Để góp phần làm sáng tỏ thực trạng hiện nay về khai thác, sử dụng các thảm cỏ tự nhiên và cỏ trồng tại địa phương, hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi hiện có, chúng tôi tiến hành ngh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -o0o -
TRẦN MINH KHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI GIA SÚC Ở XÃ MINH ĐỨC HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ TRỒNG THỬ NGHIỆM HAI LOÀI CỎ: CỎ VOI (PENISETUM PURPUREUM) VÀ CỎ LAU (SACCHARUM ARUNDINACEUM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái nguyên - Năm 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
TRẦN MINH KHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI GIA SÚC Ở XÃ MINH ĐỨC, HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ TRỒNG THỬ NGHIỆM HAI LOÀI CỎ: CỎ VOI (PENISETUM PURPUREUM) VÀ CỎ LAU (SACCHARUM ARUNDINACEUM)
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG CHUNG
Thái nguyên - Năm 2011
Lời cám ơn
Trang 3Bằng tấm lòng thành kính, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành tới nhà giáo ưu tú PGS.TS Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học:
Tôi xin cảm ơn tiến sĩ Lê Ngọc Công cùng toàn thể các cán bộ, các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN trường đại học sư pham Thái Nguyên, xin cảm ơn khoa trồng trọt trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên và bạn bè đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các vị lãnh đạo và cán bộ của Uỷ ban nhân dân xã Minh Đức, Uỷ ban nhân dân huyện Việt Yên – Bắc Giang đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn sở giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ, Trường THPT Yển Khê đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, kích lệ, động viên, tạo điều kiện của gia đình và bạn bè trong suối thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Tác giả
Trần Minh Khương
LỜI CAM ĐOAN
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa tưng ai công bố trong bất kì một công trình khác nào
Tác giả
Trần Minh Khương
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐÂÙ 1
CHƯƠNG1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới 4
1.1.2 Tình hìnhchăn nuôi trâu bò ở nước ta 7
1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 10
1.2.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên toàn thế giới 11
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 14
1.3 Nhưng nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 16
1.3.1 Vấn đề nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới 16
1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống và chất lượng cỏ 17
1.3.3 Năng suất đồng cỏ 22
1.3.4 Những nghiên cứu về động thái đồng cỏ 22
Trang 1.4 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam 24
1.4.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả 24
1.4.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam 26
1.5 Các loại thức ăn và đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn cho bò 27
1.5.1 Các loại thức ăn 27
1.5.2 Đặc điểm,thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn 28
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN–XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đặc điểm tự nhiên – xã hội huyện Việt Yên 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 38
2.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã Minh Đức 39
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 39
Trang 72.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 42
CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 Đối tượng, địa điểm và nội dung nghiên cứu 46
3.2 Phương pháp nghiên cứu 47
3.2.1 - Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 47
3.2.2 Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
4.1 Tình hình khai thác và sử dụng đất tại xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 60
4.2 Các thảm cỏ tự nhiên của vùng ngiên cứu 64
4.2.1 Thành phần loài 64
4.2.2 Thành phần dạng sống 75
4.2.3 Năng suất cỏ ở các điểm nghiên cứu ngoài thiên nhiên 81
4.2.4 Chất lượng cỏ ở các điểm nghiên cứu ngoài thiên nhiên 84
4.2.5 Đánh giá hiệu quả khai thác thức ăn 86
4.3 Các thảm cỏ trồng trong vùng nghiên cứu 87
4.3.1 Kĩ thuật trồng và chăm sóc cỏ voi và cỏ lau 87
4.3.2 Năng suất và chất lượng cỏ trồng tai các hộ gia đình 91
4.3.3 Năng suất và chất lượng hai loài cỏ trồng thử nghiệm: cỏ voi và cỏ lau 95
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM 100
PHỤ LỤC 104
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 8Bảng 1.1: Số lượng và phân bố đàn trâu trên thế giới 4
Bảng 1.2: Số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới 5
Bảng 1.3: Lượng thịt bò sản xuất trên thế giới 5
Bảng 1.4: Lượng sữa sản xuất trên thế giới 7
Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua 8
Bảng 1.6: Số lượng bò sữa và sản lượng sữa ở Việt Nam kể từ năm 1990 9
Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua 9
