Vùng đệm: 31.172 ha với chức năng làm giảm sức ép của cộng đồng lên Vườn quốc gia Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn hệ sinh thái núi đất nhiệt đới ẩm thường xanh và nửa lá dụng đặc trưng kiểu
Trang 1CÁC VƯỜN QUỐC GIA & KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VIỆT NAM
Trang 2VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN
Vị trí địa lý: Nằm trên địa bàn huyện Như Thanh và Như Xuân tỉnh Thanh Hoá
Quyết định thành lập: Quyết định số 33-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng
Chính phủ) ngày 27/01/1992
Toạ độ địa lý: 19 độ 31' đến 19 độ 43' vĩ độ Bắc và 105 độ 25' đến 105 độ 43 kinh độ Đông Với quy
mô diện tích: 16.634 ha Vùng đệm: 31.172 ha với chức năng làm giảm sức ép của cộng đồng lên Vườn quốc gia
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn hệ sinh thái núi đất nhiệt đới ẩm thường xanh và nửa lá dụng (đặc trưng
kiểu rừng Lim - Săng lẻ), bảo tồn các loài thú quý hiếm (voi, khỉ vàng, sóc bay, hổ, bảo)
Phục vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực nghiệm, bảo tồn nguồn gen
Tuyên truyền giáo dục bảo vệ thiên nhiên, môi trường Phát triển du lịch sinh thái
Cơ quan/cấp quản lý: Trực thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thanh Hoá
Hoạt động du lịch: Các hoạt động du lịch sinh thái nơi đây khá hấp dẫn hồ Bến En có nhiều đảo và
bán đảo với rừng cây tự nhiên Hồ bao quanh chân núi đá vôi với nhiều hình thù kỳ vĩ Hệ động, thực vật phong phú và đa dạng Bến En còn có nhiều hang động nổi tiếng như: Hang Ngọc, hang Cận, hang dơi Ngoài ra Bến En còn nằm gần nhiều điểm du lịc văn hoá nổi tiếng của Thanh Hoá khác như Phủ Sung, Phủ Na, Lò Cao chiến thắng…
Vườn quốc gia Bến En đã thành lập ban đón tiếp khách du lịch với nhiệm vụ hướng dẫn khách tham quan,học tập, nghiên cứu và làm công tác truyền thông giáo dục, bảo vệ môi trường và bảo tồn
Các giá trị đa dạng sinh học: Hệ sinh thái rừng Bến En đang bị tác động mạnh, tuy vậy mức độ đa
dạng sinh học ở đầy còn khá cao Theo các báo cáo khoa học đã ghi nhân ở đây 737 loài thực vật (nhiều loài ứu thế như lim xanh, sấu, gội nếp, săng lẻ, chò chỉ ), 64 loài thú, 194 loài chim, 28 loài lưỡng cư và 58 loài cá nước ngọt, đặc biệt là sự đa dạng của công trùng cánh vảy 20 loài thú có tên
trong sách đỏ của IUCN trong đó quan trọng là loài vượn đen má trắng (Hylobates leucogenys) Trước
đây một trong những mục tiêu của Vườn là bảo tồn voi, nhưng từ năm 1993 đến nay không còn ghi nhận mặc dù có thể có 1 vài cá thể vẫn còn sống trong vùng đệm VQG
Các dự án có liên quan: Đã có nhiều dự án, chương trình được thực hiện tại Vườn quốc gia Bến En
như: Chương trình dự án vùng đệm, chương trình phục hồi sinh thái, dự án 661
Điều tra khu hệ động vật, đánh giá tác động của dân vùng đệm để xây dựng chiến lược bảo tồn Vườn quốc gia Bến En (Hội bảo vệ sinh thái Nhật Bản - Đại học Khoa học Tự nhiên - Vườn quốc gia Bến En) Dự án điều tra đa dạng sinh học tổ chức Frontier Việt Nam, 1997-1998
Dự án điều tra hổ (Cục Kiểm lâm - Đại học Lâm nghiệp - Vườn quốc gia Bến En, 1999)
Dân số trong vùng: Bến en thuộc 2 huyện Như Thanh và Như Xuân có 4 dân tốc: Mường, Thái, Kinh,
Thổ với tổng số dân 8 xã vùng đệm khoảng 30.200 người
VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Pù Mát nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Nghệ An, trên địa bàn 3 huyện: Con
Cuông, Tương Dương và Anh Sơn
Quyết định thành lập: Được thành lập theo quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ ngày 08/11/2001 về việc chuyển hạng Khu BTTN Pù Mát thành Vườn quốc gia
Toạ độ địa lý: Từ 18 0 46' đến 19 0 12' vĩ độ bắc và từ 104 0 24' đến 104 0 56' kinh độ đông.
