hợp tác được hiểu là hợp lại với nhau hay là mối quan hệ bền chắc, hợp lý và có trật tự của các thành phần Hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo trình độ đại học đang được hiểu với nhiều ý nghĩa, khía cạnh khác nhau ở những mức độ khác nhau Trong phạm vi luận án này, khái niệm hợp tác được hiểu là mọi quan hệ tương tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, hợp thành một hệ thống đào tạo trình độ đại học thống nhất và phù hợp, trong đó chức năng của hệ thống được tích hợp từ hai bộ phận tạo thành là nhà trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học
Do đó, hợp tác đào tạo trình độ đại học với doanh nghiệp có thể được hiểu là
gắn bó, tạo được mối quan hệ chặt chẽ, hài hòa giữa đào tạo trình độ đại học và nhu cầu sử dụng nhân lực của thị trường lao động
Trang 27Mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp được hiểu như là những giao dịch giữa các trường đại học và các tổ chức sản xuất kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên Đẩy mạnh việc hợp tác này và khai thác giá trị của nó có thể giúp nhà trường tháo gỡ những khó khăn về tài chính, và giúp các doanh nghiệp đạt được hoặc duy trì ưu thế cạnh tranh trong thị trường năng động ngày nay, đồng thời đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia và đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động (Carayon, 2003; Gibb & Hannon, 2006; Suttisprasit, 2003; Meister, 2004; Scott, 2001; Sander, Stevenson, King and Coates, 2000)
Như vậy, có thể định nghĩa hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là tất cả mọi hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, có tính chất cá nhân hay tổ chức giữa trường đại học và các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai: hợp tác trong nghiên cứu và phát triển, kích thích sự vận động năng động qua lại của giảng viên, sinh viên và các nhà chuyên môn đang làm việc tại các doanh nghiệp; thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; xây dựng chương trình đào tạo; trao đổi thông tin; hỗ trợ tài chính và quản trị tổ chức
Để có thể nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học cho phát triển kinh tế thì vai trò của cơ sở đào tạo đại học có ý nghĩa quyết định Có rất nhiều các nội dung, yếu tố trong quá trình đào tạo ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm như đội ngũ, cơ sở vật chất, tuyển sinh, nội dung, phương pháp giảng dạy, công tác quản lý vv Tuy nhiên đề tài này chỉ tập trung đến các khái niệm liên quan đến chất lượng đào tạo trình độ đại học và các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề tài nêu ra mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo với sử dụng nhân lực, bởi đây được xem như mắt xích thể hiện sự gắn kết giữa sản phẩm đầu ra với thực tiễn xã hội đòi hỏi đối với đào tạo trình độ đại học trong bối cảnh hiện nay
Trang 28tuỳ thuộc vào sự thoả thuận, phân công ban đầu Chương trình đào tạo của từng môn học, nguồn lực về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất của từng chủ thể là căn cứ
để phân chia công việc mà nhà trường hay doanh nghiệp phải thực hiện trong toàn khoá đào tạo
Thiết kế, xây dựng mục tiêu, chương trình đào tạo phải đảm bảo sự quản lý, điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất, kinh doanh và thị trường lao động Việc xây dựng chương trình đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tiễn của nền sản xuất hiện đại làm cho chất lượng đào tạo trình độ đại học được đánh giá là cao hơn Nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo Mỗi chương trình đào tạo phải được xây dựng với sự tham gia của các chuyên gia về phát triển tài liệu, cán bộ có nghiệp vụ chuyên môn, giáo viên có trình độ - kinh nghiệm giảng dạy và các chuyên gia thực tiễn của các doanh nghiệp
