1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

De tai Van dung PPDH tich cuc vao mon Tieng Viet

88 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, “Yêu cầu về phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi, cải tiến và vận dụng các hình thức và phư

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Lê nin đã từng nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của

con người” [1; tr.79] Thật vậy, chính ngôn ngữ đã góp phần quan trọng trong

việc giao tiếp, trao đổi thông tin giữa con người với nhau Con người muốn nói vàviết đúng chuẩn theo quy tắc tiếng mẹ đẻ của mình thì phải không ngừng học hỏi,tìm tòi, nghiên cứu, tự ý thức, tự rèn luyện để nâng cao khả năng diễn đạt, khả

năng giao tiếp và trình độ ngôn ngữ của mình “Tất nhiên, bồi dưỡng năng lực

giao tiếp bằng ngôn ngữ là một quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình học tập ở nhà trường (Và trong suốt cả cuộc đời của một con người)” [1; tr 79] Từ thực tiễn cho thấy, để có thể đáp ứng được những nhu cầu

trên của người học thì trong quá trình dạy học nói chung và dạy học tiếng Việt nói

riêng, vai trò của người thầy là rất quan trọng vì “Không thầy đố mày làm nên”,

người thầy phải là người mẫu mực về đạo đức, nhân cách và phải thường xuyênrèn luyện để nâng cao về trình độ, nghiệp vụ và thường xuyên đổi mới về phươngpháp trong quá trình dạy học

“Ngày nay, trong điều kiện phát triển và tác động mạnh mẽ, sâu sắc của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu, học sinh được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống” [2; tr.14] Do đó, việc giảng dạy nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng

không chỉ giúp cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ mà còngiúp cho các em tích lũy được vốn hiểu biết cơ bản về ngôn ngữ của dân tộc vàvận dụng sự hiểu biết đó một cách linh hoạt vào cuộc sống Để nâng cao hiệu quảtrong việc dạy và học, đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ bản về cách dạy và cách học

từ giáo viên và học sinh Đặc biệt đối với người giáo viên cần có sự cố gắng và nổlực rất lớn trong việc nghiên cứu, sáng tạo trong quá trình giảng dạy Trước hết làviệc đổi mới về phương pháp giảng dạy cùng với việc soạn giáo án, thiết kế bài

giảng bởi vì “Chất lượng dạy học tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực

tiếp đến năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ nối tiếp và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hóa Việt Nam” [1; tr.8].

Chính vì vậy mà hiện nay, việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực vàogiảng dạy đã được tiến hành đồng loạt trên phạm vi cả nước Nhưng vấn đề thiết

kế bài giảng (Soạn giáo án) như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu nhất lại là một vấn

đề khá phức tạp Trên thực tiễn cho thấy, môn Tiếng Việt có vị trí, tầm quan trọngđặc biệt trong nhà trường phổ thông hiện nay Vì thế, để hoàn thành được nhiệm

vụ, người giáo viên phải là chiếc cầu nối nối liền tri thức nhân loại với việc hình

thành thói quen, “Kĩ năng sử dụng tiếng Việt- chìa khóa của nhận thức, của học

vấn, của sự phát triển trí tuệ Thiếu quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện năng lực tiếng Việt, học sinh không thể hoàn thành tốt được nhiệm vụ học tập của bất

cứ bộ môn khoa học nào trong nhà trường”[1; tr.8].

Do vị trí, vai trò và tầm quan trọng của tiếng Việt trong nhà trường hiện nay,

cho nên tôi quyết định chọn đề tài “Vận dụng những phương pháp dạy học tích

cực soạn giáo án dạy các bài học tiếng Việt sách giáo khoa Ngữ Văn 10” (Bộ cơ

bản) Với đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc hiện đại hóaphương pháp giảng dạy ở nhà trường phổ thông hiện nay, đồng thời cũng muốnthử thách khả năng của bản thân, bước đầu chuẩn bị cho quá trình dạy học saunày

Trang 2

2 Lịch sử vấn đề:

Có thể thấy rằng, vấn đề phương pháp và đổi mới phương pháp nói chungtrong những thập niên đầu thế kỉ XX có nhắc đến nhưng lại thiếu một sự quan tâmđúng mức Cho nên, vấn đề này chưa thấy xuất hiện nhiều trong những công trình

nghiên cứu Ngay trong quyển “ Phương pháp dạy văn ở bậc trung học” của tác

giả Trịnh Xuân Vũ cũng đã phản ánh: “Người ta ít tìm tòi, nghiên cứu các

phương pháp dạy học cổ truyền và cũng không “ nhập cảng” được phương pháp dạy học hiện đại nào” [33; tr.11].

Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin thì việc “Đổi

mới dạy học đang là nhu cầu cần thiết cho nhà trường phổ thông ngày nay” [33;

tr.11] Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới, vai trò của người giáo viên là rất quan

trọng, “Người thầy đảm nhận một trách nhiệm mới là chuẩn bị cho học sinh thật

nhiều tình huống phương pháp, chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu học sinh” và “Thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức có sẵn, cung cấp chân lý có sẵn, mà là người định hướng, đạo diễn cho học sinh tự mình khám phá ra chân lý, tự tìm ra kiến thức” [33; tr.236].

Ngoài ra, tác giả của quyển sách này còn đề cao vai trò của người giáo viên

trong việc vận dụng những phương pháp dạy học mới Việc học sinh “Được học

theo phương pháp tích cực từ năm học này đến năm học khác, qua biết bao lần làm để học, tìm hiểu để giải quyết vấn đề, xử lí tình huống, chắc chắn học sinh biết làm, biết cách làm, cách học, cách giải quyết vấn đề, cách ứng xử thích nghi với cuộc sống “Làm” dần dần trở thành “Biết làm”, “Muốn làm” và cuối cùng muốn phát triển trong cộng đồng như một con người tự chủ, năng động và sáng tạo” [34; tr.237] Đồng thời cũng chính tác giả trong quyển sách này khẳng định:

“Thiết kế bài học theo phương pháp tích cực sẽ góp một nét tươi mới có ý nghĩa vào sự đổi mới của nền giáo dục nước ta” [33; tr.237].

Trong một quyển sách khác: “Văn chương và phương pháp giảng dạy văn

chương”, Trịnh Xuân Vũ cũng đã có kiến nghị: muốn cải cách phương pháp thì

trước hết “Phải vượt qua một khoảng cách từ tư tưởng lý luận đến phương pháp

ứng dụng để xây dựng một phương pháp riêng, tích cực, hiện đại với các đặc điểm riêng biệt của nó” [34; tr.115] Sau đó, Trịnh Xuân Vũ đã đưa ra định nghĩa

và một số đặc điểm của phương pháp dạy học hiện đại:

- “Hệ phương pháp hiện đại là hệ phương pháp – học của trò chứ không phải là hệ phương pháp – dạy của thầy” [34; tr.116].

- “Hệ phương pháp hiện đại sử dụng hình thức “Giao tiếp, đối thoại, tranh

luận” của trò chứ không sử dụng hình thức độc thoại của thầy” [34; tr.120].

- “Hệ phương pháp hiện đại là phương pháp dạy học phát triển có định

hướng khoa học chứ không phải là hệ phương pháp dạy học kìm hãm, lặp lại

thầy, lặp lại sách giáo khoa” [34; tr.122].

- “Hệ phương pháp dạy học hiện đại là hệ phương pháp tích cực Đó là việc tạo ra các mối liên hệ qua lại giữa chủ thể trò và đối tượng tác phẩm” [34; tr.

124]

- “Hệ phương pháp hiện đại là sự “phục sinh” của hệ phương pháp cổ đại

trên cơ sở khoa học hiện đại khi các khoa học đã trưởng thành và tiến lên giai

đoạn mô tả - cấu trúc” [34; tr.127].

Tóm lại, ở quyển sách này, tác giả muốn cho người đọc thấy rằng sự cầnthiết phải đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời cũng đưa ra một hệ thống lýluận về phương pháp dạy học hiện đại

Trang 3

“Trong tiến trình đổi mới, hiện đại hóa phương pháp dạy học cần có một quan niệm biện chứng, lịch sử và khoa học về tính liên tục và tính giai đoạn của

sự phát triển phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của người học” [3; tr.20] Tác giả Nguyễn Gia Cầu đã nêu: “Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy học gắn liền với tư tưởng dân chủ hóa giáo dục mà thực chất là nhằm phát huy mọi tiềm năng của người

học, xóa bỏ tư tưởng giáo điều áp đặt trong dạy học” [3; tr.20] và “ Trong quá

trình giáo dục tính năng động cho học sinh cần chú trọng động viên, khích lệ, gợi

mở, tạo điều kiện giúp học sinh phát huy tinh thần tích cực, chủ động học tập,… Tính năng động, sáng tạo là những phẩm chất có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho sự thành đạt trong tương lai của mỗi học sinh trong xã hội luôn đổi mới hiện nay” [3; tr.21]

Ngoài ra, cũng chính tác giả Nguyễn Gia Cầu đã nhấn mạnh vai trò củangười giáo viên trong việc vận dung những phương pháp dạy học tích cực Trước

hết, “Yêu cầu về phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng tích cực hóa quá

trình dạy học đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi, cải tiến và vận dụng các hình thức và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự lập trong hoạt động học tập của học sinh Đây là những con đường để khắc phục tình trạng thụ động, nghe giảng và vùi đầu vào làm bài tập suốt ngày của học sinh” [3; tr.21] Sau đó, tác giả Nguyễn Gia Cầu còn cụ thể hóa bằng

cách nêu ra những điều kiện, cách thức để vận dụng phương pháp mới có hiệu

quả Và “Muốn đạt được yêu cầu tích cực hóa, khi giảng bài mới, giáo viên nêu

lên những tình huống có vấn đề và cố gắng giúp học sinh tự mình nêu ra được những giả thuyết và cùng nhau kiểm nghiệm” [3; tr.21].

Bên cạnh đó, trong quyển “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và

sách giáo khoa”, tác giả Trần Bá Hoành cũng có đề cập đến “Phương pháp tích cực hướng tới phát huy tính chủ động, tăng cường tính tự chủ, sự phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh” [8; tr.11] và “Muốn phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học thì cần rèn luyện phương pháp học cho học sinh, coi đây không chỉ là phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà là một mục tiêu quan trọng của dạy học…và việc dạy học không hạn chế ở chức năng dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy phương pháp” [8; tr.42].

Cũng trong quyển sách này, tác giả Trần Bá Hoành đã nêu lên công việc cụthể của người giáo viên trong quá trình dạy học Đó là một công việc vô cùng

phức tạp bởi “Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói

quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, biết phát hiện

và tự lực giải quyết những vấn đề đặt ra sẽ tạo ra cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người…” [3; tr.50] Vì những lẽ đó, ngày nay

trong quá trình dạy học, người ta nhấn mạnh hoạt động học, tạo ra sự chuyển biến

từ học tập thụ động sang tự học chủ động

Mặc dù hiện nay, việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực, “Lấy học

sinh làm trung tâm” nhưng vai trò của người giáo viên không hề bị giảm nhẹ.

“Trái lại, nó đòi hỏi người giáo viên ở trình độ lành nghề, óc sáng tạo, tính độc đáo để đóng vai trò là người khởi xướng, động viên, xúc tác, trợ giúp, hướng dẫn,

cố vấn” [3; tr.12].

Ngoài ra, trong quyển sách này, Trần Bá Hoành còn đưa ra “Những phương

pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông” Đó là những

Trang 4

phương pháp như: vấn đáp, dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy học hợp táctrong nhóm nhỏ.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để tránh nguy cơ

bị tụt hậu trên bước đường tiến vào thế kỉ XXI, với sự cạnh tranh ngày càng gaygắt về trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới về

phương pháp dạy học “Đây không phải là vấn đề của riêng nước ta mà là đang

được quan tâm ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội” [3; tr.80].

