1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai

148 956 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.3 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu 30 4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng bằng thuốc diệt nấm bệnh 4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng tái sinh 4.2.1 Ảnh hưởng của

Trang 1

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

VIỆN ðÀO TẠO SAU ðẠI HỌC -

NGUYỄN THÁI SƠN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH GIỐNG CHÈ BÁT TIÊN

TẠI HUYỆN BÁT XÁT - LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số : 60.62.01.10

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS VŨ QUANG SÁNG

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này

ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu ựề tài, ngoài sự cố gắng

nỗ lực của bản thân, tôi ựã nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình và những lời chỉ bảo chân tình từ rất nhiều ựơn vị và cá nhân trong và ngoài ngành nông nghiệp Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân ựã dành cho tôi sự giúp ựỡ quý báu ựó

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kắnh trọng sự giúp ựỡ nhiệt tình của TS Vũ Quang Sáng là người trực tiếp hướng dẫn và giúp ựỡ tôi

về mọi mặt ựể tôi hoàn thành ựề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến ựóng góp quý báu của các thầy,

cô trong khoa Nông học, các thầy cô trong Viện đào tạo Sau ựại học

Tôi xin cảm ơn sự giúp ựỡ người dân huyện Bát Xát ựã tạo ựiều kiện giúp tôi thực hiện ựề tài này

Cảm ơn sự cổ vũ, ựộng viên và giúp ựỡ của gia ựình, người thân, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thái Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

2.5 ðiều kiện sinh thái với sự phát triển cây chè tại Lào Cai 10

2.6.3 Sự ñiều chỉnh hormon quá trình tái sinh của cành giâm 21

3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Trang 5

3.3 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu 30

4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng bằng thuốc diệt nấm bệnh

4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng tái sinh

4.2.1 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng ra mô sẹo

4.2.2 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành

4.2.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến số lượng rễ và chiều

4.2.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng hình thành

4.3 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến khả năng

4.3.1 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến khả năng

4.3.2 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ

4.3.3 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ

Trang 6

4.3.4 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình

4.4 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến khả năng tái sinh của cành giâm

4.4.1 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến khả năng ra mô sẹo của giống

4.4.2 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành

4.4.3 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến số lượng rễ và chiều dài rễ của

4.5.3 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến số lượng rễ và chiều dài

4.6 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến khả năng tái sinh của cành giâm

4.6.1 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến khả năng ra mô sẹo của giống

4.6.2 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm chè Bát Tiên 71

4.7 Ảnh hưởng của mức ñộ che bóng ñến sinh trưởng của cây con

4.8 Ảnh hưởng của số lần bón phân ñến sự sinh trưởng của cây giống

Trang 7

4.9 Ảnh hưởng của thời gian ñảo bầu cây ñến ñến một số ñặc ñiểm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng ñến tỷ lệ sống (%) của cành

4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ mô sẹo của

4.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm

4.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến số lượng rễ và chiều dài rễ

4.5 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ hình thành chồi

4.6 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ mô

4.7 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ

4.8 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ

4.9 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình

4.10 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát

4.11 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành

chồi của cành giâm cây chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 60

4.12 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến số lượng rễ và chiều dài rễ của

Trang 9

4.13 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến tỷ lệ mô sẹo của giống

4.14 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình

thành chồi của cành giâm cây chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 65

4.15 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến số lượng rễ và chiều dài

rễ (cm) của cành giâm chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 67

4.16 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát

4.17 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành

chồi của cành giâm cây chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 71

4.18 Ảnh hưởng của che bóng ñến sinh trưởng của cây con chè Bát

4.19 Ảnh hưởng của số lần tưới phân bón ñến sinh trưởng của cây

4.20 Ảnh hưởng của biện pháp ñảo bầu cây ñến một số ñặc ñiểm sinh

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng ñến tỷ lệ sống (%) của cành

4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ mô sẹo của

4.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm

4.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến số lượng rễ của cành giâm

4.5 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ hình thành chồi

4.6 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ mô

4.7 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ

4.8 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ

4.9 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình

4.10 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành

chồi của cành giâm cây chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 61

4.11 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến số lượng rễ của cành giâm chè

4.12 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến tỷ lệ ra rễ của cành

Trang 11

4.13 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến số lượng rễ và chiều dài

rễ (cm) của cành giâm chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 68

4.14 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát

4.15 Ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm cây

Trang 12

1 MỞ đẦU

1.1 đặt vấn ựề

Cây chè ựược con người biết ựến từ rất lâu, ựầu tiên nó ựược sử dụng làm thuốc và sau ựó ựược sử dụng làm nước uống (Nguyễn Tiến Bân, 2003) Nước chè có tác dụng rất tốt ựối với cơ thể con người bởi chè có khả năng kắch thắch hệ thần kinh trung ương, kắch thắch vỏ ựại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt ựộng của các cơ quan trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc và giảm mệt mỏi sau lao ựộng (đặng Hanh Khôi, 1983)

Do có giá trị lớn ựối với sức khỏe con người nên nước chè ựã trở thành thức uống quen thuộc với nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới Ngày nay cây chè ựã ựược trồng khắp năm châu, phân bố từ 33 vĩ ựộ nam ựến 49 vĩ

ựộ bắc (Lã đình Mới, 2003) Tuy nhiên, năng suất và chất nượng chè còn phụ thuộc khá nhiều vào khắ hậu, ựất ựai phân bố theo từng vùng, cũng như các biện pháp kỹ thuật tác ựộng của con người ựặc biệt là vấn ựề giống chè

Nước ta là một trong những cái nôi sản sinh ra cây chè, người Việt Nam

ựã có tập quán trồng, chế biến chè và uống các loại chè từ xa xưa Chắnh vì vậy

mà thực dân Pháp sau khi xâm lược ựược nước ta ựã thành lập các công ty kinh doanh chè và tổ chức các trại nghiên cứu chè (đoàn Hùng Tiến, 1998)

Ngày nay, ngành chè của nước ta ựang tiếp tục phát triển Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới ựã và ựang nhanh chóng ựược ựưa vào áp dụng trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất chè tươi và chất lượng của chè thành phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành chè (đỗ Văn Ngọc và cộng sự, 1994) Sự phát triển của cây chè trong những năm gần ựây ựã góp phần xóa ựói giảm nghèo, phân bố lại lao ựộng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hàng chục vạn hộ gia ựình Tuy nhiên do còn nhiều tồn tại trong canh tác mà năng suất, chất lượng chè của ta còn thấp (Viện Nghiên cứu chè, 2002) Theo báo cáo

Trang 13

của Hiệp hội Chè Việt Nam, tính ñến năm 2009 tổng diện tích chè của nước ta

là 131 nghìn ha, trong ñó có 117 nghìn ha chè sản xuất kinh doanh cho thu hoạch với năng suất ñạt 65 tạ/ha, ñạt tổng sản lượng trên 760 nghìn tấn búp tươi, xuất khẩu ñược 130 nghìn tấn chè khô, ñứng hàng thứ 5 trên giới về xuất khẩu chè Chè Việt Nam ñã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (Lê Doãn Diên, 2003)

Theo chủ trương của chính phủ và Hiệp hội Chè Việt Nam quy hoạch phát triển ngành chè ñến năm 2015 ñạt tổng diện tích 150 nghìn ha Phát triển các giống chè ñặc sản, chè chất lượng cao, sử dụng giống mới có chất lượng và

áp dụng công nghệ thâm canh cao ðể ñạt ñược mục tiêu ñề ra như trên thì vấn

ñề cấp thiết ñặt ra hàng ñầu chính là tìm nguồn cung cấp giống chè có chất lượng ñể giảm chi phí cũng như ñảm bảo năng suất và chất lượng chè Hiện nay chúng ta ñã và ñang áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất,trong ñó có kỹ thuật chọn tạo giống, nhập nội nhiều giống mới và phương pháp nhân giống vô tính cũng bước ñầu mang lại những kết quả tốt (Nguyễn Xuân Quát, 1996)

Trên thực tế thì phương pháp nhân giống chè bằng giâm cành ñang ñược

áp dụng ở nhiều cơ sở trồng chè ở nước ta, song cũng còn nhiều cơ sở áp dụng chưa thành công do tỷ lệ cây con xuất vườn thấp, tỷ lệ cây chết sau khi trồng cao… từ ñó làm tăng giá thành cây con, tăng chi phí cho trồng mới Vì vậy làm thế nào ñể nhân giống vô tính ñạt hiệu quả kinh tế cao ñang là một yêu cầu cấp thiết tại nhiều ñịa phương trồng chè hiện nay (Lê Doãn Diên, 2003)

Tại tỉnh Lào Cai, cây chè ñược trồng với diện tích 3.867 ha vào năm

2011 Lào Cai có ñịa hình là một phần dãy núi Hoàng Liên Sơn, khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với cây chè vì vậy chè ñang trở thành thứ cây xoá ñói giảm nghèo ở nhiều vùng heo hút nơi ñây

