Luận văn tốt nghiệp thực hiện bởi Sinh viên Đại học Bách Khoa: Từ thực tiễn trên, đề tài Ứng dụng các công cụ thống kê để nâng cao chất lượng làm việc của nhân viên KCS tại nhà máy đế của công ty cổ phần giày Thái Bình đã ứng dụng một số lý thuyết về chất lượng để tìm hiểu về thực trạng hoạt động của đội ngũ KCS trong một doanh nghiệp cụ thể. Qua đó đi sâu nghiên cứu về các yếu tố hay nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng làm việc của KCS và đề ra những biện pháp giải quyết thích hợp nhằm nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ này.
Trang 1Sau thời gian học tại trường Đại học Bách Khoa Tp.Hồ Chí Minh, em đã thu thập chomình nhiều kiến thức và kỹ năng quý báu Trong quá trình thực hiện luận văn này, emmong muốn được áp dụng những điều mình đã tích lũy để giải quyết những vấn đềthực tế cũng như học hỏi thêm kinh nghiệm từ những người đi trước
Thông qua luận văn này em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô ở khoa Quản lý côngnghiệp, trường Đại học Bách Khoa Tp.Hồ Chí Minh, những người đã truyền đạt cho
em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Hoàng Chí Đức, người đã tận tình giúp
đỡ em trong thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn tập thể cán bộ nhân viên nhà máy đế - Công ty cổ phần giày TháiBình đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài này Đặc biệt, em xin gửi lờicảm ơn tới anh Phúc - trưởng phòng chất lượng đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho emtrong thời gian làm việc tại đây
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè đã góp ý và giúp
đỡ em để hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, tháng 12/2010 Người thực hiện
Thái Việt Hùng
Trang 2Trong thời đại ngày nay, đảm bảo chất lượng được coi là một trong những điều kiệnquan trọng quyết định sự thành công của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nềnsản xuất toàn cầu, nhiều phương pháp hay hệ thống để đảm bảo chất lượng đã ra đời
và thu hút được nhiều sự quan tâm của các lãnh đạo doanh nghiệp Ở Việt Nam, mặc
dù đã đi vào đổi mới hơn 20 năm, nhưng không thể phủ nhận là hiện nay xu hướng hay
tư duy đảm bảo chất lượng dựa trên sự kiểm tra vẫn còn hiện diện trong nhiều doanhnghiệp Đối với những doanh nghiệp này, vai trò của đội ngũ KCS rất quan trọng vàchất lượng làm việc của họ có ý nghĩa quyết định tới sự thành công trong việc tạodựng lòng tin cho khách hàng về chất lượng sản phẩm của công ty
Từ thực tiễn trên, đề tài "Ứng dụng các công cụ thống kê để nâng cao chất lượng làmviệc của nhân viên KCS tại nhà máy đế của công ty cổ phần giày Thái Bình" đã ứngdụng một số lý thuyết về chất lượng để tìm hiểu về thực trạng hoạt động của đội ngũKCS trong một doanh nghiệp cụ thể Qua đó đi sâu nghiên cứu về các yếu tố haynguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng làm việc của KCS và đề ra những biện phápgiải quyết thích hợp nhằm nâng cao chất lượng làm việc của đội ngũ này
Do giới hạn về thời gian thực hiện đề tài, nên luận văn chỉ tập trung vào sản phẩm chủlực của nhà máy là đế cao su (sản xuất tại phân xưởng ép đế) và chọn ra một bộ phậnKCS trong phân xưởng này để tiến hành nghiên cứu Nếu có điều kiện về sau, đề tài cóthể được mở rộng hơn cho những sản phẩm hay vấn đề khác của hệ thống chất lượng
Trang 3ĐỀ MỤC TRANG
Nhiệm vụ luận văn
Lời cám ơn i
Tóm tắt đề tài ii
Mục lục iii
Danh sách hình vẽ vi
Danh sách bảng biểu vii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do hình thành đề tài 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.4 Phạm vi đề tài 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5.1 Nguồn dữ liệu 2
1.5.2 Quy trình nghiên cứu 3
1.6 Nội dung dự kiến 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Sản phẩm và sản phẩm không phù hợp 5
2.1.1 Sản phẩm 5
2.1.2 Sản phẩm không phù hợp 5
2.2 Chất lượng và các vấn đề liên quan 6
2.2.1 Khái niệm chất lượng 6
2.2.2 Đặc điểm chất lượng 7
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng 8
2.2.4 Chi phí chất lượng 9
2.3 Quản lý chất lượng 12
2.3.1 Khái niệm 12
2.3.2 Các nguyên tắc của quản lý chất lượng 12
2.3.3 Một số phương pháp quản lý chất lượng 13
2.4 Kiểm soát chất lượng bằng thống kê 16
Trang 42.4.2 Biểu đồ tiến trình (lưu đồ) 17
2.4.3 Biểu đồ Pareto 18
2.4.4 Biểu đồ nhân quả 18
2.5 KCS và một số khái niệm liên quan đến việc kiểm tra 20
2.5.1 Định nghĩa về KCS 20
2.5.2 Các quyết định liên quan đến việc kiểm tra 20
2.5.3 Hoạch định việc kiểm tra 21
2.5.4 Phân loại mức độ nghiêm trọng 22
2.5.5 Đánh giá sự chính xác của kiểm tra viên 23
CHƯƠNG 3: TỒNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY THÁI BÌNH VÀ NHÀ MÁY ĐẾ 24
3.1 Tổng quan về công ty 24
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 24
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 25
3.1.3 Sản phẩm, thị trường và quy trình công nghệ 26
3.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh một số năm gần đây 28
3.2 Giới thiệu nhà máy đế 29
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 29
3.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 29
3.2.3 Các loại sản phẩm chính của nhà máy 30
3.2.4 Cơ cấu tổ chức và nhân sự 31
3.2.5 Quy trình sản xuất đế giày 34
3.3 Phòng chất lượng 36
3.3.1 Chức năng 36
3.3.2 Trách nhiệm 36
3.3.3 Cơ cấu tổ chức và trình độ nhân viên 36
3.3.4 Hoạt động 37
3.4 Nhân viên KCS 38
3.4.1 Trách nhiệm 38
3.4.2 Trình độ và cách bố trí 38
3.4.3 Phương thức hoạt động 38
Trang 54.1 Nhận dạng vấn đề 40
4.1.1 Hiện trạng về chất lượng và một số công tác quản lý chất lượng tại nhà máy 40
4.1.2 Tìm hiểu về chất lượng làm việc của đội ngũ KCS 42
4.2 Tìm hiểu vấn đề 44
4.2.1 Nhận dạng các lỗi thường bị bỏ sót 44
4.2.2 Phân tích các nguyên nhân gây ra việc bỏ sót lỗi 46
4.2.3 Đánh giá của chuyên gia về các nguyên nhân gây ra việc bỏ sót lỗi 51 4.2.4 Nguyên nhân gây ra việc bỏ sót 3 dạng lỗi quan trọng 52
4.3 Giải pháp khắc phục 55
4.3.1 Giải pháp đối với vấn đề con người 55
4.3.2 Giải pháp đối với vấn đề môi trường 57
4.3.3 Giải pháp đối với vấn đề máy móc, thiết bị 58
4.3.4 Giải pháp đối với vấn đề phương pháp 59
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
PHỤ LỤC 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6Tên hình Trang
Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu 3
Hình 2.1: Quan điểm cổ điển về sản phẩm không phù hợp 5
Hình 2.2: Quan điểm hiện đại về sản phẩm không phù hợp 6
Hình 2.3: Phân loại chi phí chất lượng 10
Hình 2.4: Lưu đồ về quá trình thiết kế 17
Hình 2.5: Biểu đồ nhân quả chất lượng sản phẩm 19
Hình 3.1: Quy trình sản xuất tổng quát 26
Hình 3.2: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 1995 - 2009 27
Hình 3.3: Tỷ trọng các sản phẩm của nhà máy đế năm 2009 29
Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức nhà máy đế 31
Hình 3.5: Quy trình sản xuất đế giày 33
Hình 3.6: Cơ cấu tổ chức phòng chất lượng 35
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ sản phẩm không phù hợp giai đoạn 2006 - 2009 của phân xưởng hoàn thiện 39
Hình 4.2: Các giai đoạn chính trong quá trình sản xuất đế cao su 39
Hình 4.3: Biểu đồ Pareto về các dạng lỗi thường bị bỏ sót 44
Hình 4.4: Biểu đồ nhân quả về chất lượng công việc của KCS 45
Hình 4.5: Biểu đồ nhân quả các nguyên nhân của việc bỏ sót lỗi ép sống 51
Hình 4.6: Biểu đồ nhân quả các nguyên nhân của việc bỏ sót lỗi thiếu keo 52
Hình 4.7: Biểu đồ nhân quả các nguyên nhân của việc bỏ sót lỗi màu sắc 52
Trang 7Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009 27Bảng 3.2: Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động nhà máy đế 32Bảng 3.3: Tiêu chuẩn về sự phù hợp và cách thức kiểm tra một thành phẩm ở phânxưởng ép đế 37Bảng 4.1: Tỷ lệ sản phẩm không phù hợp bị trả về phân xưởng ép đế trong 9 tháng đầunăm 2010 41Bảng 4.2: Các dạng lỗi và cách nhận dạng dùng cho KCS ép đế 42Bảng 4.3: Bảng tỷ lệ các dạng lỗi bị bỏ sót trong tháng 9/2010 43Bảng 4.4: Bảng điểm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng làm việc của nhânviên KCS 50
Trang 9CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU1.1 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Ngày nay, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế, chất lượng sản phẩmhàng hóa và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một tháchthức to lớn đối với mọi quốc gia trên con đường hội nhập vào thị trường thế giới
Sự thành công hay thất bại trong cuộc cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc chủ yếuvào mức độ thích hợp của chất lượng hàng hóa và dịch vụ, sự ổn định về chất lượng,giá cả hợp lý, giao hàng đúng hẹn, dịch vụ kịp thời và thường xuyên cải tiến các hìnhthức mua bán, điều kiện giao nhận Muốn cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường quốc tế
và trong nước, muốn thỏa mãn được các yêu cầu của bạn hàng và mong đem lại lợinhuận cao thì doanh nghiệp cần phải thiết lập một hệ thống quản lý chất lượng