Nhận ra sự cần thiết phải đổi mới về phương pháp dạy học, nghị quyết lần

thứ IV của Đảng về “Tiếp tục đổi mới về sự nghiệp giáo dục và đào tạo” đã chỉ rõ: “ Phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung,

phương pháp giáo dục và đào tạo” [33; tr.234] và trong Luật giáo dục, điều 24.2

đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,

chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [3, tr.81].

Cũng trên cơ sở đó, trong bài viết: “Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại

bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục”, Giáo sư Trần Hồng Quân cho rằng: cần

phải cải tiến phương pháp giáo dục bởi vì: “Xét cho cùng, khoa học về giáo dục

là khoa học về phương pháp, sáng tạo về khoa học giáo dục xét cho cùng cũng là sáng tạo về phương pháp giáo dục” [33; tr.237] Mặt khác, trước khi kết thúc bài

viết của mình, Giáo sư Trần Hồng Quân đã khẳng định rằng: “ Cuộc cách mạng

về giáo dục đang diễn ra trên thế giới có phạm vi rất rộng bao gồm các phương pháp lựa chọn nội dung, các phương pháp dạy – học, các phương pháp sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại…và chính cuộc cách mạng về phương này sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới”, đồng thời “Trong một tương lai không xa, bài học theo phương pháp tích cực sẽ chiếm ưu thế trong nhà trường Việt Nam chúng ta” [33; tr 237].

Trong quyển “Phương pháp dạy học văn” do Phan Trọng Luận chủ biên cũng đã đề cao việc “phát huy chủ thể học sinh chính là đáp ứng một đòi hỏi có ý

nghĩa thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang đặt ra cho các ngành khoa học cũng như các nhà khoa học” [15, tr.124] Đồng thời, các tác giả của

quyển sách này cũng đã đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực hiện nay đólà: phương pháp gợi mở, phương pháp nghiên cứu, phương pháp đọc sáng tạo,phương pháp tái tạo và phương pháp nêu vấn đề

Mặt khác, các tác giả của quyển sách này cũng rất cẩn trọng khi chỉ ra cách

thức để vận dụng những phương pháp trên bởi vì: “Mỗi phương pháp có vị trí và

tính năng riêng của nó, cần được vận dụng sáng tạo trong những bài học và trường hợp cụ thể Trong từng tiết dạy, một phương pháp có thể được vận dụng như phương pháp “Chủ công” dựa trên cơ sở nội dung, mục đích của tài liệu giảng dạy và đặc điểm của đối tượng giáo dục…do đó phải vận dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau” [15; tr.90] Ngoài ra, các tác giả còn lưu ý: “Mỗi phương pháp đều có ưu thế đối với từng phân môn và từng đối tượng nhất định”

Trang 5

giáo viên Ngữ văn 10” (Tập 1, Bộ cơ bản), và quyển “Thiết kế bài học Ngữ văn 10” (Bộ cơ bản) do Phan Trọng Luận chủ biên và Tổng chủ biên tiếp tục khẳng

định: “Phương pháp là vấn đề gay gắt, cốt lõi nhất của chất lượng” và “Tiếp tục

đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” [13; tr.4] Đồng thời, các tác giả của

quyển sách này còn muốn lưu ý rằng: “Điều đáng quan tâm nhất, mục tiêu chính

của các thiết kế vẫn là thực nghiệm một phương pháp dạy học mới” [13; tr 7] và

“Không cần thiết phải gò ép mọi thiết kế vào một thể thức cứng nhắc miễn là thể hiện được ý đồ chung về đổi mới phương pháp” [13; tr.8] Ngoài ra, các tác giả

còn đưa ra quan niệm rất tiến bộ trong việc soạn giáo án: “Một giáo án theo quan

niệm phát huy chủ thể học sinh là một giáo án trong đó có sự kết hợp hài hòa, hữu cơ giữa lao động của giáo viên và học sinh ở trên lớp, là một giáo án trong

đó vận dụng nhiều phương pháp và biện pháp rèn luyện tư duy học sinh, song song với quá trình hình thành kiến thức mới, là một giáo án trong đó có được sự kết hợp hữu cơ giữa ba yêu cầu hiểu biết, giáo dục với rèn luyện để họ tự phát triển” [13; tr.28].

Chính vì lẽ đó, để đáp ứng yêu cầu vừa nêu trên, việc “Đổi mới mục tiêu…

gắn liền với yêu cầu thay đổi hệ thống phương pháp cũ bằng hệ thống phương pháp mới nhằm vật chất hóa được những hoạt động của học sinh bằng một hệ thống việc làm và thao tác” [18; tr.6] Do đó, “Các bản thiết kế đã đặt ra hàng đầu yêu cầu về đổi mới phương pháp lên lớp” [20; tr.3] Bên cạnh việc nêu lên hệ

thống lý thuyết về phương pháp, các tác giả của những quyển sách này cũng đãđưa ra những bài hướng dẫn, thiết kế cụ thể Những bài thiết kế ấy đã vận dụngđược một số phương pháp tích cực, hiện đại trong dạy học, phát huy được nănglực sáng tạo của học sinh Vì thế, những quyển sách này đã góp phần đáng kểtrong việc hiện đại hóa phương pháp dạy học và là tài liệu bổ ích cho giáo viêntrong quá trình giảng dạy

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, thì trong một số công trình nghiên

cứu khác như: giáo trình “Lý luận dạy học Ngữ văn” của nhóm tác giả Nguyễn

Minh Chính – Nguyễn Thị Hồng Nam – Trần Đình Thích – Hà Hồng Vân và

trong quyển “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa

lớp 10 Trung học phổ thông – Ngữ văn” do Phan Trọng Luận chủ biên cũng đã

đưa ra những cơ sở lý luận trong dạy học Ngữ văn và các xu hướng dạy học tíchcực, hiện đại như: xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm, năm định hướng

dạy học của Marzano (Lý luận dạy học Ngữ Văn) Đồng thời, trong quyển “Tài

liệu bồi dưỡng giáo viên…” do Phan Trọng Luận chủ biên Một mặt, các tác giả

biên soạn dựa trên tinh thần bám sát sách giáo khoa Ngữ Văn mới cải cách Mặtkhác, các tác giả đã khái quát lại mục tiêu, nguyên tắc xây dựng chương trình theophương pháp dạy học tích cực, tiến bộ, hiện đại

Bên cạnh đó, trong tài liệu này còn đưa ra một bài thiết kế mẫu trong một giờhọc cũng như đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của giờ học đó Tuy nhiên, ở

hai tài liệu này cùng có quan điểm chung là khẳng định “Phương pháp tích cực

xem việc rèn luyện phương pháp học tập là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học” [17; tr.29] Đồng thời, các tác giả của hai tài liệu

trên cũng đã lưu ý và đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực hiện nay như:phương pháp đọc tác phẩm, phương pháp diễn giảng, phương pháp đàm thoại,phương pháp trực quan, phương pháp dạy học nêu vấn đề

Ngoài ra, trong chuyên đề “Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ

văn”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam đã đưa ra một hình thức học tập mới nhằm

Trang 6

đem lại hiệu quả tối ưu trong dạy học, được sử dụng nhiều ở các nước tiên tiến vàđang được áp dụng trong dạy học ở nước ta Đó là hình thức thảo luận nhóm.Theo

tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam thì “Học hợp tác tạo điều kiện cho học sinh phát

triển năng lực tư duy bằng những cách mà không một giáo viên nào, dù tốt nhất

có thể làm được với những phương pháp truyền thống” [21; tr.4] Trong chuyên

đề này, tác giả còn đưa ra một số mô hình về các loại nhóm, quy trình tổ chứcthảo luận nhóm, cách thiết kế bài tập thảo luận nhóm,….trong dạy học hợp tác.Hình thức học hợp tác mà tác giả đưa ra cũng đã góp phần hoàn thiện các phươngpháp dạy học trong nhà trường hiện nay, đáp ứng được nhu cầu tự học, tự tìm hiểucủa học sinh theo xu hướng hiện nay

Bên cạnh chuyên đề “Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ văn” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam thì trên một số “ Tạp chí giáo dục”, tác giả Trần Thị Bích Trà đã đưa ra chuyên đề “Một số trao đổi về học hợp tác ở trường phổ

thông” [29; tr.20] và tác giả Vũ Thị Sơn với chuyên đề “Xây dựng kế hoạch bài học có sử dụng hình thức nhóm nhỏ” [24; tr.16] Qua đó, có thể thấy rằng, vấn đề

học hợp tác cũng là vấn đề “Nóng hổi” đang được quan tâm trong giai đoạn hiện

nay

Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ý kiến với nhau là cần đổi mớiphương pháp giảng dạy trong nhà trường Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ranhững cơ sở lý luận trong việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Tuynhiên, hầu hết các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ nêu lý thuyết mà chưa áp dụngrộng rãi, cụ thể vào việc thiết kế những bài giảng

3 Mục đích nghiên cứu:

Như chúng ta đã biết, khi bắt tay vào làm bất cứ việc gì thì cũng phải hướngtới một mục đích nhất định Trong vấn đề nghiên cứu cũng vậy, khi nhận đượcmột đề tài nghiên cứu thì người nghiên cứu cũng không thể không hướng tới một

mục đích cụ thể Riêng trong đề tài “Vận dụng những phương pháp dạy học tích

cực soạn giáo án dạy các bài học tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn 10”

(Bộ cơ bản), mục đích duy nhất của tôi là làm sao soạn được những bài giáo án cóchất lượng theo quan điểm dạy học tích cực, hiện đại

4 Phạm vi nghiên cứu:

Ở đây, với mức độ chỉ là một luận văn Tốt nghiệp, cho nên theo yêu cầu của

đề tài tôi sẽ tiến hành tìm hiểu phần Tiếng Việt trong chương trình sách giáo khoaNgữ văn 10 (Bộ cơ bản), tìm hiểu các phương pháp dạy học tích cực hiện nay vàứng dụng các phương pháp dạy học tích cực đó vào soạn giáo án các bài họcTiếng Việt trong chương trình này Cụ thể, đó là những bài sau đây:

1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (2 tiết)

2 Văn bản (2 tiết)

3 Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (1 tiết)

4 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (2 tiết)

5 Thực hành các phép tu từ: ẩn dụ và hoán dụ (1 tiết)

6 Khái quát lịch sử tiếng Việt (1 tiết)

7 Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (2 tiết)

8 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (1 tiết)

9 Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối (1 tiết)

10 Ôn tập phần tiếng Việt (1 tiết)

Trang 7

5 Phương pháp nghiên cứu:

Như đã nêu ở phần trên, để đáp ứng được yêu cầu của đề tài, người nghiêncứu phải sưu tầm, tổng hợp những tài liệu, sách báo, tạp chí có liên quan đến đềtài Sau đó, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu

Ngoài ra, người viết còn sử dụng thêm một số phương pháp và thao tác khácnhư: chứng minh, phân tích, so sánh đối chiếu trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 8

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1 Năm định hướng dạy học của Marzano:

Robert J Marzano là nhà giáo dục người Mỹ Trong công trình A DifferentKind of Classroom: Teaching With Dimensions of Learning đã đưa ra nhiều tưtưởng dạy học tiến bộ Tư tưởng của ông được nhiều nước phát triển vận dụng vàđạt hiệu quả giáo dục cao Marzano đã đề ra năm định hướng đan xen trong quátrình dạy học Năm định hướng đó là:

1.1 Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học:

Học sinh chỉ có thể học tập có hiệu quả khi có thái độ và sự nhận thức tích cực

về việc học của mình Hai nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ và sự nhậnthức tích cực của học sinh là không khí học tập và nhiệm vụ học tập Không khí họctập bao gồm những nhân tố bên ngoài như: môi trường học tập, điều kiện học tập vànhững nhân tố bên trong như: Thái độ học tập, sự nhận thức tích cực về việc học tậpcủa học sinh

Ngoài ra, còn có hai yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lý của học sinh làcảm giác được chấp nhận và không khí dễ chịu, thoải mái trong lớp học Học sinh

sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu nếu được sự quan tâm, tôn trọng của giáo viên vàbạn bè trong lớp Vì thế, để tạo ra bầu không khí tâm lý thoải mái, tích cực, giáoviên phải chú ý tạo sự thoải mái trong lớp học bằng thái độ vui vẻ, hài hước, nhữnglời động viên, khích lệ,…Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cũng cần tạo điềukiện để học sinh thể hiện tinh thần hợp tác trong học tập thông qua những bài tậpthảo luận nhóm, cho học sinh có sự tự do nhất định trong việc chọn cách trình bàybài tập và có quyền trao đổi với giáo viên những vấn đề còn khúc mắc,…Giáo viênchỉ bao quát lớp học, theo dõi, nhắc nhở, hướng học sinh vào nội dung bài học.Bên cạnh đó, để duy trì thái độ và sự nhận thức tích cực của học sinh về việchọc Giáo viên cần đưa ra những bài tập hữu ích, có giá trị Sự hứng thú của họcsinh càng được phát huy khi các em thấy được giá trị của các bài tập được giao,nhận thức được nhiệm vụ học tập của các em sẽ giúp cho các em thực hiện đượcmục tiêu cá nhân Đồng thời, bài tập giáo viên đưa ra phải rõ ràng và mang tính vừasức đối với học sinh Học sinh sẽ tự tin hơn nếu các em hiểu rõ được yêu cầu,nhiệm vụ được giao và có đủ khả năng thực hiện được nhiệm vụ đó

1.2 Định hướng 2: Thu nhận và tổng hợp kiến thức:

Để có được kiến thức, con người phải trải qua quá trình thu nhận và tổng hợpkiến thức, biến kiến thức tự nhiên thành kiến thức của chính mình Xét về tính tựnhiên của kiến thức, Marzano phân kiến thức nội dung ra làm hai kiểu kiến thức Đó

là kiến thức thông báo và kiến thức quy trình Kiến thức thông báo là kiến thức màhọc sinh cần phải nhớ, phải hiểu Kiến thức quy trình là kiến thức thuộc về kĩ năng,buộc học sinh phải vận dụng, phải tiến hành các thao tác tư duy để chiếm lĩnh trithức

Kiến thức thông báo bao gồm những kiến thức về: sự kiện, khái niệm, địnhnghĩa,…Để học sinh có thể nắm bắt được những kiến thức thông báo một cáchvững chắc, trước khi đi vào bài mới, giáo viên phải giúp học sinh xây dựng ý nghĩabằng cách nêu những câu hỏi có liên quan đến nội dung bài học, định hướng chohọc sinh kiến thức sắp học Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp, hệ thống

Trang 9

kiến thức đã học và đi vào nội dung chính của bài học Từ việc định hướng bài học,

hệ thống kiến thức, giáo viên đã giúp học sinh chuyển kiến thức từ vùng nhớ tạmthời sang vùng nhớ lâu dài Do đó, học sinh sẽ khắc sâu kiến thức hơn

Kiến thức quy trình bao gồm cách làm thí nghiệm, cách giải một bài toán, cáchđặt câu,…Học sinh tiếp nhận kiến thức quy trình qua ba giai đoạn Giai đoạn một làgiai đoạn xây dựng mô hình Trong giai đoạn này, giáo viên làm mẫu trước cho họcsinh theo dõi, ghi nhớ và miêu tả lại tiến trình Giai đoạn hai là giai đoạn định hìnhkiến thức Giai đoạn này nhằm giúp cho học sinh hiểu rõ hơn về các bước của tiếntrình, vận dụng và tăng thêm sự hiểu biết Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn thu nhận(Củng cố) kiến thức

1.3 Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức:

Quá trình học tập không chỉ nhằm nắm được những nội dung kiến thức và các

kĩ năng Trong một thế giới phát triển và luôn luôn có sự biến đổi thì những kiếnthức và các kĩ năng mà học sinh thu nhận được do ghi nhớ sẽ mau chóng trở nên lạchậu Do vậy, nếu người học chỉ ghi nhớ máy móc kiến thức đã có thì chưa đủ, họphải có những khả năng tự mở rộng và tinh lọc những kiến thức và các kĩ năng cầnthiết để có thể tự học, tự nghiên cứu suốt đời

Có nhiều cách để giúp học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức Trong đó, cóhai phương pháp giúp học sinh mở rộng và tinh lọc kiến thức đạt hiệu quả cao đó là:phương pháp sử dụng các loại câu hỏi và phương pháp giúp học sinh mở rộng vàtinh lọc kiến thức bằng các hoạt động Giáo viên có thể sử dụng nhiều loại câu hỏinhư: Câu hỏi phân loại, câu hỏi phân tích, câu hỏi khái quát,…Tùy từng bài tập cụthể mà giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi khác nhau giúp học sinh mở rộng vàtinh lọc kiến thức Để giải quyết những vấn đề mà giáo viên đưa ra, đòi hỏi học sinhphải tư duy

Trong quá trình giảng dạy, nếu giáo viên luôn đưa ra những câu hỏi, những bàitập buộc học sinh hiểu và nắm kiến thức vững vàng hơn Tất nhiên, để rèn luyệnkhả năng tư duy cho học sinh, trước tiên giáo viên cần phải xác định đâu là kiếnthức cơ bản, đâu là kiến thức mở rộng Bởi có xác định như vậy mới giải quyếtđược mục tiêu mà bài học đưa ra, hướng học sinh tư duy đúng hướng

1.4 Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả:

Những thao tác tư duy trong định hướng ba sẽ không được phát huy nếu chúngkhông được sử dụng một cách có hiệu quả Việc sử dụng kiến thức có hiệu quảđược thực hiện qua những hoạt động: ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyếtvấn đề, phát minh Thực chất của các hoạt động này là quá trình học sinh trả lời cáccâu hỏi mà giáo viên đưa ra

Để giúp học sinh sử dụng kiến thức có hiệu quả, giáo viên cần phải đưa ranhững bài tập cho học sinh và mở rộng gắn bài tập đó với thực tế Thông qua giảiquyết các bài tập đó, học sinh sẽ tiến hành các hoạt động điều tra, thí nghiệm, chứngminh,…và từ đó kiến thức mà học sinh được học sẽ được áp dụng vào thực tế, được

sử dụng một cách có hiệu quả

Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là giúp học sinh vận dụng những gìđược học vào thực tế cuộc sống Vì thế, có thể nói đây là định hướng cơ bản, quantrọng nhất trong năm định hướng dạy học của Marzano Sử dụng định hướng này cóhiệu quả đối với học sinh hay không là còn tùy thuộc vào việc xây dựng kế hoạchmột cách cẩn thận, khoa học của giáo viên và sự hợp tác tự nguyện, tích cực củahọc sinh

Trang 10

1.5 Định hướng 5: Rèn luyện thói quen tư duy:

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người được tiếp xúc với nhiều loạithông tin khác nhau trên nhiều phương tiện khác nhau Tuy nhiên, con người chỉnhớ và lưu trữ lại những thông tin cần thiết, thường xuyên được sử dụng Vì thế,những kiến thức mà học sinh thu nhận được trong quá trình học tập là rất cần thiếtnhưng nó không phải là mục tiêu cao nhất trong tiến trình giáo dục Mục tiêu quantrọng nhất của quá trình giáo dục là rèn luyện thói quen và năng lực tư duy cho họcsinh Nếu có được thói quen và năng lực tư duy tốt thì học sinh có thể học những gì

mà các em muốn, học bất cứ ở đâu và bất cứ nơi nào

Thói quen tư duy bao gồm ba loại tư duy Đó là tư duy tự điều chỉnh, tư duyphê phán và tư duy sáng tạo Năng lực tư duy tự điều chỉnh được thể hiện ở chỗ: khingười học có khả năng tự nhận thức, biết lập kế hoạch cho công việc, nhạy bén với

sự phản hồi của giáo viên, bạn bè, của thực tế,…và tự đánh giá được hiệu quả củacác hành động của bản thân Năng lực tư duy phê phán được thể hiện khi người họcnhận biết được sự chính xác và tìm kiếm sự chính xác, nhận biết được sự rõ ràng vàtìm kiếm sự rõ ràng, không bảo thủ, cẩn thận, không bốc đồng, biết bảo vệ nhữngquan điểm đúng, nhạy bén với những suy nghĩ của người khác Còn ở năng lực tưduy sáng tạo có được khi người học tiến hành công việc một cách mạnh bạo ngay cảkhi chưa trả lời hoặc giải đáp rõ ràng, biết mở rộng giới hạn kiến thức và khả năngcủa bản thân, biết tạo ra, tin tưởng và duy trì tiêu chuẩn đánh giá riêng của bản thân,biết tạo ra cách thức mới để xem xét những tình huống mới nằm ngoài những quyđịnh chuẩn

Trên thực tế, học sinh thường không nhận thấy việc sử dụng thói quen tư duytrong cuộc sống hằng ngày Do đó, giáo viên cần chỉ cho học sinh biết cách sử dụngthói quen tư duy, đồng thời giúp cho học sinh phát triển thói quen tư duy Giáo viên

có thể yêu cầu học sinh tìm, sưu tầm các ví dụ trong thực tế, liên quan đến nhữngvấn đề gần gũi với học sinh để học sinh dễ tiếp thu hơn

Nhìn chung, năm định hướng dạy học của Marzano có tầm quan trọng rất cao,

có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ về mặt phương pháp cho giáo viên trong quátrình dạy học Tuy nhiên, tùy vào điều kiện cụ thể, trường hợp cụ thể và tiết học cụthể mà giáo viên có thể sử dụng các định hướng khác nhau Trong đó, định hướng

1(Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học) và định hướng 5 (Rèn luyện thói

quen tư duy) là hai định hướng được sử dụng xuyên suốt trong quá trình dạy học.

2 Dạy học hợp tác [Nguyễn Thị Hồng Nam, Tổ chức học hợp tác trong dạy học

Ngữ văn, Đại học Cần Thơ – 2006]

2.1 Khái niệm học hợp tác:

Học hợp tác là một hình thức tổ chức dạy học trong đó các nhóm học sinhcùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập do giáo viên đưa ra, từ đó rút ra bài họcdưới sự hướng dẫn của giáo viên Hình thức học tập này đòi hỏi sự tham gia đónggóp trực tiếp và tích cực của mỗi học sinh vào quá trình học tập và sẽ tạo nên đượcmôi trường giao tiếp, hợp tác giữa giáo viên – học sinh và giữa học sinh – học sinhvới nhau

Trang 11

nhiên, nhược điểm của cách chia nhóm này là mất thời gian cho việc chuyển chỗngồi, lớp học sẽ trở nên ồn ào, lộn xộn Cách chia nhóm theo kiểu chỉ định khôngmất nhiều thời gian nhưng học sinh ít có cơ hội làm việc với nhiều thành viên kháctrong lớp, tiếp xúc với nhiều cách tư duy khác nhau,…nhưng cách chia này lại rấtphù hợp với điều kiện trường học ở nước ta Đồng thời, nhược điểm này cũng cóthể khắc phục bằng cách giáo viên đổi chỗ ngồi cho học sinh theo định kì một hoặchai tháng một lần.