và khả năng tài chính cũng như nhu cầu về nhân lực của doanh nghiệp Căn cứ nhu cầu sử dụng lao động của mình, doanh nghiệp đặt hàng với nhà trường và chi trả toàn bộ kinh phí đào tạo cho nhà trường Sinh viên tốt nghiệp sẽ làm việc cho doanh nghiệp, việc tuyển sinh có thể do nhà trường thực hiện hoặc do doanh nghiệp tuyển người và gửi đến trường để học tập
- Hợp tác về trao đổi thông tin
Hợp tác về trao đổi thông tin tức là phải thiết lập các kênh thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp Các thông tin về nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp về
Trang 29số lượng, chất lượng lao động cũng như ngành nghề đào tạo là một trong những căn
cứ để các trường xác định qui mô, cơ cấu đào tạo, nội dung đào tạo Đồng thời, các trường cũng dựa vào các thông tin phản hồi của doanh nghiệp khi sử dụng lao động được đào tạo bởi nhà trường để có những điều chỉnh phù hợp chương trình đào tạo cũng như kịp thời cải tạo nâng cấp trang thiết bị phục vụ công tác đào tạo của nhà trường với mục tiêu đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo [25]
1.2.3 Mối liên hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp
Chúng ta có thể thấy, giáo dục đại học nước ta trong giai đoạn vừa qua đã có những bước phát triển tích cực cả về quy mô, số lượng và chất lượng góp phần vào những thành tựu chung về phát triển kinh tế - xã hội [10] Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của mình trước những đòi hỏi ngày một khắt khe hơn từ thực tiễn, giáo dục đại học đã và đang bộc lộ những mặt hạn chế nhất định ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhân lực có trình độ đại học cho nền kinh tế Một trong những biểu hiện đó chính là sự thiếu gắn kết giữa cơ sở đào tạo và sử dụng nhân lực dẫn đến hiệu quả đào tạo không như mong muốn, sản phẩm đào tạo chưa đáp ứng được thị trường lao động [16]
Có thể nêu ra một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa hai bên liên quan nhà trường và doanh nghiệp:
Thứ nhất, các cơ sở đào tạo trình độ đại học mang nặng tư tưởng đào tạo theo năng lực được thiết kế và trên cơ sở những gì là thế mạnh hoặc sẵn có: cơ sở vật chất, con người, uy tín, tài chính.v.v mà chưa chuyển sang đào tạo theo những gì xã hội cần
Thứ hai, các cơ sở sử dụng nhân lực chưa chủ động trong việc đề xuất nhu cầu về nhân lực (số lượng, kỹ năng, trình độ, chuyên môn) với các cơ sở đào tạo; việc tuyển dụng nhân lực hoàn toàn phụ thuộc vào số sinh viên đã tốt nghiệp ra trường
Thứ ba, chưa có sự phối kết hợp giữa cơ sở đào tạo và sử dụng nhân lực trong thiết kế chương trình, nội dung giảng dạy, kiểm tra đánh giá, thực tập và đào tạo các học phần thực tiễn
Trang 30Thứ tư, vai trò hợp tác, cơ chế hợp tác giữa đào tạo và sử dụng nhân lực từ phía cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế Việc quản lý nhà nước còn nặng về thủ tục hành chính chẳng hạn như phân bổ chỉ tiêu tuyển sinh, chưa trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo trình độ đại học
Như vậy, chúng ta không thể quy trách nhiệm duy nhất cho bất cứ bên nào: nhà trường, doanh nghiệp hay cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo Do
đó, cả ba chủ thể này phải nhìn nhận và đánh giá đúng mức về vai trò và trách nhiệm của mình, cần có nghiên cứu làm thế nào tăng cường hợp tác giữa nhà trường
và doanh nghiệp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp ở một số quốc gia
Để củng cố thêm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình, tác giả đã chọn lựa
Mỹ và Singapore là hai quốc gia điển hình để nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ đại học thông qua hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp bởi vì: Mỹ cũng là từng một đất nước khó khăn, đã từng bước củng cố vị thế của mình và vươn lên vị trí siêu cường với một nền giáo dục, đặc biệt là GDĐH được cả thế giới đánh giá cao Cũng như Mỹ, Singapore có được chất lượng đào tạo trình độ đại học được đánh giá cao trong khu vực và trên thế giới bởi đã thực hiện được sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và người sử dụng lao động