Quy mô diện tích: Tổng diện tích của Vườn quốc gia Pù Mát là 91.113 ha, trong đó phân khu bảo vệ
nghiêm ngặt: 89.517 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 1.596 ha Vùng đệm của Vườn quốc gia Pù Mát
có diện tích 86.000 ha
Mục tiêu, nhiệm vụ:
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An trực tiếp quản lý Vườn
Ban quản lý: Đã được thành lập
Hoạt động du lịch:
Các giá trị đa dạng sinh học: Pù Mát là một trong những điểm được nghiên cứu rất kỹ về đa dạng
sinh học Cho đến nay đã có 1.144 loài thực vật bậc cao có mạch được ghi nhận là phân bố ở Pù Mát
Trong đó có 3 loài là mới cho khoa học: Cleistanthus sp nov., Phyllagathis sp nov và Phrynium
Trang 3pumatensis Kiểu rừng đặc trưng nhất là rừng thường xanh trên đất thấp với ưu thế của các cây họ dầu Dipterocarpaceae (Hopea spp và Dipterocarpus spp.), Dẻ Fagaceae (Quercus spp., Lithocarpus spp
và Castanopsis spp.) và Long não Lauraceae ( Cinnamomum spp và Litsea spp ).Theo nghiên cứu của các nhà khoa học ở đây có 3 loài thú đặc hữu Đông Dương: Sao La Pseudoryx nghetinhensis, thỏ sọc Bắc bộ Nesolagus sp nov Vượn đen má trắng Hylobates leucogenys, má hung Hylobates
gabriellae Ngoài ra còn có các ghi nhận về mang lớn, mang trường sơn, voọc chà vá chân nâu, hổ, voi,
cầy vằn Tổng số có 259 loài chim được phát hiện, trong đó 22 loài có nguy cơ tuyệt chủng, nhiều loài chim quý, hiếm như Trĩ sao, niệng cổ hung
Các dự án có liên quan: Dự án đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Pù Mát đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt vào năm 2002
Dự án FSNC đang được tiến hành nhằm bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn với sự tài trợ của Uỷ ban Châu Ẩu, với tổng số tiền là 18,7 Euro (thực hiện từ 5/1997)
(Nguồn : Vườn quốc gia Pù Mát Việt Nam)
VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Vũ Quang nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, cách thị xã Hà Tĩnh 75 km.
Phía đông giáp xã Hoà Hải, huyện Hương Khê, phía Tây giáp xã Sơn Kim huyện Hương Sơn, phía Nam giáp biên giới Việt - Lào, phía bắc giáp xã Sơn Tây huyện Hương Sơn và Hương Đại, Hương Minh huyện Vũ Quang
Quyết định thành lập: Được thành lập theo quyết định số 102 độ 2002/QĐ-TTg ngày 30/7/2002 cảu
Thủ tướng chính phủ về việc chuyển hạng Khu BTTN Vũ Quang thành Vườn quốc gia
Toạ độ địa lý: Từ 18 độ 09' đến 18 độ 26' vĩ độ bắc và từ 105 độ 16' đến 105 độ 33' kinh độ đông Quy mô diện tích: Tổng diện tích là 55.028 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 38.800 ha,
phân khu phục hồi sinh thái là 16.184 ha và phân khu dịch vụ hành chính là 44 ha Vùng đệm Vườn quốc gia Vũ Quang có diện tích là 6.245 ha, bao gồm một số xã thuộc huyện Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng Bắc Trường Sơn, bảo tồn sự đa dạng sinh
học đặc trưng của của vùng rừng tự nhiên phía Tây Nam khu IV, thuộc dãy trường Sơn, tiếp giáp biên giới Việt - Lào
Góp phần duy trì sự cân bằng về sinh thái, tăng độ che phủ của rừng, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển bền vững về kinh tế của các tỉnh Khu IV, đồng thời phát huy các giá trị sinh thái phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch sinh thái
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Ban quản lý: Đã có ban quản lý được thành lập từ năm 1995 với biên chế 64 người
Các giá trị đa dạng sinh học: Theo kết quả điều tra của các chuyên gia trong nước và quốc tế Vũ
quang có 76% diện tích rừng là rừng tự nhiên và được chia thành 2 kiểu rừng chính: Rừng kín thường xanh á nhiệt đới phân bố trên độ cao 1000m chiếm 20% diện tích Vườn với 2 loài ưu thế là Pơ Mu
Fokiania hodginsii và Hoàng Đàn
Cupressus torulosa ; Kiểu rừng xanh kín
nhiệt đới dưới 1000m, với trữ lượng cao,
nhiều cây gỗ lớn Đã thống kê được 465 loài
thực vật bậc cao với nhiều loài quý hiếm
như: Cẩm lai, Lát hoa, lim, giổi, Pơ mu,
Hoàng đàn, Trầm hương và nhiều cây dược
liệu quý
Động vật rừng đã thống kê được 70 loài thú
trong đó nhiều loài quý hiếm như: Sao la
Pseudoryx
nghetinhensis , Mang lớn Megamuntiacus
vuquangensis , hổ, voi Elephas maximus ,
bò tót, voọc chà vá
(Nguồn : Vườn quốc gia Vụ Quang Việt Nam)
Trang 4VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA-KẺ BÀNG
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc địa giới hành chính các xã: Tân Trạch,
Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch và Sơn Trạch huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Quyết định thành lập: Được thành lập theo quyết định số 189/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ về việc chuyển hạng Khu BTTN Phong Nha - Kẻ Bàng thành Vườn quốc gia
Toạ độ địa lý: Từ 17 độ 21' đến 17 độ 39' vĩ độ bắc và từ 105 0 57' đến 106 0 24' kinh độ đông.