Tuy nhiên, khi chia nhóm giáo viên phải lưu ý:

- Các thành viên trong nhóm phải thuộc đủ các trình độ khác nhau để có thểhọc hỏi và bổ sung kiến thức cho nhau

- Việc sử dụng loại nhóm nào là còn tùy thuộc vào nội dung bài học, thờilượng tiết dạy, số lượng học sinh và bàn ghế có trong lớp

- Không nên chia nhóm với số lượng học sinh đông vì khi đó học sinh sẽ ỷ lạivào các học sinh khác, hiệu quả thảo luận không cao

- Không nên lạm dụng quá nhiều việc thảo luận nhóm trong một tiết, mà chỉnên thảo luận nhóm ở những nội dung cần thiết

2.3 Loại hình nhóm: có hai loại hình nhóm là nhóm cố định và nhóm không cốđịnh

2.3.1 Nhóm cố định: Là loại nhóm hoạt động cùng nhau trong suốt một thời gian

từ một tuần đến vài tuần lễ hoặc cả học kì để giải quyết bài tập lớn, phức tạp

2.3.2 Nhóm không cố định: Là loại hình nhóm gồm những học sinh cùng nhaulàm việc từ vài phút đến một tiết học và được thiết lập nhiều lần trong một tiết học.Trong loại hình nhóm này, giáo viên có thể chia nhóm theo nhiều cách khác nhautùy theo nội dung và thời lượng bài học Hiện nay, nhóm không cố định có nămcách chia phổ biến là:

2.4 Vai trò, nhiệm vụ của giáo viên trong học hợp tác:

Học hợp tác là một hình thức dạy học tích cực theo quan điểm “Học sinh là

trung tâm trong quá trình dạy học” Do đó, vai trò của giáo viên trong các giờ học

hợp tác là tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm kiếm, khám phá kiến thức, đánh giá hoạtđộng học tập của mình và động viên, khuyến khích học sinh chứ không làm thayhọc sinh Đồng thời, dạy học sinh các kĩ năng hợp tác

Trước tiên, giáo viên phải thiết kế các bài tập, các vấn đề, các tình huống chocác nhóm học sinh giải quyết Sau đó, giáo viên cần tiến hành các hoạt động như:chia nhóm, quy định thời gian thảo luận nhóm, quản lý các nhóm, đánh giá tinhthần, thái độ và hiệu quả làm việc của các nhóm Sau khi học sinh thảo luận xong,giáo viên tạo điều kiện cho các nhóm trình bày kết quả thảo luận theo hai cách:

- Chia bảng thành nhiều cột, cho đại diện các nhóm lên trình bày kết quả

- Cho đại diện các nhóm đứng tại chỗ trình bày kết quả, giáo viên đóng vai trò

là thư kí cho lớp học

Cuối cùng, giáo viên cho các nhóm đánh giá kết quả lẫn nhau, giáo viên chođiểm, cộng điểm cho những nhóm hoạt động tích cực và có kết quả đúng

Trang 12

2.5 Thiết kế bài tập thảo luận:

Thiết kế bài tập là công việc không đơn giản đòi hỏi người giáo viên phải cónăng lực, có kiến thức và am hiểu trình độ hiểu biết của học sinh Bài tập mà giáo

viên đưa ra phải là những “tình huống có vấn đề” trong học tập, cá nhân học sinh

không thể tự giải quyết được mà cần phải cùng nhau làm việc mới có thể giải quyếtđược Bài tập thiết kế phải xoay quanh kiến thức trọng tâm, và câu trả lời của họcsinh sẽ là nội dung khám phá kiến thức và hiểu được nội dung của bài dạy

Giáo viên cần lưu ý, khi thiết kế bài tập thảo luận, phải chú ý đến thời điểmcủa tiết học Có thể tiến hành trước hoặc sau khi học xong Đối với những bài học

có dung lượng kiến thức lớn, thời gian hẹp, giáo viên có thể thiết kế những bài tậpkhác nhau xoay quanh trọng tâm bài học, cho mỗi nhóm thảo luận một vấn đề Sau

đó, mỗi nhóm trình bày kết quả thảo luận, giúp các nhóm khác hiểu được vấn đề mànhóm mình hoàn thành Đây còn gọi là hoạt động trao đổi Ở bài tập này, các nhóm

có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau Nếu nhóm nào làm việc không tốt thì sẽ khônghoàn thành được nhiệm vụ giúp các nhóm khác hiểu được vấn đề mà nhóm mìnhthảo luận Khi thiết kế bài tập này, giáo viên nên lưu ý đến độ khó tương đương củabài tập cho mỗi nhóm

2.6 Các dạng bài tập thảo luận:

Có nhiều dạng bài tập thảo luận , tùy từng bài tập cụ thể, từng thời điểm cụ thể

mà giáo viên có thể đưa ra nhiều dạng bài tập khác nhau nhằm giúp học sinh địnhhướng bài học, khám phá kiến thức mới hay củng cố, ôn tập kiến thức đã học

2.7 Quy trình tổ chức thảo luận:

Hoạt động tổ chức thảo luận trải qua những bước sau:

- Bước 1: Giáo viên chia nhóm

- Bước 2: Giáo viên giao vấn đề cho các nhóm và quy định thời gian thảo luận

- Bước 3: Học sinh thảo luận, giáo viên quan sát, quản lý và giúp đỡ các nhóm

- Bước 4: Đại diện các nhóm lên trình bày kết quả, giáo viên ghi lại những ý đúng,nêu câu hỏi gợi mở, yêu cầu các nhóm khác bổ sung Sau đó, giáo viên bổ sung,chốt lại vấn đề, nhận xét, đánh giá Qua quá trình đó, học sinh tự lĩnh hội, tự điềuchỉnh tri thức thu nhận được bằng cách so sánh ý kiến của nhóm mình với các nhómkhác và với ý kiến của giáo viên

2.8 Tác dụng của học hợp tác:

2.8.1 Đối với học sinh:

- Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các học sinh trong lớp Đồng thời, bổ

khuyết cho nhau các “lỗ hổng” và thái độ.

- Rèn luyện tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện ở tinhthần làm việc tập thể, biết chấp nhận ý kiến khác với mình, biết giải quyết xung độttheo cách xây dựng, biết chia sẻ thông tin và kinh nghiệm mà mình có

- Phát huy tính chủ động, sáng tạo, năng lực tư duy cho học sinh

- Tập cho học sinh khả năng nhận xét, đánh giá một vấn đề

- Rèn luyện cho học sinh năng lực diễn đạt, trình bày thông tin ngắn gọn, rõràng, chính xác

- Tăng cường sự tự tin, nâng cao lòng tự trọng của bản thân, giúp học sinh tựđiều chỉnh phương pháp học của bản thân

2.8.2 Đối với giáo viên:

- Qua quá trình cho học sinh thảo luận nhóm, giáo viên có thể đo lường vàđánh giá chính xác mức độ hiểu bài, tiếp thu kiến thức của học sinh cũng như những

Trang 13

khó khăn mà học sinh gặp phải trong giờ học Từ đó, điều chỉnh phương pháp giảngdạy của mình cho phù hợp.

- Giáo viên sẽ có thể học được nhiều cách giải quyết vấn đề do học sinh pháthiện mà mình chưa nghĩ đến

3 Phương pháp diễn giảng:

“Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới cho học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó” [4; tr.62].

Diễn giảng là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong dạy học truyền thống.Ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng chủ yếu trong dạy học, nhất là dạyhọc các môn khoa học xã hội Phương pháp này ngoài những ưu điểm là giúp họcsinh nắm được kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm thời gian, không đòi hỏinhững phương tiện dạy học đặc biệt, giáo viên không tốn nhiều công sức cho việcchuẩn bị bài,… thì phương pháp này cũng có những nhược điểm nhất định Đó làhọc sinh sẽ thụ động, không phát huy được tính tích cực, khả năng chú ý sẽ giảm sútnếu giáo viên diễn giảng trong một thời gian dài, học sinh dễ trở thành người dựgiờ, người đứng ngoài tiến trình Học sinh có thể hiểu bài nhưng không nhớ lâu,nhớ kĩ kiến thức

Để có thể khắc phục nhược điểm trên, có thể dùng lối diễn giảng tích cực

Diễn giảng tích cực có nghĩa là giáo viên không “Độc diễn” trong khi dạy, không

“Mớm sẵn” kiến thức cho học sinh mà giáo viên có nhiệm vụ khơi gợi, hướng dẫn

học sinh trực tiếp tiếp xúc với bài học Trong quá trình học tập đó sẽ có sự tác độngqua lại giữa bài học, giáo viên và học sinh Đồng thời, để cho tiết dạy được sinhđộng, hiệu quả cao thì giáo viên có thể sử dụng phương pháp diễn giảng kết hợp vớimột số phương pháp như: đàm thoại, cho học sinh làm bài tập thực hành, hướng dẫnhọc sinh nghiên cứu sách giáo khoa, xen kẽ với kể chuyện,…Theo phương phápdiễn giảng tích cực thì cấu trúc của nó bao gồm ba bước: giới thiệu bài mới, hướngdẫn học sinh khám phá kiến thức mới và kết luận Để cho tiết học sinh động, giáoviên có thể lôi cuốn học sinh tham gia khám phá kiến thức mới bằng cách đặt ranhiều câu hỏi, đưa ra nhiều tình huống cho học sinh giải quyết Tùy theo từng bàihọc, từng nội dung cụ thể mà giáo viên có thể sử dụng hình thức diễn giảng theocon đường quy nạp hoặc diễn dịch Hình thức diễn dịch gồm ba bước Đó là giáoviên trình bày khái niệm, định nghĩa Sau đó, nêu dẫn chứng để chứng minh bằngnhững ví dụ, hình ảnh, mô hình kết hợp với việc hướng dẫn học sinh phân tích ví dụ

để làm sáng tỏ khái niệm, định nghĩa Cuối cùng, giáo viên yêu cầu học sinh rút rakhái niệm từ sự hiểu biết của mình

Tương tự, hình thức diễn giảng quy nạp cũng gồm ba bước Trước hết, giáoviên nêu lên một vài ví dụ kết hợp với việc hướng dẫn học sinh giải thích, phân tích

ví dụ bằng hệ thống câu hỏi Sau đó, dựa trên sự phân tích các ví dụ, giáo viên(hoặc học sinh) khái quát lên thành khái niệm, định nghĩa Cuối cùng, giáo viên(hoặc học sinh) nêu lên những ví dụ khác, học sinh phân tích ví dụ để làm sáng tỏkhái niệm, định nghĩa

Trong hai hình thức diễn giảng trên, hình thức diễn giảng quy nạp được sửdụng phổ biến hơn, mang lại hiệu quả cao hơn, nhất là trong các giờ Làm văn vàTiếng Việt

4 Phương pháp đàm thoại (phương pháp phát vấn):

“Đàm thoại là phương pháp giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh trả lời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự hướng dẫn của thầy, qua đó tiếp nhận kiến thức” [4; tr.69].

Trang 14

Phương pháp đàm thoại bên cạnh những ưu điểm là phát huy được năng lựclàm việc độc lập, óc tìm tòi suy nghĩ, thói quen trình bày một vấn đề trước tập thểcủa học sinh, tạo không khí tự do tư tưởng, tự do bộc lộ suy nghĩ của học sinh, giờhọc có được không khí tâm tình, trao đổi thảo luận thân mật, tạo mối liên hệ gầngũi, thân mật giữa giáo viên và học sinh Thông qua câu trả lời của học sinh, giáoviên nhận biết mức độ hiểu bài của học sinh Từ đó, có những điều chỉnh kịp thờitrong giảng dạy Đồng thời, giáo viên còn hiểu được tính cách, phẩm chất, trí tuệ,tâm hồn, tình cảm của học sinh Tuy nhiên, phương pháp này cũng mắc phải nhượcđiểm như: mất nhiều thời gian cho việc suy nghĩ, trả lời, tìm câu trả lời đúng Dovậy, nếu giáo viên không có kinh nghiệm, không có khả năng điều khiển lớp họchoặc không biết cách xây dựng câu hỏi thì sẽ bị cháy giáo án.

