Saponin giữ nhiều vài trò như: tăng cường hoạt tính bề mặt và chức năng của ruột, nâng cao ñáp ứng miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản, hạn chế tỷ lệ ñẻ non, kích thích tăng trưởng v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, các kết quả nêu trong Luận văn là trung thực do tôi khảo sát nghiên cứu
và chưa từng ñược công bố trong các công trình nghiên cứu nào trước ñó
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ðỗ Thị Tô Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này, tác giả ñã nhận ñược sự ñộng viên, ủng hộ và giúp ñỡ hết sức quý báu của các cá nhân
và tập thể, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
GS.TS Vũ Duy Giảng, PGS.TS Bùi Quang Tuấn ñã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Các thầy cô trong Bộ môn Dinh dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã góp ý và chỉ bảo
ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành
Tôi xin cảm ơn Ban Giám ñốc và toàn thể các cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu Vịt ðại Xuyên ñã nhiệt tình giúp ñỡ tôi cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kỹ thuật ñể thực hiện ñề tài
Tôi xin cảm ơn Lãnh ñạo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hưng Yên, lãnh ñạo Phòng Quản lý Khoa học cùng các ñồng nghiệp ñã ủng hộ, tạo ñiều kiện, giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân thành cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm, các bạn bè và người thân trong gia ñình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ðỗ Thị Tô Quyên
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm Nutrafito Plus, axit hữu cơ và
1.3 Giới thiệu giống vịt Triết Giang(TG) và vịt TC1 31 1.3.1 ðặc ñiểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt TG 31 1.3.2 ðặc ñiểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt TC1 33 Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trang 62.4 Phương pháp nghiên cứu 36
3.1 đánh giá tác dụng của chế phẩm Nutrafito Plus trong mối quan
3.1.1 Sinh trưởng tuyệt ựối của vịt con trong 5 tuần thắ nghiệm 42
3.2 đánh giá tác dụng của chế phẩm Nutrafito Plus trong mối quan
Trang 7GOT Glutamic oxalacetic transaminase (men gan)
GPT Glutamic pyruvic transaminase (men gan)
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1.1 Hóa chất thực vật của bột hay dịch chiết của cây Yucca và
3.1 Sinh trưởng tuyệt ñối của vịt con qua các tuần thí nghiệm (n=90) 42
3.3 Khối lượng gan, thận, lách mổ khảo sát vịt (n=6) 47 3.4 Một số chỉ tiêu xét nghiệm sinh hóa máu vịt (n=6) 49
3.7 Khối lượng của vịt trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (n=60) 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH
3.1 ðồ thị biểu diễn tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối của vịt thí nghiệm 44
Trang 10MỞ ðẦU
1 ðặt vấn ñề
Trong những năm gần ñầy, ngành chăn nuôi nước ta ñã có những bước phát triển mạnh mẽ về phương thức chăn nuôi, công tác giống và thức ăn chăn nuôi nhằm phát triển chăn nuôi có năng suất và chất lượng cao Tuy nhiên, công tác phòng và trị bệnh cho vật nuôi vẫn chủ yếu dựa vào kháng sinh Tình trạng lạm dụng kháng sinh và sử dụng kháng sinh một cách tuỳ tiện, dẫn ñến tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn bệnh ngày càng trẩm trọng cũng như gây nhiều nguy cơ về an toàn vệ sinh thực phẩm khi con người sử dụng các sản phẩm có tồn dư kháng sinh
Việc ứng dụng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên vào lĩnh vực chăn nuôi
và nuôi trồng thủy sản ngày càng ñược khuyến khích và ñã trở thành xu thế hiện nay vì liên quan ñến vấn ñề hạn chế tình trạng kháng thuốc do vi khuẩn kháng kháng sinh, ñến an toàn thực phẩm và hiệu quả sản xuất
Chế phẩm Nutrafito Plus của công ty Desert King (Hoa Kỳ) là chế phẩm ñược làm từ cây Yucca và Quillaja chứa hoạt chất saponin và các chất chống oxy hoá khác như resveratrol, polyphenols,… có tác dụng: Kích thích tăng trưởng và cải thiện hiệu quả chuyển hoá thức ăn; kích thích năng lực miễn dịch, tăng tính kháng viêm; kích thích sự hấp thu thức ăn (tăng sức khoẻ biểu mô ruột và ñộ dài vi lông nhung); kiểm soát mùi hôi và amoniac của chất thải Các nghiên cứu trước ñây ñã cho thấy hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm Nutrafito Plus ñối với năng suất và sức khỏe của vật nuôi
Một số loại axit hữu cơ như axit lactic, formic, fumaric, butyric… cũng
ñã ñược bổ sung vào thức ăn chăn nuôi nhằm thay thế kháng sinh, có tác dụng
ức chế và tiêu diệt vi khuẩn bệnh trong ñường tiêu hoá, duy trì cân bằng vi khuẩn ñường tiêu hoá, kích thích khả năng tiêu hoá hấp thu ở ruột Hiện nay, axit hữu cơ kết hợp với thảo dược ñã ñược sử dụng trong khẩu phần thức ăn
Trang 11của lợn và ñược ñánh giá là có tác ñộng tương hỗ trong việc cải thiện khả năng tiêu hoá thức ăn, nhất là trong dạ dày
Mặc dù một số loại kháng sinh ñã bị cấm sử dụng, cũng như nhận biết
rõ tác hại của việc sử dụng kháng sinh ñối với sức khỏe con người, nhưng chúng ta vẫn không thể phủ nhận ñược vai trò của kháng sinh trong chăn nuôi Việc sử dụng kháng sinh ñúng cách, hợp lý sẽ ñem lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi ñồng thời ñảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu sử dụng chế phẩm Nutrafito Plus cho vịt ñẻ và vịt con tại
Trung tâm Nghiên cứu Vịt ðại Xuyên - Viện Chăn nuôi”
tế, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu tác dụng của chế phẩm Nutrafito Plus, axit hữu cơ và kháng sinh
1.1.1 Chế phẩm Nutrafito Plus
Chế phẩm Nutrafito plus ñã ñược ñưa từ Mỹ vào Việt Nam khoảng vài năm trở lại ñây là một chế phẩm 100% ñược làm từ cây Yucca và Quillaja Cây Yucca (Yucca schidigera) phân bố ở sa mạc phía tây nam Hoa Kỳ và phía bắc Mexico, cây Quillaja (Quillaja saponaria) phát triển nhiều ở vùng ñất khô cằn Chile Chất chiết xuất hoặc bột của hai cây này rất giàu saponin
Saponin là hoạt chất sinh học mạnh và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực trong ñó có chăn nuôi, thủy sản Saponin ñược sử dụng như là chất bổ sung thức ăn và xử lý môi trường, phòng trị bệnh,… Saponin có trong nhiều loài thực vật, cả thực vật hoang dại lẫn thực vật gieo trồng Có hai loại saponin, ñó là saponin acid (triterpenoid saponin) và saponin trung tính (steroid saponin) Saponin acid có mặt chủ yếu trong thực vật gieo trồng còn saponin trung tính có mặt chủ yếu trong thực vật hoang dại, ñặc biệt là trong thảo duợc Nhóm cây ñậu như ñậu tương, ñậu
Hà lan, cỏ luzern… và một số cây cỏ có tính chất tạo bọt như rễ cây sà phòng (soap root), vỏ cây sà phòng (soap bark)… khá giầu saponin
Saponin khi thủy phân cho glycon (gốc ñuờng, bao gồm glucose, arabinose, xylose và acid glucoronic) và aglycon (gốc sapogenin, bao gồm saponin trung tính và saponin acid) (Hình 1.1) Cấu trúc hóa học cơ bản của nhóm saponin trung tính là steroid còn của nhóm saponin acid là triterpenoid Saponin giữ nhiều vài trò như: tăng cường hoạt tính bề mặt và chức năng của ruột, nâng cao ñáp ứng miễn dịch, cải thiện năng suất sinh sản, hạn chế tỷ lệ ñẻ non, kích thích tăng trưởng và cải thiện hiệu quả chuyển hoá thức