Trang Bảng 1.8: Sản lượng vật chất khô và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt 12
Bảng 1.9: Sản lượng VCK của cỏ Ghine tía sau 30 ngày 13
Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ 21
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu chế độ nhiệt trong năm 34
Bảng 2.2: Diện tích và cơ cấu các loại đất 36
Bảng 2.3: Số lượng và cơ cấu lao động 39
Bảng 4.1: Diện tích , cơ cấu các loại đất chính năm 2006 60
Bảng 4.2: Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp năm 2008 61
Bảng 4.3: tại thành phần loài tại các điểm nghiên cứu 65
Bảng 4.4: Sự biến động của tổ hợp thành phần loài ở các điểm nghiên cứu 75
Bảng 4.5: Nhưng dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên tại các điểm nghiên cứu 76
Bảng 4.6: Năng suất cỏ tươi trong các điểm nghiên cứu (g/m 2 ) 81
Bảng 4.7: chất lượng cỏ ở các điểm nghiên cứu ngoài thiên nhiên 84
Bảng 4.8 Thành phần hòa học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ chính 85
Bảng 4.9: Năng suất cỏ trồng tai các điểm nghiên cứu 92
Bảng 4.10: Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực trồng cỏ 93
Bảng 4.11: Thành phần hóa học của cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu 94
Trang 9Bảng 4.12 tỷ lệ sống xót của cỏ voi và cỏ lau 95
Bảng 4.13: Năng suất của cỏ voi và cỏ lau 96
Bảng 4.14: So sánh năng suất của cỏ Voi và cỏ Lau 97
Bảng 4.15: Chất lƣợng của cỏ Voi và Cỏ Lau 97
MỞ ĐẦU
Trang 101.Lý do chọn đề tài
Đồng cỏ là cơ sở không thể thiếu được của ngành chăn nuôi, đặc điểm chăn nuôi đại gia súc Hiện nay nhu cầu phát triển chăn nuôi ngày càng lớn, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được, do đó phải có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng cho loại thảm thực vật này nhằm đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi, giữ cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Việt Nam đồng cỏ phân bố rải rác khắp nơi, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng trung du và miền núi Đồng cỏ Việt Nam là loại hình thứ sinh, do con người tàn phá tạo thành (theo Hoàng Chung ) [8]
Ở nước ta công trình nghiên cứu về đồng cỏ còn rất ít, nó mới được đề cập đến từ những năm 1950 trở lại đây Phần lớn nó là Nghiên cứu tản mạn của từng vùng
Tác giả Võ Văn Chi, Nguyễn Đình Ngỗi (1964) qua nghiên cứu thành phần loài của thảm cỏ vùng Hữu Lũng (Lạng Sơn) gọi loại hình này là Savan cỏ [13] Dương Hữu Thời và các tác giả (1969) nghiên cứu thành phần loài của thảm
cỏ Ngân Sơn ( Bắc Kạn) gọi là đồng cỏ [22] Thái Văn Trừng (1970) khi nghiên cứu các loại hình thực vật bắc Việt Nam, gọi các loại hình này không phải rừng
là trảng [25] Hoàng Chung (1980) đã nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ, savan, thảo nguyên, [8] Đặc biệt Dương Hữu Thời (1981) có công bố công trình
„Đồng cỏ Bắc Việt Nam‟ trong đó đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam [24]
Ngoài ra có nhiều công trình nghiên cứu thành phần thức ăn gia súc, vấn đề đồng cỏ tự nhiên, sử dụng hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập nội một số
Trang 11loài mới, phân tích thành phần dinh dưỡng của một số loài cỏ việt nam.v.v của
Lê Sinh Tăng, Nguyễn Văn Chính (1969); Điền Văn Hưng (1975); Đoàn Ân,
Võ Văn Tự (1976); Hoàng Kim Nhuệ (1979); Dương Thành Liên (1981); Võ Văn Tự (1983)…
Minh Đức là một xã miền núi của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, có địa hình khá phức tạp có đồi núi xen kẽ với đồng bằng, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu trong đó có chăn nuôi gia nuôi nhưng thu nhập từ chăn nuôi còn rất thấp Vì vậy, công tác nghiên cứu về thực trạng, hình thức và mức độ sử dụng các thảm
cỏ nhằm phục vụ cho chăn nuôi là hết sức cân thiết Để góp phần làm sáng tỏ thực trạng hiện nay về khai thác, sử dụng các thảm cỏ tự nhiên và cỏ trồng tại địa phương, hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi hiện có, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng chăn nuôi gia súc ở xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và trồng thử nghiệm hai loài cỏ: cỏ Voi (Penisetum purpureum) và cỏ Lau (Saccharum arundi-naceum)”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Điều tra về khí hậu, đất đai, thủy văn, thực trạng các thảm thực vật tự
nhiên và cây trồng phục vụ cho chăn nuôi Từ đó đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng thức ăn cho gia súc của địa phương
- Đánh giá một mô số mô hình khai thác thức ăn, sơ bộ cho biết hiệu quả kinh tế của từng mô hình đó Đề xuất mô hình sử dụng hợp lý và phương hướng phát triển của địa phương
- Trồng thử nghiệm và so sánh năng suất và chất lượng của cỏ Voi và cỏ Lau
3 Đóng góp mới của đề tài
Trang 12- Xác định được thực trạng, tình hình và mức độ sử dụng các thảm cỏ phục
vụ cho chăn nuôi trong một số vùng sinh thái hiện nay
- Xác định được hiệu quả của một số mô hình chăn nuôi
