1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên

116 904 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình thực hiện đề tài "Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Lý luận & Phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt

Mã số: 60.14.01 11

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Mai Diễn

Thái Nguyên - 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ

từ Giáo viên hướng dẫn là TS Hoàng Mai Diễn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Huyền

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài "Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu

ngữ trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên" chúng tôi đã

thực sự gặp rất nhiều khó khăn Trước hết, vì lần đầu tiên được thực hành trọn vẹn một đề tài nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian làm đề tài tương đối ngắn nên chúng tôi chưa thực sự khai thác được một cách triệt để các nội dung

mà đề tài nghiên cứu Tuy vậy được sự hướng dẫn và chỉ dạy của TS Hoàng Mai Diễn, chúng tôi đã biết được phần nào cách hoàn thiện trọn vẹn cấu trúc của một đề tài nghiên cứu khoa học Đồng thời chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Sau Đại học, tổ bộ môn phương pháp dạy học Văn, khoa Ngữ văn, các phòng ban của trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các trường phổ thông, bạn bè đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, như trên đã nói đề tài được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn và chúng tôi chưa thực sự có kinh nghiệm nên khó tránh khỏi các sai sót Vì vậy chúng tôi thực sự mong các độc giả thông cảm và gửi các ý kiến đóng góp

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG BÌA PHỤ i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp mới của luận văn 8

8 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ 9

1.1 Khái quát về giao tiếp khẩu ngữ 9

1.1.1 Khái niệm khẩu ngữ 9

1.1.2 Khái niệm giao tiếp khẩu ngữ 10

1.1.3 Đặc điểm của giao tiếp khẩu ngữ 11

1.1.4 Khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ 16

1.2 Cơ sở tâm lí học và ngôn ngữ học về giao tiếp khẩu ngữ 17

1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ học về hành vi giao tiếp khẩu ngữ 17

1.2.2 Cơ sở tâm lí học về diễn biến tâm lí giao tiếp khẩu ngữ 20

1.3 Một số nét khái quát về dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24

1.3.1 Khái niệm về dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24

1.3.2 Nguyên tắc dạy học giao tiếp khẩu ngữ 24

1.3.3 Phương thức kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp khẩu ngữ 26

Trang 6

1.4 Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ 26

1.4.1 Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn 26

1.4.2 Nguyên nhân của việc chưa chú trọng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn 27

Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 31

2.1 Nội dung bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành 31

2.2 Nội dung dạy học năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện nay 35

2.3 Nội dung bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong giáo án môn Ngữ văn ở một số trường THPT Thái Nguyên 40

2.4 Nội dung bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong giờ dạy học môn Ngữ văn ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên 42

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN 61

3.1 Xác định rõ mục tiêu bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 62

3.2 Biên soạn các bài học về bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong sách giáo khoa Ngữ văn theo định hướng thực hành 63

3.3 Thay đổi phương pháp dạy học để nhằm bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong môn Ngữ văn 65

3.4 Thay đổi cách thức kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn 67

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 81

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2: Nhận thức của GV và HS về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT 43 Bảng 2.2: Đánh giá của GV và HS về rèn luyện kĩ năng nói trong giờ học môn Ngữ văn 44 Bảng 3.2: Đánh giá của GV và HS về việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học môn Ngữ văn 44 Bảng 4.2: Khả năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh lớp 11 và lớp 12 ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên 45 Bảng 5.2 Đánh giá của GV và HS về nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ của học sinh một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên 47

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ với những bước

nhảy vọt đã đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công nghệ sang kỉ nguyên thông

tin và tri thức, đồng thời tác động tới tất cả các lĩnh vực, làm biến đổi nhanh

chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Với sự phát triển của các quốc gia hiện nay thì quá trình hội nhập toàn cầu đang làm cho việc rút

ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn và nhanh chóng hơn Với bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế đó, Việt Nam đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp

và kinh tế tri thức Môi trường này đòi hỏi người lao động phải có khả năng hòa nhập, thích ứng, cạnh tranh quốc tế, đặc biệt là rèn luyện khả năng giao

tiếp để tham gia vào các mối quan hệ xã hội nhằm tồn tại và phát triển Việc

rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ được đánh giá là góp phần tạo cho con người cơ hội để biểu lộ niềm hi vọng, ước mơ, những vấn đề, quan niệm, ý kiến, cảm xúc và rèn luyện cách nói năng, mở rộng phạm vi giao tiếp trong xã

hội của mình Vậy nên xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn trong nhà trường phổ thông, việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh là một nhiệm vụ

(THCS), Trung học phổ thông ( THPT) việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ngữ trong dạy học môn Ngữ văn chưa được quan tâm, chú trọng một cách

thỏa đáng

Theo chương trình giáo dục môn Ngữ văn hiện hành, mục tiêu của việc dạy học Ngữ văn trong suốt bậc học phổ thông là: “Học sinh được hoàn thiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đúng đến hay, biết mạnh dạn giao tiếp có hiệu quả trước công chúng, biết soạn thảo các loại văn bản cần thiết trong cuộc sống và trong công việc” Việc dạy học môn Ngữ văn nên hướng tới mục tiêu chung của

giáo dục thế giới mà tổ chức UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học

để chung sống, học để khẳng định mình” và hướng tới yêu cầu đổi mới về phương pháp: rèn luyện khả năng giao tiếp, tạo cho người học sự say mê, hứng thú khi được khám phá kiến thức, được chủ động trong phân tích, nhận xét, đánh giá vấn đề, được phát huy năng lực tự học, tự rèn luyện, tính chủ động, sáng tạo,

kĩ năng thực hành

1.3 Thực tế dạy học Ngữ văn ở trường THPT và thực tế giao tiếp cũng

như qua các bài kiểm tra, bài viết của học sinh, chúng tôi nhận thấy phần lớn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng trình bày, diễn đạt của các em chưa tốt, lúng túng khi diễn đạt Kĩ năng thuyết trình còn vụng về, cách lập luận thiếu chặt chẽ, thiếu tự tin trong giao tiếp Tình trạng này vẫn còn phổ biến ở các cấp học, đặc biệt là với học sinh cuối cấp THPT Việc chưa chú ý rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp

Bên cạnh đó, việc dạy học môn Ngữ văn ở bậc phổ thông phần lớn tập

trung vào các vấn đề ngữ pháp, từ pháp…dành nhiều thời gian cho kĩ năng đọc, viết, dẫn đến việc học sinh ít được rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ Hay

nói cách khác, vấn đề rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ của học sinh chưa được quan tâm một cách đúng mức

Từ lí luận cũng như qua thực tiễn, vấn đề “bồi dưỡng năng lực giao tiếp

khẩu ngữ cho học sinh” được các nhà lí luận, các nhà khoa học cũng như các

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhà sư phạm trên thế giới đặc biệt quan tâm Điều này khẳng định ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này trong nền giáo dục ngày nay Môn Ngữ văn cần đi theo hướng đổi mới: đổi mới từ nội dung chương trình đến phương pháp dạy học theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường tư duy, sáng

tạo, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm” để đem lại hiệu quả thực sự

Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, việc bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh THPT là một việc tương đối khó khăn vì vốn tiếng Việt của học sinh không đồng đều

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:

“Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên”

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong số tài liệu chúng tôi có được, vấn đề dạy học giao tiếp khẩu ngữ đã được đặt ra và giải quyết ở những khía cạnh sau:

Ứng dụng của ngữ dụng học đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ hơn

là chỉ dạy cho học sinh nắm vững các cấu trúc Ngữ dụng học chỉ ra rằng ngôn

ngữ có hai chức năng: chức năng hướng nội và chức năng hướng ngoại, trong

đó hai chức năng hướng ngoại cơ bản nhất của ngôn ngữ, là chức năng làm công cụ giao tiếp và công cụ tư duy Ở các nước phát triển, người ta nhanh

chóng nhận ra được sự bất cập của phương pháp dạy học chỉ chú trọng kĩ năng đọc, viết mà ít chú ý kĩ năng nghe, nói Để giải quyết tình trạng bất cập đó, trong những năm 1940 của thế kỉ XX ở Mĩ, các nhà giáo dục đã hình thành phương pháp nghe nhìn, nghe nói dựa trên những cơ sở lí thuyết ngôn ngữ của

F de Saussure Các học giả đầu tiên chủ trương quan điểm này là Widdowson

H.G, Wilkins D.A, Candlin C.N Họ đã dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học chức năng Anh của John Firth, M.A.K Halliday, công trình

nghiên cứu về xã hội học của các nhà nghiên cứu Mĩ Hymes D và Gumperz J.J

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

… và các kết quả nghiên cứu ngữ dụng học của Austin J.L và Searle J.R, để đề

ra cơ sở lí luận cho đường hướng dạy học tiếng theo quan điểm chức năng hay còn gọi là quan điểm giao tiếp và đã phân biệt hai bình diện "hệ thống ngôn ngữ" và "hệ thống sử dụng ngôn ngữ", đã phân biệt rõ hai khái niệm "dạy nghĩ

về ngôn ngữ" và "dạy suy nghĩ bằng ngôn ngữ" Đó là hai mặt thống nhất nhưng không đồng nhất Các tri thức này đã giúp người học hiểu biết một cách khoa học công cụ giao tiếp mà ngôn ngữ học sử dụng Phương pháp này chú

trọng vào nghe nói với trọng tâm kĩ năng theo trật tự nghe - nói, đọc - viết tạo cho người học khả năng hoạt động để lĩnh hội được lời nói của người khác và

tự tạo ra lời nói cho riêng mình trong giao tiếp, chứ không nhằm cung cấp hệ

thống tri thức ngôn ngữ cho người học Phương pháp này đã nhanh chóng được các nhà nghiên cứu như: L.Blumphil, B.Blok, Đ.Treyge phát triển và được ứng

dụng rộng rãi trong dạy học từ tiểu học đến đại học và trở thành xu hướng phát

triển chung của một số nền giáo dục phát triển trên thế giới Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng trên đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