Quy mô diện tích: Tổng diện tích là 85.754 ha, bao gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 64.894 ha,
phân khu phục hồi sinh thái là 17.449 ha, phân khu dịch vụ hành chính 3.411 ha
Mục tiêu, nhiệm vụ: Tổ chức bảo vệ tài nguyên rừng, các hệ sinh thái phong phú và đa dạng trong
phạn vi rang giới của Vườn
Bảo vệ các giá trị khoa học đối với khu hệ động, thực vật điển hình của miền Trung Việt Nam, đặc biệt các loài linh trưởng và các loài thú mới phát hiện
Xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho việc nghiên cưu, bảo tồn hệ động vật, thực vật Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu trong và ngoài nước, phục vụ đào tạo, tham quan học tập
Khai thác thế mạnh của cảnh quan thiên nhiên để phãt triển du lịch sinh thái, cải thiện việc làm, nâng cao đời sống cộng đồng, góp phần bảo vệ môi trường và kinh tế - xã hội
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình chịu trách nhiệm quản lý Vườn quốc gia
Phong Nha - Kẻ Bàng
Hệ thống hang động: Các nhà khoa học Việt Nam và Anh đã tiến hành khảo sát, khám phá 20 hang
độngvới tổng chiều dài 70 km, trong đó hang động nổi bật nhất là động Phong Nha Động Phong Nha dài 7729m, có 14 hang, có dòng sông ngầm dài 13.969 m Các thạch nhũ trong động trải qua hàng triệu năm kiến tạo từ nước có hòa tan đá vôi (CaHCO3) mà tích tụ thành những hình hài lạ mắt như hình sư
tử, hình ngai vàng, hình đức Phật Tên gọi Phong Nha có nghĩa là gió (thổi luồn qua khe đá trong động) và răng (thạch nhũ trong động tua tủa như hàm răng)
Động Phong Nha được có 7 cái nhất: (1) Hang nước dài nhất; (2) Cửa hang cao và rộng nhất; (3) Bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; (4) Hồ ngầm đẹp nhất; (5) Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; (6) Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; (7) Hang khô rộng và đẹp nhất
Hệ động thực vật: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là rừng nguyên sinh trên núi đá vôi điển hình
với các loại thực vật đặc trưng như: Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Chò đãi (Annamocarya sinensis), Chò nước (Plartanus kerii) và Sao (Hopea odorata) Thực vật có mạch 152 họ, 511 kiểu
gen, 876 loài thực vật có mạch, trong dó có 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 25 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó có Sao và Dầu (Dipterocarpaceae) Phong Nha -
Kẻ Bàng là nơi sinh sống của 113 loài thú lớn, 302 loài chim, trong đó có 35 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong Sách đỏ thế
giới; 81 loài bò sát lưỡng cư (có 1 loài thằn
lằn mới phát hiện ở đây) (18 loài trong Sách
đỏ Việt Nam và 6 loài Sách đỏ thế giới);
259 loài bướm; 72 loài cá, trong đó có 4
loài đặc hữu Việt Nam Năm 1996, ở đây có
loài cá mới phát hiện ở Việt Nam Linh
trưởng có 10 bộ linh trưởng, chiếm 50%
tổng số loài thuộc bộ linh trưởng ở Việt
Nam, 7 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam,
đặc biệt là Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus
laotum hatinhensis), Sao la, Mang Phong
Nha - Kẻ Bàng được đánh giá là có hệ tự
nhiên đa dạng nhất trong tất cả các vườn
quốc gia và khu dự trữ sinh quyển quốc gia
trên thế giới
Nguồn : Vườn quốc gia Phong Nha Việt Nam
Trang 5VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ
Vị trí địa lý: Là một phần của dãy Trường Sơn bắc, Vườn Quốc gia Bạch Mã nằm trên địa phận huyện
Phú Lộc và Nam Đồng, tỉnh Thừa Thiên Huế với các đỉnh núi cao trên 1.000 m chạy theo hướng từ tây sang đông, thấp dần ra đến biển đông (đỉnh Bạch Mã cao 1.450m)
Quyết định thành lập: Quyết định của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng số 214-CT ngày 15 - 7 – 1991 Toạ độ địa lý: Từ 16 độ 05' đến 16 0 15' vĩ độ Bắc và từ 107 độ 43' đến 107 độ 53' kinh độ Đông Quy mô diện tích: 22.030 ha Vùng đệm: Vùng đệm bao quanh Vườn quốc gia, tính từ ranh giới Vườn
(rộng nhất là 9 km, hẹp nhất là 0,51 km) với diện tích là 21.300 ha