Để có một giờ học thành công, giáo viên cần chuẩn bị giáo án chu đáo Giáoviên không chỉ nắm nội dung bài giảng, nắm được những gì mà mình cần giảng màcòn phải tính đến hoạt động của học sinh sao cho hoạt động giữa giáo viên và họcsinh có sự phối hợp nhịp nhàng Giáo viên cũng cần tính đến những tình huống cóthể xảy ra trên lớp học Ngoài ra, khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần phảilinh hoạt Tùy theo từng bài học mà đưa ra những câu hỏi khác nhau như: câu hỏitái hiện, câu hỏi giải thích, câu hỏi phân tích, suy luận,… Cũng cần lưu ý rằng: câuhỏi giáo viên đưa ra cần tập trung vào kiến thức trọng tâm của bài học, đảm bảo tínhgợi mở, rõ ràng, có tính hệ thống Đồng thời, câu hỏi phải mang tính vừa sức, phùhợp với khả năng của học sinh

Trong quá trình sử dụng phương pháp này, giáo viên cần phải theo dõi lớphọc, kịp thời nhắc nhở các em tập trung vào làm sáng tỏ vấn đề mà giáo viên đưa ra

5 Phương pháp trực quan:

Trực quan là một trong những phương pháp dạy học cơ bản “Trăm nghe

không bằng một thấy” Con người tiếp cận thông tin bằng nhiều kênh: thị giác,

thính giác, xúc giác Trong những kênh tiếp nhận đó thì quá trình tiếp nhận thôngtin bằng thị giác là hiệu quả hơn Do đó, trong quá trình dạy học, ngoài việc sử dụngcác phương pháp: diễn giảng, đàm thoại,… thì giáo viên cũng nên sử dụng phươngpháp trực quan Đây là một trong những phương pháp quan trọng quyết định đếnquá trình học tập và kết quả học tập của học sinh Phương pháp này giúp học sinhtiếp xúc trực tiếp với những chi tiết, hình ảnh,… một cách cụ thể, giúp các em nhớ

và khắc sâu kiến thức hơn

Trong dạy học Ngữ văn nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng, giáo viên cóthể sử dụng những tranh ảnh, vật thật, biểu bảng, mô hình, sơ đồ và các thiết bịnghe nhìn như vidio, cassete,… Để có được những phương tiện trực quan này, giáoviên có thể sưu tầm hoặc tự chế

Cụ thể là, đối với phần đọc hiểu văn bản, khi dạy về một tác phẩm hay một tácgia nào đó, chúng ta có thể sử dụng những tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng khuyết để tạo

sự chú ý và thích thú cho học sinh Chẳng hạn, khi dạy về tác gia Nguyễn Du, trướckhi tìm hiểu phần tiểu sử của tác gia này, chúng ta có thể sưu tầm một số tranh ảnh

về tác gia này như:

Trang 15

Tiếp theo, để dạy phần tiểu sử của tác gia Nguyễn Du, chúng ta có thể yêu cầuhọc sinh lên bảng điền đầy đủ thông tin vào biểu bảng khuyết như sau:

Năm sinh - năm mất

Mồ côi cha mẹ đến sống với người anh là Nguyễn Khản

Thi Hương đỗ Tam trường

Hơn 10 năm sống khó khăn, gian khổ

Giữ nhiều chức quan quan trọng trong triều đình

Đi sứ sang Trung Quốc lần thứ nhất

Đi sứ sang Trung Quốc lần thứ hai

Được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới

Những thông tin còn khuyết ở trên giáo viên đã cho sẵn, học sinh chỉ lên bảngdán những thông tin đã cho vào biểu bảng cho phù hợp

Bên cạnh việc dạy phân môn đọc hiểu văn bản, khi dạy phân môn Làm văncũng vậy Khi dạy, chúng ta có thể thiết kế những sơ đồ, biểu bảng phù hợp với bài

Trang 16

dạy để đạt hiệu quả cao trong giờ học Cụ thể là khi dạy bài “Tóm tắt văn bản

thuyết minh”, để cho học sinh có được cái nhìn khái quát khi tóm tắt một văn bản

thuyết minh, chúng ta có thể trình bày sơ đồ các bước tóm tắt một văn bản thuyếtminh như sau:

Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu

Bước 5: Sửa chữa, hoàn chỉnh văn bản tóm tắt

Trong quá trình giảng dạy phân môn Tiếng Việt cũng thế, chúng ta có thể sửdụng những sơ đồ, biểu bảng khuyết hoặc điền đầy đủ thông tin nhằm củng cố hoặc

khắc sâu kiến thức cho học sinh Chẳng hạn, khi dạy bài “Đặc điểm của ngôn ngữ

nói và ngôn ngữ viết”, để củng cố kiến thức cho học sinh, chúng ta có thể sử dụng

biểu bảng so sánh như sau:

1.Định nghĩa: là ngôn ngữ âm thanh,là lời

nói trong giao tiếp

- Vị trí: Người nói Người nghe

- Được tiếp nhận bằng thính giác

2 Điều kiện giao tiếp: đối tượng giao tiếp

có thể nghe nói bình thường

3 Đặc điểm:

- Yếu tố hỗ trợ:giọng nói, ngữ điệu, điệu

bộ…

- Từ ngữ:khẩu ngữ, tiếng lóng, từ địa

phương…Do có tính tức thời nên không

có điều kiện chọn lựa, gọt giũa

- Câu:có độ co giãn không hạn chế

- Thời gian tồn tại ngắn

1 Định nghĩa:là ngôn ngữ được thể

hiện bằng chữ viết trong văn bản

- Vị trí: Người viết Người đọc

- Được tiếp nhận bằng thị giác

2 Điều kiện giao tiếp: đối tượng

giao tiếp có thể đọc và viết

- Thời gian tồn tại lâu dài

Có thể nói, phương pháp trực quan là một trong những phương pháp đã gópphần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường hiện nay

Trang 17

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO SOẠN GIÁO ÁN CÁC BÀI TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10

( BỘ CƠ BẢN)

1 Lý thuyết về soạn giáo án:

“ Soạn giáo án là thiết kế tiến trình một (hay một số) tiết lên lớp với tất cả những ghi chép cần thiết sao cho người dạy có thể căn cứ vào sự chuẩn bị ấy mà thực hiện thành công mục đích yêu cầu của bài dạy” [31; tr.18].

Thông thường một giáo án có cấu trúc như sau:

TÊN BÀI DẠY

(Số tiết thực hiện bài dạy)

I Mục đích, yêu cầu

II Công việc chuẩn bị về phương tiện dạy học

III Tiến trình các bước lên lớp:

1 Ổn định tổ chức lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Nội dung bài mới

4 Củng cố kiến thức trong bài mới và luyện tập thực hành

5 Ra bài tập ở nhà và yêu cầu chuẩn bị cho tiết học sau

Đó là “Cấu trúc một giờ dạy” theo kiểu truyền thống Tuy nhiên, cấu trúc một

giờ dạy theo kiểu hiện đại cũng không khác lắm so với kiểu cấu trúc truyền thống

“Một giờ (giờ lên lớp) được chia làm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn mang ý nghĩa rõ rệt về mặt lý luận dạy học” [11; tr.100] Bốn giai đoạn đó là:

1 Giai đoạn mở đầu tiết học: Thời gian dành cho giai đoạn này khoảng 7 phút.

Các công việc: Kiểm tra đầu giờ và mở bài Kiểm tra đầu giờ nhằm đánh giáviệc học của học sinh ở nhà, đôi khi cũng có thể dùng vấn đề kiểm tra để đi vào bài

mới “Việc mở đầu bài giảng một cách tự nhiên sẽ tạo bầu không khí tươi vui, thoải

mái, làm cho học sinh bước vào bài mới một cách tự tin” [11; tr.100]

2 Giai đoạn nghiên cứu tài liệu mới:

Đây là giai đoạn chính chiếm khoảng thời gian rất lớn, khoảng 30 đến 35 phútcho một tiết dạy Có thể vận dụng nhiều phương pháp để khai thác tài liệu mớinhằm cung cấp kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh Đồng thời, các hoạtđộng của học sinh được thể hiện rõ nét nếu người giáo viên biết cách tổ chức giờlên lớp một cách phù hợp

3 Giai đoạn củng cố kiến thức:

Để củng cố kiến thức, giáo viên có thể cho học sinh ví dụ và phân tích ví dụ đểlàm sáng tỏ nội dung vừa được học Đồng thời thông qua đó, giáo viên có thể đánh

giá học sinh ở hai vấn đề: “Tính chuẩn xác của kiến thức thu lượm được và nguyên

nhân của những lỗi lầm trong phương pháp nhận thức” [11; tr.50].

4 Giai đoạn giao nhiệm vụ về nhà:

Tuy thời gian dành cho giai đoạn này không nhiều nhưng không thể thiếu

“Nếu là bài học có nhiều bài tập hoặc bài học dạy kiến thức quy trình thì người giáo viên cần hướng dẫn cách học, cách làm các bài tập khó, cách luyện tập quy trình,…” [11; tr.101].

Tùy theo nội dung và cách tổ chức giờ học, giáo viên có thể phân bố thời giancho từng giai đoạn sao cho phù hợp với kế hoạch chuẩn bị giáo án trước ở nhà,nhưng chỉ trong 45 phút Trong 45 phút này, giáo viên có thể sử dụng các định

Trang 18

hướng dạy học trong mọi lúc, mọi giai đoạn nếu giáo viên có ý thức khai thác chúngvới mục đích cuối cùng là phát triển tư duy, tích cực hoá sự học tập của học sinhtrong suốt tiết học

2 Cấu trúc chương trình Tiếng Việt 10:

2.1 Chương trình Tiếng Việt bậc Trung học cơ sở và lớp 10:

- Câu trần thuật đơn

- Câu trần thuật đơn có

- Liệt kê

- Ôn tập phần tiếngViệt

Trang 19

3 Câu và dấu câu

- Rút gọn câu

- Câu đặc biệt

- Thêm trạng ngữ chocâu

- Dùng cụm chủ vị để

mở rộng câu

- Dấu chấm lửng vàdấu chấm phẩy

- Thêm trạng ngữ chocâu

- Dùng cụm chủ vị để

mở rộng câu

- Ôn tập phần tiếngViệt

8

1 Từ và từ loại

- Từ tượng thanh, từtượng hình

-Trợ từ, thán từ-Tình thái từ

- Nói giảm nói tránh

3 Câu và dấu câu

- Chữa lỗi diễn đạt

4 Hội thoại - Hành động nói- Hội thoại - Hành động nói- Hội thoại

9

1 Từ và từ loại

- Sự phát triển của từvựng

- Trau dồi vốn từ

- Khởi ngữ

- Sự phát triển của từvựng

- Các thành phần biệtlập

- Liên kết câu và liênkết đoạn văn

- Biên bản

- Các thành phần biệtlập

- Liên kết câu và liênkết đoạn văn

giao tiếp và đặc

phương thứcgiao tiếp

- Hoạt động giao tiếpbằng ngôn ngữ

- Văn bản

- Đặc điểm của ngônngữ nói và ngôn ngữviết

Trang 20

Phong cáchchức năng ngônngữ

- Phong cách ngôn ngữsinh hoạt

- Phong cách ngôn ngữnghệ thuật

- Những yêu cầu về sửdụng tiếng Việt

4 Lịch sử ra đờicủa tiếng Việt - Khái quát lịch sửtiếng Việt - Ôn tập tiếng Việtcuối năm

2.2 Mối quan hệ giữa các khối kiến thức trong chương trình tiếng Việt lớp 10 với các khối kiến trong chương trình Trung học cơ sở:

Sau quá trình khảo sát bộ sách Ngữ văn 10 (Bộ cơ bản) nói chung, đặc biệt làphần tiếng Việt tôi thấy rằng: Toàn bộ phần tiếng Việt được học ở lớp 10 chỉ gồm

có 10 bài Trong đó có 6 bài học thuộc phần lý thuyết (Kiến thức mới), 4 bài họcthuộc phần thực hành (Kiến thức đã học) Những bài học thuộc phần thực hành(Kiến thức đã học) thuộc chương trình lớp 6, 7 và lớp 10 Hai mảng kiến thức nàyđược thể hiện qua bảng sau:

1- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

2- Văn bản

3- Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn

ngữ viết

4- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

5- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

6- Khái quát về lịch sử tiếng Việt

1- Thực hành các phép tu từ: ẩn dụ và hoán dụ

2- Thực hành các phép tu từ: phép điệp

và phép đối3- Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt4- Ôn tập tiếng Việt cuối năm

Có thể thấy rằng, trong những bài học lý thuyết nêu trên, giữa các bài có mốiquan hệ gắn bó với nhau Bài trước sẽ là cơ sở, là nền tảng kiến thức gắn kết các nội

dung bài học sau đó Cụ thể, trong bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, yêu cầu

về kiến thức và kĩ năng cần đạt là: Sau khi học xong bài học, học sinh cần nắmđươc kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và nâng cao kĩ năng

phân tích, lĩnh hội, tạo lập văn bản trong giao tiếp Ở bài học sau đó, bài Văn bản là

bài học có sự nối kết về mặt kiến thức và kĩ năng của bài học trước Để nắm đượckhái niệm văn bản, các đặc điểm và các loại văn bản cũng như nâng cao năng lựcphân tích và thực hành tạo lập văn bản thì ngoài việc nắm được những kiến thức và

kĩ năng cần đạt ở bài học này, học sinh cần phải nhớ và vận dụng kiến thức của bàihọc trước đó vì văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Hoạtđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ được thể hiện ở hai dạng: dạng nói và dạng viết Vì

vậy, tiếp nối của bài học Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là bài Đặc điểm của

ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ở bài này, kiến thức và kĩ năng cần đạt là: Sau khi

Trang 21

học xong bài học này, học sinh có thể nhận rõ đặc điểm, các mặt thuận lợi, hạn chếcủa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết để diễn đạt tốt khi giao tiếp Đồng thời, có kĩnăng trình bày miệng hoặc viết văn bản phù hợp với đặc điểm của ngôn ngữ nói vàngôn ngữ viết.

Tiếp nối của bài học Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai bài

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Nếu như ở bài

học Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, học sinh nắm vững kiến thức và

kĩ năng ở bài học đó thì đến hai bài học này học sinh sẽ gặp thuận lợi hơn, dễ dànghơn Về kiến thức và kĩ năng của hai bài này tương đối giống nhau Đó là việc nắmđược khái niệm, những đặc trưng cơ bản của nó Nâng cao kĩ năng phân tích và sửdụng ngôn ngữ phù hợp với từng phong cách Đặc biệt, để học sinh có thể nắmvững các kiến thức và kĩ năng về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (ngôn ngữ nói

và ngôn ngữ viết) cũng như nắm được nguồn gốc, quan hệ họ hàng, tiến trình pháttriển của tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt Thấy rõ lịch sử của tiếng Việt gắn bó với

lịch sử phát triển của đất nước, của dân tộc thể hiện qua bài học Khái quát lịch sử

tiếng Việt.

Bên cạnh những kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần có thông qua những bàihọc nêu trên Ta có thể thấy rằng, việc học sinh được trang bị về mặt lý thuyết nóichung và về mặt kiến thức, kĩ năng nói riêng, một phần không thể thiếu đó là phần

thực hành bởi vì “Trăm hay không bằng tay quen”

Ngay ở mảng kiến thức và kĩ năng (Phần lý thuyết) mà học sinh đã học Tathấy phần Tiếng Việt trong chương trình lớp 10 (Bộ cơ bản) có mối quan hệ mậtthiết với phần Tiếng Việt ở Trung học cơ sở Cụ thể ở hai bài phong cách chức

năng ngôn ngữ (Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ

thuật), bên cạnh những kiến thức và kĩ năng cần đạt, ở hai bài học này còn có sự

vận dụng một số biện pháp tu từ mà học sinh đã được học ở bậc Trung học cơ sở.Một số biện pháp tu từ đó là: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, phép điệp, phép đối,…Nhắc lại các biện pháp tu từ đó, học sinh đã học ở Trung học cơ sở chỉ là lý thuyết

Do đó, đòi hỏi về mặt kiến thức ở các bài học về các biện pháp tu từ chỉ là: nắmđược khái niệm, cách biểu hiện và tác dụng của nó

Nếu như các biện pháp tu từ: ẩn dụ và hoán dụ, phép điệp và phép đối đã đượchọc ở Trung học cơ sở chỉ là lý thuyết thì ở chương trình lớp 10, các biện pháp tu từ

này được học lại nhưng là các bài thực hành Thực hành các phép tu từ: ẩn dụ và

hoán dụ, Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối Ở hai bài học này, tiếp

tục ôn tập để nâng cao hiểu biết về các phép tu từ, rèn luyện kĩ năng phân tích giá trịbiểu đạt và sử dụng các biện pháp tu từ đạt hiệu quả cao

Còn ở bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt, bên cạnh việc nhắc lại các

kiến thức đã học ở Trung học cơ sở như: Về mặt ngữ âm và chữ viết, về từ ngữ vàchính tả, về ngữ pháp, về phong cách ngôn ngữ thì mục đích của bài học này ở lớp

10 là nhằm hệ thống lại các kiến thức về những yêu cầu sử dụng tiếng Việt, rènluyện thói quen và năng lực sử dụng tiếng Việt theo những yêu cầu đó

Ngoài ra, ở các bài ôn tập được học ở Trung học cơ sở cũng mang tính tổngkết, ôn luyện, củng cố lại kiến thức ở đầu mỗi học kì hoặc trong cả năm học Ởchương trình lớp 10 cũng vậy, bài ôn tập bao giờ cũng là bài khái quát lại, nhắc lại,tổng kết lại hầu hết những nội dung đã học từ đầu năm học Do đó, đòi hỏi học sinhphải vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học mới có thể hoàn thành nhiệm vụ ởbài học này

Trang 22

3 Các kiến thức và kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh trong chương trình tiếng Việt 10 ( Bộ cơ bản):

Để có thể soạn một bài giáo án tốt, vừa đạt được yêu cầu về mặt nội dung, vừađảm bảo về mặt phương pháp cũng như điều tiết thời gian hợp lý cho một tiết dạy làmột công việc không đơn giản Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên cần xác định đâu

là kiến thức trọng tâm và đâu là kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh Đây là côngviệc khó khăn nhưng cần thiết Cho nên, việc tìm hiểu và nghiên cứu kĩ các kiếnthức và kĩ năng cho từng bài học là hết sức quan trọng Do đó, tôi đã nghiên cứutương đối kĩ và có thể rút ra một số kiến thức và kĩ năng cần đạt cho học sinh trongchương trình Tiếng Việt lớp 10

- Về kiến thức: Sau khi học xong chương trình Tiếng Việt lớp 10 trong Sáchgiáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ cơ bản), học sinh có thể hình thành một số kiến thức vềngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Trên cơ sở những kiến thức đã có ởTrung học cơ sở, toàn bộ chương trình Tiếng Việt trong bộ sách Ngữ văn 10 nàynhằm hình thành và nâng cao những kiến thức về hoạt động ngôn ngữ như: hoạtđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ, các dạng giao tiếp bằng ngôn ngữ, các quá trình giao

tiếp, các nhân tố trong giao tiếp (Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ) Bên cạnh đó,

trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, học sinh sẽ nắm được những đặc điểm chủyếu của văn bản và bước đầu có sự phân loại các loại văn bản theo phong cách chứcnăng ngôn ngữ (Văn bản) Ngoài ra, học sinh có thể nhận rõ đặc điểm, các mặtthuận lợi, hạn chế cũng như các đặc trưng của ngôn ngữ sinh hoạt Từ đó giúp các

em có thể vận dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết một cách phù hợp trong giaotiếp

Song song với những kiến thức về hoạt động ngôn ngữ thì cũng hình thành ởhọc sinh những kiến thức về tiếng Việt như làm cách nào để tránh những sai sót vềcác chuẩn mực của tiếng Việt như: về ngữ âm và chữ viết, về từ ngữ, về ngữ pháp,

về phong cách ngôn ngữ,… (Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt) Từ đó, họcsinh sẽ dễ nhận diện hai phong cách ngôn ngữ Đó là Phong cách ngôn ngữ sinhhoạt và Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Ở hai bài học này, học sinh sẽ tiếp thuđược những kiến thức về khái niệm ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ và các đặctrưng của từng phong cách ngôn ngữ Biết được nguồn gốc, mối quan hệ họ hàng,tiến trình ra đời và phát triển của tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt (Khái quát lịch sửtiếng Việt) Trên cơ sở đó, các em có thể liên hệ đến những kiến thức về lịch sử rađời và phát triển của văn học Việt Nam

- Về Kĩ năng: Nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi nói , khi viết và nănglực phân tích, lĩnh hội văn bản (lời nói) khi nghe, khi đọc Cụ thể như: có kĩ năngphân tích một hoạt động giao tiếp thông qua các nhân tố giao tiếp, biết phân tíchvăn bản, bước đầu biết nhận diện đặc điểm của văn bản theo phong cách chức năngngôn ngữ, vận dụng các đặc điểm của văn bản trong quá trình viết văn bản Bêncạnh đó, nâng cao kĩ năng trình bày miệng hoặc viết văn bản phù hợp với ngôn ngữ

trong giao tiếp (ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) Rèn luyện, nâng cao năng lực giao

tiếp, có khả năng phân tích ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ nghệ thuật cũng như sửdụng ngôn ngữ nghệ thuật khi cần thiết

Ngoài ra, còn rèn luyện cho học sinh sử dụng tốt tiếng Việt trên mọi phương

diện của tiếng Việt (Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt) Có kĩ năng nhận diện, phân tích và sử dụng các biện pháp tu từ trong khi nói và viết khi cần thiết (Ẩn dụ

Trang 23

và hoán dụ, phép điệp và phép đối) “Tất cả những kĩ năng này được luyện tập, củng cố và nâng cao qua các hoạt động thực hành Đồng thời với các kĩ năng ngôn ngữ, là các kĩ năng nhận thức, tư duy cũng được phát triển và hoàn thiện Ngoài ra, các kiến thức và kĩ năng có được trong phần tiếng Việt còn giúp cho học sinh có điều kiện thuận lợi để học tập những môn học khác, trong đó có môn Ngoại ngữ”

[17; tr.77]

Tóm lại, qua toàn bộ chương trình Tiếng Việt trong Sách giáo khoa Ngữ văn

10 (Bộ cơ bản), chúng ta có thể thấy rằng: tất cả những kiến thức và kĩ năng mà họcsinh có thể tiếp thu được sẽ giúp cho các em hoàn thiện hơn khi sử dụng ngôn ngữtiếng Việt – một tài sản quý báu của dân tộc Và trong số 10 bài học phần Tiếng

