Vì vậy việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch, lối sống lành mạnh, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẶNG HÀ PHÚ
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẶNG HÀ PHÚ
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ, THỊ TRẤN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Đặng Hà Phú
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Bùi Nhật Quang, Viện trưởng Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Trường Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Vĩnh Tường; Sở Nội
vụ tỉnh Vĩnh Phúc; Phòng Nội vụ, Chi cục Thống kê, UBND các xã, thị trấn huyện Vĩnh Tường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và bạn bè
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Đặng Hà Phú
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
5 Đóng góp mới của đề tài 4
6 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức cấp xã 5
1.1.1 Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền địa phương 5
1.1.2 Khái niệm về cán bộ cấp xã 5
1.1.3 Khái niệm về công chức cấp xã 6
1.1.4 Khái niệm về năng lực 6
1.1.5 Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã 8
1.1.6 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã 11
1.1.7 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã 14
1.1.8 Tiêu chuẩn của cán bộ, công chức cấp xã 15
1.1.9 Những nhân tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 20
1.2 Cơ sở thực tiễn về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay 26
1.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay 26
Trang 61.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã là yêu cầu khách quan,
cấp bách hiện nay 32
1.2.3 Kinh nghiệm về công tác CBCC cấp xã ở một số địa phương 37
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 46
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 47
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 47
2.3 Các hoạt động nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 48
2.3.1 Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã 48
2.3.2 Chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã 49
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ HUYỆN VĨNH TƯỜNG GIAI ĐOẠN 2010-2013 55
3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Vĩnh Tường 55
3.1.1 Vị trí địa lý 55
3.1.2 Địa hình 56
3.1.3 Khí hậu và thủy văn 56
3.1.4 Tài nguyên đất 57
3.1.5 Tài nguyên nước 57
3.1.6 Môi trường 58
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 58
3.2.1 Những thành tựu kinh tế đạt được 58
3.2.2 Thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực chủ yếu 60
3.2.3 Đặc điểm văn hóa xã hội 61
3.2.4 Đặc điểm về Y tế 62
3.2.5 Giáo dục và đào tạo 62
Trang 73.2.6 Kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật 62
3.3 Một số chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã 64
3.3.1 Về chế độ tiền lương, phụ cấp và các chính sách đãi ngộ 64
3.3.2 Về chính sách đào tạo, bồi dưỡng 67
3.3.3 Về công tác thi đua, khen thưởng 68
3.3.4 Về công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển 69
3.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Vĩnh Tường 70
3.4.1 Trình độ chuyên môn 72
3.4.2 Lý luận chính trị 73
3.4.3 Chia theo nhóm tuổi 75
3.5 Đánh giá chung về đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường 76
3.5.1 Một số ưu điểm 76
3.5.2 Một số hạn chế, tồn tại 78
3.5.3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém 81
3.6 Một số nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 82
3.6.1 Nhóm nhân tố đảm bảo lợi ích vật chất đối với CBCC cấp xã 82
3.6.2 Nhóm nhân tố liên quan đến công tác cán bộ 85
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ GIAI ĐOẠN 2014-2020 88
4.1 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng về nâng cao năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường từ nay đến năm 2020 88
4.1.1 Quan điểm, mục tiêu 88
4.1.2 Phương hướng xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường đến năm 2020 92
4.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 95
Trang 84.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao tính tích cực lao động của cán bộ, công
chức cấp xã 95
4.2.2 Quy hoạch cán bộ, công chức chính quyền theo từng chức vụ, chức danh 100
4.2.3 Tuyển dụng, sử dụng và chuẩn hóa đội ngũ CBCC cấp xã 101
4.2.4 Tạo nguồn, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và gắn với công tác quy hoạch CBCC cấp xã 102
4.2.5 Kiện toàn, bố trí, sắp xếp lại CBCC, thực hiện chính sách thôi việc; điều động, luân chuyển cán bộ, công chức về cơ sở 103
4.2.6 Thực hiện có hiệu quả việc đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức 105
4.3 Các kiến nghị, đề xuất 106
4.3.1 Đối với Trung ương 106
4.3.2 Đối với tỉnh, huyện 106
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 114
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế
CBCC : Cán bộ công chức CNH : Công nghiệp hóa CN-XD : Công nghiệp-xây dựng GTSX : Giá trị sản xuất
HĐH : Hiện đại hóa HĐND : Hội đồng nhân dân KT-XH : Kinh tế-xã hội NĐ-CP : Nghị định-Chính Phủ NN-TS : Nông nghiệp- thủy sản
NQ : Nghị quyết PTTH : Phổ thông trung học
QĐ : Quyết định
QH : Quốc hội QLNN : Quản lý nhà nước TC-KH : Tài chính-kế hoạch THCS : Trung học cơ sở TM-DV : Thương mại-dịch vụ
TTg : Thủ tướng chính phủ
TW : Trung ương XHCN : Xã hội chủ nghĩa UBND : Ủy ban nhân dân UBMTTQ : Ủy ban Mặt trận tổ quốc
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Tỷ lệ trình độ của CBCC cấp xã giai đoạn 2002-2012 28
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện năm 2012 57
Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Vĩnh Tường 59
Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm (giá hiện hành) 59