Từ những năm 80 thế kỷ trước, ở Liên Xô cũ, ở CHDC Đức khi xác định mục tiêu của dạy tiếng mẹ đẻ, các nhà lý luận dạy tiếng đã thống nhất rằng phát triển hoạt động ngôn ngữ (phát triển lời nói) là nhiệm vụ trung tâm của dạy tiếng ở trường phổ thông Tác giả M.R.Lvov trong bài viết Cơ sở lý luận của việc dạy ngôn ngữ (1980) đã khẳng định ngôn ngữ chỉ có sự sống trong quá trình hoạt động của nó, trong hành động, nghĩa là trong lời nói Chỉ trong lời nói, ngôn ngữ mới có ý nghĩa thực hành, chỉ trong lời nói, ngôn ngữ mới thể hiện những khả năng tiềm tàng Việc học ngữ pháp, ngữ âm, chính tả, cấu tạo

từ, những yếu tố tu từ trong nhà trường phải được thực hiện trên cơ sở những mẫu mực tốt nhất của lời nói sinh động, cả lời nói miệng lẫn lời viết, được hoàn tất và được quán triệt trong lời nói của HS

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

David Nunan (1991) cho rằng dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp là coi trọng việc học giao tiếp thông qua những tương tác bằng ngôn ngữ đích; đưa ngôn ngữ đích vào tình huống học tập, tạo cơ hội cho người học không những tập trung vào ngôn ngữ mà còn vào quá trình học tập; đề cao kinh nghiệm bản thân của người học và coi nó là một yếu tố quan trọng trong quá trình học tập, nỗ lực gắn việc học trên lớp với sử dụng ngôn ngữ tích cực ngoài lớp học Hướng cải tiến mới và khuynh hướng có ý nghĩa nhất trong những năm gần đây và cho thế kỷ tiếp theo được các nhà ngôn ngữ học ứng dụng nhấn mạnh ngay từ chuyên san Tạp chí số 9 của Hội Ngôn ngữ ứng dụng thế giới

(AILA): Dạy học ngôn ngữ phải gắn với giao tiếp vì giao tiếp là chức năng

trọng yếu của ngôn ngữ; vấn đề cấu trúc, cú pháp, kiến thức về từ vựng được

đưa xuống hàng thứ hai Họ cho rằng cần phải tập trung vào việc phát triển

năng lực giao tiếp hơn là chỉ dạy cho người học cách nắm vững các kiến thức lí thuyết Con người giao tiếp với nhau bằng công cụ quan trọng nhất là lời nói

Do vậy, việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường nên đi theo hướng dạy học

bằng giao tiếp

Ứng dụng của tâm lí - ngôn ngữ học chỉ ra rằng trong lời nói có yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân, chỉ trong lời nói, hệ thống ngôn ngữ mới bộc lộ hết đặc điểm của nó Nghiên cứu lời nói tức là nghiên cứu quá trình tiếp nhận lời nói, sản sinh lời nói, là tìm hiểu diễn biến tâm lí của sự tiếp nhận và sản sinh ngôn bản, nghiên cứu các dạng lời nói, các tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh

lời nói, tính hiệu quả của lời nói trong giao tiếp cá thể và trong giao tiếp với nhiều người Sự phân tích này dẫn tới nguyên tắc: dạy tiếng trên cơ sở khai thác

và phát triển vốn tiếng sẵn có ở người học Nội dung dạy học trong chương trình

môn Ngữ văn không chỉ nhằm trang bị tri thức và kĩ năng mới cho học sinh mà còn giúp học sinh ý thức hóa, hệ thống hóa và nâng cao những hiểu biết - kĩ năng

đã có về năng lực giao tiếp khẩu ngữ

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Các thành tựu về lí luận dạy học đã nêu ra quy trình, quan điểm và nguyên tắc xây dựng chương trình môn học Xây dựng chương trình môn Ngữ văn trong nhà trường vận dụng quan niệm tích hợp: Tích hợp tri thức tự nhiên và xã hội vào nội dung ngữ liệu tiếng mẹ đẻ và thực hiện dạy tiếng mẹ đẻ qua các môn học khác Quan niệm này chi phối mạnh mẽ việc lựa chọn và xác định vị trí các bài học hướng đến giá trị văn hóa Đó là văn hóa ứng xử trong giao tiếp, văn hóa đối nhân xử thế qua ngôn ngữ, là các giá trị đạo đức của từng dân tộc

và của nhân loại

Các thành tựu của phương pháp dạy học Ngữ văn chỉ ra rằng nhiệm vụ của dạy học môn Ngữ văn để trả lời ba câu hỏi: Dạy để làm gì? Dạy học cái gì? Dạy học như thế nào? Phần trình bày cơ sở ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học

đã góp phần trả lời các câu hỏi Dạy để làm gì? Dạy học cái gì? Dạy học như thế nào? Chú trọng bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cũng là xu thế chung của thế giới trong việc dạy tiếng mẹ đẻ cũng như việc dạy ngoại ngữ

Hiện nay cùng với việc ứng dụng thành tựu của các ngành khoa học trên và

sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong việc đổi mới phương pháp dạy học Vấn đề bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ đã được nghiên cứu một cách cụ thể và được đông đảo giáo viên, các nhà phương pháp giảng dạy ủng hộ như: “Về việc bồi dưỡng kĩ năng đọc, nói, nghe, viết cho học sinh trong dạy học Ngữ văn” (Nguyễn Viết Chữ), “Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội”,“Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh miền núi phía bắc, những kiến nghị và giải pháp” (Trần Trí Dõi), “Rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh THCS trong dạy học kiểu văn bản tự sự” (Phạm Thị Anh)… Bên cạnh đó các nhà nghiên cứu còn đề cập đến quan điểm phát triển kĩ năng giao tiếp theo hai hướng: xu hướng tiếp cận theo tâm lý học giao tiếp và xu hướng tâm lý học ứng dụng như: “Vấn đề giao tiếp” (Nguyễn Văn Lê), “Tâm lí học giao tiếp” (Hoàng Anh) , Platon đã đề cập đến giao tiếp và cho rằng: “Đối thoại như là giao tiếp trí tuệ như là sự phản ánh trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người với

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

con người” Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh còn được thể hiện trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trong nhà trường ở các cấp học Nhìn chung những công trình nghiên cứu này đã đi sâu vào phân tích đặc điểm về khả năng giao tiếp, phản ánh thực tế giao tiếp của học sinh Việt Nam còn yếu về kĩ năng giao tiếp thể hiện ở ba mặt sau: kĩ năng thuyết trình trước đám đông, kĩ năng truyền tin, kĩ năng lắng nghe và thu thập thông tin Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu còn chỉ ra nhiều giáo viên chưa thật quan tâm đến việc hướng học sinh học môn Ngữ văn theo quan điểm giao tiếp và giao tiếp có hiệu quả, cũng như có những giáo viên quan tâm đến việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh nhưng gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy Học sinh không được trang bị những tri thức cơ bản nhất về kĩ năng nghe - nói hay thực hành một cách bài bản Cả giáo viên và học sinh vẫn thực hiện kĩ năng nghe - nói mang tính tự phát, dựa trên những kinh nghiệm của bản thân trong suốt các giờ dạy học

Vì vậy, để đem lại một cái nhìn hệ thống về kĩ năng giao tiếp và đưa ra những giải pháp cho việc bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp cho học sinh THPT, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên” là cần thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở những nghiên cứu về lí luận và thực tiễn dạy học giao tiếp khẩu ngữ, luận văn đề xuất một số giải pháp bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Vấn đề bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học

Ngữ văn ở một số trường THPT tại tỉnh Thái Nguyên

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tiếp cận những cơ sở lí luận của vấn đề bồi dưỡng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

5.2 Khảo sát thực trạng của việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở trường THPT

5.3 Đề xuất một số giải pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đang được nghiên cứu, triển khai

6.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong môn Ngữ văn ở trường THPT

6.3 Phương pháp so sánh tổng hợp nhằm đưa ra những kết luận khoa học, kết luận sư phạm, từ đó đề xuất các giải pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT

7 Đóng góp mới của luận văn

7.1 Giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn mới về việc dạy học Ngữ văn, đặc biệt cần chú ý hơn đến việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ bên cạnh năng lực đọc và viết

7.2 Luận văn hướng tới đề xuất một số giải pháp có hiệu quả trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông nhằm bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về dạy học giao tiếp khẩu ngữ