Việt, học trong 14 tiết thì có đến 8 tiết thực hành ( Kiến thức quy trình), 6 tiết lý thuyết ( Kiến thức thông báo) Như vậy, số tiết thực hành chiếm khoảng 57,1 % so

với 42,9 % số tiết lý thuyết

4 Soạn giáo án:

4.1 HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ:

(2 tiết)

I Mục đích, yêu cầu:

1 Kiến thức: Nắm được kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ,

các dạng giao tiếp, hai quá trình trong hoạt động giao tiếp cùng các nhân tố giaotiếp

2 Kĩ năng: Biết phân tích một hoạt động giao tiếp qua các nhân tố giao tiếp, nâng

cao năng lực giao tiếp (Nói và viết) cho phù hợp với các nhân tố giao tiếp

3 Thái độ: Có thái độ và hành vi phù hợp với hoạt động giao tiếp ở nhà, ở trường

và trong sinh hoạt xã hội

III Phương tiện - đồ dùng dạy học:

Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, bảng phụ

IV Tiến trình bài dạy:

1 Kiểm tra bài cũ: (5 phút)

2 Vào bài: Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhất thiết phải có hoạt động giao

tiếp diễn ra Chính giao tiếp sẽ làm cho con người nâng cao hiểu biết, tiếp cậnnhững tri thức, thống nhất được hành động Giao tiếp có thể tiến hành bằng nhiềuphương tiện nhưng phương tiện phổ biến nhất, hiệu quả nhất là giao tiếp bằng ngônngữ

3 Nội dung bài giảng:

? Gọi 3 HS sắm vai(Người kể chuyện, Vua,các bô lão) Thảo luận

Ο HS1

Ο HS2

Trang 24

Ο Hai bên có cương vị vàquan hệ khác nhau Vua làngười lãnh đạo tối cao củađất nước, các bô lão đạidiện cho các tầng lớp nhândân Do vị thế giao tiếpkhác nhau nên ngôn ngữgiao tiếp của các nhân vậtkhác nhau: Các từ xưng hô(Bệ hạ), các từ thể hiệnthái độ (Xin, thưa ), cáccâu nói tỉnh lược chủ ngữtrong giao tiếp trực diện.

 Nhóm 2: Trình bàycâu b

Ο Hoạt động giao tiếpdiễn ra liên tục và thay thếcho nhau Hai nhân vậtgiao tiếp là Vua và các bôlão luân phiên nói (Hỏi-đáp) và nghe, người nói trởthành người nghe vàngược lại

 Nhóm 3: Trình bàycâu c

Ο Hoạt động giao tiếpdiễn ra trong hoàn cảnh đấtnước đang bị giặc ngoạixâm đe dọa, quân và dânnhà Trần phải cùng nhaubàn bạc để tìm ra sách lượcđối phó

Trang 25

Hôm nay, để các em hiểusâu hơn về bài học trước,chúng ta sẽ tiến hành tìm

Ο Địa điểm cụ thể là điệnDiên Hồng

 Nhóm 4: Trình bàycâu d

Ο Hoạt động giao tiếphướng đến nội dung làcách thức đối phó với nạngiặc ngoại xâm

Ο Vua nêu lên những nét

cơ bản về tình hình đấtnước và hỏi các bô lão vềcách đối phó, còn các bôlão thì hiến kế và thể hiệnquyết tâm đánh giặc

 Nhóm 5: Trình bàycâu e

Ο Mục đích giao tiếp:Bàn bạc để tìm ra sáchlược chống giặc ngoạixâm

Ο Cuộc giao tiếp đã điđến sự thống nhất hànhđộng: Quyết tâm đánhgiặc

Trang 26

hiểu thông qua những

câu hỏi trong SGK

? Chia lớp thành 5

nhóm (Phần I 1) thảo

luận các câu hỏi từ a đến

e Thời gian thảo luận 3

 Nhóm 2: Câu b

Ο Hoạt động giao tiếpđược tiến hành trong hoàncảnh của nền giáo dục ViệtNam, có tính tổ chức và có

kế hoạch của nhà trường

- Các bộ phận hợp thànhcủa văn học Việt Nam

- Quá trình phát triển củavăn học Việt Nam

- Con người Việt Nam quavăn học

 Nhóm 4: Câu d

Trang 27

hãy cho biết thế nào là

hoạt động giao tiếp bằng

ngôn ngữ, các nhân tố

ảnh hưởng đến hoạt động

Ο Mục đích giao tiếpthông qua văn bản:

- Xét từ phía người viết:Trình bày một cách tổngquan một số vấn đề cơ bản

về văn học Việt Nam cho

HS lớp 10

- Xét từ phía người đọc:

Có thể tiếp nhận và lĩnhhội những kiến thức cơ bản

về văn học Việt Nam trongtiến trình lịch sử Đồngthời, có thể rèn luyện vànâng cao các kỹ năng nhậnthức, đánh giá các hiệntượng văn học, kỹ năngxây dựng và tạo lập vănbản

 Nhóm 5: Câu e

Ο Phương tiện và cáchthức giao tiếp

- Dùng nhiều thuật ngữvăn học

- Các câu văn mang đặcđiểm của văn bản khoahọc: Cấu tạo phức tạp,nhiều thành phần, nhiều vếnhưng mạch lạc và chặtchẽ

- Kết cấu của văn bản rõràng: Có hệ thống đề mụclớn nhỏ, hệ thống luậnđiểm chặt chẽ, dùng cácchữ số để đánh dấu đềmục

Ο HS1

Ο HS2

Ο HS3

Trang 28

trao đổi thông tin

của con người

trong xã hội, được

(Xem phụ lục 1)

? HS đọc phần ghi nhớ

? HS về nhà học bài và

soạn bài Khái quát văn

học dân gian Việt Nam.

Ở tiết Tiếng Việt trướcchúng ta đã tìm hiểu vàphân tích kĩ kiến thức cơ

bản của bài học Hoạt

động giao tiếp bằng ngôn ngữ Để các em

nắm vững hơn nhữngkiến thức đã học Hômnay, chúng ta sẽ tiếp tục

tìm hiểu phần Luyện tập.

? Chia lớp thành 5nhóm (Như các giờ họctrước), mỗi nhóm sẽ thảoluận một bài tập theotrình tự từ 1 đến 5 Thờigian thảo luận là 10 phút

Riêng nhóm 4 và nhóm 5

sẽ thảo luận bài tập 4 và

5 theo gợi ý ghi ở bảngphụ.(Xem phụ lục2)

Ο Câu b:

Thời điểm giao tiếp là

“Đêm trăng thanh” Thời

điểm đó thích hợp cho việcbộc bạch thật sự, tình cảmgiữa nam và nữ

Ο Câu c:

Nhân vật “anh” nói đến việc “Tre non đủ lá” và đặt ra vấn đề “Nên

Trang 29

phút

Nhận xét Diễn giảng thêm câu

d Sở dĩ cách nói của

“anh” phù hợp với nội

dung và mục đích giaotiếp, bởi vì cách nói đómang màu sắc vănchương, vừa có hình ảnh,vừa đậm đà sắc thái tìnhcảm, tế nhị mà vẫn rõràng

Cách nói của “anh” rất

phù hợp với nối dung vàmục đích giao tiếp

 Nhóm 2: Bài tập 2

Ο Câu a:

Trong cuộc giao tiếp, cácnhân vật giao tiếp đangthực hiện hành động giaotiếp bằng lời nói: Chào,chào đáp, khen, hỏi, trả lời

Ο Câu b:

Cả 3 câu trong lời nói củaông già đều có tính hìnhthức của câu hỏi nhưng ởcâu thứ 3 mới nhằm mụcđích hỏi Cho nên, ngườinghe chỉ trả lời đúng ở câuhỏi này Còn ở câu 1 chỉ làlời chào đáp lại, câu thứ 2

là lời khen

Ο Câu c:

Lời của 2 nhân vật đã bộc

lộ tình cảm, thái độ vàquan hệ của hai người với

Trang 30

độ yêu quý, trìu mến củaông đối với cháu.

 Nhóm 3: Bài tập 3

Ο Câu a:

Thông qua hình tượng

“Bánh trôi nước”, tác giả

muốn bộc bạch với ngườiđọc về vẻ đẹp, về thânphận chìm nổi của ngườiphụ nữ nói chung và củatác giả nói riêng Đồngthời khẳng định phẩm chấttốt đẹp của người phụ nữ

Ο Câu b:

Người đọc căn cứ vào cácphương tiện ngôn ngữ như:

“Trắng”, “Tròn”, “Bảy nổi ba chìm”, “Tấm lòng son”,…để nói lên vẻ đẹp

hình thể và số phận hẩmhiu và vẻ đẹp về phẩm chấtcủa người phụ nữ

 Nhóm 4: Bài tập 4

(HS sẽ viết thông báo ngắntheo gợi ý của GV theophần phụ lục 4)

 Nhóm 5: Bài tập 5

Ο Câu a:

Nhân vật giao tiếp: Bác Hồ

là Chủ tịch nước viết thưcho học sinh cả nước – thế

hệ chủ nhân tương lai của

Trang 31

Nhận xét, đánh giákết quả thảo luận củatừng nhóm Sau đó, chođiểm thưởng khi cầnthiết.

Do đó, trong thư khẳngđịnh quyền lợi và nhiệm

vụ của học sinh

Ο Câu c:

Nội dung giao tiếp: Thưnói đến niềm sung sướng,nhiệm vụ và trách nhiệmcủa học sinh Cuối thư làlời chúc của Bác đối vớihọc sinh

Ο Câu d:

Mục đích giao tiếp: Chúcmừng học sinh nhân ngàykhai trường đầu tiên củanước Việt Nam dân chủcộng hòa và trao nhiệm vụnặng nề nhưng vẻ vangcho học sinh

Ο Câu e:

Thư Bác viết với lời lẽchân tình, gần gũi, nghiêmtúc, thể thức của văn bảnđúng thể thức của một bứcthư

4 Củng cố, dặn dò: (5 phút) Để củng cố kiến thức học sinh, giáo viên hỏi lại kiến

thức cũ Theo em, diễn biến của một hoạt động giao tiếp diễn ra chịu ảnh hưởng bởinhững nhân tố nào? Cho học sinh sơ đồ khuyết (Xem phụ lục 4) Sau đó, gọi 2 HSlên điền và sơ đồ còn khuyết cho đầy đủ

HS về nhà xem phần Luyện tập vừa làm và chuẩn bị bài Văn bản.

Trang 32

4.2 VĂN BẢN

(2 tiết)

I Mục đích, yêu cầu:

1 Kiến thức: Nắm được khái niệm văn bản, những đặc điểm chủ yếu của văn bản

và sự phân loại văn bản theo phong cách chức năng ngôn ngữ

2 Kĩ năng: Biết phân tích văn bản, bước đầu biết nhận diện đặc điểm của văn bản

theo phong cách chức năng ngôn ngữ, vận dụng đặc điểm của văn bản vào quá trìnhviết văn bản

3 Thái độ: Có ý thức cao khi tiếp xúc và sử dụng văn bản, trân trọng hơn Tiếng

Việt và nâng cao ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

III Phương tiện - đồ dùng dạy học:

Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án, bảng phụ

IV Tiến trình bài dạy:

1 Kiểm tra bài cũ: Không kiểm tra bài cũ vì tiết trước hướng dẫn học sinh Luyện

tập

2 Vào bài: Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể tiếp xúc với nhiều loại văn

bản như: Đơn xin nghỉ học, thư từ, một câu ca dao hay tục ngữ, một bài thơ,… Vậynhững loại văn bản đó là gì và có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống? Để các em

hiểu rõ hơn về các loại văn bản, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu bài Văn bản.