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn các hệ sinh thái của vùng chuyển tiếp khí hậu giữa miền bắc và miền
nam, bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm tiêu biểu của Vườn (Trĩ sao, Gà lôi lam mào trắng, Gà
lôi lam mào đen, Voọc chà vá chân nâu, Sao la, Trầm hương, Kim giao ), bảo vệ các cảnh quan tự
nhiên trong vườn, phục hồi lại những khu rừng đã bị tàn phá
Tham gia nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu cơ bản và tổ chức dịch vụ nghiên cứu theo chương trình
và hợp đồng nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen, pháp triển lâm sinh Thực hiện các chương trình tuyên truyền, giáo dục bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch sinh thái
Cơ quan/cấp quản lý: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm quản lý Vườn quốc
gia này Ban quản lý: Ban giám đốc Vườn quốc gia
Hoạt động du lịch: Giá trị du lịch của Bạch mã là cảnh quan tự nhiên và khí hậu (nhiệt độ 18 độ C - 23
độ C), với nhiều rãy núi cao, chia cắt tạo ra các khu hệ động, thực vật rất phong phú và đa dạng Dịch
vụ du lịch sinh thái ở đầy đã hình thành một số tuyến du lịch, phục vụ ăn uống, nghỉ dưỡng Với nhiều tuyến đường như: Đường mòn trĩ sao, đường mòn thác đỗ quyên, đường mòn thác ngũ hồ, đường mòn Hải Vọng Đài và một số địa điểm khác Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ở đây khá phát triển như một số biệt thự thời Pháp đã được phục hồi làm trạm nghiên cứu, bãi cắm trại
Các giá trị đa dạng sinh học: Vườn quốc gia Bạch Mã với hệ thực vật rất phong phú và đa dạng,
những kết quả nghiên cứu cho thấy nơi đây có tới 1.406 loài thực vật Hơn 30 loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam và có nguy cơ tuyệt chủng như Vàng đắng Coscinium fenestratum, Hoàng tinh hoa trắng Disporopsis longifolia, Lan kim tuyến, Đỗ quyên, Trầm hương Aquilaria crassna, Đỉnh tùng Cephalotaxus hainanensis
Hệ động vật cũng rất phong phú và đa dạng với nhiều loài quý hiếm và đặc hữu Các nhà khoa học đã ghi nhận được 931 loài động vật gồm: 83 loài thú, 333 loài chim, 31 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 39 loài cá nước ngọt, 218 loài bướm, 178 loài côn trùng cánh cứng, 28 loài mối, trong đó có 68 loài đã được ghi tên trong sách đỏ Việt Nam Một số loài linh trưởng đặc biệt quý hiếm như Voọc ngũ sắc
(Pygathrixnemaeus), vượn đen má trắng (Hylobates leucogenis), Culi lớn, Culi nhỏ, Gấu Hổ vẫn có
ghi nhận tại vườn, ngoài ra Bạch Mã còn là nơi cư trú của Sao la (Pseudorys nghetinhensis), Mang
trường sơn (Muntiacus truongsonensis) và Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), đây là những
loài thú lớn mới phát hiện ở Việt Nam
Các dự án có liên quan: Có nhiều dự án đã
được thực hiện như: Dự án sức khoẻ cộng
đồng tại vùng đệm Dự án tăng cường năng
lực quản lý rừng ở Thừa Thiên Huế (SNV tài
trợ) Dự án pháp triển Vườn quốc gia Bạch
Mã có sự tham gia của cộng đồng do WWF
phối hợp thực hiện (trợ giúp tài chính của liên
minh Châu Âu, 1995 - 1997)
Dân số trong vùng:Vùng đệm cảu Vườn quốc
gia Bạch Mã bao gồm 9 xã, 2 thị trấn thuộc
hai huyện Phú Lộc, Nam Đông, tỉnh Thừa
Thiên Huế và một xã thuộc huyện Hoà Vang,
tỉnh Quảng Nam Dân số trong vùng với
khoảng 62.774 người đa số là người kinh,
ngoài ra còn có dân tộc Katu, Mường, Vân kiều
Nguồn : Vườn quốc gia Bạch Mã Việt Nam
Trang 6VƯỜN QUỐC GIA CHƯ MOM RAY
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Chư Mom Ray nằm ở phía bắc Tây Nguyên và phía tây của tỉnh Kon
Tum, trên địa bàn 2 huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi
Quyết định thành lập: Quyết định số 103/2002/QĐ-TTg ngày 30/07/2002 về việc chuyển hạng khu
BTTN Chư Mom Ray thành Vườn quốc gia Chư Mom Ray
Toạ độ địa lý: Từ 14 độ 18' đến 14 độ 38' vĩ độ bắc và từ 107 độ 29' đến 107 độ 47' kinh độ đông Quy mô diện tích: Tổng diện tích là 56.621 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 40.566, Phục hồi sinh