Hiệu quả làm việc của hệ thống này sẽ góp phần làm cho chất lượng sản phẩm đượcnâng cao và ổn định, chi phí sẽ giảm đi Như vậy, giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống,năng suất lao động tăng lên, điều đó sẽ giúp tăng tính cạnh tranh và gia tăng lợi nhuậncho doanh nghiệp
Một hệ thống quản lý chất lượng được tạo nên bởi sự kết hợp của nhiều thành tố, trong
đó không thể không kể đến lực lượng KCS Với vai trò kiểm tra và đảm bảo chấtlượng của các bán thành phẩm, thành phẩm trước khi chuyển giao cho công đoạn saucũng như giao cho khách hàng, chất lượng làm việc của KCS sẽ góp phần quan trọngtrong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chất lượng trong toàn công ty.Chất lượng làm việc (hay hiệu quả làm việc) của KCS có thể hiểu như là một kháiniệm để đánh giá khả năng thực hiện trách nhiệm của mỗi KCS Một trong những cơ
sở quan trọng để thực hiện việc đánh giá này là số lượng hay tỷ lệ sản phẩm không phùhợp mà các KCS bỏ lọt sang công đoạn sau Một tỷ lệ quá cao sản phẩm không phùhợp lọt qua sự kiểm tra của KCS không chỉ gây ra các vấn đề về chất lượng, mà cònảnh hưởng tới chi phí và thời gian thực hiện đơn hàng Do vậy việc cải tiến và duy trì
tỷ lệ này ở một mức hợp lý là điều rất cần thiết
Là một trong số 10 doanh nghiệp sản xuất giày hàng đầu của Việt Nam, vấn đề chấtlượng luôn được Giày Thái Bình quan tâm và coi trọng Công ty đã xây dựng một hệthống nhằm kiểm soát và đảm bảo chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động của hệthống ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cung cấp các sản phẩm chất lượng cho kháchhàng Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là khả năng làm việc của hệ thống này khôngcao, điều này thể hiện qua nhiều vấn đề mà công ty đang mắc phải, trong đó có vấn đề
về lực lượng KCS Việc các KCS bỏ lọt sản phẩm sang công đoạn sau, không còn làvấn đề nhất thời mà từ lâu đã trở thành một nỗi nhức nhối của công ty Nhận thấy thựctrạng này, trong thời gian làm việc tại công ty giày Thái Bình, được sự giúp đỡ của cácnhân viên phòng chất lượng, sinh viên đã đi sâu tìm hiểu và hình thành đề tài: "Ứngdụng các công cụ thống kê để nâng cao chất lượng làm việc của KCS tại nhà máy đếcủa công ty cổ phần giày Thái Bình"
Trang 101.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Phân tích thực trạng hoạt động và tìm hiểu vấn đề mà đội ngũ KCS gặp phải
Xác định các loại lỗi mà sản phẩm bị trả về thường mắc phải (do KCS ởcông đoạn trước không phát hiện ra nên để lọt qua công đoạn sau)
Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc của nhân viên KCS
Đề xuất một số biện pháp để hạn chế việc bỏ sót lỗi dựa trên các nguyênnhân đã được xác định
1.3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đối với công ty: Đề tài giúp công ty có cái nhìn rõ nét và chính xác hơn về
thực trạng hoạt động của đội ngũ KCS của công ty cũng như những vấn đềđang tồn tại trong đội ngũ này Trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp cải tiếnnhằm giúp công ty nâng cao hiệu quả làm việc của KCS
Đây là nguồn tài liệu tham khảo để giúp nâng cao nhận thức của các cấpquản lý công ty về tầm quan trọng của vấn đề kiểm soát, đảm bảo chấtlượng, cũng như các công cụ chất lượng cần thiết
Đối với bản thân: Đây là cơ hội để sinh viên có thể tiếp cận, tìm hiểu về hoạt
động của một doanh nghiệp cũng như hệ thống quản lý chất lượng của công
ty, đồng thời có thể vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đềthực tế của doanh nghiệp
1.4 PHẠM VI ĐỀ TÀI
Sản phẩm của công ty được sản xuất theo từng công đoạn tương ứng với các khu vựcsản xuất khác nhau Trong đó nhà máy đế có nhiệm vụ chuyên sản xuất các loại đếgiày, bao gồm 3 phân xưởng:
Phân xưởng cán luyện - ép đế (CL - EĐ) chịu trách nhiệm sản xuất đế cao su
Phân xưởng eva - phylon chịu trách nhiệm sản xuất đế eva và phylon
Phân xưởng hoàn thiện (HT) nhận sản phẩm từ 2 phân xưởng trên và thực
hiện các hoạt động cần thiết để tạo ra một chiếc đế hoàn chỉnh
Ở mỗi phân xưởng các sản phẩm đều được KCS kiểm tra 100% trước khi xuất xưởng
Do hiện nay đế cao su là sản phẩm chủ lực của nhà máy (chiếm 55% tổng sản lượngsản xuất), mặt khác các số liệu về chất lượng của phân xưởng này cũng khá đầy đủ nênsinh viên sẽ chọn phân xưởng cán luyện - ép đế để thực hiện đề tài này
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp
Các sách giáo trình hay tài liệu giảng dạy về chất lượng, các thông tin vềchất lượng trên các báo, tạp chí hay Internet
Trang 11 Các dữ liệu về KCS của phòng nhân sự
Các số liệu về chất lượng do phòng chất lượng thống kê: số lượng sản phẩmkhông phù hợp được phát hiện tại mỗi phân xưởng, số liệu sản phẩm khôngphù hợp bị phân xưởng hoàn thiện trả về (cho 2 phân xưởng CL-EĐ và eva-phylon) và dạng lỗi chúng mắc phải
Phỏng vấn: để thu thập được nhiều ý kiến hay thông tin đa dạng và kháchquan hơn, phương pháp phỏng vấn cũng thường xuyên được sử dụng Đốitượng phỏng vấn là các cá nhân có liên quan đến đề tài như nhân viên KCS,nhân viên chất lương Nội dung phỏng vấn nhằm tìm hiểu các nguyên nhânảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của KCS và đưa ra các biện pháp khắcphục cần thiết
1.5.2 Quy trình nghiên cứu:
Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết chất lượng
Tìm hiểu tổng quan, quy trình sản xuất và
tổ chức của công ty và nhà máy đế
Tìm hiểu về phòng chất lượng và lực lượng KCS
Nhận dạng và tìm hiểu vấn đề
Thu thập số liệu về các dạng lỗi
Phân tích số liệu và nhận dạng các lỗi quan trọng
Tìm hiểu nguyên nhân
Đề xuất các biện pháp khắc phục
Tài liệu nội bộBiểu đồ ParetoBiểu đồ nhân quả
Tài liệu chất lượng
Tài liệu nội bộ, quan sát
Tài liệu nội bộ, quan sát, phỏng vấn
Tài liệu nội bộ, quan sát, phỏng vấn
Phỏng vấn
Trang 121.6 NỘI DUNG DỰ KIẾN
Với mục tiêu và phạm vi đề tài như trên, nội dung luận văn dự kiến gồm có 5 chương.Nội dung từng chương được tóm tắt như sau:
Chương 1 là chương giới thiệu Chương này sẽ giới thiệu về vấn đề nghiên cứu, lý do
và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đề tài, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, phương phápnghiên cứu và quy trình nghiên cứu
Chương 2 là chương cơ sở lý thuyết Chương này sẽ giới thiệu và trình bày những lýthuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài này, chẳng hạn như lý tuyết về sản phẩm,những khái niệm về chất lượng, quản lý chất lượng; một một số công cụ chất lượngđược sử dụng trong đề tài này như biểu đồ pareto, nhân quả; các khái niệm và vấn đềliên quan tới việc kiểm tra
Chương 3 là chương tổng quan về công ty Chương này trình bày sơ lược về công ty
cổ phần giày Thái Bình và nhà máy đế, đồng thời giới thiệu về quy trình sản xuất nhàmáy đang áp dụng Nội dung chương cũng sẽ mô tả khá chi tiết về phòng chất lượng
và đội ngũ KCS của nhà máy nhằm làm cơ sở cho việc nhận dạng vấn đề ở chươngsau
Chương 4 là chương giải quyết vấn đề Dựa trên những dữ liệu chất lượng của phòngchất lượng, tiến hành tổng hợp số liệu và phân tích bằng biểu đồ pareto để tìm ra cácdạng lỗi mà KCS thường không nhận ra và bỏ sót Tiếp đó là truy tìm những nguyênnhân khiến KCS thường bỏ sót lỗi bằng biểu đồ nhân quả Dựa trên các nguyên nhân
đã được xác định đề ra biện pháp giải quyết thích hợp
Chương 5 là chương kết luận và kiến nghị Chương này tóm tắt lại những kết quả thuđược từ việc thực hiện đề tài và đề ra một số kiến nghị của tác giả
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT2.1 SẢN PHẨM VÀ SẢN PHẨM KHÔNG PHÙ HỢP
2.1.1 Sản phẩm
Định nghĩa: Theo tiêu chuẩn TCVN 5814:1994, sản phẩm là một thực thể (đối tượng)
bao gồm một hoạt động, một quá trình, một tổ chức hay một cá nhân
Nói đến thuật ngữ sản phẩm, ngoài việc mặc nhiên công nhận các luận cứ của Mác vàcủa các nhà kinh tế khác, ngày nay cùng với sự phát triển ngày càng cao hơn, phức tạphơn của xã hội và từ thực tế cạnh tranh trên thị trường, người ta quan niệm về sảnphẩm rộng rãi hơn, không chỉ là những sản phẩm cụ thể thuần vật chất mà còn baogồm các dịch vụ, các quá trình nữa
Thuộc tính sản phẩm: gồm có 2 thuộc tính:
Thuộc tính công dụng - Phần cứng (giá trị vật chất) nói lên công dụng đích thực củasản phẩm Các thuộc tính nhóm này phụ thuộc vào bản chất, cấu tạo của sản phẩm, cácyếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ
Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng - Phần mềm (giá trị tinh thần) xuất hiệnkhi có sự tiếp xúc, tiêu dùng sản phẩm và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, uy tín củasản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng, đặc biệt là các dịch vụ trước và sau khi bán.Phầm mềm sản phẩm rất khó lượng hóa nhưng lại tỏ ra ngày càng quan trọng hơntrong việc làm cho sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng
2.1.2 Sản phẩm không phù hợp
Khái niệm: Sản phẩm không phù hợp là sản phẩm không đáp ứng một yêu cầu nào đó.
