Nguyên nhân vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương a Nguyên nhân khách quan b Nguyên nhân chủ quan III/ Phương hướng, mục tiêu, giải pháp để n
Trang 1MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU
B - PHẦN NỘI DUNG
I/ Đặc điểm tình hình ở địa bàn xã Đưng K’Nớ
1 Đặc điểm về tình hình kinh tế – xã hội của xã Đưng K’Nớ
2 Một số thuận lợi và khó khăn
II/ Thực trạng vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình ở xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
1.Tình hình vi phạm và thủ tục đăng ký kết hôn
2 Tình hình vi phạm chế độ tuổi kết hôn
3 Vi phạm chế độ một vợ một chồng
4 Vi phạm quyền và nghĩa vụ đối với con cái
5 Vi phạm chế độ cấp dưỡng đối với cha mẹ và con cái
6 Kết quả
7 Hạn chế
8 Nguyên nhân vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
a) Nguyên nhân khách quan
b) Nguyên nhân chủ quan
III/ Phương hướng, mục tiêu, giải pháp để ngăn chặn vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
1 Phương hướng
2 Mục tiêu
3 Một số giải pháp để ngăn chặn vi phạm Pháp luật Hôn nhân và Gia đình ở xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
Trang 21 Kiến nghị
2 Kết luận
Trang 3A – PHẦN MỞ ĐẦU
1 Khái quát chung về vấn đề hôn nhân và gia đình ở Đưng K’Nớ:
Gia đình là tế bào cuả xã hội, là môi trường đầu tiên giúp cho con ngườihiểu biết và trưởng thành, có tác dụng trong việc xây dựng và củng cố gia đìnhViệt Nam Trong việc gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ViệtNam Đồng thời gia đình có vị trí và vai trò rất quan trọng, trong đó Đảng và Nhànước ta đã không ngừng xây dựng hệ thống pháp luật đặc biệt là Luật Hôn nhân
và Gia đình Vì đây là công cụ rất cần thiết đối với của nhà nướcvà xã hội Nhằm
để xóa bỏ tập tục phong kiến lạc hậu và để xây dựng gia đình kiểu mới Luật Hônnhân và Gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm hệthống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và giađình, tức là các quan hệ về nhân thân, về tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ,con cái và những người thân thiết ruột thị khác, các quan hệ xã hội phát sinh từviệc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi…
Trong tình hình thực tiễn hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực song vẫncòn nhiều mặt hạn chế đã làm ảnh hưởng quan hệ hôn nhân và gia đình như rượuchè, cờ bạc… đã làm tha hoá lối sống, đạo đức của con người Chính vì vậy LuậtHôn nhân và Gia đình chưa được phổ biến rộng khắp, nên nhân dân chưa hiểubiết gì về vấn đề này Bên cạnh đó còn phải hạn chế vi phạm Pháp luật Hôn nhân
và Gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương, đây là một vấn đềbức xúc trong sự phát triển kinh tế – xã hội cũng như xây dựng nếp sống văn hoámới
Việc để khắc phục và giải quyết tình trạng trên sẽ góp phần xây dựng giađình văn hoá mới ở điạ phương, đồng thời góp phần xoá bỏ những tập tục lạchậu, những tàn dư phong kiến trong chế độ Hôn nhân và Gia đình, hạn chế những
Trang 4cho nhân dân và có nếp sống văn hoá mới, lành mạnh hoá các quan hệ xã hội vàthúc đẩy tiến bộ xã hội.
2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:
a) Mục đích:
- Tăng tính thực thi của Luật hôn nhân và Gia đình ở điạ bàn để đề caonguyên tắc bình đẳng nam nữ, vợ chồng bình đẳng, cùng nhau nuôi dạy con cái,xây dựng gia đình văn hoá mới
- Nhằm ngăn chặn tình trạng tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối nhau trênđiạ bàn xã
b) Nhiệm vụ:
- Tăng cường giáo dục nếp sống cho nhân dân: Sống và làm việc theo Hiếnpháp và pháp luật Trong đó là Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời chuẩn bịkiến thức nhất định cho thanh thiếu niên trên điạ bàn bước vào cuộc sống giađình theo giá trị truyền thống tốt đẹp cuả chúng ta hiện nay
- Thực trạng và giải pháp nhằm ngăn chặn vi phạp pháp luật Hôn nhân vàGia đình ở xã Đưng K’Nớ từ đó đưa ra giải pháp hữu hiệu góp phần tăng tínhthực thi của pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng
3 Ý nghĩa khóa luận đối với việc giải quyết tình hình ở điạ phương:
Giúp cho nhân dân trên điạ bàn hiểu rõ giá trị và đảm bảo tính thựcthi Luật hôn nhân và Gia đình, đồng thời đảm bảo quy định cuả Luật Hôn nhân
và Gia đình đi vào cuộc sống nhân dân, giúp cho nhân dân có cơ sở xây dựng giađình văn hoá mới
Từ vấn đề được nhận thức sâu sắc Luật hôn nhân và Gia đình, cuộc sốngcủa đại đa số nhân dân từ đó xây dựng chế độ hôn nhân tiến bộ: vợ chồng bìnhđẳng, cùng nhau nuôi dạy con cái, chung thủy một vợ, một chồng, tích cực hưởng
Trang 5ứng phong trào xây dựng thôn, buôn, xã văn hoá, gia đình văn hóa, xã hội vănminh và bền vững.