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore
- Đối với cấp quản lý Nhà nước
Giáo dục Singapore đề cao sự can thiệp của Nhà nước Nhà nước Singapore không chỉ đóng vai trò hoạch định chính sách phát triển giáo dục, hỗ trợ tài chính
mà còn kiềm soát chặt chẽ sự phát triển của GDĐH Thông qua các vai trò chủ yếu này, Nhà nước Singapore đã đưa giáo dục nói chung và GDĐH của Singapore phát triển mạnh mẽ, gắn chặt với nhu cầu nhân lực phát triển đất nước [6], [52]
+ Định hướng và có chiến lược cụ thế phát triển GDĐH đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển kinh tế
Trang 31Chính phủ luôn xác định rằng các sinh viên tốt nghiệp đại học phải đáp ứng được các yêu cầu nghề nghiệp Vì vậy, từ những năm 80, Chính phủ tạo ra sự thay đổi quan trọng nhất là việc thành lập Hội đồng Giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề nghiệp (Council for Professional and Technical Education) bao gồm các cơ quan của chính phủ về giáo dục và đào tạo với mục đích chính là đảm bảo sao cho nguồn nhân lực bao gồm các chuyên gia, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề luôn đáp ứng yêu cầu phát triển của nền công nghiệp về mọi mặt: số lượng, chất lượng cũng như trình độ [52]
Bên cạnh đó, Chính phủ định hướng phát triển chương trình đào tạo trình độ đại học và sau đại học trong các trường đại học bách khoa mở rộng đột phá nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nhân lực có trình độ kỹ thuật và cán bộ quản lý cấp trung Sự mở rộng theo hai hướng: (i) số lượng sinh viên tuyển mới vào các ngành khác nhau như kỹ sư, máy tính, kinh doanh và quản lý trong các trường đại học Bách khoa hiện có như Đại học Bách khoa Singapore (ii) Thành lập mới một số trường Đại học Bách khoa nhằm hoàn thiện hơn các chương trình hiện có và mở rộng phạm vi đào tạo trong các lĩnh vực cụ thể Chẳng hạn trường Đại học Bách khoa Nanyang mở các khóa học cụ thể về khoa học sức khỏe như y tế, điều trị bệnh nghề nghiệp, điều trị tâm lý
Với việc xác đinh rõ chiến lược phát triển GDĐH cả ở tầm vĩ mô và vi mô của chính phủ, GDĐH Singapore đã phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho một nền kinh tế năng động trong giai đoạn toàn cầu hóa
+ Đầu tư dựa trên chất lượng và hiệu quả đào tạo
Chính phủ Singapore đã xác định rằng với ngân sách hạn hẹp nếu chia đều cho nhiều trường thì mỗi trường nhận được quá ít ngân sách sẽ không làm nên sự thay đổi Trên thực tế, khi sử dụng nguồn lực trong đổi mới GDĐH đòi hỏi chống tư tưởng bình quân Đổi mới GDĐH của Singapore thành công một phần quan trọng là
do những người chịu trách nhiệm ra quyết định đã nhìn ra được nơi có tiềm năng xứng đáng để lựa chọn đầu tư trọng điểm, để đạt chuẩn quốc tế sớm hơn Sau đó mới tiếp tục đầu tư cho các trường tiếp theo vươn tới chuẩn quốc tế Chính phủ
Trang 32Singapore đã tập trung đầu tư nâng từng trường ĐH lên đạt chuẩn quốc tế với mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển từng giai đoạn của đất nước: năm 1965 tập trung cao độ cho Trường ĐH Quốc gia Singapore để đào tạo nguồn nhân lực đa ngành có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế xã hội, năm
1985 tập trung xây dựng ĐH Công nghệ Nanyang để đào tạo nhân lực khoa học
kỹ thuật, giúp chiếm ưu thế trong các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ mũi nhọn Từ năm 2000 đến nay đầu tư tập trung cho Trường ĐH Quản lý (SMU) để đào tạo các nhà quản lý [52]
+ Kiểm soát chặt chẽ việc mở trường và xây dựng chương trình đào tạo mới