ăn, kích thích năng lực miễn dịch, tăng tính kháng viêm, kích thích sự hấp thu thức ăn (tăng sức khoẻ biểu mô ruột và ñộ dài vi lông nhung), kiểm soát mùi hôi và ammonia của chất thải,…
Trang 13Hình 1.1 Phân loại saponin
Ngoài ra bột hay dịch chiết của cây Yucca và Quillaja còn có những hóa thực vật khác, ñó là oligosaccharide, phenol, stilbene, resveratrol (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Hóa chất thực vật của bột hay dịch chiết của cây Yucca và Quillaja
Yucca schidigera Quillaja saponaria Steroid saponin
Oligosaccharides Phenolics-Yuccaols Stilbenes
Resveratrol
Triterpenoid saponin Oligosaccharides Polyphenols
Các oligosaccharide có vai trò là prebiotic, phenol, stilbene, resveratrol
có vai trò của các chất chống oxy hóa (resveratrol cũng rất giầu trong nho và
là một chất chống oxy hóa mạnh, rất tốt ñối với việc ngăn ngừa các bệnh tim mạch và ung thư)
Với các hóa chất thực vật nói trên, ñặc biệt là saponin, chế phẩm Nutrafito plus ñược dùng làm phụ gia thức ăn chăn nuôi với các vai trò:
Trang 14- Kiểm soát ammonia và mùi hôi
Khoảng 30% nitơ trong khẩu phần ăn ñược con vật sử dụng ñể sinh tổng hợp protein tạo sản phẩm ñộng vật, phần còn lại ñược thải ra phân và nước tiểu Nitơ trong nước tiểu dưới dạng urê ñược enzyme urease của vi khuẩn có trong tự nhiên phân giải thành ammonia và khí carbonic Khí ammonia tích tụ lại trong chuồng làm sức khỏe của vật nuôi bị suy giảm
Trên lợn người ta ñã thấy mức dung nạp tối ña ammonia là 25 ppm, nếu hàm lượng ammonia tăng gấp ñôi mức dung nạp tối ña (50 ppm) thì lợn dễ bị viêm phổi
do mất năng lực tiêu diệt vi khuẩn ñường phổi và giảm tăng trưởng, nếu tăng gấp 4 lần (100 ppm) thì lợn giảm ăn, giảm tăng trưởng (giảm ñến 32%)
Chiết saponin của Yucca và Quillaja bổ sung vào thức ăn cho gà hay lợn ñã thấy giảm ñược ammonia và mùi hôi của chất thải trong chuồng nuôi
Có 2 cơ chế giải thích cho việc giảm ammonia, một là chiết chất của cây Yucca có tác dụng ñến chức năng của thận, làm tăng tốc ñộ phân giải loại bỏ urê, dẫn ñến giảm thấp hàm lượng urê và ammonia trong máu và thứ hai là do stilbene
có trong Yucca ñã có tác dụng ức chế hoạt tính urease, hạn chế sự phân giải urê thành ammonia (Kong, 1998, dẫn theo Vũ Duy Giảng, 2010)
Cho chó và mèo ăn chiết chất Yucca cũng thấy giảm ñược mùi hôi ở phân, các nhà khoa học cho rằng ñã có sự kết dính trực tiếp giữa các thành phần gây mùi của phân với một vài thành phần của chiết chất Yucca Giải thích này dựa trên thử nghiệm ñưa chiết chất Yucca vào một dung dịch chứa các hợp chất như dimethyl disulfide, dimethyl sulfide, indol và skatol ñã thấy mùi hôi giảm theo ñánh giá mùi của người
- ðiều chỉnh sự lên men dạ cỏ ñộng vật nhai lại
Ở ñộng vật nhai lại, saponin từ cây Yucca, Quillaia làm giảm nồng ñộ NH3 trong dạ cỏ Saponin có khả năng kháng protozoa, co chế này ñuợc thực hiện
do sự kết hợp của saponin với cholesterol trên màng protozoa, làm cho màng bị phá hủy, bị ly giải và tế bào protozoa bị chết (Marka et al., 1998; Wang et al., 1998)
Trang 15Protozoa trong dạ cỏ ăn vi khuẩn dể sử dụng nguồn nitơ của vi khuẩn (một protozoa trong mỗi giờ có thể ăn 600-700 vi khuẩn) và phân giải protein vi khuẩn cho ra ammonia Nhờ saponin, protozoa bị tiêu diệt, khả năng ăn vi khuẩn giảm và từ ñó cũng giảm ñuợc khả năng phân giải protein, giảm hàm luợng ammonia hình thành trong dạ cỏ Giảm hàm luợng ammonia dạ cỏ sẽ giảm hàm luợng ammonia máu từ
ñó loại bỏ ñuợc ảnh huởng xấu ñến tỷ lệ thụ thai của bò (hàm luợng ammonia trong máu cao thì làm tăng hàm luợng ammonia trong ống sinh sản và tăng pH dịch tử cung, từ ñó làm giảm sự vận ñộng và tỷ lệ sống của tinh trùng)
Saponin Yucca cung ñã thấy có hiệu quả rõ rệt trong việc khống chế bệnh myeloencephalitis ở ngựa (bệnh ñuợc viết tắt là EPM: Equine Protozoal Myeloencephalin) Bệnh này xẩy ra phổ biến khắp cả Bắc Mỹ và rất dễ làm cho ngựa chết Loài protozoa gây bệnh phân lập ñuợc có tên là Sarcocystis neuroma, nha bào của loài này dây nhiễm trong thức ăn và ñồng cỏ Khi thức ăn chứa nha bào vào ruột, nha bào hình thành sporozoite, sporozoite ñi vào niêm mạc ruột, ở ñây chúng sinh sản vô tính hình thành merozoite rồi thâm nhập vào các mô của hệ thần kinh trung ương, gây rối lọan chức năng thần kinh và làm cho con vật bị chết
Cơ chế khống chế bệnh EPM của saponin yucca là một mặt tiêu diệt sporozoite trong ruột mặt khác kích thích hệ miễn dịch của ngựa trong việc nâng cao năng lực chống lại protozoa thâm nhập vào các mô của cơ thể
Trang 16Một khảo sát ñánh giá tác dụng của saponin Yucca và Quillaja ñối với việc khống chế bệnh giun tròn ký sinh ở manh tràng gà mái ñẻ (Heterakis gallinarum)
ñã thấy bột hỗn hợp của hai cây này ñã làm giảm gần 23% số luợng trứng trong phân và loại bỏ gần 50% số giun tròn trong ruột (nếu dùng thuốc tẩy flubendazole thì lọai bỏ ñuợc 92% số trứng trong phân và trên 98% số giun trong ruột)
- Cải thiện ñáp ứng miễn dịch
Saponin có quan hệ ñến hệ miễn dịch thể hiện qua những vai trò sau:
+ Với vai trò là tá dược (adjuvant) của vaccine, saponin làm tăng khả năng hấp thu các ñại phân tử nhờ ñó cải thiện hiệu quả của vaccine tiêm và uống Một loại tá dược saponin ñược sử dụng rộng rãi có tên là Quil A, ñó là saponin của cây Quillaja saponaria tinh chế Quil A ñã ñược dùng ñể chế tạo phức kích thích miễn dịch (ISCOM: immunostimulating complex); ISCOM ñược pha chế như sau: hòa tan protein của virus trong chất làm sạch, loại bỏ chất làm sạch rồi thêm Quil A, kết quả là có một micelle với Quil A ñược bao bọc bởi một lớp protein virus ISCOM có khả năng kết dính với cholesterol của màng
tế bào ñại thực bào (macrophage) hoặc tế bào trình diện kháng nguyên, nhờ
ñó việc hấp thu của tế bào cơ thể với ISCOM ñược dễ dàng ISCOM có vai trò chống lại một số virus, bao gồm cả virus leukemia của họ mèo (Osterhaus
et al., 1985, dẫn theo Vũ Duy Giảng, 2010) Saponin của Quillaja tinh chế cũng có khả năng tăng ñáp ứng miễn dịch do tăng hoạt tính của tế bào T helper cũng như ñáp ứng miễn dịch ñối với kháng nguyên ñặc hiệu
+ Ngoài vai trò là tá dược ñể nâng cao hiệu quả của vaccine, saponin cũng ñược chứng minh là có khả năng tăng sự phân chia của tế bào miễn dịch, kích thích
sự sản sinh cytokine, nhờ ñó hoạt hóa ñược lympho B sản sinh kháng thể Vai trò kích thích chức năng miễn dịch ñược chứng minh ở thí nghiệm trên tôm cho nhiễm khuẩn Vibrio alginolyticus (một loại vi khuẩn gây bệnh ñỏ thân ở tôm, bệnh dây lưng ñỏ ở ấu trùng tôm)
Vai trò kích thích chức năng miễn dịch ñược chứng minh ở thí nghiệm trên
Trang 17tôm cho nhiễm khuẩn Vibrio alginolyticus (một loại vi khuẩn gây bệnh ñỏ thân ở tôm) Với tôm cho nhiễm V alginolyticus, nếu không bổ sung saponin Quillaja vào môi trường nuôi thì sau 24 và 48 giờ tỷ lệ sống xót của tôm lần lượt là 43 và 37%, nhưng nếu bổ sung chiết chất saponin Quillaja (bổ sung 2mg/l) thì tỷ lệ sống xót ứng với các thời ñiểm trên ñã tăng gấp ñôi Cần chú ý rằng saponin, nhất là saponin
tự do thì khá ñộc ñối với các ñộng vật máu lạnh như cá và rắn, cho nên người ta chỉ
sử dụng saponin trong bột hay chất chiết của thực vật giầu saponin với liều lượng
ñã ñược kiểm soát