4 Phạm vi và kết cấu của khóa luận:
Lấy điạ bàn xã Đưng k’Nớ – Huyện Lạc Dương làm trọng tâm nghiên cứu.Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2006
Tập trung nghiên cứu tình hình thực thi pháp luật, Hôn nhân và gia đìnhtrên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – Huyện Lạc Dương
Trên cơ sở đó để đưa ra những giải pháp ngăn chặn vi pháp pháp luật vềHôn nhân và Gia đình trên điạ bàn xã
Trang 6B – PHẦN NỘI DUNG
I.
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH, Ở ĐỊA BÀN XÃ ĐƯNG K’ NỚ
1 Một số đặc điểm về tình hình kinh tế- xã hội của xã Đưng K’ Nớ
Đưng K’Nớ là một xã thành lập vào tháng 9/1999 và được tách ra từ xã ĐạLong Xã được chia thành 4 thôn với tổng số dân trong xã là 279 hộ với 1.458nhân khẩu Đa số là đồng bào dân tộc sinh sống trên điạ bàn Điạ bàn xã dân cưphân bố không đồng đều, nằm rải rác theo đường tỉnh lộ 722 Mặc dù vậy, sựhiểu biết, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, trong đó có Luật Hôn nhân và Giađình Bên cạnh đó trình độ học vấn còn thấp… Vì vậy trong công tác tuyêntruyền, giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình còn gặp nhiều khó khăn
Đưng K’Nớ là một xã vùng sâu, vùng xa nên giao thông đi lại rất khókhăn, nhất là vào mùa mưa, cơ sở vật chất thiếu thốn, kết cấu hạ tầng thấp, đa sốnhân dân trong xã sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp cho nên đời sống nhân dâncòn bấp bênh, hộ nghèo vẫn còn nhiều, chiếm tỉ lệ 50,3% hộ trong toàn xã
Đội ngũ cán bộ năng lực còn yếu, trình độc học vấn, chuyện môn nghiệp
vụ còn nhiều hạn chế
* Xã Đưng K’Nớ:
- Phía Đông giáp xã Đa Nhim
- Phía Tây giáp huyện Đam Rông
- Phía Nam giáp xã Lát
- Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk
- Tổng điện tích đất tự nhiên 19.340.79 hecta, trong đó Đất nông nghiệpchiếm 250 hecta; đất lâm nghiệp chiếm 17.650 hecta; đất trồng cà phê chiếm265.5 hecta; còn lại 35.5 hecta là đất trồng lúa nước
- Về Dân số:
+ Dân tộc Kinh có 06 hộ với 16 nhân khẩu
Trang 7+ Còn lại là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên điạ bàn.