Trường đại học ở Singapore không tùy tiện khi thay đổi hay điều chỉnh cơ cấu đào tạo các trường công thuộc sự quản lý của Bộ giáo dục và được hỗ trợ tài chính bởi Chính phủ nên việc mở ra một ngành học mới hay thành lập một trường mới luôn phải qua nhiều khâu khác nhau, khó khăn nhất là nguồn tài chính cho hoạt động của trường hoặc cho ngành học mới Đầu tiên là xác định nhu cầu ngân sách
và tiến trình ngành học mới được mở ra, dù ở trường công hay trường tư, ngoài việc đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường, còn phải đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về chất lượng của nền giáo dục Singapore Chẳng hạn, muốn mở ngành đào tạo bác sĩ, chắc chắn phải có đủ số lượng giáo sư giảng dạy trong ngành y tế, có đủ cơ sở vật chất cho sinh viên nghiên cứu
Các trường tư thì đơn giản hơn về mặt thủ tục vì họ tự túc về mặt tài chính Tuy nhiên, để mở ra những ngành học mới, thành lập những trường mới, các tổ chức giáo dục tư nhân phải nghiên cứu kĩ, thăm dò và dự đoán được những ngành học có khả năng thu hút sinh viên dựa trên nhu cầu của xã hội, của nền kinh tế và xu hướng giáo dục trong nước cũng như của thế giới Quá trình này luôn được tính toán và cân nhắc rất cẩn thận Bản thân ngành học của trường khi mở là được xét trên nhu cầu thực tế của xã hội
Ngoài ra, số sinh viên tuyển hàng năm vào các trường đại học đều được giám sát chặt chẽ bởi Hội đồng Giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề nghiệp Qui định này nhằm đảm bảo rằng số lượng sinh viên tốt nghiệp các ngành liên quan là phù hợp
Trang 33với sự tái cấu trúc của nền kinh tế và phù hợp với năng lực công nghệ của Singapore Không chỉ giám sát về số lượng sinh viên theo ngành học, mục tiêu đào tạo cho từng ngành, những chuẩn nhất định về kiến thức và kỹ năng đối với sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH theo từng ngành nghề cũng được xác định cụ thể
Nhìn chung, các tiêu chí để mở ngành hay thành lập trường được quản lý chặt chẽ đối với cả trường công hay trường tư và đầu ra của GDĐH cũng được kiểm soát rất nghiêm túc Kết quả của sự kiểm soát chặt chẽ này là sự phát triển của GDĐH Singapore với đầu ra bền vững là những sinh viên tốt nghiệp các ngành nghề đa dạng nhưng đều phù hợp với nhu cầu thực tế
+ Tạo điền kiện để doanh nghiệp tham gia vào đào tạo
Mặc dù chính phủ kiểm soát giáo dục song luôn thu hút và khuyến khích sự tham gia của tư nhân và doanh nghiệp vào giáo dục Điều này được thể hiện ở sự gia tăng thành lập các trường đại học tư, các viện kỹ thuật nằm trong doanh nghiệp
và các khóa đào tạo do doanh nghiệp liên kết với trường đại học tổ chức
Chính phủ luôn tìm cách tạo điều kiện cho sinh viên kết hợp học và hành bằng các buổi ngoại khóa thực tập tại các xí nghiệp, công ty trong nước cũng như nước ngoài; đồng thời còn kết hợp với các công ty tổ chức các chương trình đào tạo khác nhau Hình thức này không chỉ có tác dụng làm giảm bớt gánh nặng đào tạo của chính phủ mà còn tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên thực hành ngay tại môi trường làm việc cũng như cập nhật những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Các học viên
sẽ tham gia thực tập và được trả lương ngay tại công ty trong khi quá trình học lý thuyết sẽ diễn ra tại các trường đại học Nội dung học thực hành được mở rộng đến các lĩnh vực như kỹ năng cụ thể như bán hàng, chăm sóc sức khỏe và du lịch
Ngoài ra, người sử dụng lao động từ cả hai khu vực công và tư nhân được thường xuyên tham khảo ý kiến thông qua cơ chế của Ban tư vấn đối với việc xem xét các chương trình giảng dạy nhằm đáp ứng với thay đổi nhu cầu thực tế của thị trường lao động Những điều này giúp cho đào tạo trình độ đại học của Singapore gắn với thực tiễn hơn và chất lượng đào tạo được nâng cao hơn
Trang 34+ Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động