Cây chè ñi vào ñất Lào Cai từ năm 1986, khi bắt ñầu lác ñác có một số

Trang 14

hộ dân trồng ðến năm 1999, tỉnh Lào Cai xác ñịnh cây chè là thế mạnh, và ñã ñưa vào trồng tập trung Hiện nay toàn tỉnh Lào Cai ñang trồng chè với các giống chủ yếu: Chè trung du chiếm 32%, chè Shan tuyết chiếm 33%, chè lai LDP1 và LDP2, chè O long, chè Bát Tiên… chiếm 35% Cây chè ñược trồng tập trung ở các huyện Mường Khương, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, còn lại rải rác ở các huyện Sa Pa, Văn Bàn, thành phố Lào Cai Tổng diện tích chè của tỉnh năm 2011 là 3867 ha, trong ñó có 2732 ha chè kinh doanh cho thu năng suất ñạt 50 tạ/ha, tổng sản lượng toàn tỉnh là 13660 tấn chè búp tươi [28]

Theo quy hoạch ñã ñược UBND tỉnh phê duyệt, ñến năm 2015, diện tích vùng chè hàng hóa tập trung của tỉnh ñạt 4.600 ha, trong ñó chè kinh doanh 4.000 ha Tỉnh sẽ hỗ trợ ñầu tư và khuyến khích nhân dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh ñể ñạt năng suất bình quân 70 tạ/ha vào năm 2015, sản lượng chè búp tươi ñạt khoảng 28.000 tấn/năm ðồng thời cải tạo, nâng cấp các

cơ sở chế biến ñể có ñủ công suất và ñảm bảo quy trình chế biến tiên tiến, ñáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm [36]

Cùng với việc mở rộng vùng nguyên liệu và thâm canh tăng năng suất, tỉnh sẽ chỉ ñạo ứng dụng công nghệ sản xuất mới áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt trong sản xuất sơ chế sản phẩm chè (theo tiêu chuẩn VietGAP), xây dựng ñăng ký thương hiệu sản phẩm làm khâu ñột phá ñể nâng cao giá trị sản xuất chè trên một ñơn vị diện tích Có như vậy, sản phẩm chè sẽ tăng ñược giá bán và sức cạnh tranh trên thị trường

Muốn vậy, vấn ñề ñặt ra là phải ñẩy mạnh chuyển ñổi cơ cấu giống chè bằng cách tăng nhanh diện tích các giống chè chất lượng cao, giá thành cây con thấp và có thế cung cấp tại chỗ ñể giảm chi phí cho việc trồng mới ðể ñảm bảo muc tiêu này thì phương pháp nhân giống vô tính bằng giâm cành cần ñược lựa chọn, từ ñó có thể ñáp ứng ñược về cây giống, do phương pháp này dễ thực hiện, không ñòi hỏi trình ñộ cao có thể phổ biến rộng cho bà con

Trang 15

thực hiện… Tuy nhiên vấn ñề ñặt ra là cần thiết phải xây dựng ñược một quy trình nhân giống vô tính hợp lý, làm tăng tỷ lệ sống, tăng tỷ lệ xuất vườn, hạ giá thành cây con Cây con sau khi trồng có khả năng chịu hạn tốt, tỷ lệ sống cao, giảm chi phí trồng mới, như vậy mới nhanh chóng trẻ hóa các vườn chè bằng giống mới từ ñó sẽ nâng cao năng suất, phẩm chất, nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất chè ở Lào Cai

ðể góp phần xây dựng quy trình nhân giống vô tính phù hợp cho cây

chè với ñiều kiện của Lào Cai, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè Bát Tiên tại huyện Bát Xát - Lào Cai”

1.2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài

1.2.1 Mục ñích

Trên cơ sở nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè Bát Tiên ñề xuất kỹ thuật nhân giống vô tính chè có hiệu quả phuc vụ sản xuất cây giống có chất lượng, nhanh chóng mở rộng diện tích, trẻ hóa các vườn chè bằng giống mới năng suất cao, phẩm chất tốt và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất chè tại huyện Bát Xát - Lào Cai

1.2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố nội tại như tuổi cây mẹ, kích thước hom , tuổi cành giâm…ñến khả năng tái sinh rễ của cành giâm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh như ñộ ẩm, mức

ñộ che giâm… ñến khả năng tái sinh của cành giâm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các nồng ñộ α-NAA, chế phẩm giâm cành ñến chất lượng của cành giâm

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ giâm ñến khả năng ra rễ của cành giâm cây chè Bát Tiên tại huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài

Trang 16

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa hoc có giá trị về khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống

chè Bát Tiên của huyện Bát Xát - Lào Cai

- Kết quả nghiên cứu của ñề tài là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu trong nhân giống vô tính giống chè ñặc sản bằng kỹ thuật giâm cành nhằm bảo tồn, phát triển nguồn gen quý này tại Lào Cai

Trang 17

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của ñề tài

Cây chè ñã ñược trồng tại Lào Cai gần 100 năm nay Hiện nay có những vườn chè trồng bằng hạt có tuổi trên 50 năm vẫn ñang sinh trưởng tốt Các vườn chè trồng bằng cành giâm từ năm 1980 tới nay vẫn ñang cho năng suất từ 12 - 13 tấn búp tươi/ha Trong ñiều kiện sinh thái của Lào Cai, cây chè sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng cao ðiều kiện khí hậu và ñất ñai của Lào Cai có thể cho phép mở rộng phát triển chè trên quy mô lớn Chất lượng sản phẩm chè sản xuất ra có thể ñáp ứng ñược nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài nước [28]

Cây chè là cây giao phấn, vì thế việc trồng chè bằng hạt có nhược ñiểm

là vườn cây sinh trưởng không ñồng ñều, năng suất không ổn ñịnh, chất lượng không cao, việc chăm sóc, thu hái, chế biến gặp nhiều khó khăn Các thành tựu nghiên cứu về nhân giống vô tính, kết hợp với các tiến bộ kỹ thuật mới về chọn tạo giống, nhân giống chè trong nước cũng như trên thế giới cho phép chúng ta cần phải tiến hành nghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính thích hợp thay cho phương pháp gieo trồng bằng hạt ñối với cây chè tại Lào Cai

Các nghiên cứu về nhân giống vô tính bằng kỹ thuật ghép cho thấy: bộ

rễ của cây chè ghép có khả năng sinh trưởng mạnh nên nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất và khả năng chống chịu của cây

2.2 Giới thiệu chung về cây chè

Việt Nam là một trong những cái nôi sản sinh ra cây chè Người Việt Nam ñã có tập quán trồng, chế biến chè và uống các loại chè từ xa xưa Hiện nay, chè là thức uống phổ biến nhất trên thế giới Nước chè ngoài tác dụng giải khát, con có nhiều tác dụng khác rất có lợi cho sức khỏe con người như: tác dụng an thần, chữa bệnh, bảo vệ và tăng cường sức khoe, tăng khả nang

Trang 18

miễn dịch, tăng tuổi thọ của con người Ngoài ra ựối với nhiều người thì uống chè còn là thói quen, một thú vui, là phương pháp tu thân dưỡng tắnh, là ựạo, là triết lý sâu xa, là sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên và vũ trụ, giữa con người với con người đối với một số quốc gia, một số dân tộc ở châu Á trong

ựó có Việt Nam, uống chè ựã trở thành văn hóa, chè gắn liền với phong tục tập quán,chè gắn liền với lễ hội, cưới hỏi, chè là văn hóa giao tiếp, là ựối nhân xử thế (đặng Hanh Khôi, 1983), (đông A Sáng, 2004), (Trần Thế Tục, 1997)

Chè là cây trồng dễ ựưa vào các mô hình sử dụng ựất dốc bền vững như

mô hình vườn Ờ ựồi, vườn Ờ rừng, nông lâm kết hợpẦ mang lại hiệu quả kinh

tế cao cho người sản xuất tại nhiều quốc gia trồng chè trên thế gới Ở nước ta hiện nay diện tắch ựất trống ựồi núi trọc còn nhiều, việc phát triển diện tắch trồng chè kết hợp với các loại cây khác là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm phủ xanh ựất trống ựồi trọc, tạo cân bằng sinh thái, góp phần cải tạo ựất, bảo vệ môi trường, bảo vệ ựất chống xói mòn, rửa trôi (Nguyễn đình Nam, 1995), (Nguyễn Xuân Quát, 1996)

Chè là cây công nghiệp lâu năm, có ựời sống kinh tế dài nhưng sớm cho sản phẩm thu hoạch, sản phẩm có thị trường ổn ựịnh và ngày càng mở rộng Ở nước ta, chè là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu truyền thống quan trọng Trong ựịnh hướng phát triển nông nghiệp thì chè là một trong năm loại cây ựược nhà nước chú ý

So với một số cây công nghiệp khác thì chè là loại cây có khả năng thắch ứng rộng Nó có thể sinh trưởng và cho sản phẩm trong những ựiều kiện khắt khe

về thời tiết cũng như trên những vùng ựất dốc nghèo dinh dưỡng Do vậy, chè là cây có thể trồng ựược ở vùngựất dốc của miền núi và trung du, nếu ựược ựầu tư thắch ựáng thì cây chè là cây xóa ựói giảm nghèo, cũng là cây làm giàu,góp phần phát triển kinh tế nông thôn ở vùng trung du và miền núi nước ta (đỗ Ngọc Quỹ, 1980) Mặt khác, trồng chè còn cần nhiều lao ựộng, phát triển cây chè là giải pháp