- Về lý luận chính trị
+ Trung cấp (21 người)+ Sơ cấp (01 người)
- Về cơ cấu kinh tế: Trước đây với tập quán du canh du cư của bà con dântộc và những người dân kinh tế mới về đây lập nghiệp cùng với những sản xuấtlạc hậu, công cụ lao động thô sơ, từ đó dẫn đến kinh tế chậm phát triển, thời gianlao động kéo dài, năng suất chất lượng thấp, đời sống nhân dân vô cùng khókhăn
- Được sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng ủy xã và sự quản lý điều hành củachính quyền đã vận động nhân dân sống định canh định cư, chăm lo đầu tư chophát triển kinh tế, áp dụng các phương thức sản xuất mới Đồng thời được sự ưuđãi của thiên nhiên, khí hậu thích hợp cho các loại cây trồng như cà phê, lúa, ngô,khoai…, cùng với phong trào xoá đói giám nghèo Đặc biệt là sự quan tâm cuảĐảng và Nhà nước như đầu tư nhà tình thương, Chương trình 134, 127, từ đó, đờisống nhân dân từng bước được cải thiện
Trang 8- Về tổ chức bộ máy: Trong xã có 33 Đảng viên; 18 đại biểu Hội đồngnhân dân xã; 15 cán bộ Ủy ban nhân dân xã; 12 cán bộ các ban, ngành, đoàn thể;
có 16 tổ an ninh và 9 tổ hòa giải ở thôn
- Về Giáo dục: Toàn xã có 03 trường học, trong đó có 01 trường Mầm non
và 02 trường Trung học Cơ sở, có đội ngũ giáo viên được đào tạo bài bản, chínhquy nhưng số lượng giáo viên còn thiếu so với nhu cầu giáo dục và đào tạo củađiạ phương Năm học 2004 –2006, tổng số học sinh được huy động đến trường là
522 em, trong đó cấp tiểu học có 258 em, cấp trung học cơ sở có 166 em và cấpmầm non là 98 em
- Về y tế: Xã có 02 Trạm y tế được biên chế 01 Trạm trưởng và 03 nhânviên, trình độ chuyên môn gồm 01 bác sĩ, 01 y sĩ, 02 y tá và 01 nữ hộ sinh Cơ sởvật chất có 01 phòng khám, 01 phòng điều trị và 03 giường bệnh Ngoài ra trạmthường xuyên quan tâm, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khu dân cư lân cận
3.Một số Thuận lợi và khó khăn:
a) Thuận lợi:
Xã Đưng K’Nớ luôn nhận được sự quan tâm của Chi bộ xã, HĐND-UBND
xã và thường xuyên được HĐND-UBND huyện Lạc Dương trực tiếp chỉ đạo,giúp đỡ, tuy nhiên hình thức tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục từngbước đổi mới đa dạng đã lôi cuốn, cổ vũ nhân dân nâng cao ý thức pháp luật vàvăn minh pháp lý trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật đã trởthành hiện thực sinh động trong thực tiễn đối với từng người dân, từng gia đình,thôn xóm, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế – xã hội, từng bước ổn định đờisống nhân dân lao động, khẳng định rõ nét hơn hiệu lực công tác quản lý hànhchính nhà nước ở điạ phương
Đội ngũ làm công tác tuyên truyền tích cực, nhiệt tình, được nhân dânđồng tình ủng hộ Những quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình có hiệu lựctrong đời sống xã hội
Trang 9b) Khó khăn:
Đưng K’Nớ là một xã vùng sâu vùng xa còn nghèo, điạ bàn dân cư đấtrộng người thưa, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp nên cuộc sốngđồng bào còn gặp nhiều khó khăn Do đó cần sự hỗ trợ cuả nhà nước về đầu tư cơ
sở hạ tầng, đầu tư về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là giống cà phê, bò lai sin,
dê, gà thả vườn, đầu tư về vốn: tạo điều kiện cho hộ nghèo vay, trong đó có các
tổ chức như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân…
Vì vậy công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình gặpnhiều khó khăn Cơ sở vật chất thiếu thốn, tài liệu tuyên truyền còn hạn hẹp dẫnđến có nhiều trường hợp vi phạm pháp luật
II THỰC TRẠNG VI PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở
XÃ ĐƯNG K’NỚ:
Luật Hôn nhân và Gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống phápluật Việt Nam, là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ hôn nhân và gia đình, tức là quan hệ về nhân thân và các quan hệ tài sản giữa
vợ chồng, giữa cha mẹ và các con và những người thân thích ruột thịt khác, cácquan hệ xã hội phát sinh từ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, xác định mốiquan hệ cha mẹ, con cái… cũng như những quy định trách nhiệm của công dân,nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đìnhViệt Nam, nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, bền vững và hạnhphúc
Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thihành từ tháng 01/1986 và sửa đổi, bổ sung vào thàng 6/2000 Ngay từ khi sửa đổi
đã được các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm tổ chức tuyêntruyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện Tuy nhiên trong quá trình tổchức thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình trên điạ bàn xã Đưng K’Nớ – HuyệnLạc Dương vẫn còn hạn chế gây ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, nếp sống
Trang 10văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam Thực trạng ấy biểu hiện trên một sốlĩnh vực cơ bản sau:
1/Tình hình vi phạm về thủ tục đăng ký kết hôn :
Tuy nhiên trong cuộc sống thực tế hiện nay, phương thức quan trọng đểhình thành ngày càng nhiều các gia đình mới là thực hiện hôn nhân tiến bộ Hônnhân tiến bộ coi tình yêu chân chính là cơ sơ tinh thần chủ yếu là yếu tố quyếtđịnh của hôn nhân Tình yêu chân chính phải là một đạo đức và nhân cách củaquá trình xây dựng con người mới trong giai đoạn hiện nay Trên ý nghĩa đó nhànước CHXHCN Việt Nam đặc biệt quan tâm củng cố và hoàn thiện Luật hônnhân gia đình, đề ra những giải pháp hữu hiệu để ổn định quan hệ hôn nhân vàgia đình, đảm bảo thực hiện đúng thủ tục trình tự đăng ký kết hôn
UBND xã, phường, thị trấn, nơi một trong hai người đăng ký kết hôn cưtrú, hoặc nơi cha mẹ có hộ khẩu đăng ký thường trú
Đối với người nước ngoài, nếu công dân Việt Nam muốn đăng ký kết hônchỉ có UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền cho đăng ký.Trên thực tế, tại uỷ ban nhân dân xã Đưng K’ Nớ – Lạc Dương tính từ năm 2000đến 2006 đã xảy ra 5 vụ vi phạm thủ tục đ ăng ký kết hôn Thậm chí có ngườichung sống với nhau gần chục năm mà không có giấy đăng ký kết hôn
Như trường hợp chị Rơ Ông K’ Rơi (27tuổi), anh Kơ Sá Ha Phây ( 26tuổi )đã có 2 đứa con chung sống với nhau 6 năm mà vẫn chưa đăng ký kếthôn.Vấn đề này cần phải giải quyết kịp thời vì đây là vấn đ ề hết sức quantrọng
* Thủ tục đăng ký kết hôn bao gồm :
+ Hồ sơ đăng ký kết hôn : tờ khai, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấyxác nhận đăng ký kết hôn lần đầu)( nếu lần thứ hai phải nêu rõ đã ly hôn hay vợhoặc chồng đã chết )
Niêm yết công khai việc đăng ký kết hôn tại UBND xã, phường, thịtrấn
Trang 11+ Làm lễ kết hôn (lễ cưới)Nếu có trường hợp nghi vấn phải xuất trình các lạoi giấy tờ kháckhông mắc bệnh tâm thần, hoặc mất nhận thức.hoặc mất nhận thức.hoặc mấtnhận thức.
Người nào không thực hiện các quy định trên thì cuộc hôn nhân đó không
có giá trị pháp lý (dù có tổ chức lễ cưới hoặc đã có con …) Do đó muốn đăng kýkết hôn phải được lột tả ý chí, nguyện vọng kết hôn cũng như điều kiện cần và đủ
do luật định Giá trị pháp lý của hôn nhân phải được UBND xã công nhận và ghi
rõ vào sổ kết hôn Quyền và nghĩa vụ vợ chồng chỉ thực sự phát sinh khi đượcUBND xã cho phép đăng ký kết hôn, ghi tên vào sổ hộ tịch và trao giấy chứngnhận kết hôn cho đôi nam nữ
Theo quy định tại Điều 24, Nghị định số 83/1998/ND ngày 10/10/1998 củaChính phủ về đăng ký hộ tịch, khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND cấp xã phải tiếnhành xác minh điều kiện kết hôn và niêm yết công khai việc đăng ký xin kết hôntại trụ sở UBND trong thời hạn 7 ngày, nếu cần xác minh thêm thì thời hạn kéodài không quá 07 ngày
Sau thời hạn nói trên, kể từ ngày thông báo, nếu hai bên nam, nữ khôngđến đăng ký kết hôn mà không có lý do chính đáng thì UBND xã huỷ việc đăng
ký kết hôn và thông báo cho đương sự biết
Nam nữ tự do tìm hiểu, đến với nhau, có ý nghĩa là để cho họ tự định đoạtlấy tương lai hạnh phúc là bản chất của Luật Hôn nhân và Gia đình, cơ quan chứcnăng làm thủ tục theo luật định thì không thể chấp nhận được Hôn nhân tự dotiến bộ phải phải được đảm bảo về mặt pháp lý, tuân thủ pháp lý, có như vậy mớithể hiện đầy đủ sự tôn trọng và quyết tâm đến với nhau của lứa đôi, mặt khác nóilên trách nhiệm của xã hội thông qua Nhà nước pháp quyền để bảo vệ hôn nhântiến bộ và những lợi ích chính đáng trong quan hệ gia đình