- Đề xuất khả năng phát triển chăn nuôi tại vùng nghiên cứu và mô hình sử dụng bền vững tài nguyên nguyên thiên nhiên, đạt hiệu quả kinh tế cao
- Đề xuất phương pháp trồng cỏ voi và cỏ lau So sánh được hiệu quả kinh
tế của cỏ Voi và cỏ Lau
Với sự hiểu biết có hạn và thời gian hạn chế, nên trong pham vi đề tài này chúng tôi tập chung nghiên cứu ở 4 điểm đã và đang sử dụng làm bãi chăn ở mức
độ khác nhau thuộc một số địa điểm lớn ở vùng Minh Đức và nghiên cứu một
số mô hình trồng cỏ chăn nuôi, góp một phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu đặc điểm của đồng cỏ của vùng này và việc sử dụng hợp lý chúng nhằm đạt hiệu quả cao trong nuôi trồng cũng như bảo vệ môi trường sinh thái
Chương 1
Trang 13TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới
Trâu bò được thuần hóa cách đây khoảng 8 – 10 ngàn năm và từ đó đến nay ngành chăn nuôi trâu bò đã không ngừng phát triển và được phân bố trên khắp thế giới Chăn nuôi trâu bò là cách đơn giản để người dân địa phương khai thác đất đai nhằm sản xuất thịt, sữa, sức kéo, phân bón và một số sản phẩm khác
Bảng 1.1: Số lượng và phân bố đàn trâu trên thế giới
(Nguồn: FAO Statistic – 2006)
Ta thấy trâu bò chủ yếu tập trung ở các nước nhiệt đới châu Á với số lượng không ngừng tăng Sau đó là ở châu Phi và ít nhất là ở châu Đại Dương
Trang 14Trong khi đó đàn bò có xu hướng ôn định về số lượng đầu con và phân bố khá đều trên khắp thế giới Bảng 1.2 cho thấy số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới
Bảng 1.2: Số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới
(Đơn vị: triệu con)
(Nguồn: FAO Statistic – 2005)
Ngành chăn nuôi bò thịt chuyên dụng đã phát triển trên thế giới từ đầu thế kỉ XVIII Bảng 1.3 cho thấy lượng thịt bò sản xuất trên thế giới trong mấy thập kỷ gần đây
Bảng 1.3: Lượng thịt bò sản xuất trên thế giới
(Đơn vị: triệu tấn)
Trang 15(Nguồn: FAO Statistic – 2004)
Hiện nay ở các nước phát triển chăn nuôi bò thịt chủ yếu dựa vào các hệ thống thâm canh nuôi bò non (6 đến 30 tháng tuổi) và vỗ béo bằng các khẩu phần cao năng lượng Trong khi đó, chăn nuôi bò thịt ở các nước đang phát triển, trừ Achentina, Brazil và Mehico, chủ yếu là các hệ thống chăn nuôi quảng canh Phương thức chăn nuôi bò sữa thay đổi tùy điều kiện và tập quán của từng nước Các nước châu Âu và Bắc Mỹ có ngành chăn nuôi bò sữa theo hướng chuyên dụng Hệ thống chủ yếu là bãi chăn – chuồng nuôi với việc sử dụng rộng rãi đồng cỏ lâu năm, mùa hè chủ yếu dựa vào chăn thả trên đồng cỏ lâu năm, còn mùa đông dùng nhiều thức ăn tại chuồng (cỏ ủ xanh, cỏ khô, thức ăn tinh) Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương sản xuất tới 68% sản lượng sữa của thế giới với năng suất sữa bình quân cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển Phần lớn ngành chăn nuôi bò sữa ở các nước phát triển thuộc về các hộ có xu hướng giảm xuống, trong khi đó số hộ chăn nuôi bò sữa ở các nước đang phát triển có xu hướng ổn định
Trang 16Bảng 1.4: Lượng sữa sản xuất trên thế giới
(Nguồn: FAO Statistic – 2004)
Về chăn nuôi trâu bò cay kéo ước tính có khoảng 2 tỷ người trên thế giới đang phụ thuộc vào sức kéo của gia súc để làm đất, vận chuyển hàng hóa và các lao tác khác Trâu bò lao tác không chỉ là phương tiện sống cho hàng triệu người
mà còn đóng góp vào các hệ thống sản xuất được chấp nhận cả về mặt xã hội trên thế giới Theo ước tính hiện có khoảng 250 triệu gia súc lao tác thuộc các loài khác nhau, trong đó chủ yếu là trâu bò Trâu bò ở rất nhiều nơi trên thế giới được dùng kiêm dụng kết hợp cày kéo với sinh sản, khai thác thịt hay sữa
1.1.2 Tình hìnhchăn nuôi trâu bò ở nước ta
Về truyền thống chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi
bò địa phương kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngày nay, trong khi đàn trâu bò cày kéo có xu hướng giảm thì chăn nuôi trâu bò theo hướng lấy thịt đang ngày càng phát triển mạnh hơn để đáp ứng
Trang 17nhu cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân Bảng 1.5 cho thấy diễn biến đàn trâu bò qua một số năm gần đây ở nước ta
Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua
(Nguồn: FAO Statistic – 2008)
Nhờ mức sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu tiêu thụ thịt trâu bò ngày càng tăng, giá trị trâu bò và giá trị thịt con giống đang tăng lên nhanh chóng Điều đó đang thúc đẩy và là cơ hội để ngành chăn nuôi trâu bò thịt trong nước phát triển
Về chăn nuôi trâu bò sữa, nước ta vốn không có truyền thống nên không có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào mà đều là các giống nhập nội hoặc lai tạo Theo tài liệu Cục Nông nghiệp (2003), trong tổng đàn bò sữa hiện
có, trên 75% tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An…, khoảng 20% ở các tỉnh phía Bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2% ở Tây Nguyên Hiện tại, trong cơ cấu giống đàn
bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm 10% và bò lai chiếm khoảng 90% Chăn nuôi