Chương 2: Thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ

1.1 Khái quát về giao tiếp khẩu ngữ

1.1.1 Khái niệm khẩu ngữ

Hiện nay, các nhà khoa học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khẩu ngữ Tác giả Hồ Ngọc Đức cho rằng khẩu ngữ là “Khả năng biểu đạt bằng lời

nói”, là ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hằng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách viết [22.tr146]

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, khẩu ngữ là: “Ngôn ngữ tồn

tại chủ yếu ở dạng nói, được sử dụng để trao dổi tư tưởng, tình cảm trong sinh hoạt hàng ngày Hình thức thông thường là đối thoại Có đặc điểm cơ bản là

phát ngôn ngắn, đơn giản về cấu trúc, thiên về sắc thái cảm xúc, nhiều biến thể phát âm” [45.tr243]

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khẩu ngữ là ngôn ngữ nói thông thường, dùng

trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm đối lập với phong cách viết”

[44.tr151]

Phong cách ngôn ngữ Tiếng Việt có thể chia làm hai loại hình: Phong

cách ngôn ngữ khẩu ngữ và Phong cách ngôn ngữ gọt giũa Khẩu ngữ là ngôn

ngữ mà con người sử dụng trong giao tiếp bằng lời nói Khẩu ngữ được hiểu là cách sử dụng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chủ yếu của nhân loại trong các

mối quan hệ tự nhiên và xã hội Trước khi chữ viết ra đời, loài người giao tiếp với nhau bằng lời nói, sau khi chữ viết ra đời, loài người sáng tạo ra ngôn ngữ

viết cũng dựa trên cơ sở của lời nói

Nhận thức được vai trò quan trọng của khẩu ngữ đối với việc sử dụng ngôn ngữ Từ những năm 50 của thế kỉ 20, cho đến nay các nước có nền giáo

dục tiên tiến trên thế giới như Nhật, Anh, Pháp, Mĩ… đã tiến hành cải cách

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chương trình và giáo trình dạy học tiếng mẹ đẻ theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh Và khái niệm về khẩu ngữ được xác định

và trình bày như sau:

Khẩu ngữ là lời nói, là âm thanh phát ra từ cơ quan phát âm của người nói, dùng nó để biểu thị tư tưởng, tình cảm của mình Khẩu ngữ có hai dạng lời đối thoại, lời độc thoại và có các đặc điểm sau:

Khẩu ngữ là ngôn ngữ của âm thanh Là một phương tiện trao đổi thông

tin trong xã hội, có khả năng truyền cảm rất lớn Trong giao tiếp khẩu ngữ, ngữ điệu có vai trò đặc biệt quan trọng Nhịp điệu lời nói nhanh hay chậm, độ

cao thấp của giọng nói, sự ngắt đoạn, đều có ảnh hưởng tới hiệu quả giao tiếp

Cùng với ngữ điệu, các phương tiện phụ trợ phi ngôn ngữ như ánh mắt, vẻ mặt cử chỉ hay điệu bộ đều có mức ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả biểu đạt

1.1.2 Khái niệm giao tiếp khẩu ngữ

Sách giáo viên Tiếng Việt 5 [47.tr6] đã chỉ ra giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết, lập quan hệ, sự hiểu biết, cộng tác giữa các thành viên trong xã hội Hoạt động giao tiếp gồm các hành vi nhận thông tin và phát thông tin Trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực

hiện bằng hai hình thức khẩu ngữ: nghe, nói, bút ngữ: đọc, viết

Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, bằng những phương tiện khác nhau, như hội họa, âm nhạc, điêu khắc… Nhưng ngôn

ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của xã hội loài người

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy giao tiếp khẩu ngữ được hiểu ngắn gọn là giao tiếp bằng lời nói để truyền đạt thông tin, trao đổi tư tưởng tình cảm

1.1.3 Đặc điểm của giao tiếp khẩu ngữ

1.1.3.1 Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp khẩu ngữ

Sự khác nhau của năng lực nghe nói và năng lực giao tiếp khẩu ngữ ở chỗ: năng lực nghe nói nhờ vào năng lực tiếp nhận và biểu đạt thông tin lời nói khẩu ngữ Giao tiếp khẩu ngữ là sự kết hợp giữa tri thức lời nói và kĩ năng giao tiếp, không những cần phải chú ý đến chất lượng của nghe nói mà còn chú ý đến sự

chính xác, phù hợp, khéo léo và nhạy bén trong quá trình giao tiếp Năng lực giao

tiếp khẩu ngữ còn có tính chiều hướng, tính động thái, tính phức hợp, tính tại chỗ

và ngắn gọn

Tính chiều hướng là chỉ giao tiếp khẩu ngữ không chỉ bao gồm tính biểu

thuật một chiều, nó cũng bao gồm tính trao đổi hai chiều Khi nói chuyện một chiều, học sinh phải suy nghĩ tổ hợp từ như thế nào nói cho có lý, đồng thời cũng phải chú ý đến phản ứng của người nghe để điều chỉnh giao tiếp cho phù hợp, giao tiếp được tiến hành theo hai chiều, được thúc đẩy bởi sự phối hợp của hai bên

Tính phức hợp được thể hiện ở hai mặt, đầu tiên đối với cá thể HS, trong

quá trình giao tiếp HS là người phát ra câu chuyện, đồng thời cũng có thể là người tiếp nhận câu chuyện, sau đó đối với hành vi lời nói hoàn thành giao tiếp khẩu ngữ cần phải có nhiều hệ thống tham dự như: tư duy, ngôn ngữ, tình cảm, ánh mắt, động tác của tay, biểu cảm khuôn mặt Các hệ thống này hỗ trợ phối

hợp, điều hòa nhất quán với nhau mới hoàn thành nhiệm vụ giao tiếp

Tính hoàn cảnh là chỉ tất cả các hoạt động giao tiếp khẩu ngữ, đều là đối tượng đối diện mặc định, được đặt trong hoàn cảnh ngôn ngữ mặc định, vì thế khi giao tiếp cần phải tính tới hai vấn đề: thứ nhất, cần phải căn cứ vào ngữ

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cảnh để tiến hành trao đổi lời nói, người nói cần xem xét đối tượng giao tiếp, nơi

tiến hành giao tiếp, thời gian tiến hành giao tiếp có hợp lí hay không Thứ hai, trong quá trình trao đổi cần phải căn cứ vào sự phản hồi thông tin khác nhau, cần phải linh hoạt thêm một bước để lựa chọn các sách lược giao tiếp như: giải thích,

lặp lại, ngừng ngắt, trở lại, dự đoán, chuyển chủ đề câu chuyện

Tính phân tán trong giao tiếp khẩu ngữ, đặc biệt là trong hoạt động giao tiếp hai chiều khá rõ nét Nguyên nhân là một mặt bởi chịu sự hạn chế về thời gian và không gian, người giao tiếp không kịp đặt những câu dài, phức tạp, mặt khác trong hoàn cảnh đặc định, hai bên giao tiếp có thể dựa vào biểu cảm, yếu

tố ngoài ngôn ngữ như ánh mắt, cử chỉ, thái độ để hiểu ý, không phải diễn

giải nhiều

Bên cạnh đó còn là sự khác biệt của việc tích lũy quy tắc cú pháp của HS trực

tiếp ảnh hưởng đến tốc độ và tính chuẩn xác của việc tìm tòi, sắp xếp từ ngữ

Từ đó có thể thấy năng lực giao tiếp khẩu ngữ và năng lực nghe nói tuy có mối liên hệ, nhưng chúng có tính độc lập tương đối Năng lực giao tiếp khẩu

ngữ có tính độc lập tương đối, nó có độ rộng và độ sâu riêng của nó Nó là sự

kết hợp giữa kĩ năng giao tiếp và tri thức lời nói, là một loại kinh nghiệm giao tiếp khẩu ngữ được thể hiện sống động trong hoàn cảnh mặc định Chính vì thế,

dạy học giao tiếp khẩu ngữ không chỉ bao gồm dạy học nghe nói thông thường

mà còn cả việc dạy học các cách trao đổi trong các hoàn cảnh khác nhau và thông qua các hoạt động thực tiễn để nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ của

HS Tức là không chỉ chú ý đến chất lượng nghe nói mà còn phải chú ý đến sự thích đáng, khéo léo, nhạy bén trong giao tiếp