Nhiều thí nghiệm trên heo nái trước khi ñẻ cho ăn khẩu phần bổ sung chiết chất hoặc bột từ cây Quillaja, Yucca làm giảm rõ rệt tỷ lệ chết của heo con khi sinh Người ta nhận thấy rằng heo con sinh ra từ heo mẹ ăn khẩu phần
bổ sung chiết chất Yucca, Quillaja có hàm lượng oxy trong máu cao hơn, có
lẽ ñây là lý do làm cho tỷ lệ chết của heo con khi sinh giảm ñi (Cline et al,
1996, dẫn theo Vũ Duy Giảng, 2010)
- Giảm tỷ lệ chết
Nhiều thí nghiệm trên lợn nái trước khi ñẻ cho ăn khẩu phần bổ sung chiết chất Yucca ñã thấy tỷ lệ chết của lợn con khi sinh giảm rõ rệt, bổ sung bột Yucca hay Quillaja trên lợn nái cũng có kết quả tương tự (một thí nghiệm do trường ñại học Leeds của Anh thực hiện trên 20 lợn nái mang thai cho ăn khẩu phần bổ sung 200 mg/kg bột Yucca và 250 mg/kg bột Quillaja ñã thấy
tỷ lệ chết của lợn con khi sinh lần lượt chỉ có 4,2 và 3,83%, trong khi lô ñối chứng không bổ sung thì tỷ lệ này là 8,9%) Người ta nhận thấy rằng lợn con sinh ra từ lợn mẹ ăn khẩu phần bổ sung chiết chất Yucca có hàm lượng oxy trong máu cao hơn, có lẽ ñây là lý do làm cho tỷ lệ chết của lợn con khi sinh giảm ñi (Cline et al, 1996, dẫn theo Vũ Duy Giảng, 2010)
- Cải thiện chiều dài vi lông nhung, tăng hiệu quả chuyển hóa thức
ăn và khả năng thay thế hoàn toàn kháng sinh
+ Những thí nghiệm trên gà broiler từ 0 - 42 ngày tuổi bổ sung Nutrafito plus
Trang 18(một chế phẩm ñược làm từ cây Yucca và Quillaja) với liều 200 mg/kg ñã thấy tăng trưởng và hiệu suất chuyển hóa thức ăn của gà tốt hơn, nó có những tác dụng tương
tự như kháng sinh ñược sử dụng như chất kích thích sinh trưởng vì vậy Nutrafito plus hoàn toàn có khả năng thay thế kháng sinh
+ Những thí nghiệm trên gà cũng thấy bổ sung Nutrafito Plus có tác dụng cải thiện chiều cao của vi lông nhung và ñộ sâu khe niêm mạc ruột không thua kém gì
so với vách tế bào nấm men (một loại prebiotic) (Kaiboriboo, 2010) Những thí nghiệm trên gà cũng thấy Nutrafito Plus có tác dụng cải thiện chiều cao của vi lông nhung và ñộ sâu khe niêm mạc ruột (crypt) không thua kém gì so với
vách tế bào nấm men (một loại prebiotic) (Kaiboriboon, 2010)
1.1.2 Axit hữu cơ
Việc sử dụng axit hữu cơ là một biện pháp quan trọng ñể thay thế kháng sinh trong chăn nuôi hiện nay Axit hữu cơ thường dùng là acid lactic, formic, fumaric, butyric ; các acid hữu cơ này bổ sung vào thức ăn hạ thấp ñược pH của dịch dạ dày và dịch ruột, nhưng không ăn mòn niêm mạc ống tiêu hóa (có loại acid hữu cơ còn bảo vệ và kích thích sự phát triển của niêm mạc ruột, ñó
là acid butyric)
Cơ chế tác ñộng của các axit hữu cơ
Khả năng của các axit hữu cơ trong việc bảo quản thực vật cũng như trong dinh dưỡng vật nuôi ñã ñược biết tới từ nhiều thập kỷ và ñược chứng minh qua nhiều thí nghiệm khoa học Axit, bao gồm cả axit propionic ñóng góp chủ yếu trong việc ñảm bảo vệ sinh thức ăn chăn nuôi, vì chúng ức chế sự tăng trưởng của nấm mốc và do ñó hạn chế nguy cơ ảnh hưởng của ñộc tố nấm mốc Hiệu ứng này dựa trên cơ sở của việc giảm ñộ pH trong thức ăn và trong ñường tiêu hóa, và mặt khác dựa trên tính kháng khuẩn của axit
Vi khuẩn gây bệnh như E.coli, Samonella sống và hoạt ñộng ở pH ≥ 4; vi khuẩn có lợi như Lactobacillus hay Bifidobacterium sống và hoạt ñộng ở pH ≤ 3,5 Sử dụng các axit hữu cơ ñể ñưa pH dịch tiêu hóa xuống ≤ 3,5 thì có lợi cho hoạt ñộng và phát triển của vi khuẩn có lợi và ức chế ñược vi khuẩn có hại
Trang 19Hiệu quả của từng loại axit dao ñộng khá rộng và phụ thuộc và mức ñộ phân ly của chúng Mỗi axit có một giá trị pH riêng, cho biết giá trị pH mà tại
ñó 50% lượng axit bị phân ly Giá trị này ñược sử dụng ñể có thể xác ñịnh ñược hoạt tính của mỗi axit tại những giá trị pH nhất ñịnh
Tính diệt khuẩn của các axit hữu cơ chủ yếu dựa vào khả năng vượt qua màng tế bào và thâm nhập vào trong tế bào vi khuẩn Gram âm khi các axit ở trạng thái không phân ly
Trong tế bào, axit phân ly thành cation hydro và anion axit Các cation cũng làm giảm ñộ pH bên trong của tế bào vi khuẩn, khiến vi khuẩn phải tiêu tốn nhiều năng lượng ñể ñiều chỉnh lại Các anion trực tiếp phá vỡ quá trình tổng hợp AND trong nhân tế bào Cơ chế tác ñộng kép này rất hiệu quả trong việc làm ngừng lại quá trình sinh sản của vi khuẩn
1.1.3 Phụ gia kháng sinh
Chất bổ sung kháng sinh thức ăn chăn nuôi ñược dùng từ cuối những năm 1940 ở Mỹ khi ñưa các sản phẩm lên men của dòng vi khuẩn Streptomyces aureofaciens vào khẩu phần của các vật nuôi dạ dày ñơn như lợn và gia cầm nhằm cải thiện tỷ lệ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức
ăn và giữ thể trạng vật nuôi ñược tốt Trong 50 năm tiếp theo ñó việc sử dụng các chất bổ sung kháng sinh thức ăn chăn nuôi ñã trở nên rộng rãi khắp trên thế giới
Ở ñây cần làm rõ sự khác nhau giữa khái niệm kháng sinh dùng trong phòng trị bệnh cho vật nuôi và kháng sinh dùng làm chất bổ sung thức ăn chăn nuôi Tuy cùng là một loại kháng sinh nhưng khi dùng như chất bổ sung kháng sinh thức ăn chăn nuôi thì nó thường ñược dùng với hàm lượng khá thấp 2,5 -50 ppm tuỳ thuộc vào chủng loại thức ăn chăn nuôi
Hiệu quả của các chất bổ sung kháng sinh thức ăn chăn nuôi ấn tượng ñến mức ngành công nghiệp chăn nuôi ñã mở rộng sử dụng chúng Năm 2001, nhà nghiên cứu Cromwell ñã ước tính 80-90% thức ăn cho lợn giai ñoạn ñầu
Trang 20sinh trưởng, 70-80% toàn bộ các loại thức ăn cho lợn sinh trưởng, 50-60% toàn
bộ các loại thức ăn cho lợn sinh trưởng giai ñoạn cuối và 40-50 toàn bộ các loại thức ăn cho lợn nái có dùng chất bổ sung kháng sinh thức ăn chăn nuôi
Có hai lý do ñể dùng các chất bổ sung kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi là tác dụng phòng bệnh và tác dụng kích thích thúc ñẩy sinh trưởng vật nuôi Tuy nhiên, do hiệu quả rõ rệt trọng chăn nuôi, dẫn ñến tình trạng lạm dụng kháng sinh Các nhà khoa học ñã chứng minh việc sử dụng liên tục các chất kháng sinh như chất kích thích sinh trưởng là ñiều không có lợi cho sức khoẻ vật nuôi và con người Trong Sách trắng về An toàn thực phẩm, Uỷ ban chỉ ñạo khoa học (SSC) Châu âu ñã tuyên bố cần thực hiện loại bỏ các chất này theo từng giai ñoạn
Các loại kháng sinh thường ñược bổ sung vào thức ăn: Oxytetracycline, Aureomycine, Penicilline, Streptomycine
Cơ chế tác dụng chủ yếu của kháng sinh khi ñược bổ sung vào thức ăn:
- Ức chế vi sinh vật có hại sản sinh ra các ñộc tố trong ñường ruột Khi gia súc, gia cầm ăn thức ăn có bổ sung kháng sinh thì hàm lượng ammoniac cũng như các hợp chất chứa nitơ có hại trong ñường ruột của vật nuôi (như trimethyllamine) ñã giảm rõ rệt Những ñộc tố này thường thẩm thấu vào các mao mạch thành ruột, ñi vào máu và gây ñộc cho vật chủ, do ñó giảm tốc ñộ sinh trưởng Chính nhờ giảm ñược các ñộc tố vi sinh vật ñường ruột, ñã tạo cho con vật lớn nhanh hơn
- Làm tăng khả năng hấp thu một số chất dinh dưỡng (như tăng hấp thu can-xi, phốt-pho, măng-gan, ) Qua giải phẫu, nhận thấy gia súc, gia cầm ăn thức ăn có bổ sung kháng sinh, có thành ruột mỏng hơn so với nhóm ñối chứng (có thể nhờ ñó tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng)
- Chất kháng sinh bổ sung vào thức ăn ñã làm tăng khả năng thu nhận thức ăn của vật nuôi (tuy lượng thức ăn thu nhận của chúng không tăng nhiều, nhưng sức khoẻ sẽ tốt hơn, do ñó sinh trưởng cao hơn)
