- Đỗ Tiến Sĩ, làm đến Bí thư giám.- Ông cũng để lại 20 bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.. => Phép tiểu đối, phương thức kể, tả => Khái quát ngắn gọn cuộc đời x
Trang 1Chào mừng các thầy cô giáo
về dự giờ thăm lớp 7A3
GV Hoàng Thị Hạnh
Trường THCS Chu Mạnh Trinh
Tổ Xã hội
Trang 2Kiểm tra bài cũ
Quan sát bức tranh sau:
* Hình ảnh trên gợi nhớ đến bài thơ Đường nào?
* Đọc thuộc lòng bài thơ (phần phiên âm và dịch thơ):
* Nêu nghệ thuật và nội dung của bài thơ?
Trang 3Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
Dịch thơĐầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương
Tĩnh dạ tứ:
Trang 4Tiết 38 HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
(Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê)
-Hạ Tri
Trang 5- Đỗ Tiến Sĩ, làm đến Bí thư giám.
- Ông cũng để lại 20 bài thơ, trong đó bài
Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng
nhất
+ Cuộc đời: Trẻ từ giã quê hương ra đi
để mưu tìm công danh Làm quan
ở kinh đô Trường An hơn 50 năm
Năm 85 tuổi mới trở về quê hương
Hạ Tri Chương
(659 - 744)
Trang 6=> Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
2 Tác phẩm:
*Nhan đề bài thơ:
- “Ngẫu nhiên viết” chứ không phải tình cảm được bộc
lộ một cách ngẫu nhiên
*Thể loại:
- Nguyên tác: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
- Dịch thơ: Thể thơ lục bát.
Trang 7Phiên âm
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?
Dịch nghĩa
Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về,
Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai
đã rụng.
Trẻ con gặp mặt, không quen biết,
Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến?
Trẻ đi, già trở lại nhà, Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu.
Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười hỏi: Khách từ đâu đến làng?
(Trần Trọng San dịch, trong Thơ Đường, tập I
Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966)
- Dịch không sát nghĩa từ : “không chào”
- Mất từ: “ cười”
Dịch thơ
Khi đi trẻ, lúc về già Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao.
Trẻ con nhìn lạ không chào Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
( Phạm Sĩ Vĩ dịch, trong Thơ Đường, tập I
NXB Văn học, Hà Nội, 1987)
-
-
-
-
-
-
- Dịch chưa sát nghĩa :”Sương pha mái đầu” - Mất từ: “nhi đồng”
-
Trang 8
-• Bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư - Kỳ Nhất (nguyên tác)
Trang 9II Phân tích văn bản:
1/ Hai câu thơ đầu:
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
(Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về,
Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai đã rụng.)
=> Phép tiểu đối, phương thức kể, tả
=> Khái quát ngắn gọn cuộc đời xa quê; sự thay đổi và không thay đổi của nhà thơ
Tạo giọng điệu: Bề ngoài dường như khách quan, bình thản (kể lại các
sự việc) song phảng phất một cảm xúc buồn, bồi hồi trước sự chảy trôi của thời gian và thể hiện tấm lòng của tác giả với quê hương
Trang 102/ Hai câu thơ cuối:
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai.
(Trẻ con gặp mặt, không quen biết,
Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến?)
- Bị coi là khách ngay giữa quê mình, giữa nơi chôn rau cắt rốn
Điều này không vô lí vì: + Tác giả đã thay đổi
+ Quê hương cũng đã thay đổi
- Tâm trạng: Lúc đầu ngạc nhiên bất ngờ buồn tủi ngậm ngùi
sự ngẫu nhiên Nhưng đằng sau tất cả sự khách quan và ngẫu nhiên đó
là tình cảm tha thiết, gắn bó sâu nặng của tác giả đối với quê hương
Trang 11Bài thơ biểu hiện một cách chân thực mà sâu sắc, hóm hỉnh
mà ngậm ngùi tình yêu quê hương thắm thiết của một người sống
xa quê lâu ngày, trong khoảnh khắc vừa mới đặt chân trở về quê cũ.