2/Tình hình vi phạm độ tuổi kết hôn
Trang 12Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định “ Nam đủ 20tuổi trở lên và Nữ đủ 18 tuổi trở lên mới được đăng ký kết hôn” Đủ 20 tuổi và 18tuổi ở đây có nghĩa là đủ ngày, tháng và năm Luật hôn nhân và gia đình sửa đổinăm 2000 tại Điều 9 cũng như quy định như Điều 9 Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 nhưng có mở rộng là nam từ 20 và nữ từ 18 tuổi trở lên được phép kếthôn Đây là cơ sở, điều kiện pháp lý vô cùng quan trọng để nam nữ nhận thứcđược giá trị pháp lý của việc kết hôn Là nội dung quan trọng của nhân quyền vàtiến bộ xã hội Khắc phục và loại trừ tệ nạn cưỡng ép, tảo hôn đặt nền móng bảođảm xây dựng gia đình hạnh phúc và bền vững
Nhà nước đảm bảo hôn nhân tự nguyện bằng nhiều quy định trong đó cóquy định việc kết hôn chỉ hợp pháp khi tiến hành tại UBND xã với sự có mặt củahai bên nam nữ để cũng bày tỏ sự đồng ý và mong muốn kết hôn với nhau songtrong những năm vừa rồi, trên địa bàn xã Đưng K’Nớ – Lạc Dương có hai trườnghợp chưa đủ tuổi kết hôn
Năm 2005 có 1 trường hợp khi nam 20 tuổi, nữ chỉ là 16 tuổi, năm 2006 lạixảy ra 1 trường hợp nam 22 tuổi, nữ cũng chỉ 16 tuổi, 2 trường hợp này đều xảy
ra ở thôn 2
Nhìn chung những người mà lấy vợ hoặc chồng chưa đủ tuổi đã kết hôn đó
là những người chưa thật thấu hiểu được về Luật Hôn nhân và Gia đình đồng thờichưa thấy được vai trò của gia đình là tế bào của xã hội, hạnh phúc và bền vữngcủa gia đỉnh chỉ thực sự nam nữ hiểu biết được Luật và trách nhiệm đối với nhau
3/ Vi phạm chế độ một vợ, một chồng :
Tại Điều 4 Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 quy định “ Cấmtảo hôn, cấn kết hôn giả tạo, lừa đối để kết hôn, ly hôn, ly hôn giả tạo … cấmngười đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với ngườikhác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với những người đang có vợ có chồng” Chính vì lẽ đó Luật Hôn nhân vàGia đình đã quy định là nhằm đảm bảo và duy trì chế độ hôn nhân tiến bộ một vơ
Trang 13một chồng, đảm bảo tình yêu nam nữ sau khi kết hôn được duy trì bền vững hạnhphúc Bản chất của tình yêu là đòi hỏi hôn nhân tất yếu phải là hôn nhân cá thể,
xã hội Việt Nam cần thiết và có điều kiện để khắc phục ngoại tình và mại dâm đểhôn nhân một vợ một chồng được thực hiện trọn vẹn, trở thành một hiện thực
Trong những năm qua, tình hình vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, mộtchồng trên địa bàn xã Đung K’Nớ – Lạc Dương vẫn còn xảy ra tuy không nhiều.Trước thực trạng này người chịu thiệt thòi nhất vẫn là người phụ nữ
Phương thức chủ yếu của việc xây dựng gia đình hạnh phúc là vợ chồngbình đẳng và nề nếp, thương yêu và có trách nhiệm với nhau là nét đặc trưngquan hệ vợ chồng trong gia đình, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn, gia đìnhtan nát là do người đàn ông hành hạ, ngược đãi đối với vợ con, hắt hủi vợ con khi
có những mối tình vụng trộm mới
Tính từ năm 2000 đến 2006 có 2 vụ vi phạm chế độ 1 vợ 1 chồng, 1 trường hợp
đã có vợ ,có chồng, nhưng lại quan hệ chung sống với người khác như vợ chồng.Còn trường hợp tiếp theo là lấy vợ 2 trước thực trạng này người chịu thiệtthòi vẫn là người phụ nữ
Để có gia đình hoà thuận, hạnh phúc thì cả vợ lẫn chồng phải xác định vợchồng yêu thương chăm sóc giúp nhau cùng tiến bộ
Chung thuỷ là nghĩa vụ vợ chồng vốn là nét bản chất của tình yêu sau hônnhân, đồng thời là hình thức hôn nhân mới Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lýquy định tại Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 mà còn là đạo
lý của dân tộc Việt Nam
Tình hình vi phạm chế độ một vợ một chồng chẳng những ảnh hưởng đếnhạnh phúc gia đình mà còn làm cho trật tự an toàn xã hội ở địa phương khôngđược đảm bảo
4/Vi phạm quyền và nghĩa vụ đối với con cái :
Tại Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2000 quy định :