Trang 19

ñiều hòa lao ñộng, góp phần giải quyết việc làm, thúc ñẩy vùng trung du miền núi phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, mau chóng ñuổi kịp miền xuôi

2.3 Nguồn gốc và phân loại cây chè

2.3.1 Nguồn gốc của cây chè

Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nhưng vùng xuất xứ của cây chè ở châu Á vẫn không nhất quán giữa các nhà khoa học trong một thời gian dài Năm 1753, khi xuất bản cuốn sách về các loại cây và lập ra danh mục tất cả

các loài thực vật ñã biết, Linne cho rằng có hai giống Thea và Camellia gồm những cây dung ñể pha chè và theo ông giống Thea chỉ có một loài là Thea sinensis Năm 1762 ông lại cho rằng có hai loài, một ñể chế biến chè xanh và một ñể chế biến chè ñen (Thea viridis và Thea bohea) Tới lúc này, người ta

vẫn chỉ hiểu rằng quê hương của cây chè là ở Trung Quốc Nó là một loại cây nhỏ, lá nhỏ như những cây bụi (trích theo Chu Y.Y., 1988)

Năm 1823, một học giả người Anh tên là Bruce ñã phát hiện ra những rừng chè dại cao 17-20m ở vùng Sadiya thuộc vùng Assam -Ấn ðộ Từ ñó có

ý kiến cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn ðộ Tiếp sau ñó các rừng chè lại ñược tìm thấy ở Miến ðiện, Việt Nam, Lào, thượng nguồn sông Mê Kông

và Vân Nam – Trung Quốc Do ñó có ý kiến cho rằng những rừng chè mới tìm thấy này chỉ là do con người trồng và bỏ hoang, nhưng quan ñiểm này vẫn không ñược mọi người chấp nhận (ðặng Hanh Khôi, 1983)

Với công trình nghiên cứu của Djemkhatze về sự tiến hóa hóa sinh của cây chè từ các vùng khác nhau và giữa chè trồng với chè hoang dại Ông ñã ñi ñến kết luận rằng nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam (Djemkhatze, 1981)

Thực tế hiện nay phần ñông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam- Ấn ðộ sang Miến ðiện, Vân Nam – Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Từ ñó chia thành hai nhánh, một ñi xuống phía Nam và một ñi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc ðiều

Trang 20

kiện khí hậu ở ñây rất lý tưởng (xuân 4 mùa) cho cây chè sinh trưởng quanh năm (ðỗ Ngọc Quỹ, 1980), (ðỗ Ngọc Quỹ, 1997), (Vũ Bội Tuyền, 1981)

2.3.2 Phân loại cây chè

Trong hệ thống phân loại thực vật, cây chè ñược xếp như sau:

Ngành: Hạt kín (Angiospermae)

Lớp : Song tử ñiệp (Dicolytedonae)

Bộ : Chè (Theales)

Họ : Chè (Theaceae)

Chi : Chè (Camellia) (Thea)

Loài : Camellia hoặc Thea sinensis

Cây chè ñược chia làm nhiều thứ (varieties), hiện nay cách phân loại của Cohen Stuart (1916) ñang ñược nhiều người công nhận Ông chia cây chè làm 4 thứ:

* Chè Trung Quốc lá nhỏ: (Camellia sinensis var Bohea (Microphylla))

Thuộc dạng cây bụi nhỏ, phân cành nhiều, lá nhỏ (10 - 15 cm); phiến lá dày, giòn, màu xanh thẫm, 6 - 7 ñôi gân lá (không rõ), búp nhỏ, hoa nhiều, chịu rét tốt

* Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinesis var Macrophylla)

Cây thuộc dạng thân bụi hoặc gỗ nhỏ cao 5 - 7cm Phân cành trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30cm2, có 8 - 9 ñôi gân lá, lá màu xanh nhạt, búp có khối lượng 0,5 - 0,6g

* Chè Shan (Camellia sinesis var Shan)

Thuộc dạng cây thân gỗ cao 6 - 10m Diện tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 ñôi gân lá Búp to nhiều tuyết, khối lượng búp khoảng 1 - 1,2g

* Chè Ấn ðộ (Camellia sinesis var Assamica)

Trang 21

Cây có dạng thân gỗ cao trên 10m Phân cành thưa, lá hơi tròn mặt lá gợn song gồ ghề, diện tắch lá khoảng 40cm2, có 12 - 15 ựôi gân lá Búp lớn có khối lượng 0,9 - 1g; búp tròn, chống chịu rét kém và thắch ựất tốt

2.4 Một số ựặc ựiểm của cây chè Bát Tiên

Cây chè Bát Tiên có nguồn gốc từ đài Loan, ựặc ựiểm hình thái của cây chè là thân tán bụi, tán hơi xòe, lá mỏng khá to (dài 10,5cm, rộng 5,5cm), có 8 ựôi gân lá màu vàng hơi ắm, thế lá rủ, mép gợn sóng, răng cưa nhỏ thưa, màu xanh nhạt, non hơi phớt tắm, trọng lượng búp 1 tôm 2 lá là 0,52- 0,57g Chè Bát Tiên có khả năng chống sâu bệnh khá, chống hạn trung bình

Năng suất của chè 8 tuổi trồng ở Tuyên Quang ựạt 6 tấn/ha, chè 4 tuổi tại Lạng Sơn năng suất ựạt 5,5 tấn/ha

Giá trị dinh dưỡng của chè Bát Tiên: chè bát tiên có hàm lượng tanin và chất hòa tan rất cao Hàm lượng một số chất như axit amin tổng số là 1,72%; Catechin tổng số là 145mg/gck, Tanin là 36,99%; Chất hoà tan là 44,9% Không chỉ vậy, chè Bát Tiên còn là nguyên liệu thắch hợp chế biến chè ựen và chè ô long (Nguyễn Bá, 1978); (Nguyễn Văn Toàn, 2012)

2.5 điều kiện sinh thái với sự phát triển cây chè tại Lào Cai

Bát Xát là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lào Cai có diện tắch tự nhiên là 106.189,89 ha, chiếm 16,6% diện tắch tự nhiên của cả tỉnh (Nguyễn đình Vinh, 2002)

- Phắa Bắc giáp huyện Kim Bình tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);

- Phắa Nam giáp huyện Sa Pa;

- Phắa đông Nam giáp thành phố Lào Cai;

- Phắa đông giáp sông Hồng và huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);

- Phắa Tây giáp huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu

Trang 22

Với vị trắ ựịa lý cách thành phố Lào Cai (từ thị trấn Bát Xát) khoảng 10

km về phắa Tây Bắc

đất ựai là tổng hợp một số yếu tố mặt ựất có liên quan tới vị trắ ựịa lý, chủ yếu bao gồm các yếu tố về ựịa hình và thổ nhưỡng Khắ hậu và ựất ựai có mối quan hệ rất mật thiết với nhau đất ựai là sản phẩm của quá trình phong hóa ựá, của khắ hậu và thảm thực vật Một số yếu tố của ựất ựai như chế ựộ nhiệt, chế ựộ

ẩm, chế ựộ không khắ thực tế là do tác ựộng của các yếu tố khắ hậu (đào Thế Tuấn, 1984), (đường Hồng Dật, 1999), (Nguyễn Mười và cộng sự, 2000)

Về ựịa hình

độ cao so với mực nước biển của ựất trồng chè có ảnh hưởng quyết ựịnh ựến năng suất và phẩm chất chè Thực tiễn trồng chè của nhiều nước trên thế giới cho thấy chè trồng trên núi cao bao giờ cũng có chất lượng tốt như theo cách nói của nông dân Trung Quốc "vân lộ trà", "cao sơn xuất hảo trà" (đông A Sáng, 2004) Theo Nguyễn Ngọc Kắnh (1979) cho biết, phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có ựộ cao cách mặt biển từ 500m ựến 800m Vùng trồng chè ngon nổi tiếng của Ấn độ trồng ở ựộ cao cách mặt biển 2000m, Sri Lanka chia thành 3 vùng chè là vùng thấp dưới 600m, vùng giữa 600 - 1200m và vùng cao là 1200 - 1800 Chè vùng cao tuy có sản lượng thấp nhưng lại có chất lượng cao và giá bán cao (Nguyễn Ngọc Kắnh, 1979)

địa hình Bát Xát ựược kiến tạo bởi nhiều dải núi cao, cao dần theo

hướng Tây Bắc, ựiểm cao nhất có ựộ cao 2.945 m, ựiểm thấp nhất có ựộ cao

88 m (so với mặt nước biển) địa hình Bát Xát hình thành hai khu vực:

- Vùng thấp (ven sông Hồng): Gồm 6 xã và một thị trấn, là nơi tập trung các dải ựồi thấp, thoải, ựịa hình tương ựối bằng phẳng Diện tắch của vùng trên 21.500 ha, chiếm 20.25% diện tắch ựất toàn Huyện độ cao trung bình từ 400-500 m, tương ựối bằng chạy dọc sông Hồng