bò sữa hiện tại chủ yếu là các hộ gia đình (95%), ngoài ra có một số ít cơ sở chăn
Trang 18nuôi nhà nước và liên doanh Số lượng bò sữa và sản lượng sữa được thể hiện trong bảng 1.6
Bảng 1.6: Số lượng bò sữa và sản lượng sữa ở Việt Nam kể từ năm 1990
(Nguồn: Cục Nông nghiệp – 2008)
Ngoài ra, trâu bò được sử dụng để cày kéo Gần đây do sự thu hẹp đất đai canh tác, do có cơ giới hóa một phần các hoạt động nông nghiệp nên nhu cầu về trâu bò cày kéo có xu hướng giảm, thể hiện qua sự giảm về đầu con trâu bò kéo trong những năm qua Tuy vậy, ngày nay công việc làm đất nặng nhọc vẫn thu hút gần 70% trâu và 40% bò toàn quốc, đáp ứng khoảng trên 70% sức kéo trong nông nghiệp Số lượng trâu bò cày kéo được trình bày trong bảng 1.7
Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua
Trang 191.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam
Cây thức ăn bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây cỏ hòa thảo, cây đậu, cây thân thảo hay cây gỗ mà có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc Những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại [1]
Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà gia xúc nhai lại có khả năng sử dụng
và hấp thụ tốt Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ không những rất cần thiết
mà lại có tỷ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của trâu bò
Họ hòa thảo quan trọng không những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỷ lệ cao trong số thực vật đồng cỏ, mà còn giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng hydratcacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt khi thu hoạch Các cây họ đậu tuy chiếm tỷ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm thức ăn gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng protein và khoáng thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung [26]
Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới dạng khác nhau phải đảm bảo các yêu cầu sau [37]:
- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch
- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới
- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao
- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất
Trang 20- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới
Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân
tố sau để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia súc
về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng
1.2.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên toàn thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Öc, Mỹ, Brazin ,Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng Đông Nam
Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này
Ở Thái Lan, với 70 % dân số làm việc liên quan đến sản xuất nông nghiệp, trong khi đó sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống để trồng
Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực phía
Nam Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống Brachiaria Pennisetum, cỏ Stylo…sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hằng năm còn sản xuất
20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước [28]
Trang 21Một số nước khác như Malaysia, Lào,…cũng được chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ năm 1985 Cho đến nay một số giống cỏ Hòa Thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hàng năm sản xuất được 2 – 3 tấn hạt cỏ các loại
Như vậy, có thể thấy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia gia súc phát triển
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ
Hai giống cỏ là cỏ đắng (Paspalum atratum và Paspalum plicatulum) là
những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan [34]
Ở Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria decumbens, paspalum atratum, Brachiaria multica và Paspalum plicatulum
khoảng từ 15 – 20, 18 – 25, 9- 15 và 6 – 10 tấn /ha được trình bày trong bảng 1.8
Bảng 1.8: Sản lượng vật chất khô và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất
thấp vào 45 ngày cắt
(tấn/ha)
Protein (%)
Trang 22(Nguồn: Division of Animal Nutrision, Anon – 2000)
Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghine tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50 cm và được bón phân hỗn hợp (15 – 15 – 15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/ ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn /ha ở lứa đầu (70 ngày sau khi trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày [35] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.9
Bảng 1.9: Sản lượng VCK của cỏ Ghine tía sau 30 ngày
Trang 23kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria mutica) và Ghine (Panicum maximum) [36]
Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên cứu của Riveros và
Wilson (1970) [39] tại Redlanbay, Queenland, thông báo năng suất đạt từ 23.500 –