thái: 12.137 ha và dịch vụ - hành chính: 3.918 ha) Vùng đệm của Vườn quốc gia Chư Mom Ray có diện tích 188.794 ha nằm trên địa bàn 8 xã, 1 thị trấn thuộc huyện Sa Thầy và Ngọc Hồi
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn đa dạng sinh học, các loài động, thực vật rừng quý hiếm, các thảm thực
vật rừng nguyên sinh, các sinh cảnh quan trọng
Bảo vệ, phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn thuỷ điện Ya Ly, các con sông trong vùng, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển bền vững kinh tế tự nhiên
Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vùng bắc Tây Nguyên
Chuẩn bị cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch sinh thái, góp phần nâng cao đời sống cộng đồng Tham gia hợp tác quốc tế về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên liên biên giới Việt Nam - Lào -Căm
Pu Chia
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ Ban nhân dân tỉnh Kon Tum Đã có Ban quản lý với các phòng chức năng,
một hạt kiểm lâm với 9 tram kiểm lâm
Hoạt động du lịch: Quốc lộ 14C theo quy hoạch sẽ nối Kon Tum với miền Bắc và miền Nam Việt
Nam Đặc biệt cửa khẩu quốc tế Bờ Y - Ngọc Hồi sẽ hoàn thành trong khoảng 1 vài năm tới tạo điều kiện cho Chư Mom Ray phát triển du lịch sinh thái Hơn nữa sân bay Pleiku cách Vườn quốc gia khoảng 1 giờ ô tô sẽ tạo điều kiện cho du khách trong và ngoài nước tham quan Vườn Quốc gia
Các giá trị đa dạng sinh học: Theo phân loại IUCN năm 1998 Chư Mom Ray là nơi duy nhất bảo tồn
rừng trến núi đá cao Granít Hệ động, thực vật nơi đây rất phong phú và đa dạng với 12 kiểu hệ sinh thái từ rừng kín nguyên sinh thường xanh lá rộng trên núi trung bình đến rừng thưa thường xanh, rừng hỗn giao, đồng cỏ, đồng rêu Nhiều loài quý hiếm nhe Thông nàng, kim giao, thông tre, thích đơn, cẩm lai, trắc, gáo
Đợt khảo sát 1999-2000 ghi nhận 1.491 loài thực vật thuộc hạt trần, hạt kín Phong lan, họ cây Dầu
Dipterocapaceae trong đó có 2 loài đặc hữu Kon Tum, 47 loài đặc hữu Nam Trường Sơn và 68 loài
đặc hữu của Việt Nam
Kết quả khảo sát trong nhiều năm cho thấy cho đến nay đã ghi nhận ở đây 97 loài động vật và 210 loài chim khác nhau, Ngoài ra còn có 45 loài lưỡng cư, 17 loài bò sát Các loài thú lớn quý hiếm và là đối
tượng bảo tốn như: Voi châu Á (Elephas maximum), Bò tót (Bos gourus), Bò rừng (Bos javanicus), châu rừng (Bubalus bubalis), Bò xám (Bos sauveli) Hổ, Voọc chà và chân nâu (Pygathrix
nemaeus) Chư Mom Ray còn là một bộ sưu tập các loài động vật khác như Mang trường sơn, chó sói,
báo hoa mai, gấu ngựa, mèo rừng, culi, rắn hổ mang chúa, rùa núi viền, niệng, công, trĩ sao, gà tiền
Dân số trong vùng: Dân số vùng đệm bao
gồm 8 xã,1 thị trấn với tổng số 24.690 nhân
khẩu gồm các dân tộc Kinh, Gia-rai, H'Lang,
Rơ mâm, Mường, Tày, và Thái Đời sống
cộng đồng địa phương còn khó khăn, chủ
yếu làm nương rẫy và sống vào nghề rừng
Nguồn : Vườn quốc gia Chư Mom Rây Việt
Nam
Trang 7VƯỜN QUỐC GIA YOOK DON
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Yook Don nằm trên địa bàn 4 xã thuộc 3 huyện: Xã Krông Na, huyện
Buôn Đôn, xã Ea Bung, Chư M'Lanh huyện Ea Súp và xã Ea Pô huyện Cư Jút - tỉnh Đắk Lắk
Quyết định thành lập: Luận chứng kinh tế kỹ thuật Vườn quốc gia Yok Don được phê duyệt theo
Quyết định số 352/CT ngày 29/10/1991 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Ngày 24/6/1992 Bộ Lâm nghiệp ra quyết định 301/TCLĐ thành lập Vườn quốc gia Yok Don trực thuộc Bộ lâm nghiệp Vườn quốc gia Yook Don được mở rộng theo quyết định số 39/2002/QĐ-TTg ngày 18/3/2002 của Thủ tướng Chính Phủ
Toạ độ địa lý: Từ 12 độ 45' đến 13 độ 10' vĩ độ bắc và từ 107 độ 29' đến 107 độ 48' kinh độ đông Quy mô diện tích: Được mở rộng với diện tích 115.545 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là
80.947ha, phân khu phục hồi sinh thái là 30.426ha và phân khu dịch vụ hành chính là 4.172 ha Vùng đệm: có diện tích 133.890 ha, bao gồm các xã bao quanh Vườn quốc gia