Trang 23

- Vùng cao: Gồm 17 xã, là vùng núi cao có ựộ chia cắt lớn, thung lũng hẹp khe sâu, ựộ ựốc lớn Diện tắch 84.689,7 ha, chiếm 79.75% diện tắch ựất toàn Huyện Vùng này có ựộ cao từ 400 m ựến 3096 m, ựộ dốc trung bình từ

20o ựến 25o Do vùng có ựịa hình chia cắt mạnh, ựộ dốc lớn ựã gây hạn chế trong sản xuất nông, lâm nghiệp và ựầu tư cơ sở hạ tầng (Hoàng Minh Tấn và

CS, 2006)

Khắ hậu- Thuỷ văn

Nhiệt ựộ là một nhân tố sinh thái quan trọng ựối với cây trồng Nhiệt ựộ chi phối sự phân bố ựịa lý, là yếu tố mang tắnh giới hạn, ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và phát triển của cây Các hoạt ựộng sinh lý của cây như quang hợp, hô hấp ựều thay ựổi theo nhiệt ựộ đối với cây chè, nhiệt ựộ không khắ ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và thời vụ thu hái chè (Carr M.K.V, et al., 1979), (Carr M.K.V, et al., 1992), (Hadfield W., 1968)

Sau nhiệt ựộ, ựộ ẩm là yếu tố khắ hậu ảnh hưởng lớn ựến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất chè Chè là cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp và lá non nên nhu cầu nước rất cao đáp ứng nhu cầu nước cho cây sinh trưởng là vấn

ựề rất quan trọng Qua số liệu của các nước trồng chè trên thế giới cho thấy,

ựộ ẩm tương ựối của không khắ khoảng 80 - 85%; ựộ ẩm ựất 70 - 80% là thắch hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển (Carr M.K.V, 1970), (Stephens W.,

et al., 1992)

Bát Xát nằm trong khu vực khắ hậu nhiệt ựới, nóng ẩm mưa nhiều Do ảnh hưởng của ựịa hình nên ựược chia thành hai khu vực khắ hậu khác nhau:

* Vùng cao: Khắ hậu vùng núi cao mang tắnh chất của khắ hậu cận nhiệt

ựới và ôn ựới ẩm Mùa ựông lạnh ẩm, mùa hè mát mẻ Mùa nóng từ tháng 5 ựến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 ựến tháng 4 năm sau Nhiệt ựộ trung bình

cả năm xấp xỉ 150C

Trang 24

Theo kết quả ñiều tra xây dựng bản ñồ thổ nhưỡng Lào Cai năm 1972

và báo cáo khoa học (ñất Lào Cai) do Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia thuộc Viện ðịa lý xây dựng năm 1996 cho thấy huyện Bát Xát

có tổng diện tích tự nhiên 106.188,72 ha Trong ñó có 8 nhóm ñất chính với

15 loại ñất sau:

- Nhóm ñất mùn thô trên núi cao 25,39 ha chiếm 0,02% diện tích tự nhiên, loại ñất này chủ yếu ñược phân bố ở các ñỉnh núi cao trên 2800 m (vùng Trung Lèng Hồ, Sàng Ma Sáo) ñược hình thành trong ñiều kiện khí hậu quanh năm rét khô, phân bố không tập trung, có nhiều ñá nổi xen kẽ

- Nhóm ñất mùn Alít trên núi cao 1513,1 ha chiếm 1,42% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở ñộ cao từ 1800 - 2800m khu vực phía tây và phía bắc huyện Như khu vực Hồng Ngài (Y Tý), Mào Mù Sủi (Sàng Ma Sáo) Loại ñất này tầng mùn dày thành phần cơ giới thịt nhẹ, ñộ ẩm cao, ở những nơi quá trình rửa trôi mạnh, ñá nổi xen kẽ nhiều hoặc vách ñá dựng ñứng rải rác Thực vật chủ yếu cây họ thông, sồi, giẻ Vùng ñất tầng dày dưới 26cm thường có màu xám ñen, từ 26 - 73cm có màu xám vàng, từ 73 - 120cm có màu vàng ñỏ

Trang 25

- Nhóm ñất mùn vàng ñỏ trên núi cao 34956,66 ha chiếm 32,92% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở ñộ cao từ 900 - 1800m gồm các loại ñất sau: + ðất mùn vàng ñỏ trên ñá sét (HFs) diện tích 514,45 ha chiếm 0,48% diện tích ñất tự nhiên,phân bố rải rác trên núi có ñộ cao từ 1200 -1800 m (thuộc các xã: A Lù, A Mú Sung, Trịnh Tường) loại ñất này ñược hình thành tại chỗ, quá trình phong hoá chất khoáng mạnh nhưng không triệt ñể, tỷ lệ ñá lẫn trong ñất cao, tầng ñất trung bình, thành phần cơ giới trung bình

+ ðất mùn ñỏ vàng trên ñá biến chất (HFj) diện tích 3383,03 ha chiếm 31,44% diện tích ñất tự nhiên, loại ñất này ñược hình thành trên các vùng núi cao trung bình (900 -1200 m) ñịa hình dạng lượn sóng, ñỉnh tròn chân rộng thoải ñộ dốc trung bình Thực vật chủ yếu là họ sồi, giẻ, họ ñậu, họ xoan, họ bách tán, thảm cỏ chủ yếu là cỏ tranh Loại ñất này phân bố chủ yếu ở vùng: Trịnh Tường, Bản Xèo, Mường Vi ðất có màu vàng hoặc màu vàng ñỏ, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ ñến thịt trung bình, ñất ít chua do ảnh hưởng của ñá vôi

+ ðất mùn vàng xám trên ñá Mác ma A-xít (HFa) diện tích 1059,17 ha chiếm 1,0% diện tích ñất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở khu vực miền tây của huyện, thuộc các xã: Mường Hum, Sàng Ma Sáo, Trung Lèng Hồ, Pa Cheo, Dền Sáng ñược hình thành trên các vùng lãnh thổ có ñộ dốc và ñộ chia cắt lớn, thung lũng hẹp sâu Vùng này hệ thực vật thường hỗn giao giữa thực vật nhiệt ñới và thực vật ôn ñới, càng lên cao hệ thực vật ôn ñới càng chiếm ưu thế Loại cây rừng ñiển hình là sa mu, pơ mu, sồi, giẻ Loại ñất thường có tầng dày từ 20 - 100 cm, màu xám ñen, vàng xám hoặc vàng ñỏ, thành phần

cơ giới thịt nhẹ ñến trung bình, kết cấu viên, xốp, ñá mẹ ñang trong quá trình phong hoá mạnh

- Nhóm ñất ñỏ vàng 64787,94 ha chiếm 61,01% diện tích tự nhiên, phân bố ở ñộ cao dưới 900m gồm các loại ñất sau:

Trang 26

+ ðất ñỏ vàng trên ñá sét (Fs): Trên ñịa bàn huyện Bát Xát loại ñất này

có diện tích 2879,93 ha chiếm 2,71% diện tích tự nhiên ðặc ñiểm loại ñất này

là tầng dầy trung bình, lẫn ñá, màu sắc không ñồng nhất, phân hoá tầng yếu, kết cấu tốt, thành phần cơ giới nhẹ, các chất dinh dưỡng khá, ít chua Phân bố chủ yếu tập trung các xã: A Lù, A Mú Sung, Trịnh Tường, Nậm Chạc

+ ðất ñỏ vàng trên ñá biến chất (Fj): Diện tích loại ñất này khá phổ biến 58830,36 ha chiếm 55,4% diện tích ñất tự nhiên ðặc ñiểm loại ñất này

là tầng dầy trung bình, lẫn ñá, màu sắc không ñồng nhất, phân hoá tầng yếu, kết cấu tốt, thành phần cơ giới từ trung bình ñến thịt nhẹ, các chất dinh dưỡng khá, ít chua Phân bố chủ yếu ở khu vực phía tây và tây bắc huyện

+ ðất ñỏ vàng trên ñá Mác ma A-xít (Fa): Loại ñất này có diện tích 2920,28 ha chiếm 2,75% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã: Nậm Pung, Dền Thàng, Ngải Thầu, A Lù, có thành phần cơ giới nặng ít chua

+ ðất nâu vàng trên phù sa cổ và luỹ tích (Fp): Diện tích 157,36 ha chiếm 0,15% diện tích tự nhiên Là loại ñất phát sinh, phát triển trên nền phù

sa cổ ñược hình thành nhờ quá trình tích luỹ, trầm tích Nê-ô-gen Tầng ñất khá dầy do quá trình bồi tích, ñất có hàm lượng dinh dưỡng cao, tơi xốp, tuy nhiên lẫn khá nhiều cuội, sỏi, cuội tảng Loại ñất này ñược phân bố vùng dọc sông Hồng, ở các ñồi thấp, liền dải, lượn sóng

- ðất thung lũng dốc tụ (DI): Diện tích 974,44 ha chiếm 0,92% ðây là loại ñất thứ sinh ñược hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loại ñất ở chân sườn hoặc khe dốc ðất (DI) có ñộ phì phụ thuộc vào các loại ñất vùng lân cận, tầng ñất dầy, thành phần cơ giới thịt trung bình ñất chua, phân bố rải rác trên ñịa bàn huyện