Bảng 3.4 Bảng lương đối với cán bộ cấp xã chưa qua đào tạo chuyên môn 65
Bảng 3.5 Kết quả điều tra sự hài lòng về chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với CBCC năm 2014 66
Bảng 3.6 Đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường năm 2013 71
Bảng 3.7 Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2010-2013 72
Bảng 3.8 Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2010-2013 74
Bảng 3.9 Độ tuổi của đội ngũ CBCC huyện Vĩnh Tường 75
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Vĩnh Tường 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cấp cơ sở, trực tiếp quản lý hoạt động của đại bộ phận nhân dân cư trú tại địa phương Chính quyền cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC cấp xã Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp
xã nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy nhưng sẽ khó có được hiệu lực, hiệu quả cao nếu như không được triển khai thực hiện bởi một đội ngũ CBCC cấp xã có năng lực pháp luật tốt Vì vậy việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, có đạo đức trong sạch, lối sống lành mạnh, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực hiện các nhiệm vụ được giao luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng
và Nhà nước ta Công tác xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm và đạt kết quả tích cực, trong đó đã tập trung tiến hành đợt kiểm điểm tập thể và cá nhân cấp ủy các cấp, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trong toàn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX “ về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” bảo đảm nghiêm túc, đúng quy trình và kế hoạch đề ra Hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn,
bộ máy quản lý Nhà nước ngày càng phát huy hiệu lực và hiệu quả An ninh
Trang 12Vĩnh Tường là huyện đồng bằng được tái lập từ tháng 01 năm 1996, huyện Vĩnh Tường nằm về phía Tây Nam của tỉnh Vĩnh Phúc Diện tích tự nhiên 141,8 km2 Dân số hiện nay trên 20 vạn người, đa số là người Kinh Đơn vị hành chính có 26 xã và 03 thị trấn với 189 thôn, tổ dân phố, 217 khu dân cư Mặc dù trong những năm gần đây, tình hình chính trị, an ninh, trật tự,
xã hội tương đối ổn định, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, song nhìn chung nền kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, nguồn thu ngân sách ở mức trung bình, GDP bình quân đầu người còn thấp hơn so với bình quân chung của tỉnh Vĩnh Phúc Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đặt
ra yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ CBCC nói chung, đặc biệt đối với CBCC cấp xã nói riêng Bên cạnh đó một bộ phận đội ngũ CBCC cấp xã của huyện hiện nay chưa tương xứng với vai trò, vị trí cũng như chức trách của các chức danh do Nhà nước quy định Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Chính quyền cơ sở nói riêng, của Đảng
và Nhà nước nói chung Để có một đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện
có chất lượng, đảm bảo "vừa hồng, vừa chuyên" hết lòng phụng sự nhân dân,
giữ gìn đoàn kết ở cơ sở, tăng uy tín của Đảng và Nhà nước với nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Tại mỗi vị trí công tác phải có một "bản mô tả công việc" trong đó nêu
rõ vị trí công việc là gì, nhiệm vụ chính là gì, chịu trách nhiệm như thế nào
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Nâng cao năng lực công tác của đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc" là
yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lí luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao năng lực công tác
Trang 13của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc cho những năm tiếp theo
2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn cả nước Nghiên cứu điển hình về năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Vĩnh Tường trong giai đoạn từ năm
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã, bao gồm các chức danh thuộc cán bộ cấp xã và công chức cấp xã; làm rõ hệ thống chức danh, chức trách, trình độ năng lực, khả năng công tác
số đánh giá, dự báo cho giai đoạn đến năm 2020
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Luận văn đã hệ thống hóa một số lý luận về CBCC và đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ CBCC cấp xã, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
Trang 14đội ngũ CBCC cấp xã tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
5 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa một số quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước ta về năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã
- Đánh giá đúng thực trạng, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước của CBCC cấp xã ở huyện Vĩnh Tường
- Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn tại huyện Vĩnh Tường trong công tác xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã Luận văn còn dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng những Đề án về cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Vĩnh Tường và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì đề tài gồm bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức cấp xã Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010-2013
Chương 4: Một số giải pháp, đề xuất, kiến nghị về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2014-2020
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1 Một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức cấp xã
1.1.1 Chính quyền cấp xã trong hệ thống chính quyền địa phương
Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức HĐND và UBND thì Chính quyền địa phương cũng được chia thành 3 cấp: Chính quyền cấp tỉnh; chính quyền cấp huyện; chính quyền cấp xã