1.1.3.2 Sự khác biệt giữa khẩu ngữ hàng ngày và việc dạy học giao tiếp khẩu ngữ

Khẩu ngữ mà chúng ta đề cập đến là loại khẩu ngữ dùng để thực hiện một

ý đồ lời nói nào đó như nói chuyện, phỏng vấn, đàm phán… Lấy việc thực hiện

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ý đồ lời nói làm mục đích Tuy nhiên khi đi dạy học, nhiệm vụ của việc rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ đảm nhiệm phức tạp hơn nhằm giúp HS nắm vững và

hiểu hiểu quá trình hình thành năng lực giao tiếp khẩu ngữ Bồi dưỡng cho HS năng lực tri giác đảm bảo tính sắc bén trong lời nói là nói như thế nào, làm cho tất cả HS đều có được cơ hội và năng lực phát triển tài nguyên ngôn ngữ Giúp

cho HS điều chỉnh được khẩu ngữ, bút ngữ và thói quen cảm giác ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp có hiệu quả, đạt được mục đích học tập, giao lưu, vui chơi…

của cá nhân mình Từ đó giúp cho HS hiểu được sự khác biệt về mô thức ngôn ngữ giữa các nền văn hóa, các dân tộc, các khu vực khác nhau, các tầng lớp xã

hội khác nhau, bồi dưỡng cho HS có khả năng sử dụng thành thạo và có tính

lựa chọn hợp lí khi sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng

So với khẩu ngữ hàng ngày, dạy học giao tiếp khẩu ngữ có ba đặc trưng

lớn sau: Thứ nhất là tính toàn diện thể hiện ở hai mặt sau: với cá thể học sinh

cần phải rèn luyện khả năng sử dụng, vận dụng nhiều hình thức giao tiếp khẩu ngữ Với các nhân HS, loại năng lực này là bộ phận quan trọng cấu thành năng

lực tiếng mẹ đẻ, giúp HS đạt được, củng cố và phát triển ý nghĩa cụm từ ở tiếng

mẹ đẻ, trở thành năng lực đầu tiên sau khi rời nhà trường đủ để phản ứng đối với vấn đề ngôn ngữ và hoàn cảnh Thứ hai là tính phản ánh giúp HS từng bước hình thành kĩ năng ngôn ngữ về mặt ý nghĩa phổ biến, chỉ có sự hiểu biết tốt về

ý nghĩa cụm từ của tiếng mẹ đẻ mới có thể nhanh chóng học tập và hiểu các ngôn ngữ khác.Thứ ba là tính cơ hội, dạy học giao tiếp khẩu ngữ đảm nhiệm

một nhiệm vụ mà giao tiếp hàng ngày không thể làm được, đó là bồi dưỡng năng lực tư duy cho HS, điều này do tính chất của ngôn ngữ biết chữ quy định Ngôn ngữ biết chữ của mỗi người, không chỉ bao gồm năng lực tổng hợp của nghe, nói, đọc, viết mà còn là năng lực giải quyết các loại vấn đề trong cuộc sống cụ thể hàng ngày Điều đó chính là yêu cầu trong các điều kiện khác nhau,

thông qua nghe, nói sắp xếp thông tin, phát hiện phương án giải quyết Trong

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đó phương pháp tư duy cần phải bồi dưỡng, chỉ có thông qua việc rèn luyện tư duy, HS mới có thể nói một cách tự tin, thể hiện mình một cách sáng tạo, thành

công trong việc giao lưu với người khác, trở thành một con người sử dụng ngôn ngữ thành thục và có đầu óc phê phán

1.1.3.3 Dạy học giao tiếp khẩu ngữ khác với luyện tập khẩu ngữ

Dạy học giao tiếp khẩu ngữ chú trọng quá trình tương tác, ứng phó và điều chỉnh trong tính giao tiếp, cũng tức là chú ý đến các nhân tố lời nói như phong

cách, biểu thể ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữ như: các động tác của ánh mắt, tay chân, cự ly khoảng cách… Tức là vừa chú trọng luyện tập bản thân lời nói vừa

chú trọng đến sự hiểu biết của giao tiếp lịch sự, điều chỉnh biểu đạt vị trí của người nói, văn hóa, quy tắc giao tiếp… Điều đó có nghĩa là dạy học giao tiếp khẩu ngữ rất coi trọng tăng cường năng lực ngữ dụng

Luyện tập khẩu ngữ chính là giáo dục chuẩn mực ngữ âm, luyện phát âm

chuẩn thông qua nghe và nói, hướng dẫn người học phát âm đúng âm thanh ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, phát âm rõ ràng các từ, câu theo đúng qui định và

luyện cho người học biết điều chỉnh giọng nói của mình sao cho diễn cảm, phù

hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp, điều chỉnh cường độ giọng nói to, nhỏ, tốc độ nhanh hay chậm, nhịp độ sao cho nhịp nhàng, ngắt nghỉ đúng chỗ và nói có ngữ điệu, thể hiện sắc thái biểu cảm của lời nói Luyện phát âm cho người học còn

là phát triển khả năng nghe âm thanh ngôn ngữ, điều khiển hơi thở đúng… Rèn luyện khả năng nghe: Luyện cho người học khả năng nghe được các

âm vị và phân biệt chúng Luyện cho người học tri giác được tính biểu cảm của ngôn ngữ Cần đặt người học vào trong môi trường âm thanh, người học phải được nghe âm và âm thanh ngôn ngữ Người học càng thu nhận được nhiều tín hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì sự phát triển lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu Khả năng nghe tốt sẽ tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Rèn luyện khả năng phát âm: Rèn luyện bộ máy phát âm với sự linh hoạt

của lưỡi, môi, hàm dưới… Sự chuyển động nhịp nhàng, linh hoạt của bộ máy

phát âm sẽ giúp cho âm thanh ngôn ngữ chuẩn hơn Luyện luồng hơi từ phổi ra giúp cho sự cấu âm gọi là thở ngôn ngữ Thở ngôn ngữ khác thở bình thường ở

chỗ nó là thở có lí trí, thở bình thường là thở sinh lý Thở lí trí giúp chúng ta điều

khiển sự thở để ngừng nghỉ khi nói, khi phát âm… Luyện thở ngôn ngữ cho người học là luyện kĩ năng hít vào nhanh, ngắn và thở ra nhịp nhàng, tạo điều kiện cho khả năng nói các câu một cách thoải mái trong quá trình diễn đạt Thở ngôn ngữ đúng tạo điều kiện phát âm rõ nét, giữ được cường độ nói phù hợp, lời

nói khúc triết, nhịp nhàng, ngữ điệu biểu cảm… Luyện giọng nói thể hiện đầy đủ

tất cả các mặt âm thanh ngôn ngữ của người học Luyện giọng cho người học là giúp biểu hiện thái độ, tình cảm của mình bằng lời nói, trong lời nói Luyện

giọng cho người học là rèn luyện đặc tính của giọng nói như cao độ, cường độ,

âm sắc… Phương pháp cơ bản để luyện giọng là đọc và kể diễn cảm dưới nhiều cách bằng lời nói, bằng trò chơi đóng kịch…

Rèn luyện ngữ điệu của lời nói: Ngữ điệu là tổng hợp các phương tiện

biểu cảm ngữ âm của lời nói, bao gồm giai điệu, tốc độ, nhịp điệu, trọng âm,

âm sắc… Rèn luyện ngữ điệu của lời nói giúp người học biết cách điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của âm thanh ngôn ngữ về cường độ, nhịp điệu, tốc độ của lời nói Rèn luyện cho người học sử dụng ngữ điệu để tạo nên sự biểu cảm về phương diện âm thanh lời nói

Dạy học giao tiếp khẩu ngữ và luyện tập khẩu ngữ có sự khác biệt rõ ràng

về thiết kế và thực thi dạy học:

Thứ nhất là trọng điểm dạy học không giống nhau: luyện tập khẩu ngữ quan

tâm bồi dưỡng nghe nói cho HS, bao gồm rèn luyện cho HS có thể phát âm chính xác, lựa chọn từ ngữ, lời nói phù hợp với quy tắc ngữ pháp, còn dạy học

giao tiếp khẩu ngữ rất quan tâm đến năng lực thích ứng ngữ cảnh của HS, bao

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gồm việc rèn luyện cho HS căn cứ vào đối tượng, trường hợp và hoàn cảnh giao

tiếp, nắm vững chủ đề câu chuyện, dự đoán lập trường quan điểm và ý đồ của đối tượng giao tiếp Sử dụng một cách thích hợp ngôn ngữ khẩu ngữ và ngôn ngữ ngoài lời nói để giải quyết vấn đề giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp

của mình

Thứ hai là sự triển khai căn cứ của hoạt động dạy học không giống nhau: luyện tập khẩu ngữ có thể dựa vào hoạt động phi giao tiếp để triển khai hoạt động dạy học Còn giao tiếp khẩu ngữ thì phải dựa vào hoạt động giao tiếp để triển khai hoạt động dạy học Đặc trưng khác biệt của chúng là HS có hay không

có nguyện vọng và mục đích giao tiếp, điểm chú ý là nội dung hay hình thức,

GV can dự vào hoạt động rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ cho HS nhiều hay ít mức

độ dựa vào chương trình và mục đích yêu cầu đề ra trong sách giáo khoa

Thứ ba, khi luyện tập khẩu ngữ, vấn đề hoặc câu chuyện nói chung đều do

GV chọn, nội dung nói có thể dự đoán trước, còn khi luyện tập giao tiếp khẩu ngữ, người nói cần phải biểu đạt, thể hiện nguyện vọng, quan điểm và thông tin

của mình biểu đạt hỗ trợ lẫn nhau, đầy những biến số và kĩ xảo ứng phó Thực

chất của rèn luyện khẩu ngữ là diễn luyện giao tiếp chân thực, coi trọng học tập ngôn ngữ trong tương tác mà không phải là sự biểu đạt khẩu ngữ của văn viết