Yêu cầu này có thể là của công ty sản xuất, khách hàng
(Nguồn: Đoàn Hùng Dũng, 2000 tài liệu giảng dạy ISO 9001:2000).
Phân loại: Có 4 loại sản phẩm không phù hợp trong quá trình sản xuất
- Sản phẩm lỗi do con người gây ra
- Sản phẩm lỗi do máy móc gây ra
- Sản phẩm lỗi do nguyên vật liệu
- Sản phẩm lỗi do phương pháp làm việc
Các quan điểm khác nhau về sản phẩm không phù hợp
Quan điểm cổ điển:
Một sản phẩm được xem là không đạt chất lượng phù hợp khi các đặc tính kỹ thuật của
nó không phù hợp với một tiêu chuẩn hay một quy định kỹ thuật
Trang 15Hình 2.1: Quan điểm cổ điển về sản phẩm không phù hợp
Với quan điểm này, các nhà sản xuất thường có khuynh hướng chú trọng vào việcngày càng nâng cao các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm Khi nói đến quản lý chấtlượng thường chú trọng vào các hoạt động kỹ thuật và các hoạt động KCS là chủ yếu.Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển của nền sản xuất, quan điểm này đã bộc lộ nhữngvấn đề bất cập, và cho tới nay theo ý kiến của nhiều nhà quản trị sản xuất, quan điểmnày đã không còn phù hợp
Quan điểm hiện đại:
Một sản phẩm được xem là không đạt chất lượng phù hợp khi nó không tuân thủ theonhững tiêu chuẩn hay quy định do khách hàng đề ra và nó không làm thỏa mãn đượcnhu cầu khách hàng
Hình 2.2: Quan điểm hiện đại về sản phẩm không phù hợp 2.2 CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
2.2.1 Khái niệm chất lượng
Quan niệm thế nào là sản phẩm có chất lượng có thể có nhiều ý kiến khác nhau Chấtlượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp mà con người hay gặp trong các lĩnh vựchoạt động của mình Có thể có các định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc độ củangười quan sát
Ví dụ: thế nào là một cái đồng hồ có chất lượng: có người cho rằng miễn chính xác làđủ; có người cho rằng phải model nữa mới chất lượng; người khác thì nói rằng nó phảithật bền, chịu va chạm, chịu nước; có người lại thích đồng hồ sang trọng, đắt tiền hoặcđồng hồ đạt tiêu chuẩn quốc tế
Quan niệm thế nào là công việc có chất lượng cũng rất khác nhau Có ý kiến xem xétchủ yếu vào kết quả mà công việc đó đạt được Cũng có ý kiến cho rằng: cái cơ bản làcông việc phải được bắt đầu đúng
SẢN PHẨM
KHÔNG PHÙ HỢP
TIÊU CHUẨN HAY QUY ĐỊNHKHÔNG PHÙ HỢP
KHÔNG THỎA MÃN
SẢN PHẨM
KHÔNG PHÙ HỢP
YÊU CẦU VÀ MONG MỎI CỦA KHÁCH HÀNG
TIÊU CHUẨN HAY QUY ĐỊNH
Trang 16Chúng ta thường nghe nói tới từ "chất lượng cao" Thực ra bất kỳ ai cũng đều mongmuốn sản phẩm mà họ sử dụng có chất lượng cao, cho nên chất lượng cao hay thấp tùythuộc vào điều kiện sống, vào phong tục tập quán của từng địa phương, thay đổi theotừng thời gian Mọi người trên thế giới đều nói đến chất lượng, nhưng đó là cái chúng
ta nghe thấy nhưng không nhìn thấy Tùy theo đối tượng sử dụng, từ "chất lượng" có ýnghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng cácquy định và yêu cầu do khách hàng đề ra Chất lượng được so sánh với chất lượng củađối thủ và đi kèm theo các chi phí, giá cả
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814 - 1994 phù hợp với ISO/DIS 8402: "Chất lượng làtập hợp những đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn nhữngnhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn"
Các nhu cầu thường được chuyển thành các đặc tính với các tiêu chuẩn nhất định Vídụ: Nhu cầu có thể bao gồm các khía cạnh về tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tínhtin cậy (tính sẵn sàng, độ tin cậy, tính thuận tiện bảo dưỡng), an toàn, môi trường, kinh
tế, thẩm mỹ
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản phẩm là để báncho người tiêu dùng Chính vì vậy cần thiết phải nhìn nhận chất lượng sản phẩm dướiquan điểm người tiêu dùng
Một cách tổng quát, chúng ta có thể coi "chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu" (PhilipCrosby) Sự phù hợp này phải được thể hiện trên cả 3 phương diện, mà ta có thể gọitóm tắt là 3P, đó là:
- Performance hay Perfectibility: hiệu năng, khả năng hoàn thiện
- Price: giá thỏa mãn nhu cầu
- Punctuallity: đúng thời điểm
2.2.2 Đặc điểm của chất lượng
Từ định nghĩa trên cho thấy chất lượng có các đặc điểm sau:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm nào đó khôngđáp ứng được nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì phải bị coi là chấtlượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiệnđại
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến độngtheo thời gian, nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không gian,điều kiện sử dụng Chất lượng phụ thuộc người tiêu dùng Chất lượng phảiđược gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh
tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục tập quán Định kỳ phải xem xét lại các yêu cầuchất lượng
- Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, đó có thể là sản phẩm, một hoạtđộng, một quá trình, một tổ chức hay một cá nhân
- Khi đánh giá chất lượng của một thực thể ta phải xét đến mọi đặc tính của đốitượng có liên quan đến việc thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Trong tình huống
Trang 17hợp đồng hay định chế, ví dụ như trong lĩnh vực an toàn, thường thì các nhucầu đã quy định, trong các tình huống khác, nhu cầu tiềm ẩn cần phải được tìm
ra và xác định
- Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng Cấp chất lượng là phẩm cấphay thứ hạng định cho các đối tượng có cùng chức năng sử dụng nhưng khácnhau về yêu cầu chất lượng Ví dụ: khách sạn 1 sao, 2 sao
2.2.3 Các yếu tố ảnh huởng đến chất lượng
a Nhóm yếu tố bên ngoài
Ở bất kỳ trình độ sản xuất nào, chất lượng bao giờ cũng bị ràng buộc, chi phối bởihoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế
Nhu cầu của nền kinh tế:
Đòi hỏi của thị trường: Nhu cầu thị trường của sản phẩm đó (cỡ loại, số lượng,
cho ai sử dụng ) Trên từng thị trường có những yêu cầu khác nhau về đốitượng sử dụng Sản phẩm cũng cần phải thích ứng với sự biến đổi của thịtrường Nghiên cứu nhận biết, nhạy cảm thường xuyên với thị trường để địnhhướng cho các chính sách chất lượng trong hiện tại và tương lai là một nhiệm
vụ quan trọng khi xây dựng chiến lược phát triển sản xuất hướng về thị trường.Trước khi tiến hành thiết kế, sản xuất sản phẩm, cần phải tiến hành nghiên cứuthị trường một cách thận trọng và nghiêm túc để có đối sách đúng đắn
Trình độ phát triển của nền kinh tế, nền sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài
nguyên, tích lũy, đầu tư ) và trình độ kỹ thuật công nghệ (trang thiết bị, bíquyết, con người ), trên cơ sở đó cho phép lựa chọn mức chất lượng phù hợpvới sự phát triển chung của xã hội Đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tạicủa bản thân nền sản xuất xã hội nhưng việc nâng cao chất lượng không thểvượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế Như vậy muốn nâng caochất lượng phải nâng cao trình độ sản xuất, trình độ kinh tế
Các chính sách kinh tế: có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm Chẳng hạn như hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm vàmức thỏa mãn các loại nhu cầu, chính sách thuế khóa, quy định xuất nhậpkhẩu, chính sách hợp tác kinh tế tạo điều kiện thuận lợi hay không thuận lợicho sự phát triển của chất lượng sản phẩm
Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ, ngày nay, khoa học kỹ thuật đã và đangtrở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó, chất lượng của bất kỳ sảnphẩm nào cũng bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt làviệc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các hướng chínhcủa việc áp dụng khoa học kỹ thuật hiện nay là:
- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế
- Cải tiến đổi mới công nghệ
- Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới
Trang 18Ở nước ta, nói chung trình độ trang bị công nghệ chưa cao, còn nhiều bất hợp
lý, tiềm năng chưa khai thác hết nên đồng thời với việc thiết lập hệ thống côngnghệ hiện đại cần tập trung cải tiến, đổi mới công nghệ từng phần, sắp xếp dâychuyền sản xuất hợp lý để đem lại hiệu quả nhanh chóng, tiết kiệm cho nềnkinh tế
Hiệu lực của cơ chế quản lý:
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết, quản lý của nhà nước, thông qua cácbiện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính, xã hội được cụ thể hóa bằng nhiều chínhsách như chính sách đầu tư, chính sách giá, chính sách thuế, tài chính, chính sách
hỗ trợ, khuyến khích phát triển đối với một số doanh nghiệp, cách thức quản lý nhànước về pháp luật Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định
về sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm
b Nhóm yếu tố bên trong
Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng có thể đượcbiểu thị bằng quy tắc 4M, đó là:
- Men: con người, lực lượng lao động trong doanh nghiệp Bao gồm tất cả thành
viên trong doanh nghiệp, từ những người lãnh đạo cấp cao nhất cho đến nhânviên thừa hành Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữacác thành viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
- Methods: phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức
sản xuất của doanh nghiệp Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ
tổ chức quản lý sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể khai tháctốt nhất các nguồn lực hiện có góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
- Machines: khả năng về công nghệ, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp Có tác
động rất lớn trong việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm vànâng cao năng suất lao động
- Materials: vật tư, nguyên vật liệu, hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên vật
liệu của doanh nghiệp Nguồn vật tư, nguyên vật liệu được cung cấp đúng sốlượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm
Trong 4 yếu tố trên, yếu tố con người được xem là quan trọng nhất Ngoài những yếu
tố cơ bản trên, chất lượng còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác như thông tin(Information), môi trường (Enviroment), đo lường (Measure), hệ thống (System),
2.2.4 Chi phí chất lượng
Thường có một sai lầm cho rằng chất lượng là không đo được, nắm bắt được Nhậnthức này đã làm cho nhiều doanh nghiệp tự nhận là bất lực trước vấn đề chất lượng.Trong thực tế, chất lượng đo bằng giá của chính nó, bằng sự tốn kém do cẩu thả côngviệc đưa đến những tổn thất về nhiều mặt như uy tín của doanh nghiệp, tác hại đến tiêudùng xã hội, thất thoát lợi nhuận doanh nghiệp
Để sản xuất một sản phẩm có chất lượng, chi phí để đạt được chất lượng đó phải đượcquản lý một cách hiệu quả Những chi phí đó chính là thước đo sự cố gắng về chất
Trang 19lượng Sự cân bằng giữa 2 yếu tố chất lượng và chi phí là mục tiêu chủ chốt của mộtban lãnh đạo có trách nhiệm.