Trang 21- Chất kháng sinh bổ sung chỉ có tác dụng rõ rệt khi chuồng trại chưa thật
vệ sinh, thức ăn chưa ựược khử trùng Qua ựó, 1 lần nữa khẳng ựịnh rằng chất kháng sinh bổ sung vào thức ăn ựã ức chế vi sinh vật có hại trong ựường ruột
1.2 Khả năng sản xuất của vịt
1.2.1 Khả năng sinh trưởng
1.2.1.1 Các chỉ tiêu ựánh giá sự sinh trưởng
Theo Trần đình Miên và Nguyễn Kim đường (1992), quá trình sinh trưởng là quá trình phân chia tế bào, tăng thể tắch tế bào ựể tạo nên sự sống Tắnh giai ựoạn của sinh trưởng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau Thời gian của các giai ựoạn dài hay ngắn, số lượng giai ựoạn và sự ựột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau Giai ựoạn này nối tiếp giai ựoạn khác, không ựi ngược trở lại, không bỏ qua thời kỳ nào, ở mỗi giai ựoạn, thời kỳ ựều có ựặc ựiểm riêng
Ở vịt, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể ta có thể phân biệt các giai ựoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi ựẻ, giai ựoạn phát triển của phôi trong trứng sau khi ựẻ, giai ựoạn trứng nở thành con (sơ sinh) ựến khi thành thục sinh dục, giai ựoạn sinh sản Mỗi giai ựoạn ựều có ựặc ựiểm hình thái, sinh lý ựặc trưng
Trong giai ựoạn sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn lên của các mô Trong một số mô, sinh trưởng là do sự tăng lên về kắch thước của các tế bào Giai ựoạn này sinh trưởng ựược chia làm hai thời kỳ: thời kỳ vịt con và thời
kỳ vịt trưởng thành
- Thời kỳ vịt con: thời kỳ này lượng tế bào tăng nhanh nên quá trình sinh trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh như các men tiêu hóa chưa ựầy ựủ, khả năng ựiều tiết thân nhiệt kém, vịt con dễ bị ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng Vì vậy thức ăn và nuôi dưỡng trong thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn ựến tốc ựộ sinh trưởng của gia cầm Thời kỳ này còn diễn ra quá trình thay lông, ựây là quá trình sinh lý
Trang 22quan trọng của gia cầm, nó làm tăng trao ñổi chất Cho nên cần chú ý vấn ñề nuôi dưỡng ñặc biệt là các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, trong ñó quan trọng nhất là các axit amin hạn chế như lizin, methionin, triptophan…
- Thời kỳ vịt trưởng thành: thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể vịt gần như
ñã phát triển hoàn thiện Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục Quá trình tích lũy chất dinh dưỡng của gia cầm một phần là ñể duy trì sự sống, một phần ñể tích lũy mỡ, tốc ñộ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gà con Vì vậy giai ñoạn này cần xác ñịnh tuổi giết mổ thích hợp ñể cho hiệu quả kinh tế cao
Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh ñến khi trưởng thành Do vậy việc xác ñịnh chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải dễ dàng Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng
sử dụng cách ño ñơn giản và thực tế Theo Chambers (1990), ñể ñánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu chính như kích thước cơ thể, sinh trưởng tích luỹ (khối lượng cơ thể), tốc ñộc sinh trưởng (sinh trưởng tuyệt ñối, sinh trưởng tương ñối) và ñường cong sinh trưởng
- Kích thước cơ thể:
Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, ñặc trưng cho từng giai ñoạn sinh trưởng, từng giống, qua ñó góp phần vào việc phân biệt giống Giới hạn kích thước của loài, cá thể…do tính di truyền quy ñịnh Tính di truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly ñơn giản theo các quy luật Mendel
Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan thuận chặt chẽ với khối lượng cơ thể Kích thước cơ thể còn liên quan ñến các chỉ tiêu sinh sản như tuổi thành thục về thể trọng, chế ñộ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trong chăn nuôi vịt
- Khối lượng cơ thể:
ðối với vịt hướng thịt, ñiều quan trọng nhất là khối lượng vịt khi giết
mổ Khối lượng cơ thể không những liên quan ñến hiệu quả sử dụng thức ăn
Trang 23mà còn cần thiết ñể quyết ñịnh thời gian nuôi thích hợp Khối lượng cơ thể ñược minh họa bằng ñồ thị sinh trưởng tích lũy ðồ thị này thay ñổi theo dòng, giống, ñiều kiện nuôi dưỡng chăm sóc
- Tốc ñộ sinh trưởng:
Trong chăn nuôi người ta thường sử dụng hai chỉ số ñể mô tả tốc ñộ sinh trưởng ở vật nuôi là tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối và tốc ñộ sinh trưởng tương ñối Tốc ñộ sinh trưởng tuyệt ñối chính là sự gia tăng về khổi lượng sống trung bình một ngày ñêm Sinh trưởng tuyệt ñối thường ñược tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần ðồ thị sinh trưởng tuyệt ñối có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt ñối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
Tốc ñộ sinh trưởng tương ñối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc ñầu khảo sát (TCVN - 2.40, 1977) ðồ thị sinh trưởng tương ñối có dạng hypebol Tốc ñộ sinh trưởng của vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, ñặc ñiểm cơ thể và ñiều kiện môi trường
ðường cong sinh trưởng dùng ñể biểu thị tốc ñộ sinh trưởng của gia súc, gia cầm nói chung Thông thường, người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi ñể thể hiện ñồ thị sinh trưởng tích lũy và cho biết một cách ñơn giản nhất về ñường cong sinh trưởng ðường cong sinh trưởng không chỉ sử dụng ñể chỉ rõ về số lượng mà còn làm rõ về chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, các giống, giới tính, ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, môi trường
1.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng ñến sinh trưởng của vịt
Sinh trưởng của gia cầm là một quá trình sinh học phức tạp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: dòng, giống, giới tính, tốc ñộ mọc lông, chế ñộ dinh dưỡng và ñiều kiện chăn nuôi…
- Ảnh hưởng của dòng, giống, lứa tuổi và giới tính
+ Dòng, giống:
Nhiều nghiên cứu ñã khẳng ñịnh sự sinh trưởng của từng cá thể, giữa
Trang 24dòng, giống có sự sai khác Tác giả Hoàng Văn Tiệu và cộng sự (1993) cho biết: Khối lượng cơ thể các cặp lai Anh đào x Cỏ; Anh đào x (Anh đào x Cỏ); Anh đào x Bầu lúc 70 ngày tuổi có khối lượng cơ thể lần lượt là: 1,761 - 1,853 g; 2,138 - 2,269 g; 1,656 g
+ Tắnh biệt:
Giới tắnh khác nhau thì ựặc ựiểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nên khả năng ựồng hoá, dị hoá và quá trình trao ựổi chất dinh dưỡng của chúng là khác nhau
Khối lượng cơ thể của vịt Cỏ ở 56 ngày tuổi con ựực ựạt 1.052 g; con mái ựạt 967g (Lê Viết Ly, 1998)
+ Lứa tuổi:
Do mối tương quan giữa hai quá trình ựồng hoá và dị hoá trong cơ thể ở mỗi giai ựoạn là khác nhau nên khối lượng và kắch thước các chiều ựo tại mỗi thời ựiểm ựó là khác nhau đây là cơ sở cho những tắnh toán cần thiết về thời gian nuôi dưỡng, khai thác khả năng sản xuất của gia cầm ựể ựạt mục ựắch kinh tế cao nhất cho chăn nuôi
Theo Lê Viết Ly và các tác giả (1998), công bố kết quả nghiên cứu sinh trưởng của nhóm vịt Cỏ màu cánh sẻ: Tốc ựộ sinh trưởng tuyệt ựối (g/con/ngày) của con ựực ở 3 tuần tuổi là 8,31g/con/ngày và 8 tuần tuổi là 18,05 g/con/ngày; của con mái ở 3 tuần tuổi là 6,90 g/con/ngày và 8 tuần tuổi
là 16,55 g/con/ngày
- Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi và chế ựộ dinh dưỡng:
Dinh dưỡng có ảnh hưởng không nhỏ ựến sự sinh trưởng và phát triển của gia cầm