1.1.4 Khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ

Năm 1972, nhà ngôn ngữ học D.H.Hymes đã đưa ra khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ Ông cho rằng: “Con người trong hoạt động xã hội, giao tiếp

xã hội dần dần đã phát triển thành một loại năng lực sử dụng ngôn ngữ” bao gồm hai mặt: năng lực ngôn ngữ và vận dụng ngôn ngữ, đó chính là năng lực giao tiếp

khẩu ngữ

Theo Hymes năng lực giao tiếp khẩu ngữ bao gồm năng lực phán đoán như: nhìn chính xác khẩu hình, hiểu nghĩa của từ, đúng ngữ pháp, tính thích hợp, tính khéo léo, tính thực tế, phát âm chuẩn, mô phỏng giọng điệu

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Như vậy năng lực giao tiếp khẩu ngữ là khả năng vận dụng tri thức đã học được vào cuộc sống thực tiễn, năng lực biểu đạt được tư tưởng, tình cảm,

sự hiểu biết của mình cho người khác hiểu, hoặc thông qua lời nói của mình

để thuyết phục, lôi cuốn người khác Năng lực giao tiếp khẩu ngữ bao gồm hai thành tố chính: Năng lực tổ chức bao gồm năng lực ngữ pháp, năng lực

diễn ngôn và năng lực ngữ dụng bao gồm năng lực ngôn ngữ xã hội và năng lực tạo lời

1.2 Cơ sở tâm lí học và ngôn ngữ học về giao tiếp khẩu ngữ

1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ học về hành vi giao tiếp khẩu ngữ

Khái niệm năng lực giao tiếp khẩu ngữ được hiểu thông qua sự đối lập với

khái niệm năng lực ngôn ngữ Hai khái niệm này xuất hiện đó là nhờ việc thực hiện công trình nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Pháp

Ferdinand De Saussure về sự phân biệt giữa “ngôn ngữ” và “lời nói” Còn khái

niệm “năng lực” ở nghĩa ban đầu chỉ là khả năng đối với một việc gì đó, sau đó được N.Chomxki đưa vào dùng một cách chính thức trong lĩnh vực ngôn ngữ học Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ của ngôn ngữ đó Còn năng lực giao tiếp khẩu ngữ, theo quan điểm của chúng tôi,

đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp

ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực Nói cách khác, năng lực

giao tiếp khẩu ngữ chính là khả năng tham gia vào giao tiếp, điều hướng trong

giao tiếp

Giữa năng lực giao tiếp khẩu ngữ và năng lực ngôn ngữ có mối quan hệ và tác động qua lại với nhau một cách biện chứng Phát triển ngôn ngữ cho học sinh

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực chất là phát triển hoạt động lời nói Quá trình phát triển lời nói của học sinh

(HS) gắn bó rất chặt chẽ với 2 cơ chế của hoạt động lời nói là sản sinh ngôn ngữ

và tiếp nhận ngôn ngữ Quá trình hình thành lời nói ở HS gắn bó rất chặt chẽ với hoạt động của tư duy Sự mạch lạc trong lời nói của HS thực chất là sự mạch lạc

Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng

tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia

giao tiếp, việc hình thành ý định lời nói xảy ra trước khi sản sinh hành vi lời nói Khi hình thành ý định lời nói có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tượng giao tiếp, địa điểm và thời gian của phát ngôn, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp

Việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều đặc điểm khác với việc tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác Ngôn ngữ được hình thành từ rất sớm Ban đầu HS không

có ý thức về ngôn ngữ và học nói theo cách tự nhiên; về sau, khi tư duy phát triển

thì có thể tổ chức học nói có ý thức hơn Tuy vậy, cần nhấn mạnh rằng, năng lực giao tiếp khẩu ngữ chứa đựng trong mình cả năng lực ngôn ngữ và luôn luôn thể

hiện như một tổng thể thống nhất trong quá trình dạy và học Bởi lẽ giao tiếp thể

hiện hệ thống ngôn ngữ với nghĩa là bản thân giao tiếp chính là sự tồn tại của ngôn ngữ, nó được thấu suốt bằng cả hệ thống ngôn ngữ Phát triển ngôn ngữ cho HS

bao gồm tất cả các kiến thức về ngôn ngữ học Kiến thức về ngôn ngữ học sẽ là

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

những kiến thức cơ sở giúp cho các nhà giáo dục hiểu đúng nhiệm vụ, nội dung, tìm ra các phương pháp, biện pháp hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ cho học sinh Giao tiếp là hoạt động có tính vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tồn tại và phát

triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người cần phải

giao tiếp với nhau Xã hội càng phát triển thì phương tiện giao tiếp của con người càng hiện đại Giao tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống

Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và hành vi giao tiếp khẩu ngữ, ngôn ngữ được tạo nên từ ba hệ thống âm vị học, hình thái học và cú pháp học, những hệ thống này hoạt động độc lập với ngữ nghĩa Do đó biết một ngôn ngữ nào đó có nghĩa là biết cách sử dụng các hệ thống này Ngôn ngữ là khẩu ngữ chứ không phải bút ngữ, bởi vì quá trình học ngôn ngữ một cách tự nhiên luôn bắt đầu bằng nghe và nói, rồi sau đó, mới đến đọc và viết

Quá trình học ngôn ngữ theo quan điểm của phương pháp nghe - nói là

một quá trình gồm các kích thích và phản ứng mang tính cơ học được củng cố bởi việc lặp đi lặp lại những phản ứng này một cách chính xác Ngôn ngữ là

hành vi sáng tạo chịu sự chi phối của quy tắc Nói một cách khác, tất cả những người biết một ngôn ngữ nào đó đều nắm vững cùng một tập hợp những quy tắc có hạn Điều này cùng với khả năng tiếp thu ngôn ngữ bẩm sinh làm cho họ

có khả năng hiểu được những người nói cùng thứ tiếng với họ và có khả năng sản sinh ra một số lượng câu không hạn chế với độ dài không hạn chế HS

thông qua học ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp khẩu ngữ cụ thể được nghe

quen ngữ cảnh, ngữ điệu sẽ có thể hiểu, ghi nhớ, mô phỏng và nói ra được tuân theo quy tắc kết nối, HS có thể lĩnh hội, ghi nhớ, mô phỏng, phát âm, nói năng lưu loát HS sẽ dần hình thành và học tập được khả năng sử dụng khẩu ngữ của

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mình một cách rất tự nhiên Giao tiếp khẩu ngữ được hình thành theo các bước

sau : thứ nhất phải xem chính xác khẩu hình, thứ hai phải nghe rõ ngữ âm, thứ

ba phải hiểu từ vựng, thứ tư phải nắm chắc ngữ pháp, thứ năm phải phát âm chính xác ngữ âm và ngữ điệu

Kỹ năng nghe - nói được chú trọng và việc phát triển chúng được thực

hiện bằng việc yêu cầu người học đưa ra những phản ứng đúng trước những kích tố có sẵn trong những tình huống nhất định Những luyện tập đồng thanh

hoặc cá nhân mang tính cơ học là những hoạt động phổ biến trong lớp học, tạo cho người học khả năng hiểu và sản sinh những lời nói bằng ngôn ngữ đích chấp nhận được về mặt phát âm với tốc độ thông thường và tạo điều kiện cho người học luyện tập thuần thục các cấu trúc ngôn ngữ mà cuối cùng họ có thể sử dụng trong giao tiếp mà không cần để ý đến những đặc điểm ngôn ngữ

của chúng

1.2.2 Cơ sở tâm lí học về diễn biến tâm lí giao tiếp khẩu ngữ

Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.S.Vư-gốt-xki và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt Từ

đó suy ra đơn vị dạy học ngoại ngữ phải là hành động lời nói Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Dạy như thế nào? Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các

mặt chức năng và hình thức của nó là điều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng Nếu mục đích của

việc dạy học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện

ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Giao tiếp là chức năng cơ bản của ngôn ngữ Kĩ năng

giao tiếp bao gồm: nghe, nói, đọc, viết Tùy thuộc vào tính chất, mục đích, chức năng và hoàn cảnh sử dụng mà được chia thành các nhóm kĩ năng: chủ động (nói, viết), thụ động (nghe, đọc), kĩ năng khẩu ngữ (nghe, nói) và kĩ năng bút

ngữ (đọc, viết)

Quá trình hình thành kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ tiếp bằng tiếng mẹ đẻ được thể hiện qua các thời kì Đứa trẻ sinh ra, lớn lên bước vào giao tiếp trước hết là bằng kĩ năng nghe hiểu Khi đứa trẻ bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, cơ quan phát âm còn chưa hoàn thiện, thị lực và thính lực đã bắt đầu công việc của mình Thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, đứa trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo,

công dụng của chúng Song song với quá trình nhận biết màu sắc, dẫn đến

phân biệt âm thanh, phản ứng với những âm thanh được tiếp nhận Quá trình nghe hiểu bắt đầu từ đó Ban đầu đứa trẻ chỉ nhận biết được những từ riêng lẻ, rồi

nhận biết được cụm từ, câu Tư duy ngôn ngữ của đứa trẻ cũng phát triển song

song với quá trình này Sự phản ánh những thông tin tiếp nhận được mới đầu được biểu đạt bằng con đường phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, ánh mắt… Đứa trẻ

học được những từ tương ứng từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ

Ngôn ngữ giúp đứa trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành Trên cơ sở nghe hiểu, đứa trẻ

từng bước hình thành kĩ năng phát âm, kĩ năng nói, biểu đạt tư duy, từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều

Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực hơn, sáng tạo hoạt động trí tuệ Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu hiệu Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo

trong hoạt động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc

phát triển ngôn ngữ

Kĩ năng khẩu ngữ của con người hình thành theo đúng quá trình miêu tả trên Loại kĩ năng này cùng với sự trưởng thành của lứa tuổi ngày càng thuần thục Kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ được chọn làm mục đích cuối cùng của việc dạy học tiếng mẹ đẻ, theo quan điểm này là rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ chính là

dạy cho người học không chỉ nắm vững mà còn biết sử dụng ngôn ngữ mà họ đang học như một phương tiện giao tiếp dưới 4 dạng cơ bản của hoạt động lời nói: nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt là phát triển kĩ năng nghe, nói Quá trình hình thành

kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ bằng tiếng mẹ đẻ bắt đầu từ khẩu ngữ là một thực tế Nghe và nói là hai hình thức thể hiện của ngôn ngữ khẩu ngữ, là quá trình

vận dụng vật liệu ngôn ngữ và quy tắc ngôn ngữ để tiến hành hoạt động giao

tiếp Trong đó thành tố nghe là thành tố có trước, là điều kiện tiên quyết để hình thành kĩ năng nói Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác Trước hết người nghe phải nghe chính xác, đầy đủ thông báo, sau đó nhờ các hoạt động tư duy mà hiểu được các nội dung thông báo

Tâm lý học nhận thức hiện đại phát hiện: lời nói của người nói được

truyền bằng hình thức sóng âm đến người nghe, cơ quan thính giác của người

nghe tiếp nhận tín hiệu âm thanh của người nói, lập tức thông qua thần kinh thính giác đưa những tín hiệu âm thanh truyền đến khu vựa thính giác lời nói ở bán cầu đại não Và ngay lập tức, tại đại não, tín hiệu được sắp xếp từ ngữ, dịch

mã nhanh chóng, sau đó tích lũy vào bộ nhớ ngôn ngữ, tìm ra từ ngữ tương ứng, rồi căn cứ vào kết cấu ngữ pháp nhất định sắp xếp lại, chuyển tín hiệu âm thanh thành câu nói, đồng thời tiến hành phân tích tổng hợp, từ đó lý giải lời nói Quá trình nghe được phân tích thành 3 giai đoạn [48.tr114]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Giai đoạn tri nhận lời nói là quá trình sắp xếp những tín hiệu khẩu ngữ đầu tiên nghe được, tức là tiến hành phân tích kết cấu âm thanh Ở giai đoạn phân tích ngữ pháp từ ngữ trong tín hiệu được chuyển thành ý nghĩa mà nó biểu hiện,

là sự tín hiệu tâm lý một chuỗi ý nghĩa Tức là lấy việc biểu thị kết cấu của câu

làm sợi dây xâu chuỗi để xác định ý nghĩa của câu Ở giai đoạn này, việc kiểm

tra tìm tòi từ ngữ của đại não diễn ra nhanh chóng Theo sự nghiên cứu của E Fouike, mỗi người mỗi phút có thể nghe phân biệt 250 từ đơn trong tiếng anh và

sẽ không xảy ra sự sai sót lớn Đó là bao gồm thời gian nghe phân biệt ngữ âm

và thời gian mã hóa nhanh

Nói là hoạt động phát tin nhờ bộ máy phát âm, đầu tiên người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn nội dung để diễn tả nội dung đó Năng lực nói là dưới sự điều khiển của tư duy, đưa lời nói chuyện chuyển thành tín hiệu, biểu đạt một cách thuận lợi thành lời nói khẩu ngữ Nói bao gồm năng lực tổ chức nội bộ

lời nói, năng lực nhanh chóng lựa chọn từ ngữ, năng lực vận dụng từ ngữ và năng lực vận dụng ngữ âm biểu đạt ý nghĩa, tình cảm Sau đó người nói sử dụng

bộ máy phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã được xác định

Năng lực tổ chức nội bộ lời nói là khái niệm chỉ năng lực tư duy của người nói đối với nội dung, mục đích, phương pháp… loại hoạt động suy nghĩ vấn đề này chính là tổ chức nội bộ lời nói, tức là hoạt động tư duy Nội bộ lời nói chặt

chẽ, được biểu đạt bằng khẩu ngữ giản dị, trong sáng, rõ ràng, khúc triết Nội bộ trong lời nói nhanh nhẹn biểu đạt khẩu ngữ sẽ trôi chảy, liền mạch mà không bị đứt quãng Năng lực nhanh chóng lựa chọn từ ngữ, tổ hợp câu là khả năng khi người nói căn cứ vào nhu cầu có thể nhanh chóng lựa chọn từ ngữ từ trong kho trí nhớ của mình, căn cứ vào quy phạm ngữ pháp thể hiện Năng lực vận dụng

ngữ âm để biểu đạt tình cảm, ý nghĩa là năng lực vận dụng ngữ âm để biểu tình, biểu ý

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3 Một số nét khái quát về dạy học giao tiếp khẩu ngữ

1.3.1 Khái niệm về dạy học giao tiếp khẩu ngữ

Ở nhiều một số nước trên thế giới, giao tiếp khẩu ngữ có thể coi là một phân môn trong môn Ngữ văn, có mục tiêu rèn luyện kĩ năng biểu đạt bằng lời nói trong

giao tiếp ngôn ngữ cho HS Dạy học giao tiếp khẩu ngữ đã trở thành một nội dung

dạy học độc lập và cũng có địa vị tương đối bình đẳng với phân môn đọc và viết Phân môn này vốn có tên gọi là dạy học nghe nói nhưng do dạy học nghe nói chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa nên đã chuyển đổi tên thành dạy học giao tiếp khẩu ngữ để nhấn mạnh hơn tính chất công cụ giao tiếp trong dạy học Ngữ văn

1.3.2 Nguyên tắc dạy học giao tiếp khẩu ngữ

Phương pháp dạy học giao tiếp khẩu ngữ rất phong phú, đa dạng Những phương pháp có hiệu quả đã được chứng minh trên thực tiễn, được nhiều GV vận dụng vào giờ giảng của mình Nhưng cũng còn khá nhiều GV dạy học giao

tiếp khẩu ngữ vẫn theo cách thức dạy đọc hiểu, ví dụ như: học từ mới, giảng giải từ trọng điểm, đọc mẫu bài học, dẫn đọc, cả lớp đồng thanh đọc theo, đọc theo phân vai… Chỉ có điều khác nhau là trong phần luyện tập cho thêm một số bài tập như: đối thoại với tình huống giao tiếp, thảo luận một đoạn phát triển hội thoại theo nội dung bài khóa Như vậy, các GV trong quá trình dạy học đã

không hiểu hoặc hiểu không sâu về tính chất, nhiệm vụ và đặc điểm của nội

dung bài học giao tiếp khẩu ngữ, phân biệt không rõ giới hạn và mục đích của dạy học giao tiếp khẩu ngữ và dạy học đọc hiểu, đã hao phí rất nhiều công sức

để đi theo đường vòng Cho nên, xác định rõ nguyên tắc của dạy học giao tiếp khẩu ngữ có ý nghĩa thực dụng thiết thực

Nguyên tắc thứ nhất đó là dạy học giao tiếp khẩu ngữ phải chú ý đến sự

chuyển đổi giữa ngôn ngữ và lời nói Bởi tư duy và sự biểu đạt của ý nghĩ luôn gắn liền với sự lựa chọn từ ngữ và mẫu câu Do đó, nhiệm vụ của bài học về

giao tiếp khẩu ngữ là sự thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ sang

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lời nói Người GV trong khi dạy học giao tiếp khẩu ngữ trước tiên phải chú

trọng đến nội dung luyện tập, những chủ điểm lựa chọn, không chỉ nghĩ tới tính

thực dụng, tính giao tiếp mà còn phải thú vị, hấp dẫn

Nguyên tắc thứ hai là dạy học giao tiếp khẩu ngữ phải chú trọng và

quán triệt quy tắc hợp tác Mục đích của dạy học giao tiếp khẩu ngữ là rèn

luyện kĩ năng và nâng cao năng lực biểu đạt khẩu ngữ cho HS Nếu như HS độc thoại chỉ cần chuẩn bị tốt nội dung của lời nói, nếu HS hội thoại phải chú ý đến sự hợp tác và điều tiết của hai bên Hợp tác ở đây là trình độ tri thức, năng lực tiếp thu thông tin và hoàn cảnh xã hội khi đang giao tiếp Nếu

nội dung đàm thoại vượt qua phạm vi kiến thức của đối phương thì rất khó

giao tiếp với nhau, lượng thông tin trong một đơn vị thời gian quá nhiều, hoặc chủ điểm đề cập đến không phù hợp với hoàn cảnh xã hội của đối phương thì cũng rất khó để tiến hành giao tiếp Trong giao tiếp phải triển khai, phát triển, chuyển đổi theo chủ đề của đối tượng giao tiếp, không nên mỗi người nói một nội dung khác nhau, không có liên quan với nhau Những nguyên nhân trên đã gây ra rất nhiều khó khăn khi GV vận dụng nguyên tắc dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong giờ hội thoại Đây là những điều rất quan trọng mà GV khi dạy học giao tiếp khẩu ngữ cần phải chú ý tới