Theo ISO 8402, chi phí chất lượng là toàn bộ chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảochất lượng thỏa mãn cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏamãn
Theo tính chất, mục đích của chi phí, chúng ta có thể phân chia chi phí chất lượngthành 3 nhóm:
Hình 2.3: Phân loại chi phí chất lượng
- Hoạch định chất lượng: đặt ra những kế hoạch về chất lượng, vận hành, sảnxuất, giám sát, thử nghiệm để đạt tới mục tiêu chất lượng
- Đảm bảo chất lượng: thiết lập và duy trì hệ thống chất lượng
- Thiết bị kiểm tra: thiết kế, triển khai, mua sắm thiết bị kiểm tra, thử nghiệm
- Đào tạo: soạn thảo và chuẩn bị các chương trình đào tạo, hướng dẫn công việc
- Các hoạt động văn phòng nói chung có liên quan đến chất lượng: văn thư, chàohàng, thông tin liên lạc
Chi phí thẩm định:
Những chi phí này gắn liền với việc đánh giá các vật liệu đã mua, các quá trình, cácsản phẩm trung gian, các thành phẩm để đảm bảo là phù hợp với các đặc thù kỹthuật Công việc đánh giá bao gồm:
Chi phí chất lượng
Chi phí cần thiếtNecessary costs Chi phí bị thất thoátAvoidable costs
Chi phí
Trang 20- Kiểm tra và thử tính năng các vật liệu nhập về, quá trình chuẩn bị sản xuất, cácsản phẩm loạt đầu, các quá trình vận hành, các sản phẩm trung gian và các sảnphẩm cuối cùng, bao gồm cả việc đánh giá đặc tính sản phẩm so với các đặc thù
kỹ thuật đã thỏa thuận, kể cả việc kiểm tra lại
- Thẩm tra chất lượng: kiểm nghiệm hệ thống chất lượng xem có vận hành như ýmuốn hay không
- Thiết bị kiểm tra: kiểm định và bảo dưỡng các thiết bị dùng trong hoạt độngkiểm tra
- Phân loại người bán: nhận định và đánh giá các cơ sở cung ứng
Chi phí sai hỏng:
Chi phí sai hỏng bên trong:
- Lãng phí: tiến hành những việc làm không cần thiết do nhầm lẫn, tổ chức tồi,chọn vật liệu sai
- Phế phẩm: sản phẩm có khuyết tật, không thể sữa chữa, dùng hoặc bán được
- Tái chế: sản phẩm có khuyết tật được sữa chữa để đáp ứng yêu cầu
- Kiểm tra lại: kiểm tra các sản phẩm sau khi đã được sữa chữa
- Thứ phẩm: sản phẩm còn dùng được nhưng không đạt quy cách và bán với giáthấp
- Tồn kho chậm luân chuyển và bất động
- Phân tích sai hỏng: xác định các nguyên nhân gây ra sai hỏng
Chi phí sai hỏng bên ngoài:
Là những sai hỏng được phát hiện ra sau khi đã giao cho khách Gồm:
- Sữa chữa các sản phẩm bị trả lại hoặc còn nằm ở hiện trường
- Các khiếu nại bảo hành về những sản phẩn được thay thế khi còn bảo hành
- Khiếu nại, trách nhiệm pháp lý
- Hàng bị trả lại
- Chi phí xã hội hay chi phí môi trường
Các loại chi phí kể trên hoàn toàn có thể tính được bằng tiền, có thể xem đó là nhữngloại chi phí hữu hình Ngoài ra, còn có chi phí ẩn vô hình Những loại chi phí này khó
có thể xác định cụ thể nhưng cũng là những thiệt hại, thất thoát của doanh nghiệp.Việc nhận thức về các loại chi phí này cũng giúp nâng cao được chất lượng công việc
và hiệu quả hoạt động Đó là:
- Thái độ làm việc thụ động
- Quản trị kém, đưa tới quyết định sai trong kinh doanh
- Thông tin nội bộ không chính xác, kịp thời
- Thiếu thông tin bên ngoài
Trang 21- Điều kiện làm việc không tốt
- Mâu thuẫn nội bộ
- Không công bằng, dân chủ
- Khách hàng mất lòng tin vào doanh nghiệp
- Những tổn thất của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm
2.3 QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
2.3.1 Khái niệm
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó làkết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạtđược chất lượng mong muốn cần phải quản lý đúng đắn các yếu tố này Hoạt độngquản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Phải có hiểu biết vàkinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng mới giải quyết tốt bài toán chất lượng.Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trongsản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình công ty, quy mô lớn đến quy mônhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảmbảo cho công ty làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng Nếu cáccông ty muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu và áp dụng các kháiniệm về quản lý chất lượng có hiệu quả
Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một
tổ chức về chất lượng.
Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu,hoạch định, kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng
2.3.2 Các nguyên tắc của quản lý chất lượng:
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiệntại và tương lai của khách hàng, để không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn
sự mong đợi của họ
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất, đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanhnghiệp Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàntoàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủvới những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực và các hoạtđộng có liên quan được quản lý như một quá trình
Trang 22Nguyên tắc 5: Tính hệ thống
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhauđối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp.Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phảiliên tục cải tiến
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn cóhiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng
Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương hỗ cùng
có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị
2.3.3 Một số phương pháp quản lý chất lượng
Kiểm tra chất lượng:
Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quyđịnh là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại rabất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay quy cách kỹ thuật
Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng (Inspection - I) là các hoạt động như đo, xem xét,thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêucầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy, kiểm tra chỉ là một sự phânloại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý "chuyện đã rồi" Ngoài ra, sản phẩmphù hợp quy định cũng chưa chắc chắn thỏa mãn nhu cầu thị trường nếu như các quyđịnh không phản ánh đúng nhu cầu
Kiểm soát chất lượng:
Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn
là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Khái niệm kiểm soát chấtlượng (Quality control - QC) ra đời
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng
để đáp ứng yêu cầu chất lượng
Để kiểm soát chất lượng, công ty phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếpđến quá trình tạo ra chất lượng Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sảnphẩm khuyết tật Nói chung, kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố sau đây:
- Kiểm soát con người:
Người thực hiện phải được đào tạo để có đủ kiến thức, kỹ năng thực hiện côngviệc Họ phải được thông tin đầy đủ về công việc cần thực hiện và kết quả cầnđạt được Họ phải được trang bị đầy đủ phương tiện làm việc
- Kiểm soát phương pháp và quá trình:
Trang 23Các phương pháp và quá trình sản xuất phải được thiết lập phù hợp với điềukiện sản xuất và phải được theo dõi, kiểm soát thường xuyên nhằm phát hiệnkịp thời những biến động của quá trình
- Kiểm soát đầu vào:
Nguồn cung cấp nguyên vật liệu phải được lưa chọn Nguyên liệu phải đượckiểm tra chặt chẽ khi nhập vào và cả trong quá trình bảo quản
- Kiểm soát thiết bị:
Thiết bị phải được kiểm tra thường xuyên, định kỳ và được bảo dưỡng, sữachữa theo đúng quy định
- Kiểm soát môi trường:
Môi trường thao tác (ánh sáng, nhiệt độ ) phải phù hợp nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình làm việc của công nhân Các điều kiện an toàn, vệsinh cũng cần phải được trang bị đầy đủ và kiểm soát chặt chẽ
Đảm bảo chất lượng:
Theo ISO 9000 thì “Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance - QA) là toàn bộ hoạt
động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”