- ðất lầy thụt và than bùn (J): Diện tích 12,1 ha chiếm 0,01% diện tích ñất tự nhiên Loại ñất này có hàm lượng các chất dinh dưỡng khá, thành phần

cơ giới nhẹ ñộ pH cao Phân bố ở các xã vùng thấp

Trang 27

- ðất phù sa: Diện tích 524,54 ha chiếm 0,49% diện tích tự nhiên toàn huyện, nhóm ñất này bao gồm: Phù sa sông Hồng và phù sa các suối khác + ðất phù sa sông Hồng ñược bồi hàng năm (Pbh): Diện tích 110,96 ha chiếm 0,1% diện tích ñất tự nhiên phân bố dọc 2 bên sông Hồng ðất Pbh có màu nâu tím, nâu tươi, thành phần cơ giới thịt trung bình hoặc thịt nhẹ có kết cấu viên, ñất trung tính hoặc kiềm yếu, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong ñất cao, tầng ñất dày rất thuận lợi cho phát triển các cây trồng nông nghiệp + ðất phù sa sông Hồng không ñược bồi hàng năm (Ph): Diện tích 80,7

ha chiếm 0,08% diện tích ñất tự nhiên Loại ñất này có mầu nâu tím, nâu tươi, thành phần cơ giới thịt trung bình hoặc thịt nhẹ có kết cấu viên, ñất trung tính hoặc kiềm yếu, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong ñất cao, tầng ñất dầy rất thuận lợi cho phát triển cây trồng công nghiệp

+ ðất phù sa ngòi, suối (Py): Diện tích 332,88 ha chiếm 0,31% diện tích ñất tự nhiên Phân bố dọc theo các suối lớn song tập trung chủ yếu ở các xã: Cốc San, Quang Kim, Bản Vược, Cốc Mỳ Loại ñất này ñược hình thành qua quá trình lắng ñọng, bồi tụ lâu ñời, hoặc sự chuyển rời dòng chảy kết hợp với quá trình canh tác lâu ñời làm biến ñổi cơ, lý tính ñất ðất (Py) có ñộ phì khá, ít chua, tầng ñất trung bình, có khả năng thâm canh cao các cây trồng nông nghiệp

1 Nhóm ñất mùn thô trên núi cao Trên 2800 25,39 0,02

2 Nhóm ñất mùn Alít trên núi cao 1800-2800 1513,1 1,42

3 Nhóm ñất mùn vàng ñỏ trên núi cao 1200-1800 34957 32,92

5 ðất thung lũng dốc tụ (DI): Phân bố rải rác 974,44 0,92

Trang 28

6 ðất lầy thụt và than bùn (J): Phân bố rải rác 12,1 0,01

7 ñất phù sa: Diện tích Phân bố rải rác 524,54 0,49

(Nguồn: Phòng NN&PTNT Huyện Bát Xát năm 2013)

- Núi ñá: Diện tích 3394,55 ha chiếm 3,2% tổng diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các dãy núi cao phía bắc huyện

Nhận xét: Thổ nhưỡng Bát Xát khá ña dạng, thuận lợi cho phát triển vùng chè chất lượng cao, thuốc lá; ñậu tương cao sản; chuối, dứa, hoa, cây thảo quả và dược liệu tạo ñầu vào cho công nghiệp chế biến ðiều ñáng lưu

ý là thổ nhưỡng kết hợp với khí hậu phù hợp cho phát triển diện tích cây cao

su có giá trị kinh tế

2.6 Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành

2.6.1 Cơ sở khoa học cuả phương pháp giâm cành

Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị thương thì vách tế bào sẽ hóa bần làm cho tế bào chế và tế bào sống tách rời nhau Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần song song với mặt cắt ñể hàn kín vết thương Loại mô ñó gọi là mô sẹo (callus) Haber Landt (1921) cho rằng, khi tế bào nhu mô hình thành mô sẹo thì các tế bào bị thương hình thành một loại vật chất xâm nhập vào trong các tế bào mô vĩnh cửu chưa bị thương ở xung quanh, gây sự kích thích phân chia Chất ñó gọi là thương kích tố (wound - hormone) Thương kích tố nếu phát sinh ở miệng vết thương có libe thì có một chất gọi là thương kích tố libe (leptohormone) Nói một cách khách, những tế bào ở bề mặt vết cắt vốn ñã ngừng phân chia, nhưng do bị tổn thương gây kích thích nên bắt ñầu phân chia lại, cùng với sự biến ñổi của các tế bào tượng tầng và các tế bào nhu mô ở cạnh, mô sẹo ñược hình thành Sự hình thành mô sẹo ở cành non thường mạnh hơn cành già Mô sẹo lúc ñầu là một khối tế bào nhu mô (vách mỏng) sau ñó phân hóa thành mô dẫn, tượng tầng và hình thành ñiểm sinh trưởng, ñiểm sinh

Trang 29

trưởng phát sinh ra rễ bất ñịnh (Hoàng ðức Phương, 2000), (Harmann H.T., 1983), (Harmann H.T et al, 1990)

Các nghiên cứu của Vanderlek (1925), Bouilene, Went (1933), Laibach (1935) ñều cho rằng sự phát sinh rễ trên mô sẹo ñược kích thích bởi các chất kích thích sinh trưởng Các chất này có chứa trong lá, mầm Chúng có tác dụng làm hoạt hóa năng lực ra rễ tiền ẩn trong mô tế bào Kết quả nghiên cứu của Turenxkaia R.K (dẫn theo Lâm Thị Bích Lệ, 2001) cho biết, tác dụng của heteroauxin, ñường trong lá ñược vận chuyển về phía ngọn thân, sau ñó chuyển về phía gốc cành giâm Ông cho rằng các chất kích thích sinh trưởng

có thể tăng cường hình thành rê là do sự nâng cao quá trình trao ñổi chất và tăng cường vận chuyển các chất dễ hòa tan hướng về phía gốc cành giâm Các cơ quan thực vật có khả năng tái sinh, nhưng sự sinh trưởng ở hai ñầu của cơ quan tái sinh biểu hiện khác nhau, thường phía gọn phát triển cành, phía gốc ra rễ; mô sẹo ở ñầu gốc phát sinh nhanh hơn ở ñầu ngọn Có ñiều này

là do thực vật có tính hướng cực, cành hoặc gom có hiện tượng hướng cực là

do tác dụng của các chất kích thích sinh trưởng và sự vận chuyển chất dinh dưỡng có ñịnh hướng gây nên

Mô sẹo là nơi hình thành rễ, do vậy ñại ña số rễ mọc ra từ phía gốc cành giâm, còn mầm cành mới lại mọc ra ở phía ngọn cành Từ mô sẹo của thân cành rất khó mọc (ngoại trừ nuôi cấy mô), vì vậy muốn giâm cành thành công thì trên cành giâm nhất thiết phải có một mầm ngủ

Sự tái sinh của cành giâm phụ thuộc vào các chất kích thích sinh trưởng

và các chất dinh dưỡng có trong cành giâm, cũng có nghĩa là nó phụ thuộc vào từng giống, tình trạng sinh trưởng của cây giống, chất lượng cành giâm (hom giống) Nhưng ñể giâm cành thành công thì cần phải có ñiều kiện ngoại cảnh thuận lợi, kết hợp với các thao tác kỹ thuật hợp lý trong từng ñiều kiện cụ thể

* Ưu ñiểm

Trang 30

- Cây con giữ ựược các tắnh trạng di truyền của cây mẹ, vườn cây ựồng ựều, thuận lợi cho việc quản lý, chăm sóc, thu hoạch và chế biến

- Thời gian nhân giống tương ựối nhanh, hệ số nhân giống cao

- Chu kỳ khai thác ngắn nhưng hiệu quả kinh tế cao

* Nhược ựiểm

- Tuổi thọ vườn cây thường thấp, chu kỳ kinh doanh thường ngắn hơn nhân giống bằng hạt

- đòi hỏi nhiều vật tư, thiết bị, người sản xuất cần phải có một trình ựộ

kỹ thuật nhất ựịnh, tốn nhiều công chăm sóc

- Khả năng chống chịu với các ựiều kiện bất lợi của môi trường như sâu bệnh, úng, hạn kém và nhất là trong thời kỳ cây còn nhỏ (thời kỳ kiến thiết

cơ bản)

2.6.2 Kỹ thuật giâm cành:

Chuẩn bị hom giống: Trước hết phải chọn ựược những cây ựầu dòng

làm giống theo tiêu chuẩn giống cây trồng quốc gia Trên cây ựầu dòng, chọn những cành bánh tẻ ngoài mặt tán, vừa mới ổn ựịnh sinh trưởng, vỏ cành ựang chuyển màu nâu, không bị sâu bệnh ựể cắt thành các hom giống đối với cây chè, thường bố trắ vườn sản xuất cành giống riêng, có chế ựộ chăm bón tốt, không thu hái búp, ựể cành vươn dài làm giống (đỗ Ngọc Quỹ, 1979)