28 000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ bazan màu mỡ
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam
Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưa nhiều Những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:
Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình và cộng sự (1999), [21]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001), [27] khi nghiên cứu cỏ Ghine TD 58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám tỉnh Bình
đạm bón từ 60 – 90 kg N/ha/năm, năng suất chất xanh cỏ (Panicum maxium) TD
58 đạt 64,59 – 83,33 tấn/ha/năm Tỷ lệ lá cao 51,48 – 60,44 %, năng suất hạt 287 –
323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa
+ Khu vực miền Bắc trên hai loại đất của vùng đồng bằng và vùng đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 – 2,01 cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90 – 100 tấn/ha/năm Cỏ Ghine có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%
Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 khá cao, khả
năng sử dụng của gia súc đều tốt từ 86 – 100 %
Trang 24Ở trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 – 1,82 cm/ngày [22]
Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh (2004), đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 – 179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93 – 138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 – 18,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo băng; 28,5 – 36,9 tấn /ha trong điều kiện trồng theo hướng đi
Hoàng Chung, Giang Thị Hương (2006), tại Mai Sơn – Sơn La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghine), tăng từ 1- 2 lứa/năm, năng suất từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ 100 tấn – 120 tấn/ha [13]
Diện tích trồng cỏ của cả nước hiện nay chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện tích đất chưa sử dụng và chưa mạnh dạng chuyển đổi một phần đất nông nghiệp sang trồng cỏ thâm canh Bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn nhấn mạnh nghành chăn nuôi phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, cụ thể là đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc thức ăn cỏ được coi là hướng chính Muốn vậy cần có sự chuyển biến mạnh và đột phá trong khâu thức ăn Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ, cỏ phải được coi là cây trồng chính và trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh
Trang 251.3 Nhưng nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.3.1 Vấn đề nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới
Về vấn đề nguồn gốc đồng cỏ trong đai nhiệt đới nhiều tác giả cho ý kiến khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới không có đồng cỏ tồn tại, các quần xã cỏ ở đây phải là loại hình savan Diel(1908), Haudel-Mazzeti (1921, 1927), Ilinskii (1937) [8]
Một số tác giả khác khi nghiên cứu loại hình thuộc thảo khu vực Đông Nam
Á cũng có những ý kiến khác nhau: J.Vidal (1958) khi phân chia thực bì ở Lào
đã sắp xếp các quần xã cỏ vào sa van Trong đai dưới 1000 m thì có savan cây
thì có các kiểu savan khác như savan bụi, sa van gỗ, sa van cỏ tranh, sa van
Thysanolena maxima và thảo nguyên giả [8]
Karbanop (1962) khi phân loại thực bì Nam Trung Quốc ( tỉnh Vân Nam)
đã gọi các quần xã cỏ thứ sinh là sa van Ông đã chia sa van bụi và sa van rừng Savan bụi phát triển trên sươn đồi, có nhiều ánh sáng, theo thành phần loài và đặc điểm chung, nó giống sa van bụi của J.Vidal (1958) Sa van rừng (sa van điểm cây) chiếm diện tích lớn hơn, nó phân bố độ cao từ 250 m trở lên, và phát triển trên đất rừng bị phá Trong kiểu này được chia thành 5 tầng, trong đó tầng
cỏ là liên tục và khép tán [30]
Nguyễn Đình Ngỗi và Võ Văn Chi ( 1964) khi nghiên cứu thành phần loài của thảm cỏ ở vùng Hữu Lũng ( Lạng Sơn ) đã gọi loại hình này là sa van cỏ [18] Cooper, Taiton ( 1968 ), Dương Hữu Thời ( 1981) khi nghiên cứu nguôn gốc thứ sinh của các thảm cỏ trong các vùng nhiệt đới khác nhau, đã đi đến kết luận các quần xã cỏ và cây bụi trong vùng nhiệt đới đều hình thành trên quần xã rừng bị chặt hạ [8]
Trang 26Thái Văn Trừng ( 1970, 1978) khi giải quyết những khó khăn về việc phân chia các đơn vị nhỏ trong hệ thống phân loại thảm thực vật và chia các kiểu thảm cỏ, ông đã phân chia rừng nhiệt đới theo những điều kiện của nơi sống với
sự phân chia ra các kiểu ngoại mào (kiểu nơi sống, kiểu đất rừng ) và gọi các
cũng không phải đồng cỏ [25] [26]
M.Numata (1979) Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông khô, hè mưa ẩm Trong điều kiện như vậy các quần xã cỏ thuộc kiểu đồng cỏ Sa van chỉ gặp ở các vùng có lượng mưa thấp từ 200 – 800 mm,
và mùa khô kéo dài trên 7 tháng [33] Vì vậy Bắc Việt Nam không có sa van, Dương Hữu Thời (1981) cũng đưa ra kết luận tương tự
Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Hoàng Chung ( 1980) là: trên thực tế Bắc Việt Nam tồn tại nhiều kiểu sa van, đồng cỏ và các dạng trung gian Trong đai nhiệt đới, trên những vùng đã bị chặt phá, khi mà đất còn khá tốt,