Đảm bảo chất lượng nhằm cả hai mục đích : trong nội bộ tổ chức nhằm tạo lòng tincho lãnh đạo và đối với bên ngoài nhằm tạo lòng tin cho khách hàng và những ngườikhác có liên quan Nếu những yêu cầu về chất lượng không phản ánh đầy đủ nhữngnhu cầu của người tiêu dùng thì sản phẩm sẽ không tạo dựng được lòng tin thỏa đángnơi người tiêu dùng
Các xu hướng đảm bảo chất lượng:
a Đảm bảo chất lượng dựa trên sự kiểm tra:
Kiểm tra sản phẩm sau khi sản xuất là cách tiếp cận đảm bảo chất lượng đầu tiên ỞNhật, người ta đã từ bỏ cách tiếp cận này rất sớm Trong khi đó, ở các nước phươngTây, nhiều người vẫn cho rằng kiểm tra kỹ thuật có nghĩa là đảm bảo chất lượng.Phòng kiểm tra kỹ thuật thường được tổ chức là một bộ phân riêng, độc lập với nhữngquyền hạn rất cao Để đảm bảo chất lượng, cần phải tăng cường kiểm tra, nên tỉ lệnhân viên làm công việc này trong các công ty ở phương Tây thường khá cao, khoảng15% tổng số nhân viên, trong khi đó, ở Nhật bản, số này chỉ khoảng 1% Việc đảm bảochất lượng dựa trên sự kiểm tra có những hạn chế sau:
- Việc kiểm tra sẽ trở nên không cần thiết và là một lãng phí lớn nếu việc sảnxuất được tổ chức tốt và các khuyết tật trong sản phẩm dần dần giảm đi
- Trách nhiệm về đảm bảo chất lượng thuộc về người bán (sản xuất), người mua
sẽ kiểm tra lại sản phẩm khi mua trong trường hợp có nghi ngờ về chất lượngsản phẩm Nếu người bán (sản xuất) có hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệuquả thì người mua không cần phải kiểm tra nữa
Trang 24- Những thông tin ngược từ phòng KCS đến bộ phận sản xuất thường tốn nhiềuthời gian và đôi khi vô ích nữa trong khi các sai lỗi vẫn cứ lặp lại Trái lại, nếuquyền lợi công nhân gắn liền với khuyết tật của sản phẩm , họ chịu trách nhiệm
về sản phẩm và công việc của mình, họ sẽ tự kiểm tra và mối liên hệ ngược sẽnhanh chóng, sửa chữa sẽ linh hoạt hơn và nhiều khả năng là khuyết tật sẽkhông lặp lại nữa
- Kiểm tra nghiệm thu thường cho phép chấp nhận một tỉ lệ sản phẩm xấu nhấtđịnh Điều này không hợp lý và kinh tế nếu so sánh với biện pháp tìm cho đượcnguyên nhân gây ra khuyết tật để khắc phục
- Hoạt động kiểm tra có tiến hành chặt chẽ đến đâu cũng không thể nào phát hiện
và loại bỏ được hết các khuyết tật
- Việc phát hiện ra các khuyết tật nhờ vào kiểm tra cũng chỉ giúp nhà sản xuấtsửa chữa, hiệu chỉnh hoặc loại bỏ chứ không giúp nâng cao chất lượng sảnphẩm
Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh rằng : chừng nào còn khả năng xuất hiện các khuyết tậtthì về nguyên tắc tất cả sản phẩm đều phải được kiểm tra
b Đảm bảo chất lượng dựa trên sự quản trị quá trình sản xuất
Do những giới hạn của việc đảm bảo chất lượng dựa trên kiểm tra nên người ta dầndần chuyển sang đảm bảo chất lượng dựa trên quá trình sản xuất và đòi hỏi sự thamgia của tất cả mọi người, từ lãnh đạo cấp cao nhất đến tất cả nhân viên Khi đó tất cảmọi bên có liên quan đến vấn đề chất lượng sản phẩm như phòng kiểm tra kỹ thuật,phòng cung ứng, bộ phận sản xuất, bộ phận kinh doanh.v.v đều phải tham gia vàoviệc quản lý chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên việc quản trị quá trình sản xuất cũng có những hạn chế và chỉ có quản trịquá trình sản xuất thì không thể đảm bảo chất lượng được Cách làm này không thểđảm bảo việc khai thác sản phẩm trong những điều kiện khác nhau, không thể tránhviệc sử dụng sai sản phẩm, không xử lý kịp thời được các hỏng hóc xảy ra Mặt khác,người ta cũng không thể giải quyết triệt để được các vấn đề phát sinh trong giai đoạnnghiên cứu, thiết kế sản phẩm với chỉ đơn độc bộ phận sản xuất
c Đảm bảo chất lượng trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, trong đó chú ý đặc biệt đảm bảo chất lượng ngay từ giai đoạn nghiên cứu triển khai sản phẩm
Áp dụng đảm bảo chất lượng trong suốt chu kỳ sống sản phẩm nghĩa là người ta phảichú ý đến mọi giai đoạn trong việc tạo ra sản phẩm , từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuấtcho đến tiêu thụ, sử dụng, khai thác và thậm chí trong việc tiêu hủy sản phẩm Ở mỗigiai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm đều phải tiến hành đánh giá chặt chẽ các chỉ tiêu
và áp dụng các biện pháp đảm bảo chất lượng sản phẩm Trước khi sản xuất cần phảiphân tích chất lượng, thử nghiệm độ tin cậy trong những điều kiện khác nhau Nhưvậy, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy đã có sẳn trong chính quá trình nghiên cứu triểnkhai và chuẩn bị sản xuất sản phẩm mới
Kiểm soát chất lượng toàn diện:
Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nỗ lựcphát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng của các nhóm khác
Trang 25nhau trong một tổ chức sao cho các hoạt động tiếp thị, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ cóthể tiến hành một cách kinh tế nhất cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng.
Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong công ty vào cácquá trình có liên quan đến duy trì và cải tiến chất lượng Điều này sẽ giúp tiết kiệm tối
đa trong sản xuất, dịch vụ đồng thời thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Quản lý chất lượng toàn diện:
Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) được định nghĩa làmột phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng dựa trên sựtham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏamãn của khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốtnhất cho phép Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượngtrước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọikhía cạnh có liên quan đến chất lượng, huy động được sự tham gia của mọi bộ phận vàmọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra
2.4 KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG BẰNG THỐNG KÊ
2.4.1 Khái niệm:
Kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC) là việc áp dụng phương pháp thống kê để
thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu một cách đúng đắn, chính xác và kịp thờinhằm theo dõi, kiểm soát, cải tiến quá trình hoạt động của một đơn vị, một tổ chứcbằng cách giảm tính biến động của nó
Kiểm soát chất lượng là cần thiết vì không có một quá trình hoạt động nào có thể cho
ra những sản phẩm giống hệt nhau Sự biến động này do nhiều nguyên nhân khácnhau Có thể phân ra làm 2 loại nguyên nhân:
Loại thứ nhất: Do biến đổi ngẫu nhiên vốn có của quá trình, chúng phụ thuộcmáy móc, thiết bị, công nghệ và cách đo Biến đổi do những nguyên nhân này
là điều tự nhiên, bình thường, không cần phải điều chỉnh, sửa sai
Loại thứ hai: Do những nguyên nhân không ngẫu nhiên, những nguyên nhânđặc biệt, bất thường mà nhà quản trị có thể nhận dạng và cần phải tìm ra để sửachữa nhằm ngăn ngừa những sai sót tiếp tục phát sinh Nguyên nhân loại này cóthể do thiết bị điều chỉnh không đúng, nguyên vật liệu có sai sót, máy móc bị
hư, công nhân thao tác không đúng
Việc áp dụng SQC giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề như:
- Tập hợp số liệu dễ dàng
- Xác định được vấn đề
- Phỏng đoán và nhận biết các nguyên nhân
- Loại bỏ nguyên nhân
- Ngăn ngừa các sai lỗi
Trang 26- Xác định hiệu quả của cải tiến
Trong xu thế hiện nay việc nghiên cứu, ứng dụng các công cụ SQC là điều kiện cầnthiết giúp các nhà doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập thị trường thế giới Phần tiếp theo sẽ trình bày một số lý thuyết về các công cụ thống kê được áp dụngtrong luận văn, bao gồm:
2.4.2 Biểu đồ tiến trình (lưu đồ):
- Những người làm việc trong quá trình sẽ hiểu rõ quá trình Họ kiểm soát được
nó, thay vì trở thành nạn nhân của nó
- Một khi quá trình được xem xét một cách khách quan dưới hình thức lưu đồ,những cải tiến có thể nhận dạng dễ dàng
- Với lưu đồ, nhân viên hiểu được toàn bộ quá trình, họ sẽ hình dung ra mối quan
hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp của họ như là một phần trong toàn bộ quátrình Chính điều này dẫn tới việc cải thiện thông tin giữa khu vực và phòng bansản xuất
- Những người tham gia vào công việc lưu đồ hóa sẽ đóng góp nhiều nỗ lực chochất lượng
- Lưu đồ là công cụ rất có giá trị trong các chương trình huấn luyện cho nhânviên mới
- Giúp cải tiến thông tin đối với mọi bước của quá trình, thiết kế quá trình mới
Trang 272.4.3 Biểu đồ Pareto:
Khái niệm:
Biểu đồ Pareto là một kỹ thuật đồ thị đơn giản để xếp hạng các cá thể từ mức đóng gópcao nhất đến nhỏ nhất Biểu đồ Pareto dựa trên nguyên tắc Pareto (Pareto - nhà kinh tếhọc người Ý): Chỉ một số ít cá thể thường gây ra phần lớn hiệu quả Bằng sự phân biệtnhững cá thể quan trọng nhất với những cá thể ít quan trọng hơn, ta có thể thu được sựcải tiến lớn nhất với cố gắng ít nhất
Bước 4: Vẽ biểu đồ Pareto
Bước 5: Kẻ 2 trục tung, một ở đầu và một ở cuối trục hoành Thang bên trái được định
cỡ theo đơn vị đo, chiều cao của nó phải bằng tổng số độ lớn của tất cả các cá thể.Thang bên phải có cùng chiều cao và được định cỡ từ 0 đến 100% Trên mỗi cá thể vẽhình chữ nhật có chiều cao biểu thị lượng đơn vị đo cho cá thể đó Lập đường tần sốtích lũy
Bước 6: Xác định các cá thể quan trọng nhất để cải tiến chất lượng
Lợi ích và hạn chế:
Lợi ích:
- Biểu đồ Pareto giúp nhận ra vấn đề nào cần giải quyết trước
- So với bảng thống kê, nó thuận lợi hơn vì nó gây ấn tượng mạnh mẽ về nhữngnguyên nhân đưa đến sai sót
Trang 28Đây là một công cụ hữu hiệu giúp liệt kê các nguyên nhân gây nên biến động chấtlượng, là một kỹ thuật để công khai nêu ý kiến, có thể dùng trong nhiều tình huốngkhác nhau
Có tác dụng tích cực trong việc đào tạo, huấn luyện các cán bộ kỹ thuật và kiểm tra,nâng cao sự hiểu biết tư duy logic và sự gắn bó giữa các thành viên
Cách sử dụng:
Bước 1: Xác định rõ và ngắn gọn chỉ tiêu chất lương (CTCL) cần phân tích Viết chỉtiêu chất lượng đó bên phải và vẽ mũi tên từ trái sang phải
Bước 2: Xác định những nguyên nhân chính (nguyên nhân cấp 1)
Thông thường người ta chia làm 4 nguyên nhân chính (con người, thiết bị, nguyên vậtliệu, phương pháp), cũng có thể kể thêm những nguyên nhân sau: hệ thống thông tin,
dữ liệu, môi trường, các phép đo Người ta cũng có thể chọn các bước chính của mộtquá trình sản xuất làm các nguyên nhân chính Biểu diễn những nguyên nhân chính lên
sơ đồ
Bước 3: Phát triển biểu đồ bằng cách liệt kê những nguyên nhân ở cấp tiếp theo(nguyên nhân phụ) xung quanh một nguyên nhân chính Tiếp tục thủ tục này cho đếncác cấp thấp hơn
Bước 4: Sau khi phác thảo xong biểu đồ nhân quả, cần hội thảo với những người cóliên quan, nhất là những người trực tiếp sản xuất để tìm ra một cách đầy đủ nhất cácnguyên nhân gây nên những trục trặc, ảnh hưởng đến chỉ tiêu chất lượng cần phântích
Bước 5: Điều chỉnh các yếu tố và thiết lập biểu đồ nhân quả để xử lý
Bước 6: Lực chọn và xác định một số lượng nhỏ (3 - 5) nguyên nhân chính có thể ảnhhưởng lớn đến chỉ tiêu chất lượng cần phân tích Sau đó cần có những hoạt động như:thu thập số liệu, nỗ lực kiểm soát các nguyên nhân đó
Chỉ tiêu chất lượngcần phân tích
Trang 29Ví dụ:
Hình 2.5: Biểu đồ nhân quả chất lượng sản phẩm Bất lợi của biểu đồ nhân quả:
- Dễ sa lầy vào một số nguyên nhân có thể có (nguyên vật liệu hay đo lường)
- Khó dùng cho quá trình dài, phức tạp
- Những nguyên nhân giống nhau của vấn đề có thể xuất hiện nhiều lần
- Để xây dựng một biểu đồ nhân quả tốt, đòi hỏi tất cả các thành viên đều phải cómột suy nghĩ chung là cùng hướng về chất lượng sản phẩm
- Biểu đồ nhân quả chỉ là danh sách liệt kê các nguyên nhân có thể có, nên nếuchỉ dựa vào biểu đồ nhân quả thì không phát hiện được nguyên nhân gốc rễ củavấn đề
2.5 KCS VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC KIỂM TRA
2.5.1 Định nghĩa về KCS
KCS là từ viết tắt của kiểm tra chất lượng sản phẩm, trong thực tế thường được hiểunhư là công việc của một nhân viên hay một bộ phận trong một doanh nghiệp có thựchiện hoạt động sản xuất công nghiệp Trách nhiệm chính của một nhân viên KCS làkiểm tra việc tuân thủ quy trình công nghệ, kỹ thuật và sản phẩm để đảm bảo mức độphù hợp so với các tiêu chuẩn đã đặt ra
2.5.2 Các quyết định liên quan đến việc kiểm tra
Một trong những mục đích sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất của kiểm tra là chấp nhậnhay từ chối sản phẩm Việc chấp nhận sản phẩm liên quan đến việc xử lý sản phẩmtheo chất lượng của nó Việc xử lý đòi hỏi phải đưa ra nhiều quyết định quan trọng:
Nguyên vật liệuThiết bị
Môi trường
Chất lượng sản phẩm
Trang 30Quyết định về sự phù hợp: Kết luận dựa trên sự phù hợp đối với quy định Ngoại trừ
trong các công ty nhỏ, công việc này thường được tổ chức sao cho kiểm tra viên haycông nhân sản xuất có thể tự ra quyết định Để được như vậy, họ cần được huấn luyện
để hiểu sản phẩm, các tiêu chuẩn và thiết bị Kết hợp với quyết định này là xử lý sảnphẩm phù hợp Kiểm tra viên được quyền xác định sản phẩm ("dán nhãn") là phù hợp
Sự phân biệt này được thông báo cho các bộ phận hay công đoạn xử lý sau
Quyết định về sự thích hợp để sử dụng: Trong trường hợp sản phẩm không phù hợp,
một câu hỏi đặt ra: liệu sản phẩm không phù hợp này có thích hợp để sử dụng? Có 2tính huống:
- Sự không phù hợp quá nghiêm trọng làm cho sản phẩm không thể thích hợp để
sử dụng
- Một số trường hợp câu trả lời đối với sự thích hợp để sử dụng là không rõ ràng.Khi đó, nếu số lượng cần thiết không đạt được, cần phải tiến hành nghiên cứuthêm về những thông tin như: ai sẽ là người sử dụng, sản phẩm được sử dụngnhư thế nào, có rủi ro đối với sự an toàn của người sử dụng hay đối với sự đồngnhất của kết cấu, có tính chất khẩn cấp,
Quyết định về thông tin: Dữ liệu về sản phẩm không phù hợp thường được thông tin
cho các bộ phận sản xuất để giúp họ ngăn ngừa trong tương lai
Khi các sản phẩm không phù hợp được đưa ra ngoài trong tình trạng thích hợp để sửdụng, sẽ có 2 loại thông tin phải bổ sung:
- Thông tin đối với bên ngoài: sự yếu kém về thông tin này là do các biểu mẫu
ghi chép các quyết định thường thiếu các mục liên quan đến các khuyến cáo vàquyết định là: có nên thông tin cho khách hàng và thông tin những gì cho họ
- Thông tin đối với bên trong: sản phẩm không phù hợp cũng được chuyển đi như
tình trạng thích hợp để sử dụng, đó cũng là lý do tại sao kiểm tra viên và đặcbiệt là công nhân sản xuất không thường xuyên được thông tin đầy đủ Khoảngtrống về thông tin này trong thực tế đã tạo nên những vấn đề tồi tệ và chỉ có thểđược giải quyết nếu công ty thẳng thắn đối diện với câu hỏi là sẽ cung cấpnhững thông tin gì về sản phẩm đối với bên trong
2.5.3 Hoạch định việc kiểm tra
Xác định các trạm kiểm tra: công cụ cơ bản để chọn vị trí các trạm kiểm tra là
lưu đồ Các vi trí thường được chọn là:
- Tại nơi nhận hàng của nhà cung cấp, thường được gọi là "kiểm tra đầu vào" hay
"kiểm tra nhà cung cấp"
- Sau công việc cài đặt, chuẩn bị một quá trình sản xuất nhằm đảm bảo khôngxuất hiện những mẻ sản phẩm hư hỏng
- Trước khi vận hành quá trình sản xuất quan trọng hay tốn kém, thường đượcgọi là "kiểm tra quá trình"
- Trước khi chuyển sang một bộ phận xử lý khác, thường gọi là "kiểm tra lô"
Trang 31- Trước khi chuyển thành phẩm vào kho hay đến khách hàng, thường được gọi là
"kiểm tra thành phẩm"
- Trước khi thực hiện một vận hành tốn kém hay không thể thay đổi
- Tại những điểm quan sát tự nhiên trong quá trình
Lựa chọn và diễn dịch các đặc tính chất lượng
Nhà quản lý chất lượng chuẩn bị một danh sách các đặc tính chất lượng cần kiểm tratại các trạm Trong một vài đặc tính, cần phải cung cấp thông tin hỗ trợ cho các quyđịnh kỹ thuật Những chỉ tiêu quy định của sản phẩm được một số chuyên viên đưa ra.Đáng tiếc, những quy định này lại ít được thông tin đầy đủ cho kiểm tra viên và côngnhân thực hiện
Hoạch định việc kiểm tra chi tiết