Như vậy, chính quyền cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cấp xã) được hiểu là một bộ máy quản lý nhà nước, cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở, nhưng gắn nhiều hơn với tính chất tự quản
1.1.2 Khái niệm về cán bộ cấp xã
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị -xã hội
(Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008)
Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau:
- Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ;
- Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND;
- Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND;
- Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam;
- Bí thư đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
- Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Trang 161.1.3 Khái niệm về công chức cấp xã
Công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức cấp xã có các chức danh sau:
- Văn hoá - xã hội
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý
1.1.4 Khái niệm về năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các
đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân
nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do
tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn
Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như: năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tái lập, năng lực tưởng tượng…
Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như: năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học
Trang 17Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả
và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở trình
độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nó phải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người
Năng lực còn được hiểu theo một cách khác: Năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau, những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng
và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau, có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình độ trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng
Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực
ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau:
- Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực
- Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào
- Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn
Trang 18- Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực
Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lênin
đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiết cho người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có:
Sự minh mẫn và tài xắp xếp công việc; sự hiểu biết mọi người; tính cởi mở hay là năng lực thâm nhập vào các nhóm người; sự sắc sảo về trí tuệ và óc tháo vát thực tiễn; các phẩm chất ý chí; khả năng hiểu biết mọi người và kỹ năng tiếp xúc với con người Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm như thế nào, chính năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt
Cần phân biệt năng lực với trí thức, kỹ năng, kỹ xảo Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp
đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm Còn năng lực là một tổ hợp phầm chất tương đối ổn định, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện
có kết quả một hoạt động Nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp hay quá trình công tác
mà đề bạt một cán bộ là chưa đủ, chỉ có căn cứ và hiệu quả hoàn thành nhiệm
vụ được giao để đánh giá năng lực cán bộ, công chức thì mới đúng đắn
1.1.5 Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã
* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức:
- Nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia
Trang 19Tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
Chấp hành nghiêm chỉnh những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
- Nghĩa vụ trong thi hành công vụ
Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao Có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị, báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước
Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ, giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, đơn vị Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản Nhà nước được giao
Chấp hành quyết định của cấp trên khi có căn cứ cho rằng quyết định đó
là trái pháp luật thì phải báo cáo kịp thời bằng văn bản với người ra quyết định, trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình
- Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu
Ngoài việc thực hiện các quy định trên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị
Trang 20Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái
độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân
Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị
cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân,
tổ chức
* Quyền của cán bộ, công chức:
- Quyền của cán bộ, công chức được đảm bảo các điều kiện thi hành công vụ:
+ Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ
+ Được đảm bảo trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật
+ Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao + Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
+ Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ
- Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương
+ Được Nhà nước đảm bảo tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
+ Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế
độ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền của CBCC về nghỉ ngơi