Việc kết nối giữa đào tạo - nghiên cứu khoa học - sản xuất kinh doanh được thực hiện trước hết bởi các thành viên trong toàn xã hội (từ giảng viên, các nghiên cứu sinh, các sinh viên, người tiêu dùng, các nhà sản xuất và kinh doanh) được kết nối trên một mạng thông tin được gọi là mạng STU - mạng làm việc lâu dài mà ở đó cho phép giảng viên cung cấp cho sinh viên những thông tin đa chiều từ các xu hướng phát triển công nghệ trên thế giới, sự thay đổi của thị trường và các hoạt động của khu vực nghiên cứu triển khai và sản xuất kinh doanh Đặc biệt là sinh viên được tranh luận trực tiếp với các nghiên cứu viên và các giám đốc ở khu vực sản xuất kinh doanh Thông qua mạng này mà các công ty có thể lựa chọn nguồn nhân lực cho công ty mình từ khi các sinh viên còn trong thời gian học của các trường đại học [52]
Bên cạnh đó, để khắc phục tình trạng tách rời giữa quá trình đào tạo ở các trường đại học và các cơ sở nghiên cứu triển khai và sản xuất kinh doanh, Singapore
đã xây dựng thư viện không biên giới nhằm kết nối giữa các cơ sở đào tạo với các công ty chuyên cung cấp thông tin cho phép giới thiệu toàn bộ sự phát triển của đời sống khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh thông qua các sản phẩm thông tin đến tận tay người tiêu dùng, thông tin vượt qua không gian và thời gian (mọi miền của đất nước và 24/24h đều nhận được các thông tin có giá trị) Người sử dụng thông tin chỉ cần có một máy tính và làm việc tại nhà là có thể biết tất cả các thông tin cần thiết ở mọi lĩnh vực Nhờ vào hệ thống thông tin này mà các cơ sở đào tạo cũng như sinh viên luôn cập nhật được nhu cầu của thị trường sản xuất, lao động và nhu cầu ngành nghề
- Đối với cấp cơ sở đào tạo
+ Chú trọng đảm bảo chất lượng đào tạo
Uy tín của trường ĐH được duy trì thông qua quá trình đảm bảo chất lượng
và uy tín này được quảng bá rộng rãi như một sự quảng bá thương hiệu sản phẩm của một doanh nghiệp thực thụ Tại Singapore, đảm bảo chất lượng không được quản lý tập trung bởi nhà nước mà được quản lý bởi các cơ sở GDĐH một cách
Trang 35riêng lẻ Việc cải thiện chất lượng và tiêu chuẩn học thuật là một mục tiêu trung tâm của các trường ĐH để đạt được một lợi thế cạnh tranh trong thị trường toàn cầu Trong quá trình đạt được vị trí nhất định trong xã hội, các trường ĐH đã trở thành các "doanh nghiệp" lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của nghiên cứu, giảng dạy và các dịch vụ công Đảm bảo chất lượng được xem như một phương tiện để đảm bảo rằng các trường ĐH được quản lý tốt để đáp ứng với áp lực về trách nhiệm và hiệu quả đào tạo [52]
Đảm bảo chất lượng thành công một phần là nhờ vào tuyển dụng giảng viên tài năng và học giả xuất sắc trong và ngoài nước Chất lượng GDĐH ở Singapore được gia cố bởi bốn chiến lược chính, bao gồm: (i) Một chính sách nhiệm kỳ nghiêm ngặt, (ii) Phần thưởng cho giảng dạy tốt và hiệu quả nghiên cứu cùng với các biện pháp khuyến khích và công nhận, (iii) Tỷ lệ sinh viên / giảng viên thuận lợi đi kèm với một cơ sở vật chất cho giảng dạy và nghiên cứu được trang bị tốt, và (iv) Cung cấp đào tạo chất lượng đội ngũ giảng viên có kỹ năng và hiệu suất làm việc cao
Ngoài ra, việc nhận được phản hồi từ người sử dụng lao động và cả sinh viên
về hoạt động giảng dạy là một trong các biện pháp đảm bảo chất lượng được thực hiện phổ biến ở các trường ĐH của Singapore Đây là một phương pháp đánh giá rất khách quan và chính xác các giảng viên và chuyên viên cao cấp đến giảng dạy tại trường Thực hiện đánh giá nhằm cung cấp cho các giảng viên có phản hồi mang tính xây dựng về việc giảng dạy của mình và từ đó đảm bảo chất lượng giảng dạy tại trường ĐH
Yếu tố giảng viên cũng được đặc biệt chú trọng như một yếu tố quyết định đối với chất lượng đào tạo ĐH ở Singapore Giảng viên tham gia giảng dạy trong trường ĐH được yêu cầu không phải chỉ có kiến thức về ngành học mà còn phải biết làm công việc của ngành này trong thực tế, có kinh nghiệm nghề nghiệp thực tế