Chuẩn bị vườn ươm giâm hom: Chọn khu ựất cao, khuất gió, gần

nguồn nước tưới và ựường vận chuyển, ựộ dốc không quá 5o ở vùng gò ựồi, chọn loại ựất ựỏ vàng, có ựộ pH 4,5-6,0, tơi xốp đất ựược cày cuốc sâu 25-30cm, làm nhỏ, lên luống cao 10-20cm, rộng 1-1,2m, luống cách nhau 50cm, làm rãnh Trên mặt luống rải chất nền dày 10-12cm Chất nền là cát non sạch hoặc 2/3 cát non + 1/3 mùn cưa ựã ngâm nước vôi trong, phơi khô hoặc ựất ựỏ vàng lấy ở dưới lớp ựất mặt 10-20cm.Làm dàn che trên và xung quanh các luống vườn ươm, gồm các khung cột ựỡ cao 1,6-1,8m Phắa trên lớp bằng lá

Trang 31

lau, cỏ tế, phên nứa, có thể lợp bằng ni lông ñục các lỗ nhỏ Xung quanh che kín bằng cót hoặc phên nứa Nhiều nơi giâm hom bằng các túi bầu bằng nilông 12-18 cm, dưới ñáy ñục 6-8 lỗ và lót bằng hỗn hợp gồm 1/2 ñất mặt ñược sàng sạch cộng với 1/2 phân chuồng hoai mục, phía trên ñổ một lớp ñất

ñỏ vàng dày 5-7cm Các túi bầu cũng xếp thành các luống và làm dàn che [28]

Cắt và cắm hom: Cắt cành giống vào những ngày râm, mát, mưa nhẹ

hoặc sáng sớm, chiều mát Cắt xong, phun nước lã và ñặt ñứng vào các xô chậu

có nước cao 5cm, che ñậy ðem ngay về vườn ươm, cắt thành các hom dài 7cm có 2-4 lá, ñối với chè thì mỗi hom dài 3-4cm có 1 lá và mầm nách lá Có thể cắt bớt một phần phiến lá ñể tránh bốc hơi nước Cắt hom xong phải cắm giâm ngay Hiện nay, trước khi giâm, các hom ñược xử lý bằng một trong các chất kích thích ra rễ như -NAA, IBA rồi mới cắm.Chất IBA dùng cho chè, nhúng 1 ñầu hom vào dung dịch trong 5-10 giây, nếu hom còn xanh, dung dịch pha 2000ppm, hom hóa gỗ 1/3-3000-4000 ppm và hom hóa gỗ hoàn toàn - 400-600ppm Chất -NAA dùng cho cây có múi và cây ăn quả khác Cách nhúng hom

5-và thời gian, nồng ñộ của dung dịch như trên (ðỗ Ngọc Quỹ, 1979)

Cắm hom vào luống hoặc giá thể: Cứ 1m2 cắm 160 hom với mật ñộ

6x10cm; ñể mặt lá cách mặt ñất 1cm, nén chặt ñất và tưới ngay Cắm vào túi bầu: 1-2 hom/túi Chất nền có ñộ ẩm 80-85%.Thời gian giâm homCây chè: cắt cành giâm hom từ tháng 6-7 ñến cuối thu Cây ăn quả: giâm vào các tháng 2-4 và tháng 9-10 Sau khi cắm hom cho tới khi ra rễ, cần luôn giữ ẩm trong vườn ươm, tưới phun mưa hàng ngày, trữ khi trời mưa Nhiệt ñộ thích hợp là 21-25oC Sau 1 tháng thì tưới 3-5 ngày/lần Sau 3 tháng thì 7-15 ngày/lần tùy theo thời tiết ðiều chỉnh ánh sáng vườn ươm: sau 3-5 tháng, tách dần dàn che

từ 1/3 ñến 1/2 Trên 6 tháng: bỏ dàn che

Bón thúc: Sau khi cắm hom 1,5-2 tháng thì bón thúc bằng nước phân

chuồng pha loãng 0,5%, sau 4-5 tháng thì pha 1% Ngoài ra bón thúc bằng

Trang 32

phân khoáng: cứ 1m2 mặt luống bón với lượng tăng dần: sau 2 tháng: 5g urê + 4gsupe lân + 7g kali, sau 4 tháng: 14g ure + 6g supe lân + 10g kali; sau 6 tháng: 18g ure + 8g supe lân + 14g kali

Xuất vườn trồng mới: ðối với cây chè: cây cao 20cm ñường kính gốc

3-4mm, có 6-8 lá thật, khoảng trên 6 tháng tuổi ðối với cây ăn quả: cây cao 60cm, có 2 cành lá cấp 1 trở lên, ñường kính gốc 5-6mm, nếu ñể cây lưu lại trên vườn lâu thì phải ñảo bầu cây ñể không cho rễ cây bám vào ñất vườn (ðỗ Ngọc Quỹ, 1979)

40-2.6.3 Sự ñiều chỉnh hormon quá trình tái sinh của cành giâm

* Sự cân bằng hormon trong quá trình tái sinh của cành giâm

Cành giâm sau khi cắt khỏi cây mẹ muốn thành cây giống phải trải qua quá trình tái sinh rễ và chồi (Hoàng Minh Tấn, 2006) Quá trình này ñược ñiều chỉnh bỡi sự cân bằng hormon giữa auxin và xytokinin Auxin là hormon

ra rễ còn xytokinin là hormon tạo chồi Sự cân bằng về tỷ lệ auxin/xytokinin trong cành giâm quyết ñịnh sự ra rễ hay ra chồi và quá trình tái sinh nào ưu thế hơn Auxin trong cành giâm có từ hai nguồn: xử lý ngoại sinh và do các lá trên cành giâm tạo nên Còn xytokinin trong cành giâm chỉ ñược tạo thành từ

rễ vận chuyển lên trên ñể kích thích mắt chồi ngủ tạo nên chồi bất ñịnh Chính

vì vậy mà chồi xuất hiện sau khi rễ của cành giâm ñã ñược tạo nên (Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 2006)

* Auxin và sự hình thành rễ bất ñịnh ở cành giâm

Auxin là phytohormon ñược phát hiện ñầu tiên vào năm 1934 (Hoàng Minh Tấn, 2006) Trong cây, auxin là IAA (axit β indol acetic) Các chất ñiều hoà sinh trưởng tổng hợp nhóm này ñược sử dụng rộng rãi trong sản xuất trong ñó có α NAA (Naphtyl acetic acid), IBA (Indol butyric acid), 2,4D (2,4 dicloronoxyacetic acid)…

Auxin là phytohormon có rất nhiều vai trò sinh lý quan trọng trong

Trang 33

việc ñiều chỉnh sinh trưởng và phát triển của thực vật như ñiều chỉnh sự sinh trưởng của tế bào và cơ quan, ñiều chỉnh tính hướng quang, hướng ñịa và ưu thế ngọn, ñiều chỉnh quá trình thụ tinh và hình thành quả, ñiều chỉnh quá trình chín của quả, quá trình rụng của cơ quan… Vai trò của auxin trong việc ñiều chỉnh hình thành rễ bất ñịnh là một hiệu quả rất ñặc trưng của nhóm này nên auxin ñược gọi là “hormon ra rễ”

Auxin ñược hình thành trong các cơ quan còn non ñang sinh trưởng mà chủ yếu ñược hình thành trong chồi ngọn và có thể coi chồi ngọn là cơ quan tổng hợp auxin Từ chồi ngọn, auxin ñược vận chuyển xuống các cơ quan dưới với tính hướng gốc nghiêm ngặt và cuối cùng ñến rễ ñể kích thích quá trình hình thành và sinh trưởng của rễ Sau khi kích thích xong thì auxin bị phân huỹ bằng enzym IAA oxidase ngay tại rễ (Hoàng Minh Tấn, và cộng sự, 2006) IAA trong cây tồn tại dưới 2 dạng là dạng auxin tự do, auxin liên kết, trong ñó auxin tự do tuy chiếm hàm lượng rất thấp (khoảng 5%) nhưng lại có hoạt tính sinh lý; còn auxin liên kết với một số chất khác là chủ yếu (trên 90%) và không có hoạt tính nhưng là nguồn dự trữ auxin trong cây, khi cần ñược thuỷ phân ñể giải phóng dạng tự do có hoạt tính

Trong việc nhân giống bằng giâm cành thì việc sử dụng auxin ñể kích thích

sự hình thành rễ bất ñịnh là biện pháp bắt buộc ñối với các ñối tượng khó ra rễ Trong các auxin tổng hợp thì IBA và α NAA ñược sử dụng nhiều nhất

* Xytokinin và sự tái sinh chồi của cành giâm (Hoàng Minh Tấn, và cộng sự, 2006)

Xytokinin là phytohormon ñược phát hiện muộn hơn vào những năm 50 của thể kỹ XX Xytokinin trong cây là zeatin và các dẫn xuất của nó Nhóm này ñược tổng hợp chủ yếu trong hệ thống rễ và vận chuyển hướng ngọn lên các cơ quan trên mặt ñất

Vai trò sinh lý ñặc trưng nhất của nhóm này là hoạt hoá sự phân chia

Trang 34

của tế bào và ñược gọi là “hormon hoạt hoá phân chia tế bào” Nó có một vai trò rất ñặc trưng là hoạt hoá sự hình thành chồi và cũng ñược gọi là “hormon hình thành chồi”