Đối với mỗi đặc tính chất lượng, nhà hoạch định xác định công việc chi tiết cần thựchiện Sự xác định này gồm những vấn đề sau:
- Loại thử nghiệm cần thực hiện
- Số lượng các đơn vị sản phẩm cần thử nghiệm
- Phương pháp chọn mẫu để thử nghiệm
- Loại đo đạc cần thực hiện
- Tiêu chuẩn về sự phù hợp đối với mỗi sản phẩm
Ngoài hoạch định chi tiết trên về mỗi đặc tính chất lượng, còn có hoạch định chi tiếthơn về sản phẩm, quá trình và hệ thống dữ liệu
Những đặc tính cảm quan
Đó là những đặc tính mà chúng ta thiếu công cụ đo đạc và những giác quan của conngười sẽ được sử dụng như công cụ đánh giá Chất lượng cảm quan có thể liên quanđến năng lực công nghệ của sản phẩm, đặc tính thẩm mỹ, hay đặc tính về dịch vụ dànhcho con người
Một loại đặc tính cảm quan quan trọng là đặc tính về chất lượng trực quan Thôngthường, có một số chỉ tiêu kỹ thuật quy định bằng văn bản không rõ ràng bởi vì không
có khả năng lượng hóa được đặc tính chất lượng đó Có một số phương pháp để tiếpcận mô tả những giới hạn cho các đặc tính chất lượng này, bao gồm:
- Đưa ra hình ảnh để xác định giới hạn chấp nhận của sản phẩm
- Đưa ra những tiêu chuẩn vật lý để xác định giới hạn chấp nhận
- Quy định những điều kiện kiểm tra thay vì cố gắng xác định rõ những giới hạnchấp nhận
2.5.4 Phân loại mức độ nghiêm trọng
Các đặc tính chất lượng không được xem là tương đương nhau trong tác động đối với
sự thích hợp để sử dụng Một số thì rất nghiêm trọng, quan trọng đặc biệt, trong khimột số khác thì ít quan trọng hơn Nhiều công ty đã sử dụng các hệ thống phân loại
Trang 32mức độ nghiêm trọng Kết quả của sự phân loại này được ứng dụng trong rất nhiềutrường hợp như kiểm tra và hoạch định chất lượng, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật, quan
hệ với nhà cung cấp Hệ thống này cần được một ủy ban liên bộ phận chuẩn bị để:
- Quyết định xem cần có bao nhiêu loại hay cấp quan trọng cần được tạo ra
- Định nghĩa rõ từng loại
- Phân loại từng đặc tính chất lượng vào từng loại, từng cấp nghiêm trọng
2.5.5 Đánh giá sự chính xác của kiểm tra viên
Mức độ chính xác của việc kiểm tra phụ thuộc vào:
- Mức độ toàn diện của việc hoạch định kiểm tra
- Sự sai lệch và chính xác của thiết bị kiểm tra
- Mức độ sai sót của người kiểm tra
Tỷ lệ sai sót cao đặc biệt phổ biến trong những nhiệm vụ kiểm tra có sự đơn điệu cao.Sai sót do con người xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có 4 nguyên nhân quantrọng nhất: diễn dịch sai, sai sót kỹ thuật, sai sót do sơ suất, và sai sót có ý thức
Một số công ty thực hiện việc đánh gia thường xuyên sự chính xác của kiểm tra viên,vừa là một phần quan trọng trong đánh giá toàn bộ năng lực hoạt động kiểm tra, vừa làmột phần quan trọng trong kế hoạch khen thương đối với kiểm tra viên Ở cả 2 ý nghĩacác công ty đều có một kiểm tra viên kiểm tra lại định kỳ một số mẫu ngẫu nhiên đãđược nhiều kiểm tra viên kiểm tra trước đó Kết quả sau đó được tóm tắt, xử lý vàchuyển thành những chỉ số năng lực của kiểm tra viên
Trang 33CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
GIÀY THÁI BÌNH VÀ NHÀ MÁY ĐẾ3.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Công ty giày Thái Bình
Tên giao dịch: Công ty cổ phần giày Thái Bình (Thai Binh shoes)
Tru sở chính: Số 5A, xa lộ Xuyên Á, xã An Bình, huyện Dĩ An, Bình Dương
Tiền thân của Công Ty Cổ Phần Giày Thái Bình với tên viết tắt TBS'Group ngày nay
do một nhóm nhỏ các cán bộ sỹ quan thuộc trung đoàn 165, sư đoàn 7, quân đoàn 4,kết hợp với một số kỹ sư mới ra trường thành lập vào năm 1989 Lĩnh vực hoạt độngchủ yếu trong giai đoạn này là:
Gieo trồng giống cây bạch đàn cao sản cung cấp cho các tỉnh miền Đông vàmiền Nam Trung Bộ
Thu mua xuất khẩu cây nguyên liệu giấy
Kinh doanh bán sỉ và lẻ xăng dầu
Trong những năm đầu thành lập nhóm cán bộ này đã kết hợp với các chuyên gia Phápcủa công ty Liksin và công ty Imex Tam Bình, Vĩnh Long trong việc gieo trồng vàxuất khẩu cây nguyên liệu giấy Chỉ trong vòng 3 năm (từ 1989 - 1991) đã gieo trồngđược khoảng 30 triệu cây giống, đồng thời tham gia xuất khẩu cây nguyên liệu giấyqua cảng Hải Phòng và Quy Nhơn, thu về cho đất nuớc khoảng 5 triệu USD, tạo công
ăn việc làm ổn định cho 250 cán bộ công nhân viên (CBCNV)
Trên đà phát triển đó ngày 06/10/1992, công ty đầu tiên được thành lập mang tên
"Công ty TNHH Thái Bình".
b Giai đoạn 1993 - 1997
Đây là thời kỳ xây dựng và học hỏi với 2 nhiệm vụ chính là:
Tích cực học hỏi và hoàn thiện công nghệ sản xuất giày
Hình thành tổ chức và đào tạo cán bộ công nhân viên
Cuối năm 1992, Công ty tập trung vào xây dựng nhà máy số 1, xây dựng hệ thống tổchức cán bộ, tuyển dụng và đào tạo công nhân kỹ thuật ngành giày để đến tháng 8 năm
1993 chính thức đi vào hoạt động Với mục đích học hỏi công nghệ, những năm đầucông ty đã thực hiện gia công cho công ty ORION TAIWAN với khoảng 6 triệuđôi/năm giày nữ các loại
Trang 34Tuy nhiên, Hội đồng quản trị (HĐQT) và ban lãnh đạo công ty nhận thấy rằng vớihình thức gia công trên thì sẽ không phát triển được Vì vậy, cuối năm 1995 Công ty
đã tập trung xây dựng dây chuyền sản xuất giày thể thao mini và từng bước chuyển từhình thức "gia công" sang hình thức "mua nguyên liệu, bán thành phẩm" Tiếp đó,công ty đã đầu tư xây dựng thành công Nhà máy số 2 với dây chuyền sản xuất hiện đạicủa USM và ký hợp đồng sản xuất cho tập đoàn Reebok Tuy nhiên do thị phần củatập đoàn Reebok bị thu hẹp trên thế giới nên 5 nhà máy trên toàn cầu sản xuất choReebok đã bị cắt đơn hàng, trong đó có Công ty Giày Thái Bình (bị cắt đơn hàng vàocuối năm 1996) Cùng lúc đó công ty ORION TAIWAN đã chuyển đơn hàng sangcông ty Hải Vinh, điều này đã đẩy Công ty vào giai đoạn vô cùng khó khăn
Trước tình hình đó công ty đã quyết định đầu tư sang lĩnh vực sản xuất giày vải, đồngthời phát triển hơn nữa trong sản xuất giày thể thao Những đôi giày vải đầu tiên đãđược sản xuất cho hãng NOVI của Đức và từ cuối năm 1996 đến đầu năm 1997 Công
ty đã ký được hợp đồng sản xuất giày trực tiếp với tập đoàn phân phối khổng lồ tạiPháp là Decathlon và một số khách hàng khác như Stilman, DC
c Giai đoạn 1997- nay
Đây là giai đoạn của sự hoàn thiện và phát triển Nhiệm vụ chính là tập trung vào xâydựng, mở rộng và hoàn thiện bộ máy sản xuất nói chung, văn phòng nói riêng Công ty
đã xây dựng được cho mình một văn phòng làm việc đáp ứng đủ các tiêu chuẩn củamột văn phòng quốc tế
Với khả năng nhạy bén, sáng tạo, nhận biết đúng tình hình thị trường, ngày 24/04/2000ban lãnh đạo công ty đã đầu tư thành lập một công ty hoạt động trong lĩnh vực địa ốcmang tên Công ty cổ phần địa ốc ARECO
Ngày 08/05/2000 tiếp tục đầu tư thành lập Công ty TNHH giày Thanh Bình chuyênsản xuất đế phục vụ cho sản xuất giày xuất khẩu
Trên đà phát triển mở rộng, ngày 16/11/2001 ban lãnh đạo công ty quyết định đầu tưthành lập Công ty liên doanh Pacific, góp phần vào sự phát triển vững mạnh của nhómcông ty TBS'Group
Trong mảng đầu tư tài chính, Công ty cũng đã đầu tư vào một số công ty như: Công ty
cổ phần cáp điện Sài Gòn SCC, Công ty cổ phần vận tải biển Saigon Ship, Quỹ đầu tưtài chính Vietcombank, Công ty cổ phần đầu tư và xúc tiến thương mại Lefaso
Tháng 06 năm 2005, HĐQT đã quyết định chuyển đổi công ty TNHH Thái Bình thànhcông ty Cổ phần, các thủ tục pháp lý và hành chính đã được hoàn tất vào ngày31/07/2005 HĐQT đã thông báo: Công ty cổ phần giày Thái Bình chính thức đi vàohoạt động từ ngày 01/08/2005
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty giày Thái Bình
Cơ cấu tổ chức của công ty giày Thái Bình được chia là 2 nhóm: nhóm văn phòng vànhóm sản xuất
Nhóm văn phòng: bao gồm 8 phòng chức năng sau: phòng đầu tư vốn, phòng tài chính,
phòng phát triển nhân lực công ty, phòng nội chính, phòng kinh doanh - phát triển sản
Trang 35phẩm, phòng kế hoạch cân bằng sản xuất, phòng kế hoạch vật tư sản xuất, phòng côngnghệ - thiết bị - chất lượng.