vì giáo viên sẽ không truyền thụ được kiến thức khi họ chưa kinh qua công việc, chưa từng trải trong lĩnh vực mà họ giảng dạy Một trong những nguyên tắc GDĐH
ở Singapore là người thầy phải luôn cập nhật và giúp sinh viên nắm bắt những thông tin thời sự mới nhất của lĩnh vực mình phụ trách Giảng viên dạy về
Trang 36marketing buộc phải giới thiệu được sự thay đổi trong xu hướng tiếp cận thị trường, giảng viên dạy báo chí phải làm cho sinh viên của mình tiếp cận trong môi trường truyền thông hiện đại Như thế giáo án của các thầy là một thứ giáo án mở, những tri thức tiên tiến, hiện đại được cập nhật không ngừng nghỉ Nhờ đó, ngay khi còn học trong trường, sinh viên đã được cập nhật, nắm bắt những hiện thực sống động, với những tri thức mới và sau khi tốt nghiệp họ có thể bắt tay vào công việc chuyên môn của mình ngay Đồng thời, các ưu đãi như giải thưởng giảng dạy xuất sắc và giải thưởng tiền mặt có sẵn để thực hiện khen thưởng giảng dạy xuất sắc trong các trường ĐH cũng là một cách đảm bảo chất lượng và thu hút các giảng viên giỏi đến giảng dạy tại trường
Với sự chú trọng đảm bảo chất lượng đào tạo như vậy cho phép các trường
ĐH của Singapore cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động
+ Mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin việc làm cho sinh viên
Mỗi trường đại học của Singapore, dù trường công hay trường tư, luôn có một trung tâm tư vấn việc làm và giúp đỡ sinh viên thực tập tại các công ty Các trường đại học có sự gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp, công ty liên quan đến ngành nghề đào tạo để tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc và có được các thông tin liên quan đến yêu cầu tuyển dụng và tiêu chuẩn nghề nghiệp Bên cạnh đó các trường thường xuyên có các hội thảo về việc làm để sinh viên tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường việc làm thực tế
+ Tăng cường mối quan hệ hợp tác với doanh nghiệp
Được sự ủng hộ và tạo điều kiện của Chính phủ, các trường ĐH của Singapore rất chú trọng phát triển các mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp để sinh viên của họ có thể dễ dàng tiếp cận với thực tế của thị trường lao động và có điều kiện phát triển khả năng chuyên môn cũng như những kỹ năng cần thiết mà họ
sẽ cần cho công việc trong tương lai của mình Một ví dụ điển hình là trường đại học lâu đời nhất - Đại học quốc gia Singapore đã có những thay đổi quan trọng như
mở rộng hệ đào tạo ra bậc sau đại học hay thành lập một trường trực thuộc ngay tại
Trang 37thung lũng công nghệ Silicon (Califomia) của Mỹ Sinh viên học tại trường này có lợi thế là được tham gia thực tập ngay tại các công ty trong thung lũng này trong và sau khi kết thúc khóa học
+ Phát triển mô hình trường đại học doanh nghiệp
Ở Singapore, trường đại học được điều hành như một doanh nghiệp hay nói cách khác trường đại học được gọi là doanh nghiệp thể hiện ở chỗ hàng loạt các công ty trong trường đại học được thành lập và hoạt động của các nhà quản lý nhà trường được đánh giá dựa trên hiệu quả kinh tế [52] Hình thức nhà trường doanh nghiệp này đã gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và thị trường lao động: (i) khuyến khích các nghiên cứu hướng tới các sản phẩm gần với thị trường, đồng thời, thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu của trường, thương mại hóa các phát minh, sáng chế vốn là sản phẩm của quá trình giảng dạy, nghiên cứu của trường đại học; (ii) Giảng viên và học viên sống trực tiếp trong môi trường doanh nghiệp để tích lũy và thực hành các kiến thức và kỹ năng quản trị nhân lực và kinh doanh; (iii) Thu hút đầu tư
từ tư nhân và các doanh nghiệp nhờ vào sự minh bạch về tài chính, hiệu quả sử dụng tài chính và chất lượng, hiệu quả đào tạo Đây là hiệu quả của chính sách tạo