Trang 12IV BÀI TẬP:
*Hãy điền vào chỗ trống những từ ngữ thích hợp trong đoạn văn sau:
“ Hồi hương ngẫu thư” là những mà vẫn gây thảng
thốt, vẫn khiến lòng ta phải day dứt nghĩ suy đã
làm thay đổi và cũng đã đổi thay Đó là quy luật tất yếu mà sao đọc lên ta thấy ngậm ngùi, chua xót Người con của quê hương sau bao năm lại trở thành ngay trên chính quê hương Cho dù câu hỏi của lũ trẻ thật quá
mà khiến người được hỏi phải rồi nữa là xót xa Bài thơ gửi trọn thiết tha sâu nặng với quê hương, nó vượt
xa cái hữu hạn của một đời người, cái vô hạn của thời gian, nó tồn tại trong vô thức và vĩnh viễn.
Tiết 38 - Bài 10: NGẪU NHIÊN VIẾT NHÂN BUỔI MỚI VỀ QUÊ
(Hồi hương ngẫu thư) -Hạ Tri
tình yêu
Trang 13So sánh điểm giống nhau và khác nhau về chủ
đề và phương thức biểu đạt của hai bài thơ:
“Tĩnh dạ tứ” và “Hồi hương ngẫu thư”.
1 Bài tập 2
a, Giống nhau:
- Chủ đề: tình yêu quê hương sâu nặng
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm
b, Khác nhau
- Cách thức thể hiện chủ đề :
+ Bài “Tĩnh dạ tứ”: từ nơi xa nghĩ về quê hương
+ Bài “Hồi hương ngẫu thư”: từ quê hương nghĩ về
quê hương
- Phương thức biểu cảm :
+ Bài “Tĩnh dạ tứ”: biểu cảm trực tiếp
+ Bài “ Hồi hương ngẫu thư”: biểu cảm gián tiếp
Trang 14Câu 2: Tâm trạng của tác giả trong bài thơ là gì?
A Vui mừng, háo hức khi trở về quê
B Buồn thương trước cảnh quê
hương nhiều đổi thay
C Ngậm ngùi, hẫng hụt khi trở thành khách lạ giữa quê
hương
D Đau đớn, luyến tiếc khi phải xa chốn kinh thành
Trang 15Hồi hương ngẫu thư kì nhị
-Hạ Tri Phiên âm:
Chương-Li biệt gia hương tuế nguyệt đa Cận lai nhân sự bán tiêu ma Duy hữu môn tiền Kính Hồ thủy Xuân phong bất cải cựu thời ba.
Dịch thơ:
Trải bao năm tháng xa quê Chuyện đời điểm lại nửa bề tiêu vong Chỉ còn trước cửa hồ trong
Gió xuân không xóa những vòng sóng xưa.
Trang 16Hướng dẫn về nhà:
- Học thuộc lòng bài thơ.
- Viết đoạn văn phát biểu cảm nghĩ của em về quê hương.
- Soạn bài: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” (Đỗ Phủ).