Nguyên tắc thứ ba là dạy học giao tiếp khẩu ngữ phải có đầy đủ thời gian

để luyện tập: kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ có nhiều đặc điểm khác các kĩ năng khác như: thời gian ngắn, vừa suy nghĩ vừa tạo lời vừa nói Từ suy nghĩ chuyển thành lời nói, đặc biệt là biểu đạt ngôn ngữ đích phải trải qua trình tự rất nhiều khâu để lựa chọn, nếu không có một thời gian nhất định thì không thể đạt được hiệu quả Do đó, trong dạy học giao tiếp khẩu ngữ, sự giảng giải của GV không

thể thay thế được sự luyện tập của HS, phải có một thời gian nhất định để cho

HS luyện tập

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3.3 Phương thức kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp khẩu ngữ

Thực hiện thành công ý đồ giao tiếp là thước đo đầu tiên thể hiện hiệu quả

của dạy học giao tiếp khẩu ngữ Người giao tiếp (HS) không chỉ chú ý phải học những thủ thuật, biện pháp, cách thức biểu đạt lời nói để sử dụng mà còn phải

học các phương thức giao tiếp ngoài lời nói, ngoài ngôn ngữ Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của dạy học kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ, nội dung kiểm tra phải toàn diện, trong đó có chú trọng kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ

Trong khi rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ, HS cần phải nắm chắc những từ ngữ cốt lõi, những hiện tượng ngữ pháp chủ yếu xuất hiện trong bài

thông qua biểu đạt bằng lời nói của mình, hiểu và trình bày được lời nói của bản

thân, biết vận dụng kiến thức trong bài học giao tiếp khẩu ngữ để nói về một vấn

đề xã hội có chủ đề tương đương Đây là mục đích cuối cùng của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ Do đó, cấu trúc đề thi giao tiếp khẩu ngữ thường gồm những nội dung sau: giải thích từ ngữ, trả lời vấn đề theo nội dung bài học giao tiếp khẩu ngữ, trình bày một vấn đề thực tiễn có chủ điểm tương tự bài học, hỏi đáp giữa thầy và trò xoay quanh chủ điểm đề thi

1.4 Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ

1.4.1 Tầm quan trọng của dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn

Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi từ văn

hóa, chính trị, giáo dục, hợp tác giao lưu quốc tế Trong xã hội, giao tiếp khẩu ngữ của con người ngày càng quan trọng Ở môi trường như vậy, con người ngày càng chú ý đến tốc độ và hiệu quả của giao tiếp như: trao đổi thông tin, tuyên truyền quan điểm, tranh luận, thảo luận, điều chỉnh và xử lý các mối quan hệ các nhân và xã hội… Năng lực giao tiếp khẩu ngữ đã trở thành năng lực cơ bản để con người có

thể tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm tồn tại và phát triển Đồng thời, sự tiến

bộ của khoa học kĩ thuật khiến cho các công cụ tìm kiếm và quá trình truyền tải, lưu

giữ, trao đổi diễn ra một cách phổ cập với tốc độ nhanh chóng Trước đây, một

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lượng lớn thông tin được trao đổi thông qua sách vở, ngày nay có thể trao đổi trực tiếp bằng khẩu ngữ Giao tiếp khẩu ngữ đã lan truyền đến tất cả các lĩnh vực của

cuộc sống và công việc bởi sự trao đổi thuận tiện, đạt hiệu quả cao Vì thế việc rèn luyện cho HS một năng lực giao tiếp khẩu ngữ để giao tiếp tốt, nhanh, hiệu quả đã

trở thành nhiệm vụ quan trọng trong dạy học môn Ngữ văn, xuất phát từ nhu cầu

thực tế của xã hội và do mục đích này quyết định

Trong dạy học Ngữ văn, dạy tiếng mẹ đẻ là bồi dưỡng, nâng cao trình độ

và năng lực giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ cho HS Trình độ tiếng mẹ đẻ biểu hiện

ở 4 kĩ năng là: nghe, nói, đọc, viết, và được hình thành chủ yếu đều dựa vào quá trình dạy học giao tiếp khẩu ngữ

Năng lực giao tiếp khẩu ngữ chính là khả năng vận dụng ngôn ngữ vào cuộc sống thực tiễn, là năng lực biểu đạt tư tưởng, tình cảm, sự hiểu biết của mình cho người khác hiểu, hoặc thông qua lời nói của mình để thuyết phục, lôi cuốn người khác

Do đó, đối với HS, ngoài việc tiếp thu những mảng kiến thức về văn học, tiếng Việt, tập làm văn phải tích cực rèn luyện, nâng cao năng lực giao tiếp khẩu

ngữ của mình Giáo viên (GV) có vai trò rất lớn đối với việc hình thành, bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh, thể hiện qua chất lượng của việc dạy học và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh Từ đó,

chúng tôi nhận thấy: Dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn đóng một vai trò rất quan trọng

1.4.2 Nguyên nhân của việc chưa chú trọng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn

Thứ nhất là do sự tồn tại của phương thức dạy học Ngữ văn truyền thống

GV vẫn thường xuyên sử dụng những phương thức dạy học Ngữ văn truyền thống trong các giờ học trên lớp Việc dạy học tiếng Việt còn nhiều bất cập,

nhất là về nội dung, tài liệu giảng dạy, phương pháp truyền đạt và chất lượng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

GV môn Ngữ văn hiện nay Phương pháp giảng dạy của một số GV theo diễn

giảng truyền thống, chỉ đáp ứng về mặt hình thức hỏi - đáp, chưa khơi gợi cho

HS sự tìm tòi, tự tìm hiểu nên trong giờ học, HS tham gia rất hạn chế hay phần lớn là HS làm theo các ví dụ soạn sẵn trong sách, không tích cực tham gia phát

biểu xây dựng bài, bày tỏ quan điểm của mình, nên GV không thể nhận xét

hoặc điều chỉnh khả năng diễn đạt cho HS

Thứ hai là mục tiêu dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình môn

Ngữ văn chưa rõ ràng Chương trình môn Ngữ văn còn nặng nề về thi cử, cách thức kiểm tra cứng nhắc, chưa hợp lí, thiên về tái hiện kiến thức, làm mất đi sự

sáng tạo của HS và trói buộc GV trong giảng dạy Ngoài ra, chương trình Ngữ văn còn bộc lộ những hạn chế khác như: nặng về thời lượng, hình thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp do vậy nhiều GV không quan tâm đến việc dạy kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ cho HS

Có ý kiến cho rằng sự thiên lệch về kỹ năng giao tiếp khẩu ngữ của HS đầu vào một phần là do hình thức, cơ cấu và nội dung bài thi tuyển sinh Những người ủng hộ ý kiến này cho rằng, hình thức bài thi tuyển sinh môn Ngữ văn như hiện nay chỉ đánh giá được phần nào năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ viết của thí sinh chứ hoàn toàn không đánh giá được năng lực giao tiếp bằng ngôn

ngữ nói của họ Đây là một trong những hệ quả của những ràng buộc ở tầm

vĩ mô

Thứ ba là GV chưa nhận thức đúng với việc hình thành năng lực biểu đạt

khẩu ngữ cho HS Trình độ chuyên môn của đội ngũ GV môn Ngữ văn không đồng đều Khả năng nghe, nói, giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ của GV cũng như phương pháp giảng dạy còn rất nhiều hạn chế Có một số GV cho rằng, khi giảng dạy Ngữ văn không cần phải tiến hành bài tập riêng rèn luyện giao tiếp khẩu ngữ Vì HS đọc bài khóa, trả lời câu hỏi, bài tập làm văn đó chính là rèn

luyện khẩu ngữ Loại quan điểm này sở dĩ xuất hiện bởi vì họ đã không nắm

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được chính xác một thuộc tính khác của giao tiếp khẩu ngữ, đó là tính tương tác của quá trình, luyện tập khẩu ngữ tuy là một hình thức của giao tiếp khẩu ngữ, nhưng đó chỉ là biểu đạt ở cấp độ thấp, không thể thay thế toàn bộ nội dung giao tiếp khẩu ngữ Vì vậy khẩu ngữ mà chúng ta nói đến là nhấn mạnh tính

giao tiếp GV còn hạn chế kiến thức, chưa nhận thức đúng được tầm quan trọng

của rèn luyện khả năng giao tiếp khẩu ngữ sẽ không đủ khả năng truyền thụ kiến thức đến HS, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu ngôn ngữ và tư

duy sáng tạo của HS

Thứ tư là thiếu kiến thức lí luận phương pháp, tài liệu dạy học giao tiếp

khẩu ngữ Thiếu tài liệu tham khảo là hạn chế lớn của chương trình Ngữ văn,

nhất là tình trạng nhiều tác phẩm được trích và giảng dạy trong trường học hiện nay không có để GV và học sinh tham khảo một cách đầy đủ nên họ không thể

cảm nhận hết chiều sâu của tác phẩm văn học đó

Thứ năm là HS còn coi nhẹ các giờ học nghe nói: sĩ số HS trên mỗi lớp đông, không phù hợp với việc tổ chức các hoạt động lôi cuốn và hiệu quả trong giờ học HS ít có hứng thú với các bài học về giao tiếp khẩu ngữ