Theo tác giả Chamber và cộng sự (1990) cho biết: ỘChế ựộ dinh dưỡng ảnh hưởng ựến tốc ựộ sinh trưởng, ựến sự phát triển của từng mô khác nhau
và gây nên sự biến ựổi trong quá trình phát triển của mô này ựối với mô khác Dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng ựến
sự di truyền về sinh trưởngỢ
Trang 25Kết quả nghiên cứu của Abdelsamie và Farrell (1985) về ảnh hưởng của các mức Protein trong khẩu phần tới khả năng tăng khối lượng tuyệt ñối của vịt Bắc Kinh cho biết: Ở tuần tuổi thứ 2 với khẩu phần ăn 24% Protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt ñối của vịt ñạt 320 g, ở lô nuôi với khẩu phần 18% Protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt ñối của vịt chỉ ñạt 309 g
- Ảnh hưởng của tốc ñộ mọc lông:
Tốc ñộ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan chặt chẽ với tốc
ñộ sinh trưởng và phát triển của cơ thể gia cầm, ñó là mối tương quan thuận Theo Jaap & Moris (1973): “Tốc ñộ mọc lông liên quan chặt chẽ với cường ñộ sinh trưởng, gà có tốc ñộ nhanh thường lớn nhanh hơn, cân nặng hơn so với gà mọc lông chậm”
- Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường:
Các yếu tố của môi trường có ảnh hưởng lớn tới sự sinh trưởng của gia cầm ñặc biệt là gia cầm chuyên thịt ñó là các yếu tố: nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng, ñộ thông thoáng
Khi các yếu tố môi trường không ñạt tiêu chuẩn nó sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp ñến sức ñề kháng, khả năng thu nhận thức ăn, từ ñó làm ảnh hưởng không nhỏ ñến sinh trưởng, phát triển của cơ thể vật nuôi
1.2.2 Hiệu qủa sử dụng thức ăn của gia cầm
Hiệu quả sử dụng thức ăn (HQSDTA) ñược ñịnh nghĩa là mức ñộ tiêu tốn thức ăn cho một ñơn vị sản phẩm Tiêu tốn thức ăn (TTTA) trên một kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn ñể ñạt ñược tốc ñộ tăng trọng, là chỉ tiêu hết sức quan trọng ảnh hưởng lớn ñến hiệu quả chăn nuôi Trong chọn lọc giống vịt hướng thịt người ta thường chọn lọc theo hướng có khả năng lợi dụng thức ăn tốt nhất bởi vì hiệu quả sử dụng thức ăn tốt sẽ tạo ra sản phẩm (tăng khối lượng hoặc ñẻ trứng) cao do ñó tiêu tốn thức ăn trên một ñơn vị sản phẩm sẽ giảm xuống, mặt khác chi phí thức ăn thường chiếm khoảng 65 -
Trang 2670% giá thành sản phẩm vì vậy chọn lọc theo hướng này sẽ làm giảm giá thành sản phẩm, ựem lại hiệu quả kinh tế cao Với gia cầm nuôi thịt tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào tốc ựộ sinh trưởng, ựộ tuổi Giai ựoạn ựầu tiên tiêu tốn thức ăn thấp, giai ựoạn sau cao hơn Phương pháp áp dụng là tắnh mức tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể
đối với gia cầm sinh sản thường tắnh tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hoặc 1kg trứng Trước ựây khi tắnh toán người ta chỉ tắnh lượng thức ăn cung cấp trong giai ựoạn sinh sản Hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới ựã
áp dụng phương pháp tắnh mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phắ cho gia cho gia cầm từ 1 ngày tuổi cho ựến kết thúc 1 năm ựẻ
Tiêu tốn thức ăn/ựơn vị sản phẩn còn phụ thuộc vào tắnh biệt, khắ hậu, thời tiết, chế ựộ chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng như tình hình sức khoẻ của ựàn gia cầm Chambers J.R và cộng sự, 1984 ựã xác ựịnh ựược hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng khăng khối lượng cơ thể với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (0,5 - 0,9%) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức
ăn là âm và thấp từ (- 0,2 ựến - 0,8) Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ ựến tốc ựộ sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn ắt thì không những gia cầm lớn nhanh mà mức ựộ tắch luỹ mỡ bụng cũng thấp, tăng chất lượng cho thịt
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết ựịnh ựến hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi gà Do vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tạo ra
tổ hợp lai tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp
Một số kết quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn của vịt thịt:
Theo Hoàng Văn Tiệu và các tác giả (1993), cho biết tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của vịt Anh đào - Hungari nuôi từ 1 - 60 ngày tuổi ở các thế hệ 1, 2, 3 tương ứng là 4,20kg, 3,65kg, 3,70kg
Dương Xuân Tuyển (1993, 1998), tiêu tốn thức ăn của vịt thương phẩm
CV - Super M từ 1 - 8 tuần tuổi trung bình là 2,95 Tiêu tốn thức ăn của vịt
CV - Super M dòng trống giai ựoạn 0 - 6 tuần tuổi, 0 - 7 tuần tuổi, 0 - 8 tuần
Trang 27tuổi lần lượt là 2,31kg; 2,63kg; 3,09kg Chỉ tiêu này ở dòng mái tương ứng là 2,44kg, 2,75kg, 3,20kg Kết quả này cho thấy rõ quy luật tiêu tốn thức ăn tăng lên theo thời gian nuôi Chỉ tiêu này ở 8 tuần tuổi cao gấp 3,71 lần (dòng trống) và 3,86 lần (dòng mái) so với tuần tuổi thứ nhất
Bên cạnh việc chọn lọc nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn thì việc ñịnh ra thời gian giết thịt phù hợp cũng góp phần giảm chi phí thức ăn và làm tăng hiệu quả chuyển hoá thức ăn Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Tiệu và cộng sự (1993) trên vịt Bắc Kinh cho thấy nếu giảm ñược 1 ngày cho
ăn tức là giảm ñược khối lượng thức ăn từ 100 - 200g/con
Trong chăn nuôi vịt phải ñảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp với từng giai ñoạn sinh trưởng, phát triển ðối với gia cầm nói chung, vịt nói riêng ở giai ñoạn còn non nhu cầu protein trong khẩu phần cao hơn các giai ñoạn khác Mức năng lượng trong khẩu phần phải phù hợp với mức protein trong khẩu phần Vịt nuôi thịt ñược nuôi bằng khẩu phần có năng lượng cao
và mức protein thấp sẽ sớm béo, tích luỹ mỡ nhanh, khả năng lớn bị hạn chế Khi vịt ở giai ñoạn vỗ béo ñược nuôi với khẩu phần có năng lượng cao tỷ lệ protein hợp lý sẽ cho hiệu quả vỗ béo cao hơn
Theo kết quả của Bird (1995) khi thức ăn chứa 0,1mg Aflatoxin/1kg thức ăn (1ppm) làm tăng chỉ số tiêu hoá thức ăn lên 11,98% và còn cao hơn ở mức 0,2mg Aflatoxin/1kg thức ăn
1.2.3 Khả năng sinh sản của gia cầm
Trứng gia cầm là một tế bào sinh sản khổng lồ Cấu tạo của trứng gồm: lòng ñỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng
ñỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các bộ phận khác như: Lòng trắng, màng vỏ
và vỏ do ống dẫn chứng tạo nên Nhiều tài liệu nghiên cứu ñều xác ñịnh ở gia cầm cái, trong quá trình phát triển phôi hai bên phải, trái ñều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất ñi, còn lại buồng trứng bên trái
Trang 28(Vương đống, 1968)
Khả năng sinh sản của gia cầm ựược thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản
lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng và khả năng thụ tinh và ấp nở của
trứng gia cầm đối với các giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng
rất khác nhau
1.2.3.1 Tuổi ựẻ quả trứng ựầu
Tuổi ựẻ quả trứng ựầu là một chỉ tiêu ựánh giá sự thành thục sinh dục,
cũng ựược coi là yếu tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972) Tuổi
ựẻ quả trứng ựầu ựược xác ựịnh bằng số ngày tuổi kể từ khi nở ựến khi ựẻ quả
trứng ựầu Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên
nhiễm sắc thể giới tắnh cùng tham gia hình thành tắnh trạng này (dẫn theo
Khavecman, 1972) Theo Trần đình Miên, Nguyễn Kim đường, 1992,có ắt
nhất hai cặp gen cùng quy ựịnh, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tắnh,
cặp thứ hai gen E' và e' Có mối tương quan nghịch giữa tuổi ựẻ và năng suất
trứng, tương quan thuận giữa tuổi ựẻ và khối lượng trứng Tuổi ựẻ quả trứng
ựầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế ựộ nuôi ựưỡng, các yếu tố môi
trường ựặc biệt là thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc ựẩy
gia cầm ựẻ sớm (Khavecman, 1972)
1.2.3.2 Năng suất trứng và tỷ lệ ựẻ
Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý
phức tạp, do sự ựiều khiển của hoocmon.Thời gian từ lúc ựẻ quả trứng và
thời gian rụng trứng sau kéo dài 15 - 75 phút Theo Melekhin G.P và
Niagridin, 1989 (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) thì sự rụng trứng ở gà, vịt
xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi ựẻ trứng Trường hợp
nếu trứng ựẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển ựến ựầu hôm sau Trứng
bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy
trứng ra khỏi tử cung thì không làm tăng nhanh sự rụng trứng ựược
Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái ựẻ ra trong một vòng
Comment [DNV1]: Phần này tách ra mục riêng1.2.3.1
Trang 29ñời, phụ thuộc vào tuổi thành thục sinh dục, cường ñộ ñẻ trứng, tần số thể hiện bản năng ñòi ấp, thời gian nghỉ ñẻ và thời gian ñẻ kéo dài Theo Bandsch
và Billchel (1978), sản lượng trứng ñược tính trong 365 ngày kể từ ngày ñẻ quả trứng ñầu tiên Các hãng gia cầm công nghiệp tính sản lượng trứng dền
Dickerson (1952), Ayob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994)
ñã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 ñến - 0,16)
Năng suất trứng và tỷ lệ ñẻ: ðối với gia cầm ñẻ trứng ñây là chỉ tiêu
năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt ñộng của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng phụ thuộc vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, ñiều kiện dinh dưỡng, chăm sóc
Hutt F.B 1978 ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên, còn Brandsh H và Biilchel H, 1978 cho biết sản lượng trứng ñược tính ñến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên, sản lượng trứng cũng ñược tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ ngày ñẻ quả trứng ñầu tiên Trong thời gian gần ñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi
Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc ñộ sinh trưởng sớm Do vậy, trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, cần chú ý
Trang 30cho gia cầm ăn hạn chế trong giai ñoạn gia cầm con và hậu bị ñể ñảm bảo năng suất trứng trong giai ñoạn sinh sản Năng suất trứng phục thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hạm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh, 1996) Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, dao ñộng lớn Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 hệ số di truyền năng suất trứng của là 12 - 30%
Về tỷ lệ ñẻ, gia cầm có tỷ lệ ñẻ thấp trong mấy tuần ñầu của chu kỳ ñẻ, sau ñó tăng dần và ñạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và ñạt tỷ
lệ ñẻ thấp ở cuối thời kỳ sinh sản
1.2.3.3 Chất lượng trứng
- Khối lượng trứng
Theo Roberts, 1998 giá trị trung bình khống lượng quả trứng ñẻ ra trong một chu kỳ, là một tính trạng do nhiều gen có tác ñộng cộng gộp quy ñịnh, nhưng hiện còn chưa xác ñịnh rõ số lượng gen quy ñịnh tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của ñàn gia cầm sinh sản Khi cho lai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và bé, trứng của con lai tường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman, 1972)
Tính trạng này có hệ số di truyền cao Do ñó, có thể ñạt ñược nhanh chóng thông qua con ñường chọn lọc (Kushner K.F, 1974) Ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tốt ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Trứng của gia cầm mới bắt ñầu ñẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20 - 30 % Khối lượng trứng mang tính ñặc trưng của từng loại và mang tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này từ 48 - 80% (Brandsch H, Billchel H, 1978) Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 60 - 74%
Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có tương quan nghịch, theo Janva (1967) hệ số tương quan giữa sản lượng
Trang 31trứng/năm và khối lượng trứng là -0,11, Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao
và cộng sự(1985) nghiên cứu trên gà Rhoderi là -0,33
- Màu sắc trứng
Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong ñánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong kỹ thuật và thương mại Màu sắc trứng là tính trạng ña gen, ở gà khi lai dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng vỏ màu trung gian Theo Anderson có thể tạo gia cầm ñẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có trứng có vỏ màu sẫm hơn (dẫn theo Khavecman, 1972) Theo Brandsh H và Billchel H (1978) hệ số di truyền tính trạng này là 55 - 75%
- Bề mặt vỏ trứng
Thông thường trứng gia cầm ñẻ ra có bề mặt trơn, ñều, song bên cạnh
ñó cũng có một số cá thể thường ñẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay ñường gờ lược sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu ñến tỷ lệ
ấp nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng (Schuberth L, Ruhland R, 1978)
- Chỉ số hình thái
Trứng gia cầm bình thường có hình ô van và chỉ số này không biến ñổi theo mùa Người ta ñã tính ñược chỉ số hình dạng của trứng thông qua phương pháp toán học, chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách
Tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, thì chỉ số hình thái là một chỉ tiêu ñể xem xét chất lượng của trứng ấp Trong thực tế sản xuất cho thấy, những quả trứng dài hoặc quá tròn ñều có tỷ lệ nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm ñều có chỉ số hình thái riêng, chỉ số này ở gà 1,34 - 1,36% Nếu lệch quá tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng ñến tỷ lệ nở và khó khăn trong lúc bao gói vận chuyển (Nguyễn Hoài Tao và cộng sự, 1984)
Trang 32- ðộ dày và ñộ bền của vỏ trứng
ðộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của vỏ trứng biểu hiện nguồn dự trữ khoáng Là một trong những chỉ tiêu quan trọng của trứng ấp, ảnh hưởng nhiều trong quá trình bao gói vận chuyển
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền ñộ dày vỏ trứng là 30% Ngoài ra ñộ dày vỏ trứng còn chịu tác ñộng của môi trường như: thức ăn, tuổi
gà, nhiệt ñộ xung quanh, stress và nhiều yếu tốt khác
- Chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh: Các chỉ số này càng cao
thì tỷ lệ nở càng lớn và chất lượng trứng càng tốt
ðơn vị Haugh: ðơn vị Haugh ñược Haugh R (1930) xây dựng, sử dụng
ñể ñánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng ñặc Theo Uyterwal C.S (2000) ñơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các yếu tốt: Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gia cầm mái già ñơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt ñộ, giống gia cầm, … Theo Peniond Jkevich