áp lực cạnh tranh trong quản lý của chính phủ Các trường đại học phải trở nên linh hoạt hơn, đáp ứng và mở rộng các hoạt động kinh doanh, vừa thu hút nguồn vốn, vừa để học viên tiếp cận tốt hơn với thực tế; (iv) Kết hợp với các trường đại học lớn trên cơ sở chia sẻ lợi nhuận đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo đạt chuẩn quốc tế; (v) Kết hợp với các doanh nghiệp, các khu công nghiệp lớn trong đào tạo sinh viên (đúng nhu cầu thực tế và đạt chuẩn nghề nghiệp được doanh nghiệp công nhận)
và sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp
Một điểm cần nhấn mạnh nữa là quản trị và lãnh đạo trường ĐH trong bối cảnh trường ĐH được gọi là doanh nghiệp Hiệu trưởng và Ban quản lý nhà trường
có quyền tự do hơn trong hành động và quản lý dựa trên nguyên tắc hiệu quả quản
lý Cơ chế này đề cao sự linh hoạt của nhân viên, các nguồn lực và phương tiện truyền thông Trong thực tế, phân quyền là một phương tiện để tập trung quyền hành trong tay các nhà quản lý cấp trung (bao gồm hiệu trưởng, trưởng khoa và
Trang 38trưởng phòng - những người được hưởng lợi với trách nhiệm quản lý chuyên ngành)
và tăng quyền tự chủ ngân sách trong khuôn khổ của kế hoạch, các biện pháp thực hiện và mục tiêu Với cơ chế quản lý này, hiệu trưởng nhà trường là người chịu trách nhiệm thực sự về hiệu quả hoạt động của trường Và đầu tư cao độ cho nhân lực quản lý GDĐH là một bí quyết thành công trong đổi mới GDĐH của Singapore
Ví dụ, trường ĐH SMU đã thuê cả giám đốc và phó giám đốc từ Mỹ và Anh Thực
tế, các trường ĐH của Singapore sẵn sàng thuê các nhà quản lý trong giai đoạn đầu khi chưa đủ trình độ tự mình quản lý, người được thuê đó phải làm ba việc: (l)quản
lý trường đó theo chuẩn quốc tế, (2)chỉ định và đào tạo người đủ năng lực để tiếp quản công việc này, (3)chuyển giao toàn bộ qui trình công nghệ quản lý đó cho người được lựa chọn kế nhiệm [52]
Trường NTU xây dựng một văn hóa doanh nghiệp của trường bằng việc hình thành một văn phòng hỗ trợ, thực chất là phát triển kinh doanh, giúp trường tiếp cận tốt hơn với người học và các doanh nghiệp thông qua các chương trình liên kết hoặc hội thảo, diễn đàn, đồng thời, giúp người học và doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn với trường thông qua các chương trình quảng bá Văn phòng này cũng có nhiệm vụ làm cho các dịch vụ của trường trở nên dễ tiếp cận nhất có thể Năm nguyên tắc của NTU trong quản lý trường thể hiện rõ tinh thần văn hóa doanh nghiệp và sáng tạo: (i) Trường được quản lý với phong cách sáng tạo và hệ thống; (ii) thẩm định chất lượng giảng dạy và nghiên cứu định kỳ; (iii) áp dụng hệ thống đánh giá cởi mở hơn
để khuyến khích nhân viên; (iv) Sử dụng những nhà quản lý có năng lực và biết cam kết, trường cam kết đảm bảo tính liên tục trong quản lý; và (v) Giảng viên luôn phải trau dồi để thực sự giỏi và có những phần thưởng xứng đáng cho những giảng viên giỏi Các trường đại học như NTU hay các trường đại học Bách khoa đều có các doanh nghiệp trực thuộc trường Các doanh nghiệp này kinh doanh các sản phẩm nghiên cứu của trường, vừa là nơi cho các sinh viên thực tập các kỹ năng thực
tế, vừa có thêm nguồn tài chính đầu tư trở lại cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy Sự thành công của các doanh nghiệp này có tác dụng khuyếch trương rất lớn cho trường[52]
Trang 39Vì trường ĐH được coi như một doanh nghiệp nên các trường đại học đã hướng tới hiệu quả của doanh nghiệp: thu hút được nhiều học sinh để tăng nguồn tài chính và đào tạo với chất lượng cao để thu hút được học sinh Từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ nhập học của các trường ĐH đã được tăng từ 5% đến 21% Đối với các trường ĐH Bách khoa, tỷ lệ nhập học đã tăng từ 5 % đến 38 % cũng trong khoảng thời gian trên [52] Cũng theo con số thống kê của Chính phủ Singapore, tổng số sinh viên nước ngoài có mặt tại Singapore lên đến 50.000 sinh viên vào năm