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ các hệ sinh thái rừng phong phú và đa dạng trong
pham vi ranh giới Vườn quốc gia
Bảo tồn các giá trị khoa học đối với hệ động, thực vật điển hình của Khu vực Tây Nguyên, đặc biệt các loài thú lớn như: Voi, Bò tót, bò rừng, hổ, báo, mang lớn
Xây dựng cơ sở hạ tầng Vườn, tạo điều kiện cho nghiên cứu, bảo tồn hệ động, thực vật rừng Đồng thời tạo thuận lợi cho đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khao học trong và ngoài nước, tham quan học tập Khai thác thế mạnh của thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái, hướng dẫn người dân trong việc tạo việc làm, tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch, cải thiện đời sống cho đồng bào, phát triển kinh tế -
xã hội địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh quốc phòng
Cơ quan/cấp quản lý: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ban quản lý: Đã được thành lập, gồm các phòng chức năng, Ban giám đốc, ban du lịch và Hạt kiểm
lâm trực thuộc Vườn
Hoạt động du lịch: Yook Don có mức độ đa dạng sinh học cao nên rất có tiềm năng về du lịch sinh
thái Đến với Yook Don du khách có thể đi dọc sông Sêrêpốc bằng thuyền để ngắm Vườn quốc gia hay
có thể cưỡi voi đi theo các tuyến du lịch độc đáo Bạn có thẻ đến thăm bản Đôn với đa số người dân tộc Lào có nghề săn voi truyền thống và các phong tục đậm đà bản sắc, hay thưởng thức những ly rựu cần Hay có thể ngủ lại trong những nếp nhà tranh, đắm mình trong những đêm họi Êđê, M'nông Cánh Buôn Ma Thuột 40 Km và TP Hồ Chí Minh nửa ngày đường đầy là điểm du lịch tiềm năng
Các giá trị đa dạng sinh học: Chứa đựng một hệ sinh thái rừng khộp rộng lớn Bảo tồn một hệ sinh
thái độc đáo điển hình cho 3 nước Đông Dương Đồng thời Vườn sẽ trở thành một bảo tàng sống sinh động cho việc nghiên cứu nguồn gốc lịch sử tiến hoá, diễn thế và mối quan hệ giữa rừng thường xanh với rừng khộp và giữa rừng khộp với rừng nửa rụng lá Các loài cây thường gặp là Dầu trà beng, Dầu long, Dầu đồng, Cẩm liên, Cà Chắc và Chiêu liêu Rừng thưa cây lá rộng rụng lá hơi khô nhiệt đới Các loài cây trên đều là cây gỗ quý và thuộc loại gỗ cứng dùng nhiều trong xây dựng Chúng có đặc tính hình thái chung là vỏ dày, chịu lửa rất tốt nên có thể sống sót sau nạn lửa rừng thường xuyên xảy
ra vào mùa khô Rừng kín lá rộng thường xanh
mưa ẩm nhiệt đới núi thấp : Cây gỗ đặc trưng của
kiểu rừng này là cây Săng đào (Hopea ferrea) và
Sao đen (Hopea odorata) Ven các sông suối là
rừng hành lang với ưu thế
của 2 loài Tre
Nguồn : Vườn quốc gia Yookdon Việt Nam
Trang 8VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN
Vị trí địa lý: Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã Yang Mao, Chư Drăm, Cư Vui,
Hoà Phong, Hoà Lễ, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông và các xã Yang Cao, Bôn Krang, Krông Nô, Đăk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Quyết định thành lập: Vườn quốc gia Chư Yang Sin được thành lập theo Quyết định số
92/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng Khu BTTN Chư Yang Sin thành Vườn quốc gia
Toạ độ địa lý: Từ 12 độ 14' đến 13 độ 30' vĩ độ bắc và từ 108 độ 17' đến 108 độ 34' kinh độ đông
Quy mô diện tích: Vườn quốc gia Chư Yang Sin có tổng diện tích: 58.947 ha (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 19.401 ha, phục hồi sinh thái: 39.526 ha, dịch vụ hành chính: 20 ha) Vùng đệm Vườn quốc gia Chư Yang Sin là 183.479 ha, nằm trên địa bàn các huyện Lạc Dương, Lâm Hà (Lâm Đồng), Huyện Krông Bông, Lắk (Đắk Lắk)
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo vệ mẫu chuẩn các hệ sinh thái rừng trên núi cao Tây Nguyên, bảo tồn các
loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, đặc hữu
Nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương Bảo vệ rừng đầu nguồn sông Srêpôk, Mê Kông, điều hoà và cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Lăk trực tiếp quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin.