Việc tái sinh rễ có ý nghĩa quyết ñịnh cho cành giâm, nhưng ngoài bộ rễ

ra thì cây giống cần có chồi khoẻ mạnh Nếu như auxin là nhân tố kích thích

sự hình thành rễ thì sự hình thành chồi của cành giâm ñược hoạt hoá bỡi nhóm chất xytokinin Chính vì vậy mà rễ bao giờ cũng xuất hiện trước chồi vì

rễ hình thành sẽ tổng hợp xytokinin rồi vận chuyển lên trên ñể kích thích tạo chồi Do ñó, tuỳ theo hàm lượng xytokinin ñược hình thành trong rễ mà chồi hình thành nhanh hay chậm và sinh trưởng mạnh hay yếu

* Cơ sở khoa học của sự hình thành rễ bất ñịnh ở cành giâm

Sự hình thành rễ bất ñịnh ở cành giâm là do khả năng tái sinh, ñặc tính phân hoá và phản phân hóa của thực vật (Vũ Quang Sáng và cộng sự, 2007) Khả năng tái sinh là thuộc tính của mọi sinh vật ñể bảo tồn nòi giống Tái sinh là khả năng làm lành vết thương khi bị thương tổn Khả năng này ở thực vật mạnh mẽ hơn ở ñộng vật Ví dụ, vết căt cành giâm sau một thời gian

sự tái sinh mô sẹo sẽ làm lành vết thương ñó và sau ñó nhờ ñặc tính phân hoá

và phản phân hoá tế bào mà quá trình tái sinh rễ xảy ra Các tế bào mô sẹo ở vết cắt có khả năng phân chia ñể cho ra các tế bào mầm rễ và sau ñó các tế bào mầm rễ phân hoá tiếp tục ñể tạo nên rễ bất ñịnh

Quá trình hình thành và sinh trưởng của rễ bất ñịnh ở cành giâm có thể chia thành 3 giai ñoạn:

- Hình thành callus: Các tế bào tượng tầng ở vết cắt có khả năng phân chia ñể nhanh chóng tạo ra các tế bào bất ñịnh của mô callus Giai ñoạn này cần hàm lượng auxin cao ñể kích thích (10-4 - 10-5 g/cm3)

- Xuất hiện mầm rễ: Các tế bào bất ñịnh tái phân hoá ñể hình thành

mầm rễ bất ñịnh Giai ñoạn này cần hàm lượng auxin thấp hơn (10-7 g/cm3)

Trang 35

- Hình thành rễ bất ñịnh: Mầm rễ sinh trưởng ñâm thủng vỏ và chui ra ngoài thành rễ bất ñịnh Giai ñoạn này cần hàm lượng auxin rất thấp hoặc không cần

Như vậy, việc xử lý auxin ngoại sinh chủ yếu tác ñộng vào giai ñoạn ñầu và giai ñoạn hai Auxin nội sinh trong cành giâm do sự tích luỹ từ cây mẹ

ñể lại và do lá tổng hợp nên thường có hàm lượng rất thấp không ñủ khả năng kích thích mạnh cho sự phân hoá và phản phân hoá ban ñầu nên cần bổ sung auxin ngoại sinh ñể xúc tiến nhanh quá trình này nhất là những ñối tượng khó tái sinh rễ như cây chè Bát Tiên

Có ba phương pháp xử lý auxin :

- Phương pháp xử lý nồng ñộ loãng: Nồng ñộ khoảng vài chục ppm Ngâm phần gốc vào dung dịch trong thời gian 12 ñến 24 giờ rồi cắm cành giâm vào giá thể

- Phương pháp xử lý nồng ñộ ñặc: Nồng ñộ khoảng vài nghìn ppm Nhúng rất nhanh phần gốc vào dung dịch trong khoảng 2-5 giây rồi cắm ngay vào giá thể

- Sử dụng dạng bột: Chấm vết cắt của cành giâm vào chế phẩm bột rồi cắm vào giá thể

Qua nhiều thử nghiệm ñối với cây thân gỗ thì phương pháp xử lý nồng

ñộ ñặc thời gian nhanh sẽ gây nên cái xốc ban ñầu làm nhanh sự phân hoá và phản phân hoá tế bào tượng tầng qua vết cắt cành thuận lợi cho sự xuất hiện

rễ Ngoài ra phương pháp này dễ triển khai hơn

Cho tới nay, auxin ñã ñược ứng dụng rộng rãi trong nhân giống vô tính của nhiều loại cây trồng khác nhau như cây ăn quả, cây công nghiệp, cây cảnh, cây thuốc…

Theo Vũ Quang Sáng và cộng sự , với cây ổi, xử lý cành giâm bằng IBA (2000 ppm) bằng phương pháp nhúng nhanh, sau 20 ngày cành giâm bắt ñầu

Trang 36

ra rễ Với hoa Phăng, khi giâm cành trong thời gian chính vụ (tháng 9 ñến tháng 2 âm lịch) thì IAA có hiệu quả rất cao Ở nồng ñộ 100ppm, thời gian xử

lý 1-5 giờ chỉ sau 7 - 10 ngày hom bắt ñầu xuất hiện rễ với tỷ lệ ra rễ xấp xỉ 100%, 12 - 13 ngày rễ phát triển mạnh và sau 20 ngày có thể ñem trồng Ở thời gian trái vụ (hè, thu), hiệu quả của IAA kém hơn và người ta có thể thay bằng α-NAA ở nồng ñộ 6000 ppm với thời gian xử lý nhanh thì sau 20 ngày cây có thể ñủ tiêu chuẩn xuất vườn ðể giâm cành hoa hồng, người ta có thể

sử dụng α-NAA ở nồng ñộ từ 2000-4000ppm tuỳ theo giống bằng phương pháp nhúng nhanh

Ðối với cành cà phê có thể sử dụng 2,4D,, NAA, IAA, trong ñó

α-NAA có hiệu quả hơn Với cà phê vối, nồng ñộ 50 ppm với thời gian xử lý 6 giờ cho tỷ lệ ra rễ ñạt 65% sau 5 tháng Ðối với cà phê chè thì NOA lại có hiệu quả hơn Ở cùng thời gian xử lý trên, với nồng ñộ 200 ppm thì tỷ lệ cành

ra rễ ñã ñạt 100% sau 5 tháng

Giâm cành rễ: Các chất kích thích ra rễ có thể ñược sử dụng là 2,4D, NAA, IAA hoặc IBA ở 50, 100 và 150 ppm Thời gian xử lý là 10 phút ñối với 2,4D và 4 - 8 giờ ñối với 3 chất còn lại Tỷ lệ ra rễ của các hom có xử lý ñạt 82%, riêng α-NAA ñạt trên 90% sau 2 tháng, trong khi ñối chứng chỉ ñạt 66% Trong nhiều năm qua, Bộ môn Sinh lý thực vật trường Ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã tập trung nghiên cứu cơ sở sinh lý của quá trình tái sinh rễ bất ñịnh ở cành giâm, cành chiết Trên cơ sở ñó ñã ñưa vào ứng dụng thành công trong công tác nhân giống vô tính của nhiều ñối tượng cây trồng khác nhau (cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa - cây cảnh) Hoá chất sử dụng có hiệu quả cao là IBA và α-NAA Với phương pháp xử lý nhanh nồng ñộ có hiệu quả cho ñại ña số ñối tượng cây trồng là 4000 - 6000 ppm Chế phẩm giâm, chiết cành của bộ môn Sinh lý thực vật cũng ñã ñược ứng dụng rộng rãi và rất

α-có hiệu quả ở ngoài thực tế sản xuất

Trang 37

Ðiều kiện ñể giâm cành có kết quả tốt là ẩm ñộ không khí cao, nhiệt ñộ 20-23oC và tránh ánh sáng trực xạ

Biện pháp nhân giống chè bằng giâm cành ñã ñược nghiên cứu từ rất sớm Giâm cành chè ñược nghiên cứu ở Trung Quốc năm 1900, ở Ấn ðộ năm

1911, ở Gruzia năm 1928, ở Nhật Bản năm 1936, ở Srilanka năm 1938… Hầu hết các nước trồng chè trên thế giới ñều áp dụng kỹ thuật nhân giống chè vào sản xuất (Võ Ngọc Hoài, 1998)

Từ năm 1958, Sri Lanka ñã trồng những dòng chè chọn lọc bằng giâm cành trong túi P.E, ñầu tiên là seerri 2020 (phổ biến là 2023; 2025; 2026; 2043…) có năng suất chất lượng tốt, sau ñó là sêri 3013 tới 3020 Gruzia có giống chè Conkhitda trồng bằng cành giâm có năng suất cao hơn các giống ñại trà 50 - 60% Ấn ðộ hiện nay có 102 dòng vô tính giâm cành Các dòng chè chọn lọc giâm cành có năng suất, chất lượng tốt chiếm 67% diện tích chè tiểu nông, và 33% diện tích chè của các ñồn ñiền lớn ở Kenya trong những năm gần ñây Ở Nhật Bản giống Yabukita trồng bằng cành giâm chiếm 55,4% diện tích; Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonesia bắt ñầu phổ biến trồng các giống mới như GMB-1; GMB-2; GMB-3; GMB-4 từ năm 1988 (ðỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong, 1997)