và cộng sự (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1999), chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80 - 100, tốt: 79 - 65; trung bình: 64 - 55 và xấu: <55
1.2.3.4 Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá về khả năng sinh sản của con trống và con mái Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tốt như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn ñôi giao phối …
Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu ñánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non ðối với những trứng có chỉ số hình dạng chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất
Chế ñộ ấp nở có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến như chất lượng trứng, thời gian và chế ñộ bảo quản trứng, chế ñộ máy ấp, chế ñộ máy nở (nhiệt ñộ,
ẩm ñộ, thông thoáng, ñảo trứng …) Hệ số truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh 11 - 13%, hệ số di truyền của tỷ lệ ấp nở 10 - 14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Trang 331.2.3.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới sức ñẻ trứng của gia cầm
Sức ñẻ trứng của gia cầm là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, nó chịu ảnh hưởng của tổng hợp nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài
Các giống gia cầm bé, thể trọng nhẹ cân phần lớn ñều ñẻ sớm hơn các giống gia cầm có thể trọng cao, các giống hướng trứng có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn giống hướng thịt
+ Cường ñộ ñẻ trứng
Cường ñộ ñẻ trứng của gia cầm là sức ñẻ trứng của gia cầm trong một thời gian nhất ñịnh (tương ñối ngắn) ðây là một chỉ tiêu có liên quan mật thiết với sản lượng trứng mà thông qua ñó, ta có thể ước tính sức sản xuất trứng của gia cầm trong cả năm
+ Thời gian kéo dài, chu kỳ ñẻ trứng sinh học
Theo Lerner và Tayler (1943): Thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh
học là yếu tố quyết ñịnh sức ñẻ trứng của ñàn vịt Chu kỳ ñẻ trứng sinh học càng dài thì sức ñẻ trứng càng cao và ngược lại
Thường chu kỳ ñẻ trứng của gà kéo dài 1 năm; gà tây, vịt, ngan,
Trang 34ngỗng chu kỳ này thường ngắn hơn và thường theo mùa (Nguyễn Mạnh Hùng
và cs, 1994)
Chu kỳ ñẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tuổi thành thục sinh dục, nhịp ñộ ñẻ trứng, sức bền ñẻ trứng và chu kỳ ñẻ trứng, vì vậy chu kỳ
ñẻ trứng sinh học sẽ ảnh hưởng ñến sản lượng trứng
Sau mỗi chu kỳ ñẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ ñẻ và thay lông Trong ñiều kiện bình thường, thay lông lần ñầu tiên là thời ñiểm quan trọng ñể ñánh giá gia cầm tốt hay xấu
Thời ñiểm kéo dài sự thay lông nói lên chất lượng gia cầm mái Những gia cầm tốt thường thay lông muộn (tháng 10, 11, 12) thời gian thay lông kéo dài
1 - 2 tuần sau ñó sẽ ñẻ tốt Gia cầm có phẩm chất kém thay lông sớm (tháng 7, 8, 9), thay lông chậm có thể kéo dài 1 - 2 tháng (TS Bùi Hữu ðoàn, 2006)
Hiện nay người ta sử dụng biện pháp thay lông cưỡng bức dựa trên một
số yếu tố như: thuốc kích thích, ánh sáng, nước uống, chế ñộ và thành phần thức ăn nhằm rút ngắn thời gian thay lông và ñiều kiện thay lông hàng loạt, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
+ Tính ấp bóng
Tính ấp bóng hay bản năng ấp liên quan ñến khả năng ñẻ trứng là phản xạ không ñiều kiện của gia cầm Bản năng ñòi ấp của gia cầm nhằm bảo vệ nòi giống và là ñiều kiện ñể sản xuất ra thế hệ con cháu Bản năng ñòi ấp càng mạnh thì thời gian nghỉ ñẻ càng lớn Vì vậy, ñể tăng hiệu quả chăn nuôi, người ta phải chọn lọc dần và loại bỏ bản năng ñòi ấp nhằm rút ngắn thời gian nghỉ ñẻ
Tính ñòi ấp là do chất lượng của chất prolactin và các yếu tố di truyền,
gà nội (Việt Nam) có hàm lượng prolactin cao nên tính ñòi ấp mạnh
Trang 35Tính nghỉ ñẻ ở gia cầm ảnh hưởng rất lớn ñến sức ñẻ trứng của gia cầm, thời gian nghỉ ñẻ nhiều sẽ làm giảm sản lượng trứng, vì vậy các nhà chăn nuôi cần chọn lọc những gia cầm có tính nghỉ ñẻ mùa ñông thấp làm giống nhằm nâng cao sức ñẻ trứng
Vịt CV Super M2 dòng ông thế hệ 10 là 170,15 quả/64 tuần ñẻ; dòng
bà thế hệ 10 là 181,24 quả/64 tuần ñẻ (Nguyễn Ngọc Dụng và cs, 2005) Trong chăn nuôi hiện nay, các giống có sức sản xuất tốt ñược nhân lên, lai tạo, chọn lọc thành các giống chuyên thịt, chuyên trứng và kiêm dụng Những dòng ñược chọn kỹ thường ñạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa ñược chon lọc kỹ khoảng 15 - 30% về sản lượng trứng
- Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm ảnh hưởng năng suất trứng Ở vịt, ngỗng thì sản lượng trứng năm thứ nhất cao hơn năm thứ hai
- Thức ăn và dinh dưỡng
Cơ sở ñể xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm ñẻ phải căn cứ vào khẩu phần ăn của tất cả các giai ñoạn chăn nuôi trước ñó Lượng thức ăn trong giai ñoạn nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng ñến khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai ñoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng ñến tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai ñoạn gia cầm ñẻ
Theo Campell và cs (1969) thì nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm nuôi nhốt phải tăng gấp ñôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gia cầm chăn thả Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong
Trang 36máu do gia cầm cần protein ñể tạo noãn hoàng và lòng trắng; cần Ca, P ñể tạo
vỏ trứng; cần lipit ñể tạo noãn hoàng Khi gia cầm ngừng ñẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm ñi
Theo Wagner (1980): ảnh hưởng của protein, năng lượng, axit amin, vitamin, khoáng vi lượng cần ñược chú ý quan tâm vì chúng có ảnh hưởng gián tiếp ñến sản lượng trứng
Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn ñến sản lượng trứng: Gia cầm
ñẻ cần năng lượng ñể duy trì các hoạt ñộng của cơ thể và tạo trứng, ngoài ra còn cần ñể phát triển Nếu thừa năng lượng sẽ gây nên hiện tượng tích lũy mỡ
và gia cầm quá béo dẫn ñến ảnh hưởng ñến sản lượng trứng Còn nếu thiếu năng lượng thì giảm tốc ñộ phát triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng ñến khối lượng trứng Nhu cầu về năng lượng tùy thuộc vào từng giai ñoạn phát triển của cá thể và tuỳ thuộc từng giai ñoạn ñẻ
Ảnh hưởng của protein trong thức ăn ñến sản lượng trứng: Gia cầm ñẻ
cần protein (axit amin) ñể duy trì hoạt ñộng, sản xuất trứng và tăng trọng, ñặc biệt là trong việc hình thành trứng Khác với nhu cầu về năng lượng, nhu cầu
về protein không thay ñổi trong suốt giai ñoạn ñẻ Thiếu protein (axit amin) thì gia cầm sẽ huy ñộng protein của cơ thể ñể ñáp ứng quá trình sản xuất dẫn ñến ảnh hưởng ñến quá trình hình thành trứng
Bên cạnh việc ñáp ứng ñầy ñủ và hợp lý các nhu cầu về năng lượng và protein thì việc thiếu các axit béo no và không no cũng có ảnh hưởng ñến sản lượng trứng của gia cầm Thức ăn quá nhiều xơ, nhiều dầu ñều không thích hợp Thừa hoặc thiếu khoáng ñều ảnh hưởng ñến sản lượng trứng Trong các yếu tố khoáng thì nhu cầu về P và Ca rất cao ñể tạo vỏ trứng Thiếu P và Ca thì gia cầm sẽ ngừng ñẻ và thay lông Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà là: 5 : 1 Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau
Trang 37- ðiều kiện ngoại cảnh