độ ẩm còn khá cao, thì sẽ hình thành ở đây loại hình đồng cỏ Trong quá trình tác động tiếp theo của con người sẽ làm cho tỉ lể cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở loại đồng cỏ các loài cỏ, cây bụi hạn sinh, và cây đoản mệnh, hình thành kiểu sa van cây bụi, quá trình này trên Bắc Việt Nam có thể tóm tăt như sau: Rừng nguyên sinh – Rừng thái sinh – Đồng cỏ - Sa van cỏ - Sa van bụi –
Sa van bụi nhỏ [8]
Đồng cỏ Minh Đức theo ý kiến của các tác giả trên và kết hợp với những
tư liệu điều tra của chúng tôi , nó cũng thuộc loại hình thứ sinh
1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống và chất lượng cỏ 1.3.2.1 Thành phần loài:
Trang 27Thành phần loài của các quần xã cỏ vùng Đông Dương và Đông Nam Á được nghiên cứu rất ít Phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu thành phần loài họ hòa thảo Whyte R.O (1975); Nguyễn Minh Thuật ( 1958); Bor N.L (1960); Gibliland N.B (1971); và những người khác [8]
Những hiểu biết về thành phần loài thực vật đồng cỏ Bắc Việt Nam còn rời rạc và không đầy đủ Nguyễn Đình Ngỗi và Võ Văn Chi ( 1964 ) nghiên cứu thành phần loài của thảm cỏ vùng Hữu Lũng ( Lạng Sơn ) [18] Dương Hữu Thời (1963) nghiên cứu thành phần loài của vùng ngoại thành Hà Nội, Dương Hữu Thời, Nguyễn Đình Ngỗi ( 1965) nghiên cứu thành phần loài của các quần xã cỏ trong nông trường Hà Trung Dương Hữu Thời, Hoàng Chung, Doãn Ngọc Chất, Phạm Quang Anh ( 1969) nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn )
Nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc thảo còn được nằm rải rác ở các công trình nghiên cứu về thảm thực vật khác Phan Nguyên Hồng ( 1970) nghiên cứu thành phần loài ven biển Bắc Việt Nam đã chia thảm thực vật Bắc Việt Nam ra các kiểu rừng và thảm thực vật khác nhau [12]
Trong công trình tổng kết các nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam Dương Hữu Thời (1981) có công bố số liệu thu được về thành phần loài của 5 vùng thuộc Bắc Việt Nam gồm 213 loài thường gặp Trong quá trình nghiên cứu ông
đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam [24]
Hoàng Chung ( 1980) đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài, thuộc 54 họ và 44 chi Khi ông nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam [8] Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung ( 1995) khi nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái, sinh học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [15]
Trang 28Ma Thế Quyên nghiên cứu về động thái đồng cỏ trong mối quan hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương ( Ngân Sơn – Bắc Kạn) sừu tầm được 88 loài 35 họ [21]
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1977) nghiên cứu thành phần loài dạng sống của cây bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc
1.3.2.2 Những vấn đề nghiên cứu về dạng sống
Về dạng sống thực vật đã từ lâu được các nhà thực vật nghiên cứu quan tâm, E.Warming (1984, 1908, 1909), Raunkier (1905 ,1934 ) khi lập hệ thống dạng sống ông đã sử dụng những đặc điểm sinh học (đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự phát triển) Raukier (1905, 1934 ) khi phân chia dạng sống đã đưa ra nhiều bảng phân loại dạng sống của phân loại thực vật [8]
Ở Liên Xô ( cũ) việc phân loại dạng sống của các loài thực vật thuộc loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, có các tác giả: Vusotski (1915), Kazakevit (1922),
Villiams (1922), Laprenco (1935), Salut (1955)…Quan trọng nhất là công trình
Trang 29nghiên Cứu dạng sống thực vật của Dodulin (1959), Xerebriacop (1954, 1955,
Ở một số loài giá trị chăn thả hầu nhƣ không thay đổi trong suốt cả thời kì
sinh dƣỡng nhƣ: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum, Paspalum conjugatum và một số loài một năm Một số loài khác thì giá trị chăn thả giảm
dần theo thời gian, ở những loài này tuổi càng tăng thì tỷ lệ phần thân tăng và phần trăm chất xơ trong thân và lá tăng lên Lá nhiều loài trở lên cứng và sắc nhƣ
cỏ tranh, chè vè,…
Thành phần cây họ đậu trong đồng cỏ Việt Nam rất ít, một số loài trong đó
giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng nhƣ: Desmodium microphyllum Trong thành phần cỏ của một số quần xã có nhiều cây họ cói,
Trang 30những loài này lá cứng và sắc như Carex, Rhynchospora,…một vài loài khác
năng suất rất thấp [11]
- Thành phần hóa học của thực vật:
Thành phần hóa học có trong các giống cỏ tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: vật chất khô, protein, đường, chất béo và xơ Hoàng Chung và cộng sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu và theo dõi một số chỉ tiêu về thành phần hóa học của một
số loài chính trong đồng cỏ Bắc Việt Nam Kết quả được thể hiện ở bảng 1.10 [11]
Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô, protein, đường cao, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu protein được chú ý nhiều hơn cả
Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ
TT Tên khoa học Tên Việt
2 Arundinella nepalensis Cỏ xương 77,4 1,976 9,94 0,3 7,9 0,18
Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn giảm khi cỏ bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ già Khi chăn thả liên tục theo những thời gian
Trang 31liên tiếp gần nhau, giá trị dinh dưỡng ở mức tương đối cao nhưng năng suất giảm nhiều
1.3.3 Năng suất đồng cỏ
Trên thế giới việc nghiên cứu năng suất đồng cỏ được tiến hành nhiều vào thế kỉ 20 Có những nhà khoa học Ivanop (1941); Odum (1968); Rodin (1968)…đã nghiên cứu sâu về năng suât với mục đích làm sáng tỏ quá trình tích lũy vật chất hữu cơ, cũng như sự chuyển đổi sản phẩm và năng lượng trong các thực vật quần hay hệ sinh thái Nghiên cứu năng suất sinh học các thảm cỏ vùng Đông Nam Á có Iwaki và cộng sự (1964, 1969), Ogawa và cộng sự (1961)
Ở Việt Nam đến năm 1955 hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu
về năng suất đồng cỏ Từ năm 1960 đến nay nhiều công trình nghiên cứu năng suất đã được tiến hành, điển hình trên các quần xã cỏ trồng, còn nghiên cứu trên đồng cỏ tự nhiên thì chỉ nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế cao và chủ yếu tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển chăn nuôi đại gia súc ở vùng đó Và có nhiều công trình nghiên cứu về năng suất các loại cỏ trồng (chăn thả hay đồng cỏ cắt) Hoàng Chung (1981, 2004) nghiên cứu năng suất đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
1.3.4 Những nghiên cứu về động thái đồng cỏ
Những nghiên cứu về động thái của các quần xã tự nhiên đã được tiến hành
tư lâu như các tác giả vuxotski G.N (1908, 1909, 1915) và Pachoxki I.K (1917, 1921) khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự chăn thả đến thảm thực vật đã đi đên kết luận, chăn thả gia súc là một trong những yếu tố quan trọng làm thay đổi thảm thực vật trên diện tích lớn Những thí nhiệm của Lyupcaya A.F (1935), trên đồng
cỏ Nga cho thấy chăn thả có ảnh hưởng trực tiếp tới đất, qua đất đến thảm thực vật [19]
Trang 32Lavrenco F.M (1938, 1940) khi nghiên cứu về sự biến đổi của thảm cỏ trong quá trình chăn thả đã đề nghị chia những biến đổi của thực vật trong đồng cỏ thành những thay đổi hàng năm và những thay đổi lâu năm Đối với những đồng
cỏ chăn thả, những thay đổi ngắn hạn là quan trọng nhất [19]
Xennhicop A.P (1941) đã phát hiện những động thái mùa của thảm thực vật
và chia thành 7 giai đoạn phát triển nối liên với các thời kỳ ra hoa kết quả của một số cây cố định Khi nghiên cứu sự thay đổi của các trạng thái vật hậu học của các cấu tử trong đồng cỏ và sự biến đổi cấu trúc của thảm cỏ, ông đã chia ra thành 8 giai đoạn biến động mua trong chu kỳ 1 năm của đồng cỏ
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt cỏ đến thành phần loài thực vật Dmitriep (1948) cho thấy nếu nhiều năm cắt cỏ vào đúng thời gian ra hoa của cỏ
sẽ làm thay đổi lớn loài thực vật trong đồng cỏ [19]
Trong quá trình nghiên cứu nhiều tác giả hoặc chỉ đề cập tới khối lượng phần trên mặt đất như Kalinnina (1954), Xemennova-Chian-Xanskia (1960); Xemennova – Chian –Xanskia và Nhiconskaia (1960)… Hoặc là nghiên cứu quá trình mọc của rễ Barannopskaja (1954); Krưm (1964), Kharitonop (1967); Garwood (1968); Ponhiatopskaia (1968) [8]
Larin I.V (1965) khi nghiên cứu động thái thảm thực vật đồng cỏ ở miền tây Cazacstan đã đưa ra 2 nhóm yếu tố làm thảm thực vật thay đổi là: động thái ngoài và động thái trong [19]
Hoàng Chung (1974), Uchenkhin (1977) đã nghiên cứu về biến động mùa của từng loài riêng biệt trong quần xã cho cả 2 phần trên và dưới đất và đã nhóm lại thành các kiểu hình theo phân bố không gian và thời gian Một tính chất quan trọng của quần xã thực vật có liên quan mật thiết với cấu trúc không gian và thời gian là năng suất Đồng thời nó là vấn đề tích lũy và động thái của
Trang 33các phần sống và phần chết của thực vật thuộc thảo, đặc biệt là trong thảo nguyên đồng cỏ, nó có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu không chỉ thảm thực vật
mà cả quá trình mùn hóa, quá trình tích lũy và phân hủy các chất hữu cơ [8]
Hoàng Chung (2000) đã nghiên cứu biến động mùa quần xã cỏ miền Bắc Việt Nam Công trình này của ông đã bắt đầu nghiên cứu từ năm 1975 đã đề cập khá đầy đủ về nhưng chỉ tiêu khí hậu, đất đai phần trên mặt đất và phần dưới đất
và đã đi đến kết luận thực vật đồng cỏ miền Bắc Việt Nam là xanh quanh năm, biến động khối lượng quan hệ mật thiết với khí hậu, đặc biệt là độ ẩm của đất Cuối cùng đã nêu nên được quy luật động thái của đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam [8]
1.4 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả
Đồng cỏ bị thay đổi dưới tác động thương xuyên của con người, vì đồng