Ở nước ta, kỹ thuật giâm cành chè ñược nghiên cứu và áp dụng muộn hơn các nước trồng chè trên thế giới Năm 1959 kỹ thuật giâm cành chè ñược nghiên cứu tại Phú Hộ và triển khai thực nghiệm tại 10 nông trường quốc doanh ở miền Bắc Năm 1962 - 1963 quy trình kỹ thuật giâm cành chè tạm thời ñược xây dựng, ñược Bộ nông trường quốc doanh sau ñó là Bộ Nông Trường (1965) thông qua và ban hành áp dụng vào sản xuất ñại trà Quy trình giâm cành chè ñược ban hành vào năm 1967 (ðỗ Ngọc Quỹ, 1979)

Khảo sát khả năng nhân giống bằng cành giâm của bốn giống chè nhập nội

là 777; 2023; 2025; 2043 (năm 1977 - 1978) của ðỗ Ngọc Quý và Trần Thị Lư cho biết: ở ñợt một, trong ñiều kiện vận chuyển hom ñi xa hai vạn km, bảo quản

Trang 38

trên 7 ngày, tỷ lệ xuất vườn là 46 - 65,3% Ở ñợt hai, cắt hom ở chè 1 tuổi nên tỷ

lệ xuất vườn ñạt 65 - 73,5% Khảo sát sinh trưởng sau khi trồng tại 3 vùng là Sơn La (Tây Bắc), Trần Phú (Hoàng Liên Sơn) và Biển Hồ (Gia Lai - Tây Nguyên) (năm 1977 - 1984) cho thấy cả bốn giống ñều sinh trưởng tốt (HarmannH.T; kester, 1990)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Niệm và cộng sự (1994) về hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A tại Phú Hộ với nội dung là ảnh hưởng của thời vụ và phân bón tới giâm cành, kết quả cho thấy khi bón riêng N, hom sinh trưởng kém, còn khi bón ñầy ñủ NPK và hữu cơ thì cây con khỏe, tỷ lệ xuất vườn cao

Với thí nghiệm về thời vụ giâm cành, kết quả nghiên cứu cho thấy, với thời vụ giâm cành vụ thu, khi xuất vườn cây con 14 tháng tuổi, khi trồng có tỷ

lệ sống cao Khi giâm vụ thu, cây con xuất vườn có 10 tháng tuổi nên khi trồng tỷ lệ sống thấp hơn vụ thu Vì vậy, giâm cành vụ thu nên tiến hành sớm trong tháng 7, ñầu tháng 8 (Nguyễn Văn Niệm và cộng sự, 1994)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2002 về mối quan hệ giữa ñặc ñiểm hình thái giải phẫu mỗi loại hom với khả năng giâm cành cho thấy: ñặc ñiểm hình thái của mỗi loại hom của từng giống khác nhau ñã ảnh hưởng tới tỷ lệ ra mô sẹo, ra rễ, bật chồi và tỷ lệ xuất vườn của các loại hom Khả năng hình thành mô sẹo của các giống tương ñối cao Các giống khác nhau, tỷ

lệ ra rễ khác nhau Khả năng ra rễ của hom bánh tẻ cao nhất, thấp nhất là hom nâu Tỷ lệ sống của các giống và các loại hom chênh lệch không cao Các loại hom khác nhau có tỷ lệ xuất vườn khác nhau, các giống khác nhau cho tỷ lệ xuất vườn cũng khác nhau Như vậy, khả năng giâm cành của cây chè phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hom và giống ñem giâm (Nguyễn Thị Ngọc Bình, 2002)

Ngoài quy trình nhân giống thì nhiều công trình quan tâm ñến khả năng

Trang 39

sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây chè trồng từ cành giâm Theo Nguyễn đình Vinh, (2002) ựã nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức nhân giống chè ựến sự phát triển của bộ rễ chè và nhận thấy rằng trong những năm ựầu, bộ rễ cây chè trồng bằng hạt phát triển tốt hơn trồng bằng cành giâm, nhưng những năm sau thì sự chênh lệch ựó dần dần thu hẹp

Nghiên cứu của Nguyễn Xuân An và cộng sự,] ựược tiến hành ở các tỉnh Tây Nguyên năm 2005 cho rằng: Trong ựiều kiện sinh thái khô hạn ở Tây Nguyên, việc nhân giống chè bằng cành giâm rất thành công Tỷ lệ ra rễ của cành giâm ựạt rất cao (trên 90% trong 4 tháng) và tỷ lệ bật chồi cũng ựạt trên 90% sau 5 tháng Cây chè trồng từ cành giâm có tỷ lệ sống rất cao và cây chè trồng từ cành giâm có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt không thua kém cây chè thực sinh (Nguyễn Xuân An và Hoàng Minh Tấn, 2005)Ầ

Nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành ựang ựược áp dụng phổ biến ở các nước trồng chè trên thế giới Ở nước ta, chè cành cũng ựang dần thay thế các giống chè hạt năng suất thấp, khả năng thành công của phương pháp này tương ựối cao Tuy nhiên, ựể trồng chè bằng cành giâm thành công cần phải lưu ý một số vấn ựề như tùy theo giống và chất lượng hom giống mà

có khả năng tác ựộng phù hợp Chỉ trồng chè cành ở những nơi có khả năng ựảm bảo nhu cầu nước cho cây trong giai ựoạn kiến thiết cơ bản, tại mỗi cơ sở nên có một bộ giống phong phú và phù hợp

Trang 40

3 đỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 đối tượng nghiên cứu

Giống chè Bát Tiên: Giống chè Bát Tiên sử dụng ựể cung cấp cành giâm có nguồn gốc từ cây chè Bát Tiên nhập nộ từ đài Loan ựược trồng tại vườn thực nghiệm và vườn ươm của các hộ gia ựình trồng chè có ựộ tuổi 5 ựến trên 1 tuổi Cây chè Bát Tiên ở Bát Xát - Lào Cai có khả năng sinh trưởng, phát triển rất tốt nên chất lượng cành giâm là tốt, ựảm bảo cho khả năng tái sinh tốt khi giâm cành

3.2 Vật liệu nghiên cứu

* Giá thể: là ựất rừng tầng B của vùng bản ựịa, có tác dụng tạo ựộ tơi

xốp, thông thoáng cho giá thể

* Hoá chất:

+ Naphtalein axetic axit (α-NAA), nguồn gốc Trung Quốc, hoạt chất 80% là auxin ngoại sinh có tác dụng kắch thắch cành giâm ra rễ

+ Chế phẩm giâm cành n 3 M

+ Chế phẩm giâm cành MD.901 (công ty CP sinh hóa Minh đức)

- Thuốc diệt nấm Viben C và Benlat dạng bột ựược sản xuất ở Trung Quốc

- Phân bón dùng ựể chăm sóc cây con trong vườn ươm là phân hỗn hợp NPK Lâm Thao (3:10:3 )

* Vật tư:

- Nhà giâm cành ựược che ánh sáng tán xạ bằng 1 lớp lưới nilông ựen, xung quanh ựược quây bằng ni lông ựể giữ ẩm trong quá trình giâm cành

- Khay xốp có ựục lỗ ở ựáy ựể thoát nước

- Dụng cụ làm vườn như giầm, bình tưới nước và phun thuốc

Ngày đăng: 25/10/2014, 21:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cỏc nhúm ủất chớnh của huyện Bỏt Xỏt - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 2.1. Cỏc nhúm ủất chớnh của huyện Bỏt Xỏt (Trang 27)
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của biện phỏp khử trựng ủến tỷ lệ sống (%) - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của biện phỏp khử trựng ủến tỷ lệ sống (%) (Trang 50)
Hỡnh 4.1. Ảnh hưởng của biện phỏp khử trựng ủến tỷ lệ sống (%) - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.1. Ảnh hưởng của biện phỏp khử trựng ủến tỷ lệ sống (%) (Trang 51)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của cỏc nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ  mô sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của cỏc nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai (Trang 53)
Hỡnh 4.2. Ảnh hưởng của cỏc nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ  mô sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.2. Ảnh hưởng của cỏc nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai (Trang 54)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến tỷ lệ ra rễ - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến tỷ lệ ra rễ (Trang 55)
Hỡnh 4.3. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến tỷ lệ ra rễ - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.3. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến tỷ lệ ra rễ (Trang 56)
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến số lượng rễ và - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến số lượng rễ và (Trang 57)
Hỡnh 4.4. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến số lượng rễ - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.4. Ảnh hưởng của nồng ủộ α-NAA ủến số lượng rễ (Trang 58)
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ hỡnh thành chồi - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ hỡnh thành chồi (Trang 60)
Hỡnh 4.5. Ảnh hưởng của nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ hỡnh thành chồi - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.5. Ảnh hưởng của nồng ủộ chất α-NAA ủến tỷ lệ hỡnh thành chồi (Trang 61)
Hỡnh 4.6. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.6. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ (Trang 64)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ ra - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ ra (Trang 65)
Hỡnh 4.7. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ ra rễ - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.7. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến tỷ lệ ra rễ (Trang 66)
Hỡnh 4.8. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến số lượng - Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai
nh 4.8. Ảnh hưởng của một số chế phẩm giõm chiết cành ủến số lượng (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w