Trang 17• Ngẫu Nhiên Khi Về Quê (Bài Hai)
1-Năm tháng xa nhà chắc đã lâu
Bạn bè mất nửa, nửa về đâu
Hồ Gương trước cửa lung linh nước Gió chẳng làm thay gợn sóng sầu
Trang 18• Hồi Hương Ngẫu Thư (Kỳ Nhị)
Ly biệt gia hương tuế, nguyệt đa Cận lai nhân sự bán tiêu ma
Duy hữu môn tiền kinh hồ thủy Xuân phong bất cải cựu thời ba
Hạ Tri Chương
Trang 19• Hồi Hương Ngẫu Thư (Thơ phổ nhạc)
Thơ phóng tác: Vương Ngọc Long
(Ý thơ Hạ Tri Chương)
Nhạc: Mai Đức Vinh
Ra đi thuở hãy còn thơ
Tuổi già mới được ngày mơ trở về
Thưa rằng chẳng mất giọng quê
Tóc sương điểm bạc lòng tê tái sầu
Người quen cảnh cũ còn đâu
Bạn xưa chẳng nhận ra nhau nghẹn ngào Trẻ con lạ lẫm lao xao
Hỏi cười “ Khách lạ phương nào đến đây ? “ Đời như gió thoảng mây bay
Xa quê nào biết tháng ngày trôi qua
Chơi vơi lá rụng sân nhà
Đìu hiu vườn cũ nhạt nhòa lệ rơi
Long đong góc bể chân trời
Bạn bè đếm được mấy người còn đây
Thoảng nghe con nước thở dài
Lung linh Hồ Kính nhà ai gợn sầu
Mặc đời lắm cảnh bể dâu
Gió Xuân chẳng đổi thay màu sóng xưa
Trang 20• Ông về đó để tìm lại những kỷ niệm dấu yêu thời hãy còn thơ ấu, để tìm lại bạn bè thuở hàn vi … nhưng những người bạn cũ đó, nếu may mắn còn sống được đến ngày nay như tuổi của ông thì thật là hiếm có vô cùng Bạn bè kẻ mất
người còn , "bán tiêu ma" (vắng đi một nửa) nhưng thật ra khó mà tìm được bạn cũ người xưa còn nhớ ông để mà tri
âm, kể lại chuyện vui buồn dĩ vãng thời niên thiếu
Thương nhớ bạn bè xưa để mà suy ngẫm thân phận mình, về chuyện đời lắm nỗi thăng trầm dâu bể Tất cả đều đổi
thay tang điền thương hải Cuộc đời như giấc mộng, như gió thoảng, mây bay cuối trời Có còn lại chăng là cái hình ảnh của thiên nhiên vô thủy giữa cảnh trời đất mênh mông
vô tận … mặt Hồ Kính trước nhà vẫn lung linh , sóng nước lăn tăn vẫn còn đó, vẫn còn nguyên vẹn trước gió Xuân, dẫu qua bao cuộc bể dâu :
Trang 21• Tiểu sử sơ lược
• Đời Đường Trung Tông, Hạ Tri Chương đỗ tiến sĩ vào năm
684, được bổ làm Thái thường bác sĩ Trong thời Khai
nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân khách, rồi Bí thư giám Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ
• Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung
được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô) Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: "Ở
vào thời Sơ Đường, thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái." [2] Ông là bạn vong niên với Lý
Bạch, từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày) Hạ Tri
Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng Ông còn để lại
20 bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.
Trang 22• Hạ Tri Chương tự Quý Chân, người quê Vĩnh Hưng thuộc Việt Châu (nay là Hợp Phố tỉnh Quảng Đông) Ông đỗ Tiến Sĩ đời Vũ Hậu, làm quan đến chức Bí thư giám Ông hơn Lý Bạch đến hơn bốn chục tuổi nhưng hai người kết bạn rất thân Hạ Tri Chương giỏi về văn từ, có tài hùng biện, kiến thức uyên bác và trí nhớ đặc biệt , tính tình phóng
khoáng , tự phong hiệu là “ Tứ Minh Cuồng Khách” Ông mất năm
86 tuổi Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình Có một số ít bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài Hồi Hương Ngẫu Thư của Ông sáng tác khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa
cách Bài thơ dạt dào tình cảm, đã diễn tả những nỗi niềm chất phát bộc trực từ con tim và đáy lòng của nhà thơ Ông đã từ giã quê hương
ra đi để mưu tìm công danh sự nghiệp vào những năm còn trai trẻ, và qua bao nhiêu thăng trầm dâu bể của cuộc đời, bây giờ tóc đã rụng
thưa, phơ phơ sương điểm, nhưng giọng nói quê cũ của ông vẫn chẳng bao giờ đổi thay, đã chứng tỏ tình cảm của ông vẫn luôn còn gắn bó tha thiết với quê hương cố quận, cho dù sống tha phương ngàn trùng
xa cách , tận chân trời góc bể nào… Đã bao nhiêu năm xa cách nơi
chôn nhau cắt rốn, chắc hẳn không phải là điều ngạc nhiên khi người thơ về thăm quê cha đất tổ và gặp đàn trẻ nhỏ chạy chơi quanh quẩn, nhìn ông như một người khách từ phương xa đến đây