2010 Theo dự đoán của Chính phủ con số này sẽ tăng lên gấp ba, tức là 150.000 sinh viên vào năm 2012 [52]
Tóm lại, Singapore có được chất lượng đào tạo nghề nghiệp và giáo dục đại học được đánh giá cao trong khu vực và trên thế giới bởi đã thực hiện được sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực [6] GDĐH của Singapore luôn xác định cung cấp đúng về số lượng và chất lượng nhân lực (ngành nghề đào tạo cũng như chuẩn chất lượng nghề nghiệp) phục vụ sự phát triển kinh tế và xã hội
Có được thành công này là do chính phủ Singapore (i) đã có được chiến lược phát triển giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng hướng tới thị trường lao động và nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế; (ii) kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của GDĐH theo nhu cầu nhân lực thực tế; (iii) tạo sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư tài chính giữa các trường đại học nhằm kích thích sự tự chủ và tự quản của trường; (iv) các trường đại học được hoạt động như một doanh nghiệp trong mọi khía cạnh: phát triển ngành nghề đào tạo, chính sách đối với giảng viên, kết hợp đào tạo với các doanh nghiệp, quảng bá sản phẩm, kinh doanh sản phẩm nghiên cứu và đào tạo Thực tế, các trường đại học ở Singapore không những là một doanh nghiệp mà luôn gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp - đơn vị sử dụng lao động, trường đại học là một phần của doanh nghiệp Ngược lại, các doanh nghiệp ở Singapore cũng tự coi mình là một phần của trường đại học bằng việc kết hợp với trường đại học tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nhân viên tại chỗ [6]
Trang 401.3.2 Kinh nghiệm của Mỹ
- Đối với cấp quản lý nhà nước
+ Nhà nước định hướng phát triển GDĐH cung cấp nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế
Với vai trò định hướng phát triển cho giáo dục của đất nước, Chính phủ Mỹ đặt ra mục tiêu là dẫn đầu và đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức và đào tạo những nhà khoa học và kỹ sư tài năng nhất cho thế kỷ 21; phát triển một đội ngũ lao động có tầm cỡ thế giới đủ sức tham gia vào sự thay đổi nhanh chóng của một nền kinh tế dựa trên tri thức Theo đó, Chính phủ đặc biệt quan tâm tới xây dựng nền GD trên nền tảng xã hội tri thức để đáp ứng và đón đầu sự phát triển của
nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ 21; Hướng tới phát triển giáo dục công bằng, vượt trội
về chất lượng, thông qua đó là chất lượng nhân lực đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế mang tính toàn cầu cạnh tranh cao Như vậy Chính phủ Mỹ luôn hướng GD
Mỹ nói chung và GDĐH nói riêng phát triển bám sát thực tế, cung cấp đội ngũ nhân lực có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Theo đó, cơ chế quản lý
và các chính sách liên quan cũng hướng tới để cơ sở đào tạo thực hiện mục tiêu này [6] Thông qua định hướng phát triển GDĐH đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế và cơ chế quản lý phân quyền mạnh mẽ của Chính phủ Mỹ đã tạo ra một nền GDĐH đa dạng, mềm dẻo, có tính cạnh tranh và thích nghi cao, gắn chặt với thực tiễn thị trường lao động và xã hội [36]
+ Tăng cường các mối quan hệ hợp tác
Bộ GD Mỹ đã xác định rõ để đảm bảo chất lượng GD cần có sự hợp tác của các bên liên quan Theo đó, cải cách giáo dục ở Hoa Kỳ được nhìn nhận không chỉ
là "một vấn đề giáo dục", mà nó còn là vấn đề kinh tế, dân sự, xã hội và an ninh
quốc gia và nó phải là vấn đề của tất cả mọi người [9] Đây là tiền đề quan trọng
cho sự hợp tác giữa cơ sở GDĐH với các đối tác
Bên cạnh đó, sự cần thiết phát triển các hợp tác với các bên liên quan cũng được thể hiện ngay trong định hướng phát triển đội ngũ giảng viên của Bộ GD Mỹ
Đó là thiết lập các mối hợp tác giữa các cơ quan ở địa phương, cơ sở đào tạo, người