CBCC được nghỉ phép hành năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ,
Trang 21CBCC không sử dụng, hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
- Các quyền khác của CBCC
CBCC được đảm bảo quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận
là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật
CBCC cấp xã khi giữ chức vụ được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được xem xét chuyển thành công chức, trong trường hợp này, được miễn chế
độ tập sự và được hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật, trường hợp là CBCC được điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật
1.1.6 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng thấp nhất không đồng nghĩa với ít quan trọng nhất Do vậy, xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã là nhiệm vụ rất quan trọng Có thể đánh giá vị trí, vai trò của CBCC cấp xã trên một số khía cạnh sau:
CBCC cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá
sự lãnh đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế -
xã hội ở cơ sở
Trang 22CBCC cấp xã là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã
CBCC cấp xã là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân CBCC cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây
là vấn đề then chốt Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ
để đặt chính sách cho đúng" [37, tr.269] Khẳng định vị trí, vai trò của người cán bộ, đòi hỏi người cán bộ phải có những đức tính tốt, Hồ Chí Minh cũng không cực đoan cho rằng cán bộ chỉ có tính tốt hay toàn tính tốt, mà cán bộ trước hết cũng là con người, có thể có cả tính xấu Nhưng người cán bộ phải biết nhận biết, sửa chữa, loại bỏ tính xấu, phát triển tính tốt của mình; đồng thời Hồ Chí Minh cũng không cho rằng cán bộ là nhân tố quyết định tất cả,
mà "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân"[37, tr.197], còn vai trò quyết định của cán bộ là ở chỗ nhận thức được để đi trước, làm gương, lãnh đạo
Cán bộ, công chức cấp xã có một ví trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành ở cơ sở Cán bộ, công chức cấp xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao Cán bộ, công chức cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng
Trên thực tế cán bộ, công chức chính quyền cấp xã hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề
Trang 23dày kinh nghiệm và hiểu biết Song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp luật Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản lý điều hành của cán
bộ, công chức chính quyền ở cơ sở
Như vậy, cán bộ, công chức là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức cấp xã còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây:
- Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là người dân,
là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền để từ
đó các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng Thực tế cho thấy, ở đâu mà cán bộ, công chức cấp xã gần dân, hiểu dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng, ngược lại
ở đâu mà CBCC cấp xã quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì sẽ đề ra chính sách không phù hợp
- CBCC cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cho nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách pháp luật đó trong cuộc sống Là người tiên phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách pháp luật và xây dựng gia đình văn hóa ở khu dân cư
- CBCC cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân
- CBCC cấp xã là người am hiểu các phong tục tập quán, truyền thống dân tộc của địa phương, họ là người tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân
ở cơ sở, là người phát huy tính tự quản của cộng đồng dân cư
Trang 24Tóm lại, CBCC cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng trong việc
ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong cộng đồng dân cư
1.1.7 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
CBCC cấp xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến dân, gắn bó với nhân dân
CBCC cấp xã có tính ổn định thấp so với cán bộ, công chức nhà nước cấp trên
CBCC cấp xã có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm nhiệm nhiều
CBCC cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ
sở Vì vậy cán bộ, công chức luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân
CBCC cấp xã là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
CBCC cấp xã là những người xuất phát từ cơ sở (người của địa phương), họ vừa trực tiếp tham gia lao động lao động sản xuất, vừa là người đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giải quyết các công việc của nhà nước Do đó xét ở khía cạnh nào đó CBCC cấp xã bị chi phối, ảnh hưởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phương, của dòng họ
CBCC cấp xã do dân bầu ra (có nơi chiếm 60%) chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân dân lại bầu những đại diện mới
CBCC cấp xã cả nước hiện nay rất đông (gần bằng số lượng cán bộ, công chức hành chính của Trung ương và 63 tỉnh, thành cộng lại) Tuy nhiên
về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già, chính vì vậy nó là những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao
Trang 251.1.8 Tiêu chuẩn của cán bộ, công chức cấp xã
Xác định tiêu chuẩn cán bộ, công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác cán bộ Đó là cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn,
bố trí sắp xếp và sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người cán
bộ phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình Chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi cán