Ngoài những yếu tố nêu trên, sức ñẻ trứng của gia cầm còn phụ thuộc rất nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh: nhiệt ñộ, ánh sáng, ñộ ẩm, mùa vụ… Nếu ñiều kiện ngoại cảnh không thích hợp sẽ làm con vật phát triển kém, sức ñề kháng kém dẫn ñến tỷ lệ chết cao ñồng thời năng suất và chất lượng trứng thấp kém, vì vậy trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng ta cần phải ñặc biệt chú ý ñến các yếu tố ngoại cảnh ñể vật nuôi phát triển một cách tốt nhất từ ñó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Theo tác giả Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (2001): Vào thời kỳ ñẻ trứng, nếu nhiệt ñộ môi trường dưới 150C hoặc trên 300C sẽ ảnh hưởng lớn ñến sức ñẻ trứng, khối lượng trứng và làm tăng tỷ lệ hao hụt
Ở nước ta nhiệt ñộ không khí chuồng nuôi tốt nhất nằm trong khoảng
từ 65 - 70%, về mùa ñông ñộ ẩm không nên vượt quá 80% Nếu ñộ ẩm cao làm chuồng ẩm ướt dễ gây cảm nhiễm bệnh ảnh hưởng tới sức khoẻ của vật nuôi, từ ñó sẽ ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng
Theo tác giả Hoàng Văn Tiệu (1993): Tỷ lệ ánh sáng và bóng tối mỗi ngày là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng ñến xu thế phát triển của vịt giống, bằng cách ñiều khiển ánh sáng một cách thích hợp, có thể ñiều khiển tốc ñộ phát triển của vịt và do ñó làm tăng sản lượng Còn với giai ñoạn sinh sản tác giả cho rằng, bất cứ một sai sót nào xảy ra trong quá trình chiếu sáng sẽ làm giảm sản lượng trứng
1.2.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ trứng có phôi là một trong những tính trạng di truyền có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, nó quyết ñịnh số vịt con nở ra của vịt mái trong một chu kỳ ñẻ trứng Tỷ lệ trứng có phôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Yếu tố di truyền
Loài giống và các cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh là khác nhau, vì
Trang 38mỗi loài giống có thể tích và nồng ñộ tinh dịch cũng như hoạt lực của tinh trùng là khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Công Quốc và cs (1993) Vịt CV Super M thế hệ
1 tỷ lệ có phôi của dòng ông ñạt 94,16% và của dòng bà ñạt 94,02%
- Yếu tố dinh dưỡng
Dinh dưỡng ñàn bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp ñến tỷ lệ thụ tinh Nếu khẩu phần ăn thiếu hoặc thừa một chất nào ñó sẽ làm ảnh hưởng ñến cơ quan sinh dục, từ ñó làm ảnh hưởng ñến hoạt ñộng sinh dục, khả năng sinh tinh và phẩm chất tinh dịch như thiếu Protein trong khẩu phần sẽ làm phẩm chất tinh dịch kém Chính vì vậy, khẩu phần ăn không những phải ñầy ñủ mà còn phải cân bằng các chất dinh dưỡng ñể nâng cao sản lượng trứng, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ nở
Theo kết quả nghiên cứu của Machlek (1989), trên vịt Bắc Kinh ñã chỉ
ra ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng ñễn tỷ lệ phôi Ở thế hệ ñầu tiên, với hai loại khẩu phần thay thế 5%, 10% bột ñậu tương bằng men Vitex, tỷ lệ trứng
có phôi lần lượt là: 93,2%; 90,0% Ở thế hệ thứ hai kết quả tương ứng là: 92,6%; 93,3% trứng có phôi theo từng khẩu phần ñược thay thế
- ðiều kiện môi trường
Tiểu khí hậu chuồng nuôi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ tinh Nhiệt ñộ và ñộ ẩm cao hay thấp hơn so với quy ñịnh ñều ảnh hưởng tới tỷ
lệ thụ tinh
- Tuổi gia cầm: Những gia cầm còn non thì cơ quan sinh dục chưa phát
triển hoàn thiện, tỷ lệ tinh trùng kì hình còn cao; những gia cầm già vì sức khoẻ giảm sút ñồng thời tinh hoàn có hiện tượng suy thoái dẫn ñến chất lượng cũng như tỷ lệ thụ tinh giảm
- Tỷ lệ trống, mái
Tỷ lệ trống, mái có ảnh hưởng không nhỏ ñến tỷ lệ thụ tinh của gia cầm
Trang 39ðể có tỷ lệ thụ tinh cao cần ghép tỷ lệ trống/mái của ñàn gia cầm một cách thích hợp Tỷ lệ này quá cao hoặc quá thấp ñều ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ tinh
Theo Aggarwal và Dipan kar (1986), nếu ghép tỷ lệ trống mái 1/5 - 1/10 thì tỷ lệ trứng có phôi ñạt 81 - 91%, còn nếu ghép trống mái tỷ lệ 1/15 thì
tỷ lệ trứng có phôi giảm còn 72 - 80%
1.2.3.7 Những yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ ấp nở
- Ảnh hưởng của môi trường bên trong:
Môi trường bên trong chính là chất lượng của trứng ấp, chúng ñược xác ñánh giá thông qua những chỉ tiêu chất lượng trứng:
+ Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong hai thành phần cấu thành nên năng suất sinh sản của gia cầm, nó liên quan ñến tỷ lệ nở, chất lượng ñời sau và giá trị hàng hoá Từ ñó có thể thấy, khối lượng trứng là chỉ tiêu chọn giống quan trọng và có ý nghĩa cơ bản với chỉ tiêu ấp nở
Theo tác giả Nguyễn Văn Trọng (1998) cho biết: Tỷ lệ nở/trứng có phôi của lô trứng có khối lượng trung bình (77 - 87 g) là cao nhất 87,84%, trứng có khối lượng nhỏ hơn 77 g là 84,13% và thấp nhất ở trứng có khối lượng trên 87 g là 80,85%
+ Chỉ số hình thái
Chỉ số hình thái có ý nghĩa nhất ñịnh ñến sự phát triển của phôi vì nó ảnh hưởng ñến vị trí của ñĩa phôi khi ấp, tỷ lệ nở cao thường tập trung ở những có chỉ số hình dạng trung bình của giống Nhóm tác giả Bạch Thị Dân và cộng sự (1999) kết luận: Trứng có chỉ số hình dạng từ 1,24 - 1,34 cho tỷ lệ ấp nở/phôi cao nhất là 84,23 - 86% Trứng có chỉ số hình dạng nhỏ hơn 1,24 là 82,5%; còn trứng có chỉ số hình dạng trên 1,34 cỏ tỷ lệ nở/trứng có phôi là 81,45%
+ ðộ dày vỏ: là một trong những chỉ tiêu ñánh giá chất lưọng vỏ trứng,
nó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình ấp nở, nếu vỏ quá dày hoặc quá
mỏng ñều ảnh hưởng ñến sự phát triển của phôi
Trang 40+ Chỉ số lòng trắng và chỉ số lòng ñỏ, ñơn vị Haugh
Chỉ số lòng trắng, lòng ñỏ phản ánh chất lượng của trứng ấp Chất lượng lòng trắng trứng thường ñược ñánh giá qua chỉ tiêu ñơn vị Haugh (ñơn vị Haugh thể hiện mối liên quan giữa chiều cao lòng trắng ñặc và khối lượng trứng)
+ Tỷ lệ lòng trắng/lòng ñỏ
Khi ñánh giá chất lượng trứng không thể không kể ñến chỉ tiêu quan trọng là tỷ số giữa lòng trắng và lòng ñỏ Thông thường tỷ lệ này tốt nhất là 2/1 Nếu tỷ lệ này lớn hơn cũng không tốt vì khối lượng tương ñối của lòng trắng và lòng ñỏ giảm xuống Was Bum cho rằng sự biến ñổi về khối lượng tỷ
lệ lòng ñỏ, tỷ lệ lòng trắng có liên quan ñến tỷ lệ nở
- Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Tỷ lệ nở có hệ số di truyền thấp Theo kết quả tổng hợp của Cusner trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp tỷ lệ ấp nở có hệ số di truyền là 0,14
- Ảnh hưởng của kỹ thuật ấp
Nhiệt ñộ và ñộ ẩm là hai yếu tố quan trọng trong quá trình ấp, nó ảnh hưởng trực tiếp ñến sự phát triển của phôi Khi nhiệt ñộ và ñộ ẩm không thích hợp sẽ làm giảm tỷ lệ nở của gia cầm
1.3 Giới thiệu giống vịt Triết Giang (TG) và vịt TC1
1.3.1 ðặc ñiểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt TG
Giống vịt Triết Giang có nguồn gốc từ Trung Quốc ñã ñược nhập vào Việt Nam bằng con ñường tiểu ngạch và ñược phát triển qua hàng chục năm nay, nhưng ñược nhập chính thức vào Việt nam năm 2005 thông qua Trung tâm chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh, ñây là giống vịt hướng trứng, vịt có lông màu cánh sẻ nhạt, một số ít có màu trắng, có tuổi ñẻ rất sớm 90 - 120 ngày, năng suất trứng khoảng 250 -
270 quả/mái/năm, khối lượng trứng 55 - 65g