Ban quản lý: Ban quản lý Vườn quốc gia đã được thành lập thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Đắk LắK
Hoạt động du lịch: Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm ngay cạnh thành phố Buôn Ma Thuột có vẻ đẹp
nên thơ của rừng nguyên sinh, Vườn có tiềm năng lớn về du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Ngoài ra nơi đây còn có các địa danh văn hoá lịch sử gắn liền với chiến thắng năm 1975 với nhiều màu sắc văn hoá cá dân tộc Ê Đê, Mơ Nông
Các giá trị đa dạng sinh học: Vườn quốc gia Chư Yang Sin có diện tích rộng lớn ở Tây Nguyên, rừng
tự nhiên ở đây còn giữ được vẻ hoang sơ hiếm thấy ở Việt Nam Sự đa dạng sinh học thể hiện bởi nhiều loại thảm thực vật khác nhau, sự phong phú của các loài động, thực vật: đã ghi nhận 876 loài thực vật bậc cao, đại diện cho các kiểu khí hậu tứ Á nhiệt đới đến nhiệt đới, trong đó có 143 loài đặc hữu của Việt Nam, đặc biệt một số loài rất quý: Thông Đà Lạt, Thông Lá dẹt, Pơ Mu, kim giao, Đỗ quyên Chư Yang Sin là điểm cuối cùng của dãy trường sơn thuộc Nam Tây Nguyên là điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học Theo như điều tra bước đầu đã có 46 loài thú, 212 loài chim (5 loài đặc hữu: Khướu đầu đen, Khướu đầu đen má xám, Mi núi bà, sẻ họng vàng, khướu mỏ dài) Tại đây còn có mặt
7 loài chim, 17 loài thú đang bị đe doạ tuyệt chủng Nơi đây sẽ là mẫu chuẩn hệ sinh thái Tây Nguyên
Các dự án có liên quan: Trước đây Birdlife International kết hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT Đắk
Lắk xây dựng một dự án nhỏ kéo dài trong 5 năm với sự tài trợ của Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) nhằm xây dựng khu BTTN Chư Yang Sin
Dân số trong vùng: Tình trạng
săn bắt, khai thác lâm sản là áp
lực lớn nhất của cộng đồng địa
phương lên Vườn quốc gia Mặc
dù nền kinh tế của người dân Ê
Đê và M'Nông đã chuyển dịch
theo hướng nông nghiệp mở rộng
nhưng đời sống vẫn còn nghèo và
chưa ổn đinh
Nguồn : Vườn quốc gia Chư Yang
Sin Việt Nam
Trang 9VƯỜN QUỐC GIA BIDOUP NÚI BÀ
Vị trí địa lý: Nằm trên địa bàn Huyện Lạc Dương và Huyện Đam Rông Tỉnh Lâm Đồng cách thành
phố Đà Lạt 50km theo tỉnh lộ 723
Quyết định thành lập: Quyết định số 1240/QĐ-TTg ngày 19/11/2004 của Thủ tướng chính phủ Về
việc “ Chuyển khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup Núi Bà thành Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà”
Toạ độ địa lý: Từ 12 độ 00' 00” đến 12 độ 52' 00” vĩ độ Bắc và từ 108 độ 17'00” đến 108 độ 42' 00” kinh độ Đông
Quy mô diện tích: 64.800 ha trong đó:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 28.731 ha;
- Phân khu phục hồi sinh thái: 36.059 ha;
- Phân khu dịch vụ, hành chính: 10 ha;
Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo tồn các hệ sinh thái rừng trong vùng khí hậu á nhiệt đới, núi cao và và các loài động thực vật rừng đặc hữu, quý hiếm gắn kết với các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
kế cận để tạo thành một vùng thiên nhiên rộng lớn, góp phần cho việc bảo tồn sinh học ở cao nguyên
Đà Lạt, vùng Nam Tây nguyên và vùng Nam Trung bộ.
- Góp phần phòng hộ đầu nguồn nước cho hệ thống sông Đồng Nai và các hồ chứa nước ở hạ lưu nhằm phục vụ các hoạt động kinh tế xã hội của Tỉnh Lâm Đồng, vùng Nam Tây nguyên, Đông Nam bộ và duyên hải cực Nam Trung bộ
- Bảo tồn các sinh cảnh rừng nguyên sinh để tôn tạo và phát triển kiến trúc đô thị của thành phố Đà Lạt, bảo tồn các đặc trưng văn hoá bản địa nơi cội nguồn của thành phố Đà Lạt, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và giáo dục về rừng nhiệt đới, phát triển du lịch sinh thái và góp phần củng cố an ninh quốc phòng của Tỉnh Lâm Đồng và vùng Tây nguyên
Thủ tướng chính phủ phê duyệt 9 chương trình hoạt động của Vườn quốc gia bao gồm:
• Chương trình bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học;
• Chương trình phục hồi sinh thái rừng;
• Chương trình phòng cháy chữa cháy rừng;
• Chương trình nghiên cứu khoa học;
• Chương trình phát triển du lịch sinh thái;
• Chương trình tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên;
• Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn vùng đệm;
• Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật;
• Chương trình hợp tác quốc tế
Cơ quan, cấp quản lý: Uỷ ban nhân dân Tỉnh Lâm Đồng trực tiếp quản lý Ban quản lý được thành
lập từ năm 1986, đến năm 2004 chuyển thành Vườn quốc gia Hiện nay Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà
có 66 cán bộ công nhân viên (với 2 Thạc sĩ, 29 Đại học) trong đó có 41 kiểm lâm viên
Hoạt động du lịch: Vườn có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, cảnh quan thiên nhiên đẹp
với nhiều thác nước có đủ điều kiện khai thác du lịch sinh thái Hiện nay đang xây dựng dự án du lịch sinh thái