Nhóm sản xuất: gồm có 4 nhà máy, được bố trí để thực hiện các chức năng chuyên
môn hóa khác nhau
- Nhà máy đế: chuyên sản xuất các loại đế
- Nhà máy giày 1 và 2: thực hiện chức năng may rập vào đế và tạo thành chiếcgiày hoàn chỉnh
- Nhà máy TBS Pack: thực hiện chức năng đóng gói và nhập xuất thành phẩm
3.1.3 Sản phẩm, thị trường và quy trình công nghệ
Hiện nay công ty đã nằm trong top 10 nhà sản xuất giày hàng đầu Việt Nam Kháchhàng mục tiêu chính của công ty là các thương hiệu hàng đầu và các chuỗi cửa hàngtrên toàn thế giới, một số khách hàng lớn và uy tín của công ty như: Reebok,Decathlon, Skechers, Dcshoescousa, Quik-silver
Quy trình công nghệ
Khi khách hàng có nhu cầu, họ sẽ gửi mẫu giày hay hình mẫu tới công ty Bộ phậnkinh doanh sẽ tiếp nhận và sẽ gửi yêu cầu này tới phòng thiết kế để tạo ra bản vẽ mẫuvới các thông số thiết kế hoàn chỉnh Bản vẽ sẽ được gửi cho khách hàng kiểm tra vàchỉnh sửa cho đến khi đạt yêu cầu của họ
Sau khi được khách hàng thông qua, các công đoạn cần thiết để chuẩn bị sản xuất mẫu
sẽ được tiến hành Giai đoạn này yêu cầu sự phối hợp của nhiều bộ phận, bao gồm:
- Phòng định mức: để ước tính giá thành của một sản phẩm mẫu
- Phòng mua hàng: để lập đơn hàng sản xuất mẫu và mua vật tư sản xuất mẫu
- Phòng thiết kế: để tạo khuôn mẫu cho sản xuất
Tiếp theo, việc sản xuất mẫu được tiến hành Mẫu sau đó được gửi cho khách hàngkiểm tra để xác nhận các yêu cầu của họ được đáp ứng Khi khách hàng đã xác nhận,
bộ phận kinh doanh sẽ gửi thông tin đến các phòng ban trên để thực hiện các công việccần thiết trước khi tiến hành sản xuất hàng loạt Sản phẩm sau khi được sản xuất sẽ lưukho thành phẩm chờ giao cho khách hàng
Trang 36Hình 3.1: Quy trình sản xuất tổng quát
Mua vật tư sx mẫu
Thiết kế khuôn mẫu
Sx hàng loạt
Chuẩn bị sản xuất hàng loạt:Tính giá thành lô hàngLập ĐH sản xuấtMua vật tư sản xuấtThiết kế khuôn
YesNo
Yes
m tra
Trang 373.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh một số năm gần đây:
Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm được thể hiện ở hình sau:
Doanh thu (tỷ đồng) Doanh số (triệu đôi)
Hình 3.2: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 1995 - 2009
(Nguồn: Tài liệu nội bộ công ty)
Có thể thấy cùng với việc gia tăng sản lượng sản xuất thì doanh thu của công ty cũngtăng liên tục qua các năm Năm 2009, doanh thu của công ty đã vượt mức 1.500 tỷđồng, đây là một mức doanh thu cao so với nhiều doanh nghiệp trong ngành, đã gópphần đưa công ty vào trong top 10 doanh nghiệp sản xuất giày hàng đầu Việt Nam Cóđược thành quả này là do thị trường của công ty đã liên tục được mở rộng, bên cạnhviệc đẩy mạnh xâm nhập vào 2 thị trường chính là Châu Âu và Bắc Mỹ, công ty cònvươn tầm hoạt động của mình tới thị trường Nam Mỹ và một số quốc gia ở Châu Ánhư Nhật Bản…
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009
Trang 382009 đạt tới 150 tỷ đồng, chủ yếu là do đơn đặt hàng của nhiều thị trường quan trọng
đã tăng trở lại và chi phí nguyên vật liệu cũng không còn leo thang như trước
3.2 GIỚI THIỆU NHÀ MÁY ĐẾ
3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Cuối năm 1992, nhà máy giày số 1 - nhà máy giày đầu tiên của công ty được tiến hànhxây dựng trên khu đất 12.000 m2 thuộc xã An Bình, huyện Dĩ An, Bình Dương và đếntháng 8 năm 1993, nhà máy chính thức đi vào hoạt động Trong thời gian đầu, nhàmáy thực hiện toàn bộ các chức năng từ sản xuất đế, may rập đến hoàn thiện giày vàđóng gói, xuất khẩu Do mới đi vào hoạt động, số lượng đơn hàng còn ít nên mọi việcdiển ra khá suôn sẽ và không phát sinh vấn đề gì quá lớn
Từ giữa năm 1994 trở đi, số lượng đơn hàng công ty nhận được bắt đầu có những bướcnhảy vọt Điều này là do sự phát triển chung của ngành giày Việt Nam và sự sụt giảmsản lượng từ một số thị trường gia công lớn như Trung Quốc, Đài Loan Tuy nhiên,
đi cùng với sự tăng trưởng thì những vấn đề bất cập trong sản xuất càng xuất hiệnnhiều hơn Việc một nhà máy cùng lúc thực hiện quá nhiều chức năng trong một quytrình sản xuất giày tạo ra những mâu thuẫn và sự quá tải cho đội ngũ nhân sự của nhàmáy Nhận thấy vấn đề này, tháng 9 năm 1994, công ty đã tiến hành xây dựng nhàmáy đế nhằm tách riêng chức năng sản xuất đế ra khỏi nhà máy số 1 Tháng 12 năm
1995, nhà máy chính thức đi vào hoạt động
Năm 1997, khi nhà máy số 2 đi vào hoạt động thì nhà máy đế cũng kiêm luôn việc sảnxuất đế để cung cấp cho nhà máy này Chính vì thế, khối lượng công việc mà nhà máyđảm nhận cũng tăng lên rất nhiều Cuối năm 1998, banh lãnh đạo giày Thái Bình đãquyết định mở rộng quy mô nhà máy đế, đội ngũ công nhân của nhà máy cũng gia tăngnhanh chóng lên tới hơn 600 người (vào tháng 1/1996 chỉ mới có khoảng 150 người)
Từ năm 2000 tới nay, là thời kỳ phát triển của nhà máy đế Nhà máy đã được tổ chứcthành một bộ phận độc lập, có hệ thống các phòng ban, đội ngũ thiết kế, quản lý chấtlượng riêng và luôn được đánh giá là một trong những bộ phận có tổ chức tốt và đạthiệu quả cao nhất của công ty giày Thái Bình
3.2.2 Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng:
Nhà máy đế là một đơn vị thành viên của công ty cổ phần giày Thái Bình, có vai trònhư là một khâu trong chuỗi quy trình sản xuất của công ty Chức năng của nhà máy làsản xuất và đảm bảo chất lượng của các loại đế nhằm cung cấp cho các công đoạn sảnxuất tiếp theo Cụ thể:
- Thực hiện quản lý, tổ chức sản xuất theo đúng kế hoạch của phòng kế hoạch đãđược ban giám đốc phê duyệt
- Quản lý trực tiếp các mặt như nhân sự, máy móc thiết bị, nhà xưởng, vật tư phụtùng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, đảm bảo đúng chứcnăng, đạt hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh của nhà máy
- Bảo đảm môi trường làm việc phù hợp
Trang 39- Tham mưu cho giám đốc và phòng ban công ty các vấn đề về kế hoạch sảnxuất, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nhàmáy.
- Phối hợp đào tạo, đánh giá nhân viên cùng phòng phát triển nhân lực
- Nghiên cứu nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng sản phẩm
- Tham gia xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tại công ty
Nhiệm vụ:
- Chủ động thực hiện kế hoạch sản xuất do phòng kế hoạch chuyển giao
- Báo cáo tình hình sản xuất cho phòng kế hoạch để có sự điều chỉnh cần thiết
- Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn sản phẩm và phát triển mẫu thông qua quátrình làm việc với khách hàng
- Phối hợp với phòng chất lượng để giải quyết các sự cố về chất lượng phát sinhtrong sản xuất
- Quản lý và báo cáo về tình hình nhân sự cho phòng phát triển nhân sự, phối hợpcùng phòng để đào tạo nguồn nhân lực cho nhà máy
- Quản lý máy móc, bảo trì máy móc định kỳ
3.2.3 Các loại sản phẩm chính của nhà máy:
Dựa theo loại nguyên vật liệu dùng để sản xuất, các sản phẩm đế của nhà máy đượcchia làm 3 loại chính là đế cao su, đế eva và đế phylon Trong đó, đế cao su là sảnphẩm chủ lực của nhà máy, chiếm tới 55% tổng sản lượng sản xuất Các loại giày sửdụng loại đế này chiếm thị phần lớn tại nhiều thị trường trọng điểm của công ty Trongchiến lược phát triển của giày Thái Bình, công ty cũng đã khẳng định tầm quan trọngcủa loại sản phẩm này, thông qua việc đặt mục tiêu tăng tỷ lệ của đế cao su lên tới70% vào năm 2015
Trang 40Hình 3.3: Tỷ trọng các sản phẩm của nhà máy đế năm 2009 3.2.4 Cơ cấu tổ chức và nhân sự:
a Cơ cấu tổ chức:
Bộ máy quản lý của nhà máy đế được tổ chức theo dạng trực tuyến chức năng, đảmbảo chế độ một thủ trưởng, chỉ đạo trực tuyến các bộ phận hay phòng ban dưới quyền
Sơ đồ tổ chức của nhà máy được trình bày ở hình 3.4
Sau đây ta sẽ mô tả kỹ hơn về sơ đồ này:
Ban giám đốc: bao gồm
Giám đốc: Người điều hành và quyết định cao nhất về tất cả các vấn đề liênquan đến hoạt động hàng ngày của nhà máy và chịu trách nhiệm trước Tổngcông ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Phụ trách chung vàtrực tiếp các đơn vị như nhân sự, kinh doanh, điều hành sản xuất
Phó giám đốc: là người hỗ trợ công viêc cho giám đốc, phụ trách một số côngtác chuyên biệt và chịu trách nhiệm trước giám đốc
Mọi bộ phận chức năng bên dưới ban giám đốc đều được được xếp vào một trong haikhối sau:
Khối phục vụ sản xuất chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực hiện và giám sát mọi hoạt
động hỗ trợ cần thiết để quá trình sản xuất diễn ra suôn sẽ và đúng tiến độ Bao gồmcác phòng ban sau:
Phòng kế hoạch vật tư - điều hành sản xuất (KHVT- ĐHSX): đảm bảo mức
độ sản xuất đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, lập kế hoạch và theo dõitình hình thực hiện kế hoạch mua bán vật tư phụ tùng theo tháng, quý, năm ,bảo quản vật tư và phụ tùng với mức tồn kho hợp lý
Phòng quản lý nhân sự - tiền lương -chính sách (QLNS - TL - CS): điều
hành và quản lý các hoạt động hành chính và nhân sự của nhà máy, thiết lậpcác kế hoạch và chiến lược để phát triển nguồn nhân lực, thực hiện các nhiệm
vụ như tuyển dụng công nhân cho các phân xưởng và thực hiện các chế độ đãingộ cho công nhân viên tại nhà máy Bên cạnh đó bộ phận còn chịu tráchnhiệm trong việc xây dựng và giải quyết các vấn đề về chính sách đối vớingười lao động, tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy chế, chínhsách về hành chính, nhân sự; tư vấn cho nhân viên về các vấn đề liên quan đếnquyền lợi và nghĩa vụ của mình
Phòng thiết kế công nghệ - kinh doanh & phát triển sản phẩm (TKCN –
KD & PTSP): thực hiện 3 chức năng chính
- Phát triển sản phẩm: dựa trên yêu cầu của khách hàng tiến hành xâydựng bản vẽ thiết kế với các thông số chi tiết, phát triển sản phẩm mẫu,
dự toán các vật tư cần thiết để tạo ra một sản phẩm, xây dựng côngthức, tỷ lệ phối trộn nguyên vật liệu hợp lý
- Thiết kế công nghệ và thiết bị: thiết kế các dây chuyền máy, đưa ra cácbản vẽ chi tiết cho bộ phận sản xuất và cung cấp các tài liệu hướng dẫn