3 Nội dung bài dạy:

Thời

gian Nội dunglưu bảng Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh15

phút I Khái niệm, đặcđiểm văn bản:

1 Khái niệm văn

? Chia lớp thành 5nhóm, thảo luận các câuhỏi sau:

? Mỗi văn bản trênđược tạo ra trong loạihoạt động nào và để đápứng nhu cầu gì?

? Những văn bản trên

đề cập đến vấn đề gì vàvấn đề đó được triển khainhư thế nào?

? Ở văn bản 2, 3 nộidung văn bản được triển

Ο HS

 Nhóm 1: Bài tập 1

Ο Mỗi văn bản đều đượctạo ra trong hoạt động giaotiếp ngôn ngữ giữa mọingười trong cuộc sống xãhội

Ο Đáp ứng nhu cầu giaotiếp của con người: Traođổi thông tin (Văn bản 1),biểu lộ tình cảm thái độ(Văn bản 2), hướng tới

(Văn bản 3)

Trang 33

tổ chức theo kết cấu 3phần như thế nào?

? Về hình thức, văn bản

3 có dấu hiệu mở đầu vàkết thúc như thế nào?

? Những văn bản trênđược tạo ra nhằm mụcđích gì?

Thời gian thảo luận là 4phút

Nhận xét

Nhận xét

 Nhóm 2: Bài tập 2

Ο Những vấn đề được đềcập đến: Nhận thức có tínhkinh nghiệm, môi trườngluôn ảnh hưởng đến cá thể(Văn bản 1); tiếng nói thanthân trách phận của ngườiphụ nữ trong xã hội cũ khikhông tự làm chủ cuộc đờimình (Văn bản 2); Kêu gọitoàn quốc kháng chiếnchống Pháp cứu nước (Vănbản 3)

Ο Mỗi văn bản đều mangtính nhất quán trong việctriển khai một vấn đề Cáccâu đó có quan hệ rõ ràng

và được liên kết với nhaurất chặt chẽ, cùng thể hiệnmột chủ đề

 Nhóm 3: Bài tập 3

Ο Trong văn bản 2, vănbản 3 nội dung của vănbản được triển khai mạchlạc Ở văn bản 2, hai cặpcâu ca dao có sự lặp lại cấutrúc ngữ pháp và lặp lại ý

Trang 34

Ο Ở văn bản 3 được kếtcấu theo 3 phần: Phần 1trình bày thái độ của ta vàđịch; phần 2 kêu gọi toàndân, toàn quân chốngPháp; phần 3 khẳng địnhthắng lợi của cuộc khángchiến chống Pháp.

 Nhóm 4: Bài tập 4

Ο Về hình thức văn bản 3

có dấu hiệu mở đầu bằngnhan đề “Lời kêu gọi toànquốc kháng chiến” và hôngữ hướng tới đối tượnggiao tiếp “Đồng bào toànquốc” và dấu hiệu kết thúc

là (Ngày, tháng, năm và kítên)

 Nhóm 5: Bài tập 5

Ο Mỗi văn bản được tạo

ra nhằm mục đích:

-Truyền đạt một kinhnghiệm, một nhận định(Văn bản1)

-Biểu lộ cảm xúc và thânphận phụ thuộc không tựquyết định số phận củamình (Văn bản 2)

-Kêu gọi hành động chốngPháp cứu nước (Văn bản3)

Ο Văn bản là sản phẩmcủa hoạt động giao tiếp

Trang 35

∆ GV sẽ trình bày bảngkhuyết so sánh giữa vănbản 1, 2 với văn bản 3trên giấy A0 HS lênbảng điền thông tin chohoàn chỉnh.

(Xem phụ lục 1)

∆ GV sẽ trình bày vănbản thuộc môn toán (Xem phụ lục 2)

2 So sánh các văn bản2,3 (mục I) với một sốvăn bản khác

? HS so sánh văn bản 2,

3 với văn bản GV đãcho Sau đó, hãy rút ranhận xét về nhữngphương diện được nêu ởSGK (Trang 25) Thảoluận nhóm 4 HS Thờigian thảo luận là 5 phút

Nhận xét và yêu cầumột nhóm khác

bằng ngôn ngữ, gồm mộthay nhiều câu, nhiều đoạn

Ο Có 4 đặc điểm (Xemphần nội dung lưu bảng)

Ο Văn bản 3 thuộc lĩnhvực chính trị

Ο Văn bản SGK thuộclĩnh vực khoa học

Ο Văn bản đơn xin nghỉhọc hoặc giấy khai sinhthuộc lĩnh vực hành chính

Ο Câu a: Phạm vi sử dụngtrong hoạt động giao tiếp

xã hội: văn học, chính trị,khoa học, hành chính

 Nhóm 2:

Ο Câu b: Mục đích giao

Trang 36

Nhận xét

Nhận xét

Nhận xét

Ngoài ra, còn có các

loại văn bản thuộc phong

cách sinh hoạt và phong

cách báo chí (Bài này

không đề cập)

tiếp cơ bản:

- Bộc lộ cảm xúc (Văn bản2)

- Kêu gọi toàn quốc khángchiến (Văn bản 3)

- Truyền thụ kiến thứckhoa học (Văn bản SGK)

- Trình bày những vấn đềthuộc lĩnh vực hành chính,

tổ chức chính quyền, Nhànước (Đơn xin phép haygiấy khai sinh)

 Nhóm 3: câu c

Ο Lớp từ ngữ riêng được

sử dụng:

- Lớp từ chính trị, xã hội(Văn bản 3)

- Dùng nhiều từ ngữ khoahọc (Văn bản SGK)

- Dùng nhiều từ ngữ hànhchính (Đơn xin phép, khaisinh)

 Nhóm 4: câu d

Ο Kết cấu:

- Phụ thuộc vào từng thểloại: Thơ, kịch, truyện,…(Văn bản 2)

- Ba phần: Đặt vấn đề, giảiquyết vấn đề, kết luận(Văn bản 3)

- Chặt chẽ theo đoạn,chương, phần theo ba giaiđoạn: Mở bài, thân bài, kếtbài (Văn bản khoa học)

- Có tính khuôn mẫu (Đơnxin phép, giấy khai sinh)

Trang 37

có mấy loại văn bản, kểra?

Nhận xét

? HS đọc phần ghi nhớ

và cả lớp về nhà họcthuộc ghi nhớ và chuẩn

bị bài “Chiến thắng

Mtao Mxây” (Trích “ Đăm Săn”)

Ổn định lớp và kiểmtra bài cũ (7 phút)

? 1 HS đứng lên đọcđoạn văn trong SGK

? Hai HS cùng thảoluận những câu hỏi a, b,

c trong SGK Thời gianthảo luận là 3 phút Cuốicùng, GV sẽ nhận xét,đánh giá

- Câu 1 là câu chủ đoạn nói

về sự ảnh hưởng qua lạigiữa cơ thể và môi trường

- Câu 2, 3 ,4, 5 là nhữngcâu triển khai ý của câu 1bằng những dẫn chứng cụthể về quan hệ của lá câyvới những điều kiện củamôi trường

Ο HS2: Câu b

- Câu 1 là câu chủ đoạn nóiđến sự ảnh hưởng qua lạigiữa cơ thể và môi trường

- Câu 2 nói đến môi trườngảnh hưởng đến cơ thể

- Câu 3 nêu lên sự khác

Trang 38

đó, sắp xếp các ngữ liệutrên thành một văn bảnhoàn chỉnh, mạch lạc vàđặt nhan đề phù hợp vớivăn bản đó.

Nhận xét

Nhận xét: Cả hai cáchsắp xếp trên đều đúng

3 Bài tập 3, 4:

? HS về nhà làm bàitập 3, 4 trong SGK

Hướng dẫn cách làm cácbài tập:

Bài tập 3:

nhau của những lá câysống ở những môi trườngkhác nhau

- Câu 4 lấy dẫn chứng cụthể để chứng minh điều đãnêu ở câu 3

- Câu 5 tiếp tục lấy dẫnchứng để chứng minh điều

đã nêu ở câu 3

→ Tất cả các câu đều xoayquanh và làm rõ chủ đềnêu ở câu 1

Ο HS3: Câu c

Có thể đặt nhan đề cho

đoạn văn là “Mối quan hệ

giữa cơ thể và môi trường”.

Ο HS đọc

Ο HS1:

Có thể sắp xếp như sau:(1), (3), (5),(2), (4) và đặtnhan đề cho văn bản này là

“Hoàn cảnh ra đời và những nhận định về bài thơ “Việt Bắc””.

Ο HS2:

Có thể sắp xếp như sau:(1), (3), (4),(5), (2) và đặtnhan đề cho văn bản này là

“Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của bài thơ “ Việt Bắc””.

Trang 39

- SGK đã có câu chủđoạn.

- Viết những câu tiếptheo phải thống nhất nộidung với câu đã cho đểtạo nên một văn bảnhoàn chỉnh (Có thể viết

- Làm theo các bước như

đã yêu cầu của SGK

4 Củng cố, dặn dò:(3 phút) Yêu cầu HS về nhà làm bài tập trong SGK và mỗi em

sẽ sưu tầm mỗi loại văn bản theo phong cách ngôn ngữ ít nhất 1 văn bản, tiết sau

thầy sẽ kiểm tra những văn bản mà các em sưu tầm Chuẩn bị bài Truyện An

Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy.

Trang 40

4.3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT

(1 tiết)

I Mục đích, yêu cầu:

1 Kiến thức: Nhận rõ đặc điểm, các mặt thuận lợi, hạn chế của ngôn ngữ nói và

ngôn ngữ viết để diễn đạt tốt khi giao tiếp

2 Kĩ năng: Có kĩ năng trình bày miệng hoặc viết văn bản phù hợp với đặc điểm

ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

3 Thái độ: Có ý thức, thói quen nói và viết phù hợp với từng dạng ngôn ngữ.

III Phương tiện - đồ dùng dạy học:

Sách giáo khoa, Sách giáo viên, giáo án, biểu bảng

IV Tiến trình bài dạy:

1 Kiểm tra bài cũ (5 phút)

2 Vào bài: Giao tiếp là hoạt động giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Con

người muốn có sự hiểu biết thì phải thông qua một phương tiện giao tiếp cụ thể Đó

là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Vậy giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết có

những đặc điểm gì và có gì đáng chú ý? Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài “

Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết”.

3 Nội dung bài dạy:

Nhóm A1 và nhóm A2cùng làm trích văn 1(Phụ lục 1) Nhóm B1

và nhóm B2 làm tríchvăn 2 (Phụ lục 1)

Thời gian cho 4 nhóm

là 8 phút

? Sau 8 phút, giáoviên yêu cầu nhóm Atrao đổi bài tập vớinhóm B Nếu có bổsung ghi dưới chỗtrống còn lại trongbảng phụ bằng viết

 Học sinh thảoluận Ghi vào bảngphụ, ghi tên nhóm

cụ thể

 Học sinh thảoluận, sửa chữa, bổsung

Ngày đăng: 26/10/2014, 23:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   thể   và   số   phận   hẩm hiu và vẻ đẹp về phẩm chất của người phụ nữ. - De tai Van dung PPDH tich cuc vao mon Tieng Viet
nh thể và số phận hẩm hiu và vẻ đẹp về phẩm chất của người phụ nữ (Trang 30)
SƠ ĐỒ MỐI QUAN HỆ HỌ HÀNG CỦA TIẾNG VIỆT - De tai Van dung PPDH tich cuc vao mon Tieng Viet
SƠ ĐỒ MỐI QUAN HỆ HỌ HÀNG CỦA TIẾNG VIỆT (Trang 78)
Hình thức - De tai Van dung PPDH tich cuc vao mon Tieng Viet
Hình th ức (Trang 83)
Hình thức - De tai Van dung PPDH tich cuc vao mon Tieng Viet
Hình th ức (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w