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

sáng tạo của HS, giảm bớt áp lực về tâm lý cho HS Nâng cao năng lực biểu đạt khẩu ngữ cho HS, từ đó dần dần nâng cao năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho HS

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC GIAO TIẾP KHẨU NGỮ TRONG MÔN NGỮ VĂN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TỈNH THÁI NGUYÊN

Nếu như chương 1 đã trình bày một số cơ sở lí luận của luận văn thì chương 2 sẽ đề cập đến thực trạng dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong môn Ngữ văn ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên từ nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình, sách giáo khoa, giáo án đến thực tế dạy học môn Ngữ văn

2.1 Nội dung bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành

Cuốn “Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn” của Bộ giáo dục

và Đào tạo ban hành ngày 05/05/2006 đã nêu rõ một số điều sau đây:

Về vị trí, môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội và nhân văn, có nhiệm vụ cung cấp cho HS những kiến thức về tiếng Việt, văn học và làm văn, hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Môn Ngữ văn là môn học công cụ Môn Ngữ văn là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ

Về tính chất, môn Ngữ văn là môn học công cụ Việc dạy các kĩ năng nghe, đọc, nói, viết thông qua con đường thực hành Việc dạy các tri thức tiếng Việt và ngôn ngữ cũng thông qua con đường thực hành theo cách quy nạp: từ quan sát các hiện tượng ngôn ngữ đi đến khái niệm và tập vận dụng các khái niệm đó trong thực tiễn

Về cơ cấu môn học gồm bộ môn rèn kĩ năng đọc (đọc văn), viết (làm văn), nói (làm văn) Kĩ năng nghe được rèn luyện kết hợp khi học đọc văn và làm văn Các phân môn học kiến thức tiếng Việt và ngôn ngữ: từ ngữ và ngữ pháp, kiến thức cấu tạo từ, kiến thức ngữ âm

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Về mục tiêu, việc dạy học Ngữ văn để hình thành và phát triển ở HS các

kĩ năng sử dụng tiếng Việt (bao gồm cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy học Ngữ văn góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cho các em Học các phần tiếng Việt và làm văn, HS được hướng dẫn để tự phát hiện kiến thức, tự rèn luyện kĩ năng giao tiếp phù hợp với các tình huống thường gặp trong học tập và trong cuộc sống Phát triển các kĩ năng nói và viết trên cơ sở kiến thức

và ngữ liệu đầu vào thông qua các hoạt động nghe hiểu và đọc hiểu nhằm tạo cho HS khả năng sản sinh ngôn ngữ phù hợp về mặt ngữ dụng, nhất là luyện tập tư duy bằng ngôn ngữ

Về mạch nội dung môn Ngữ văn gồm 7 mạch nội dung kiến thức, kĩ năng dạy ở từng lớp Đó là: kiến thức tiếng Việt, kiến thức làm văn, kiến thức văn học và bốn kĩ năng: kĩ năng đọc, kĩ năng viết, kĩ năng nghe, kĩ năng nói Trong

đó nội dung bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ được thể hiện ở kĩ năng nghe và kĩ năng nói

Khi nghiên cứu cuốn “Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn”, chúng tôi nhận thấy nội dung giao tiếp khẩu ngữ được thể hiện ở kĩ năng nghe

và kĩ năng nói Nội dung kiến thức giao tiếp khẩu ngữ được đưa vào giảng dạy trong Chương trình thuộc bộ môn tiếng Việt, làm văn nhằm mục đích rèn luyện cho HS kĩ năng sản sinh, khả năng lĩnh hội lời nói Chúng tôi nhận thấy chương trình đã định hướng việc rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong cả quá trình học từ lớp 1 đến lớp 12 Ví dụ: kĩ năng nghe: nghe - trao đổi, thảo luận và kĩ năng nói: phát biểu, thuyết trình được rèn luyện từ lớp 3 đến lớp 12… Ngay từ bậc tiểu học, HS đã được làm quen với các kiến thức giao tiếp khẩu ngữ cơ bản Bên cạnh đó, chương trình đã đặt các kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ vào các hoạt động lời nói, các hoàn cảnh giao tiếp để xác định nội dung và yêu cầu luyện tập Kĩ năng nghe được dạy trong hội thoại, trong việc nghe hiểu văn bản Kĩ năng nói được dạy trong giao tiếp, khi nói thành lời Trong chương trình Ngữ văn bậc

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

THPT, các nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ tiếp tục được đưa ra với mức

độ kiến thức và yêu cầu cao hơn Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến nội dung giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình môn Ngữ văn THPT:

Nội dung giao tiếp khẩu ngữ trong Chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT: Hiểu đặc điểm ngôn ngữ dạng nói và ngôn ngữ dạng viết, Biết vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ dạng nói và dạng viết vào việc tạo lập và lĩnh hội văn bản, Hoàn thiện về hoạt động giao tiếp, Nhận thức được sự phổ biến và đa dạng của hoạt động giao tiếp trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bằng nhiều kênh khác nhau: âm thanh, chữ viết, hình ảnh, Biết vận dụng kiến thức về giao tiếp bằng ngôn ngữ trong đọc hiểu và tạo lập văn bản, Biết trình bày miệng một vấn

đề trước tập thể

Nội dung giao tiếp khẩu ngữ trong Chương trình Ngữ văn lớp 11 THPT: Hiểu về ngữ cảnh trong giao tiếp nói và viết, Biết vận dụng những hiểu biết về nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp trong việc nói, Biết tuân thủ quy tắc chung của ngôn ngữ, đồng thời biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo quy tắc trong lời nói cá nhân

Nội dung giao tiếp khẩu ngữ trong Chương trình Ngữ văn lớp 12 THPT: Hiểu vai trò và ý nghĩa của các nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp, Biết vận dụng những hiểu biết về nhân vật giao tiếp trong việc nói, Biết vận dụng những kiến thức về tiếng Việt và sự trong sáng của tiếng Việt để hoàn thiện năng lực nói và viết, Biết chuẩn bị đề cương để diễn thuyết một vấn đề trước tập thể, biết phát biểu một vấn đề theo chủ đề hoặc tự do, ngẫu hứng

Ở nội dung dạy học từng lớp, mục kĩ năng nghe, nói cũng được trình bày

cụ thể về mục đích và yêu cầu cần đạt Các kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ và mức

độ rèn luyện được phân chia cụ thể ở từng lớp học, cấp học, bậc học để luyện tập từ thấp đến cao, từ lớp nhỏ đến lớp lớn Việc phân chia, sắp xếp kiến thức đối với từng lớp nhìn chung đã có sự hợp lí, phù hợp với nền tảng kiến thức và tâm lí của HS THPT

Ngày đăng: 27/10/2014, 00:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (chủ biên) (2004), Tâm lí học giao tiếp, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học giao tiếp
Tác giả: Hoàng Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
2. Phạm Thị Anh (2009), Rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh THCS trong dạy học kiểu văn bản tự sự, Luận án tiến sĩ Giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực diễn đạt cho học sinh THCS trong dạy học kiểu văn bản tự sự
Tác giả: Phạm Thị Anh
Năm: 2009
3. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Vụ giáo viên – Bộ giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 Trung học phổ thông môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 Trung học phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
5. Bộ giáo dục và đào tạo (1981), Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của SGK phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu chủ yếu về nội dung và cấu trúc phương pháp của SGK phổ thông
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
6. Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Các vấn đề sách giáo khoa, tập 13, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề sách giáo khoa, tập 13
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2003), Xã hội với SGK, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội với SGK, tập 2
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
8. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 10 (tập 1), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 (tập 1)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
10. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 10 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 11 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 11 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
13. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 12 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
14. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Ngữ văn 12 (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 (tập 2)
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 Trung học phổ thông môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 Trung học phổ thông môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2006
16. Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Xã hội với SGK, tập 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội với SGK, tập 3
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
17. Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Xã hội với SGK, tập 5, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội với SGK, tập 5
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
18. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chương trình
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 THPT môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.2: Nhận  thức của  GV và  HS  về  nội  dung dạy học giao  tiếp  khẩu  ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT - Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên
ng 1.2: Nhận thức của GV và HS về nội dung dạy học giao tiếp khẩu ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT (Trang 50)
Bảng 2.2: Đánh giá của GV và HS về rèn luyện kĩ năng nói trong giờ học  môn Ngữ văn. - Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2 Đánh giá của GV và HS về rèn luyện kĩ năng nói trong giờ học môn Ngữ văn (Trang 51)
Bảng 3.2: Đánh giá của GV và HS về việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp  khẩu ngữ trong dạy học môn Ngữ văn - Bồi dưỡng năng lực giao tiếp khẩu ngữ cho học sinh trong dạy học ngữ văn ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2 Đánh giá của GV và HS về việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp khẩu ngữ trong dạy học môn Ngữ văn (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w