Các giá trị đa dạng sinh học: Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà là một trong hai mươi tám vườn quốc
gia nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng Việt Nam Khu vực Bidoup – Núi Bà thuộc địa giới hành chính Huyện Lạc Dương Tỉnh Lâm Đồng chiếm gần trọn cao nguyên Langbiang (còn gọi là cao nguyên Lâm Viên) Nơi đây được các nhà khoa học đánh giá là một trong 221 trung tâm chim đặc hữu của thế giới và là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam (Khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ và cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam) Trong chương trình bảo tồn hệ sinh thái dãy Trường Sơn, khu vực Bidoup - Núi Bà được xác định nằm trong khối núi chính thuộc Nam Trường Sơn và là khu vực ưu tiên
số một trong công tác bảo tồn (khu vực SA3) Với 91% diện tích 64.800 ha của Vườn Quốc gia Bidoup
- Núi Bà là rừng và đất rừng Trong đó, chủ yếu là rừng nguyên sinh với rất nhiều loài động - thực vật khác nhau Có 1468 loài thực vật có mặt ở Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà Trong đó: 62 loài quý hiếm phân bố trong 29 họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của sách đỏ Việt Nam năm 2000, Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 22/04/2003 của Chính phủ và Hiệp hội Bảo
vệ thiên nhiên Quốc tế (IUCN) như: Thông đỏ (Taxus wallichiana), Calocedrus macrolepis, Fokienia
Trang 10hodginsii, Pinus dalatensis, Pinuskrempfii Riêng về đặc hữu hẹp, đã thống kê được 91 loài phân bố hẹp ở Lâm Đồng và các vùng phụ cận Có 28 loài được la tinh hoá như mẫu chuẩn gồm: dalatensis có 9 loài, langbianensis có 14 loài, bidoupensis có 5 loài Động vật có 52 loài (Chiếm 25% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong danh mục các loài động vật quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 của Chính phủ Có 36 loài (chiếm 17,31% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong sách Đỏ Việt Nam 2000 Có 26 loài (chiếm 12,5% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong danh lục sách Đỏ IUCN (2000) như Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Voọc vá chân đen (Pygathrix nigripes), Vượn đen má hung (Hylobates gabriellae), Gấu chó (Ursus malayanus), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Báo lửa (Catopumatemminckii), Voi (Elephas maximus), Sói lửa (Cuon alpinus), Bò tót (Bos gaurus), Trâu rừng
(Bubalusarnee), Sơn dương (Naemorhedus
sumatraensis), Hổ (Panthera tigris) Vườn quốc gia
Bidoup Núi Bà còn được đánh giá là vương quốc
của các loài lan rừng Việt Nam với trên 250 loài
Các dự án có liên quan: chưa có các dự án trong
nước và quốc tế về đa dạng sinh học
Dân số trong vùng: Có 3.100 hộ, 17.051 nhân
khẩu nằm trên địa bàn các xã Lát, Đa Sar, Đa nhim,
Đa
Chais, Đưng K'Nớ, thị trấn Lạc Dương thuộc
Huyện Lạc Dương và xã Đa Tông- huyện Đam
Rông tỉnh
Lâm Đồng Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 92%
Nguồn : Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà Việt Nam
VƯỜN QUỐC GIA NÚI CHÚA
Vị trí địa lý: Xã Khánh Hiệp, Khánh Hải; huyện Ninh Hải; tỉnh Ninh Thuận
Quyết định thành lập: Số 243/NN-PTLN/CV ngày 12/01/1998
Toạ độ địa lý: Vĩ độ 11 độ 35'40" đến 11 độ 48'24" vĩ độ Bắc; kinh độ 109 độ 03'36" đến 109 độ
14'24" kinh độ Đông
Quy mô diện tích: 29.673 ha.
Vùng đệm: Thuộc 3 xã : Tri Hải, Nhơn Hải, Phương Hải; diện tích 11.200 ha; dân số 4.141 hộ, 24.546
khẩu
Mục tiêu, nhiệm vụ:
Cơ quan/cấp quản lý: Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận
Ban quản lý: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận
Hoạt động du lịch:
Các giá trị đa dạng sinh học: Thảm thực vật rừng có 2 dạng rừng khô hạn và rừng thường xanh Đây
là một dạng kiểu rừng khô hạn duy nhất ở Việt Nam dạng khảm giữa nửa lá dụng và lá dụng trên đất thấm, gần biên giới Cambodia có diện tích trảng cỏ ngập nước Các loài cây gỗ ưu thế trong Vườn là vên vên Anisoptera costata , dẩu mít Dipterocarpus costatus , dẩu trai Dipterocarpus intricatus , sao đen Hopeaodorata , Trầm hương Aquilaria crassna , Hoàng đàn giả Dacrydium pierei , Kim giao
Podocarpusfleuryi …Khu hệ động vật ở Vườn quốc gia Núi chúa chưa được điều tra, nghiên cứu đầy
đủ nhưng theo một số nhà khoa học nơi đây vẫn tồn tại nhiều loài động vật quý hiếm như: Voọc và chân xám Pygathrix nigripes,gấu ngựa Ursus thibetanus, Rùa da Dermochelys coriacea, Đồi mồi dứa Chelonia mydas , Vích Carettacaretta Nhiều loài chim qúy hiếm vẫn còn hiện diện như: cốc biển bụng trắng Fregata andrewsi , gà lôi Lophura nythemera, phướn đất Carpococcyx renauldi, công Pavo muticus chứng tỏ mức độ đa dạng nơi đây vẫn còn khá cao
Các dự án có liên quan: Dự án bảo tồn rùa biển
Dân số trong vùng: 9.150 hộ, 53.409 khẩu