bộ phải là người "Có nhiều trí tuệ hơn một chút, nhiều sự phân minh trong tư tưởng hơn một chút… và kiến thức rộng" [6, tr.389], và yêu cầu người cán bộ
"Không nấp sau một chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa chữa những sai lầm ấy"[6, tr.35]
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của người cán bộ, đồng thời cũng đòi hỏi ở người cán bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định, phải tự giác rèn luyện mình về mọi mặt, không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực để xứng đáng với vị trí, vai trò của mình Đưa ra những tiêu chuẩn đó đối với cán bộ là Hồ Chí Minh xuất phát từ những yêu cầu khách quan của cách mạng chứ không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của mình Tư tưởng Hồ Chí Minh về những tiêu chuẩn ấy mang tính toàn diện và đầy đủ, gồm các tiêu chuẩn về đạo đức, phẩm chất năng lực, về trình độ lý luận, về phong cách và phương pháp của người cán bộ
Trong bất kỳ một hệ thống công chức nào, tiêu chuẩn công chức theo ngạch hay theo vị trí việc làm đều có vai trò rất quan trọng Đó là cơ sở để tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để mỗi công chức yên tâm làm việc theo chức trách được giao, xác định hướng phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm việc, các cấp quản lý cũng căn
cứ vào đó để tạo điều kiện cho cán bộ, công chức có cơ hội được học tập, bồi dưỡng Thực hiện việc chuẩn hóa cán bộ, công chức cấp xã, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã Quy định đã xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng chức vụ, chức danh trong
Trang 26cán bộ, công chức cấp xã Để thực hiện được chức trách, nhiệm vụ được giao đòi hỏi cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể
a Tiêu chuẩn chung:
Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương
Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ được giao
b Tiêu chuẩn cụ thể:
Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là căn cứ để các địa phương thực hiện các quy hoạch, kế hoạch bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, xếp lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã được xác định theo từng chức
vụ, chức danh như sau:
- Bí thư, Phó Bí thư, Thường trực Đảng uỷ
+ Tuổi đời: Không quá 45 tuổi khi tham gia giữ chức vụ lần đầu
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông
+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp chính trị trở lên
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng và đô thị có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Ở khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ
Trang 27chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh:
+ Lý luận chính trị: Có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm tương đương trình độ
sơ cấp trở lên
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
+ Tuổi đời: Tuổi của Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương, nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông
+ Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên
Trang 28+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng Với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên Ngành chuyên môn phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính
xã, phường, thị trấn Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
+ Tuổi đời: Tuổi đời của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
+ Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông
+ Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình
độ trung cấp chuyên môn trở lên Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế
- Đối với các chức danh công chức phải có tiêu chuẩn sau:
+ Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
+ Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;
Trang 29+ Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; + Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu
số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;
+ Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm
- Ngoài ra còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn riêng sau:
+ Đối với các công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng -
đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội:
Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác
+ Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công
an xã: ngoài những tiêu chuẩn quy định trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội,
Trang 30bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước
1.1.9 Những nhân tố ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
a Yếu tố đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã
Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã hình thành và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu và quan trọng là thông qua đào tạo với mục đích "làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định"
Đào tạo cán bộ, công chức cấp xã là làm cho đội ngũ này có được những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức, năng lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp
Phải nhận thức sâu sắc rằng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một khoa học, hơn nữa là một khoa học về con người Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ sẽ tạo tiền đề cho quá trình tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu sự đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đất nước Đại hội IX, X đã tiếp tục khẳng định: Phải chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành và đổi mới quan niệm, phương
Trang 31pháp đánh giá, sử dụng cán bộ trong tình hình mới Trước hết, phải coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã, phường, thị trấn tại chỗ - đây là chiến lược mục tiêu lâu dài
Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX cũng khẳng định:
Nâng cao mặt bằng dân trí; mở rộng mạng lưới trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng ở các tỉnh, huyện, các trường, lớp nội trú cho con em đồng bào các dân tộc để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở Có chính sách thu hút những người được đào tạo chuyên môn, nhất là sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng về làm cán bộ, công chức ở cơ sở Ở những nơi còn thiếu cán bộ tại chỗ, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần kết hợp đào tạo cán bộ thông qua việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, luân chuyển cán bộ ở huyện, tỉnh về công tác
ở cơ sở với nhiệm vụ chính là dìu dắt, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ
Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt cho cán bộ, công chức cấp xã là cần thiết và cấp bách Họ là những người trực tiếp gần gũi nhân dân, vì vậy, trước hết phải hiểu sâu sắc đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải thích cho dân hiểu và trả lời những thắc mắc của dân; đi sâu đi sát, tìm hiểu thực tế, gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện những chủ trương như xóa đói giảm nghèo, chống quan liêu, tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội và coi đó là nhiệm
vụ của chính mình mà Đảng, tổ chức đã giao cho
Tuy nhiên do chưa nhận thức đúng vai trò, vị trí, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức ở cơ sở nên nhìn chung cán bộ, công chức chưa thực sự đảm đương được nhiệm vụ trong tình hình mới, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã thuộc khu vực miền núi Những bất cập trong đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã thuộc khu vực miền núi được thể hiện:
- Đối tượng đưa đi đào tạo chủ yếu là xét cử chứ chưa xét tuyển, kết quả đào tạo vì thế còn nhiều bất cập, nội dung chương trình đào tạo còn chưa phù
Trang 32hợp, chưa gắn công tác quy hoạch và công tác đào tạo, các cơ quan quản lý cán bộ chưa có quy hoạch và kế hoạch tạo nguồn cán bộ cơ sở một cách cơ bản do nguồn ở những địa phương này quá mỏng
Phương pháp chưa linh hoạt, cứng nhắc, không phù hợp, đặc biệt là đối với học viên là người dân tộc thiểu số, không đạt được mục tiêu đào tạo đề ra, không nâng cao được kỹ năng thực hành; chưa nâng cao được tư duy kinh tế, năng lực quản lý kinh tế cho cán bộ, công chức để có thể tổ chức, điều hành nhằm đưa đời sống của nhân dân ở cơ sở thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu
Nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp với đối tượng học viên, chưa có sự đầu tư thỏa đáng trong xây dựng chương trình Một số bài giảng khô khan, nặng về truyền đạt lý luận một cách bài bản với những thuật ngữ trừu tượng, phức tạp trong khi trình độ tiếp thu của học viên khá hạn chế
Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng không khoa học, việc quản lý mang nặng về phương pháp hành chính đơn thuần, chưa kết hợp chặt chẽ giữa quản lý bằng nội quy, quy chế với quản lý bằng nội dung kiến thức
Chưa huy động được nhiều nguồn lực tham gia đào tạo đối với cán bộ, công chức thuộc khu vực đặc biệt khó khăn
Sau khi đào tạo nhiều người không được sử dụng vào công việc chuyên môn của mình; chính sách về đào tạo chưa hợp lý
Từ những phân tích trên đây cho thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên, những bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nhất
là đối với các xã miền núi làm cho chất lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của đội ngũ này
b Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã
Nói đến cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn và bố trí cán bộ cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy
Trang 33năng lực và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác Như vậy tuyển dụng, bổ nhiệm là hai khâu công việc của quá trình sử dụng cán bộ nhằm đạt mục đích chung, nó vừa là những điều kiện cần thiết vừa là yêu cầu của khoa học quản lý con người Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó phải dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn của quy luật phát triển xã hội, đường lối, nguyên tắc, phương pháp và những yếu tố tâm lý học để đánh giá, tuyển dụng,
bổ nhiệm Nếu làm tốt công tác tuyển dụng, bổ nhiệm chúng ta sẽ lựa chọn được những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực và xếp họ vào đúng chỗ, đúng việc Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn
Chính vì vậy, công tác tuyển chọn, bổ nhiệm có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã
Đối với cán bộ, công chức cấp xã vẫn thực hiện cơ chế Đảng cử dân bầu, tuyển chọn bổ nhiệm chưa gắn với thi tuyển, lựa chọn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cùng với việc một số cấp ủy đảng, một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về chính sách của Đảng đối với khu vực này Các cấp ủy đảng chưa quán triệt sâu sắc quan điểm về xây dựng cán bộ, công chức cấp xã ở vùng dân tộc và miền núi cho các ngành, các cấp, các đơn vị, cũng như cho cán bộ, công chức trong điều kiện lịch sử cụ thể cho nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức, cán bộ đi học về chưa bố trí, sử dụng đúng năng lực, sở trường Số học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên chưa được tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ sung tăng cường về cấp xã, việc tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều khi mang tính hình thức sắp đặt không theo những yêu cầu cụ thể về phẩm chất và năng lực của mỗi chức danh Việc tuyển chọn, bổ nhiệm chưa gắn với công tác đào tạo và quy hoạch Như vậy khó tránh khỏi hiện tượng tuyển dụng những người kém về
Trang 34năng lực, phẩm chất làm ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
c Yếu tố pháp luật về chế độ, chính sách cán bộ, công chức cấp xã
Chế độ, chính sách là công cụ điều tiết cực kỳ quan trọng trong quản lý
xã hội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động của con người, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của mỗi con người Vì vậy, chế độ chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức Có thể nói trong tình hình hiện nay việc đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách đối với cán bộ, công chức
là khâu có tính đột phá
Trong thời gian vừa qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều quyết sách hướng
về cán bộ, công chức cấp xã nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ, công chức và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở cơ sở để có thể đảm đương được nhiệm vụ trong thời kỳ mới Tuy nhiên, hệ thống chính sách đối với cán
bộ, công chức cấp xã hiện nay vẫn còn một số bất cập
Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với cán bộ, công chức cấp xã khu vực miền núi nói riêng, cán bộ, công chức cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung chưa trở thành đòn bẩy kích thích làm việc với sự nhiệt tình hăng say Hệ thống chính sách vẫn mang tính chắp vá, không đồng bộ Chưa khuyến khích những người công tác ở vùng sâu, vùng xa, cơ chế quản lý, việc xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện chính sách còn chồng chéo, thiếu nhất quán, không đồng bộ từ quy hoạch đến đào tạo bồi dưỡng, bố trí sử dụng đến cơ chế kiểm tra, giám sát
Những bất hợp lý về chính sách cán bộ như nêu trên dẫn đến kết quả nhiều cán bộ, công chức có năng lực thực sự không muốn tham gia vào công tác địa phương hoặc nếu tham gia thì có quan điểm nay làm mai nghỉ, hoặc
Trang 35cán bộ, công chức đương chức cửa quyền chỉ bố trí người thân cận, người trong dòng họ, người địa phương Có nhiều xã, phường, thị trấn bố trí số lượng cán bộ, công chức nhiều hơn quy định, nhưng bên cạnh đó có nhiều
xã, phường, thị trấn thì đang thiếu các các chức danh này, dẫn đến cán bộ, công chức thiếu đồng bộ về cơ cấu, độ tuổi, giới tính và non kém về năng lực, không biết làm Đây là vấn đề cản trở rất lớn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và chương trình xây dựng Nông thôn mới
d Yếu tố quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức cấp xã
Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và thủ trưởng phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và giúp cho cán bộ, công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, tiêu cực, phát huy những nhân
tố tích cực, đồng thời nắm vững thực trạng của cán bộ, công chức và là cơ sở
để làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng bố trí cán bộ
Thực tế cho thấy có một số cán bộ khi mới được đề bạt, bổ nhiệm, mới được bầu cử là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận tụy, liêm khiết,
có uy tín đối với đồng bào nhân dân địa phương Song trong quá trình hoạt động thiếu tu dưỡng, rèn luyện học tập, không được quản lý tốt dần dần thoái hóa, biến chất, sa ngã Trong một số điều kiện, vì lòng tham, vì công tác quản
lý bị buông lỏng dẫn đến việc vi phạm vào lợi ích của Nhà nước và nhân dân Điều đó, có phần thiếu sót của công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ Mặt khác, một số cán bộ, công chức cấp xã hiện nay còn trẻ, năng lực có, phẩm chất có, tuy nhiên họ lại chưa tận tâm với công việc, họ ngại làm, ham chơi nên khi được cấp trên giao nhiệm vụ họ thường lơ là, không tập trung giải quyết công việc, lại không được giám sát, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên dẫn đến công việc không hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng chất
Trang 36lượng không cao Điều này cũng do một phần thiếu sót trong công tác quản
lý, kiểm tra, giám sát cán bộ
Qua đây cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và bảo vệ cán bộ
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
1.2 Cơ sở thực tiễn về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay
1.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay
Hiện nay, nước ta có 11.112 xã, phường, thị trấn với tổng số 222.735 cán bộ, công chức và 317.766 cán bộ không chuyên trách cấp xã Đây là những người trực tiếp đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện Kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở cũng như năng lực lãnh đạo, uy tín chính trị, bản chất của Đảng, Nhà nước ta gắn liền với năng lực, trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ này Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ vừa là yêu cầu cơ bản, vừa là đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, quy định về công tác cán bộ Nhờ đó, công tác cán bộ và chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp có chuyển biến rõ rệt
Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2003 đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã như: Nghị định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã,
Trang 37phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 31/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề
án đào tạo, bồi dưỡng Chủ tịch hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006-2010; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định
số 170/QĐ-TTg phê duyệt Dự án thí điểm chọn 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình
độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã thuộc 62 huyện nghèo… Bộ Nội vụ có Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn
Nhờ sự quan tâm của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự chủ động, tích cực của cấp ủy đảng và hệ thống chính trị các cấp, về cơ bản, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được nâng lên một bước
Cụ thể: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách cấp xã có trình độ chuyên môn năm
2012 tăng so với năm 2002: trình độ đại học tăng 14,42%; cao đẳng tăng 3,35%; trung cấp tăng 21,6% Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp tăng 3,25%, trung cấp tăng 22,90% Trong khi đó số cán bộ chuyên trách có trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo giảm mạnh, cụ thể: về chuyên môn, sơ cấp giảm 5,33%, chưa qua đào tạo giảm 31,04%; về lý luận chính trị, sơ cấp giảm 7,01%, chưa qua đào tạo giảm 18,14%
Tỷ lệ đội ngũ công chức cấp xã có trình độ chuyên môn năm 2012 tăng
so với năm 2002: trình độ đại học tăng 20,49%; cao đẳng tăng 4,66%; trung cấp tăng 31,8% Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp giảm 0,04% vì do đội ngũ công chức mới đều là những người còn trẻ nên chưa được bồi dưỡng lý luận cao cấp, trung cấp tăng 16,11% Trong khi đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn là sơ cấp giảm 5,43%, chưa qua đào tạo giảm 49,53%; về lý luận chính trị, sơ cấp giảm 2,66%, chưa qua đào tạo giảm 13,41%
Trang 38Bảng 1.1 Tỷ lệ trình độ của CBCC cấp xã giai đoạn 2002-2012
bí thư, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; cán bộ luân chuyển
về cơ sở đã phát huy tác dụng, từng bước trưởng thành, thúc đẩy phong trào địa phương phát triển Nhờ công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ được coi trọng, nên số cán bộ chuyên trách năm 2012 so với năm 2002 đạt chuẩn về chuyên môn là 64,72% (tăng 39,37%), đạt chuẩn về lý luận chính trị là 66,25% (tăng 26,15%), số công chức chuyên môn đạt chuẩn
là 89,28% (tăng 56,95%) và đạt chuẩn về lý luận chính trị là 37,61% (tăng
Trang 3916,07%) Một số địa phương có chính sách thu hút cán bộ trẻ, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học về công tác ở cấp xã Các tỉnh biên giới tăng cường cán bộ, sĩ quan biên phòng về tham gia công tác ở các xã biên giới, xã vùng khó khăn, góp phần củng cố hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở
Nhìn chung, đa số cán bộ, công chức cơ sở được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có ý thức tổ chức, kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Nhiều cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có ý thức trách nhiệm, thái độ cầu thị, khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu công tác và học tập, rèn luyện, hăng hái chăm lo việc làng, việc xã, đóng góp tích cực vào
sự phát triển của địa phương Thái độ giao tiếp của đa số công chức thực thi nhiệm vụ ở cơ sở với các tổ chức, công dân có chuyển biến rõ rệt, có ý thức trách nhiệm, tận tình và chu đáo, ứng xử đúng mực, đóng vai trò then chốt trong việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân, trực tiếp chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở và yêu cầu ngày càng cao trong lãnh đạo, quản lý, điều hành quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế -
xã hội, quản lý đô thị, xây dựng nông thôn mới… thì đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại nhiều địa phương còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém cả về
số lượng và chất lượng
Về số lượng, vấn đề nan giải đặt ra đối với các xã, phường, thị trấn hiện nay là vừa thừa, lại vừa thiếu cán bộ Số cán bộ được hưởng lương, phụ cấp, bồi dưỡng… từ ngân sách ở cấp xã và dưới xã trung bình khoảng 200 người/xã, có phường lên tới 600 người, dẫn đến tổng số cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách cấp xã và dưới cấp xã cả nước
Trang 40hiện khoảng 2,3 triệu người và xu hướng còn tăng thêm, trong khi đó nhiều nơi lại đang rất thiếu những cán bộ có trình độ, năng lực chuyên môn, có khả năng làm việc tốt Đây thực sự là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước và
là bài toán khó cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ này
Về chất lượng, bên cạnh những chuyển biến tích cực, trình độ, kiến thức và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều mặt hạn chế; tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn cao (chiếm 38,28%), tỷ
lệ công chức chưa đạt chuẩn về chuyên môn còn 10,72% Tỷ lệ cán bộ, công chức chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều (cán bộ chuyên trách còn 17,46%; công chức chuyên môn là 41,33%) Thực tế cho thấy, việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vừa qua mới chỉ tập trung vào việc chuẩn hóa bằng cấp Không ít cán bộ, công chức đương nhiệm phải “chạy sô” học hành, thi cử lấy bằng cấp để đáp ứng yêu cầu “chuẩn hóa” Hơn nữa, nếu trình
độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay chỉ đạt trình độ chuyên môn là trung cấp thì không đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành việc phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng ở đơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt khi chúng ta triển khai thực hiện
mô hình chính quyền đô thị, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng Nông thôn mới với rất nhiều nội dung, tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức quản lý hành chính, xây dựng, quản lý kinh tế…
Bên cạnh hạn chế về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, kinh nghiệm, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở nhiều nơi vẫn còn nhiều hạn chế
về tinh thần trách nhiệm, thái độ giao tiếp, ứng xử Nhiều cán bộ xã sau khi trở thành công chức có biểu hiện xa dân hơn, quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Bên cạnh đó, tình trạng cục bộ địa phương theo thôn, xóm, dòng họ trong đội ngũ cán bộ, công