cỏ đã và luôn luôn là đối tượng hoạt động kinh tê nông nghiệp của con người Ngày nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hóa của các đồng cỏ chăn thả, cũng như các thảo nguyên ở các vùng khác nhau
Ở Liên Bang Nga đã tích lũy khá nhiều tư liệu của đới thảo nguyên và bán hoang mạc G.I.Vuxotsky (1915), ông đã xác định được 4 giai đoạn thoái hóa của thực bì thảo nguyên dưới tác động của chăn thả Patrotski (1917) nghiên cứu
đới nam của thảo nguyên Stypa longifolia, ông lại chia thành 5 giai đoạn thoái
hóa, trong đó có cả giai đoạn chăn thả và giai đoạn không chăn thả được
V.V.Alekhin (1934) nghiên cứu ở vùng Kursk thuộc đới phụ (phía bắc) của thảo nguyên đồng cỏ đã xác định những giai đoạn thoái hóa do chăn thả
Trang 34Andreev (1958) khi nghiên cứu các giai đoạn hình thành và thoái hóa của thực bì thảo nguyên ở nam Nga đã chia thành 8 giai đoạn, giai đoạn đầu là sự chặt hạ và cuối cùng là sự hình thành thảm bào tử thực vật
Abramtruk (1980) để đánh giá mức độ thoái hóa của quần xã cỏ do tác động của con người, đã sử dụng mức độ tham gia của của các loài gần người (số lượng loài, độ nhiều) trong thành phần của chúng Để thực hiện được các ông đã đưa ra thang bậc gồm 3 mức Sự khác nhau giữa mức phụ thuộc vào mức
độ thoái hóa do con người tạo ra Đồng cỏ vùng nhiệt đới thoái hóa dưới tác động của các yếu tố con người tạo ra, từ lâu đã trở thành vấn đề nóng bỏng cho nên kinh tế và cho chăn nuôi của sứ nhiệt đới Nhưng những nghiên cứu về vấn
đề này cho đến nay còn ít Cooper I.P, Taiton N.M và Pleming G (1968), Dương Hữu Thời (1981) …
Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã được hình thành do kết quả tác động lâu dài của con người Đặc biệt trong khi hậu nhiệt đới Đồng thời đồng cỏ lại phân bố chủ yếu ở vùng núi, sườn có độ dốc khá lớn, do đó vấn đề thoái hóa của đồng cỏ trong quá trình sử dụng là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các nhà nghiên cứu đồng cỏ Việt Nam
Những nghiên cứu về thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam cho
cập tới hai nguyên nhân của thoái hóa đồng cỏ Bắc Việt Nam đó là cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu [24] Hoàng Chung (1981, 1983) đã phân tích ảnh hưởng của chăn thả không kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ vùng thôm Luông (Ngân Sơn) ông thấy những tác động
do con người trên lớp phủ thực vật vùng nhiệt đới bước đầu đã dẫn tới sự hình
Trang 35thành thực bì cỏ, một trong số các loại hình thứ sinh Sau đó do chăn thả và các động khác nhau đã làm cho đồng cỏ bị thoái hóa dần và biểu thị ra 5 giai đoạn của thoái hóa, cuối cùng của nó đó là trên mảnh đất của đồng cỏ sẽ xuất hiện savan cây bụi hay savan cỏ (hay một kiểu thảm thứ sinh nào đó của cây bụi rồi tiến tới rừng)
1.4.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam trước đây do hoạt động khai phá rừng ngày càng tăng lên, diện tích đồng cỏ ngày càng mở rộng Hiện nay đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, như làm bãi chăn thả, trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng …Trong thực tế tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục đích chăn nuôi phần lớn chưa có phương thức sử dụng hợp lý, khai thác một cách nặng nề làm cho thảm cỏ ngày càng bị thoái hóa Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ cũng được đề cập đến trong thời kỳ này, nhưng cho đến nay vấn đề này còn là mới mẻ, tài liệu còn quá ít
Những công trình nghiên cứu dành cho vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ rải rác ở một số công trình: Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn Minh (1968) có nghiên cứu
về sử dụng luân phiên đồng cỏ ở Ba Vì, và có đề nghị chia thành 6 ô, mùa hè sử dụng 5 ô Trong một đàn gia súc số lượng lên là 100 - 150 con, diện tích đồng
Trang 36Vấn đề cải tạo đồng cỏ có Võ Văn Trị (1968) tiến hành dùng phân vô cơ bón cho đồng cỏ Ba vì và ông thấy đạt kết quả tốt trong điều kiện độ ẩm đất cao
Trần Nhơn (1981) cũng thí nhiệm trong một số loài cỏ nhập nội đạt kết quả tốt
Nguyễn Nghi, Phan Văn Lợi, Trần Công Xuân (1982), Nguyễn Văn Thưởng (1977) cũng thu được kết quả tốt như trồng cây hỗn hợp cỏ hoa thảo với
do chăn thả, hay những tác động khác làm giảm sút thảm cỏ
1.5 Các loại thức ăn và đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn cho bò
1.5.1 Các loại thức ăn
1.5.1.1 Thức ăn thô
Thức ăn thô là những thức ăn chứa ít chất dinh dưỡng trong một đơn vị thể tích Chúng thường là những thức ăn có khối lượng và thể tích lớn, cồng kềnh chứa nhiều chất xơ, ít protein, tỷ lệ tiêu hóa dao động từ thấp đến vừa phải Thức
ăn thô gồm cỏ tự nhiên (cỏ tự nhiên cắt dọc bờ sông, bờ đê, bãi đất hoang… ), cỏ
trồng (Pennisetum purpureum, Trisacum laxum, Brachiaria ruziziensis…), các
loại cây thức ăn khác như cây ngô…Thức ăn thô cũng bao gồm các dạng cỏ khô, cây cỏ ủ chua
1.5.1.2 Thức ăn tinh
Trang 37Người ta gọi thức ăn tinh vì chúng chứa nhiều chất dinh dưỡng trong một đơn vị thể tích Nhóm thức ăn này bao gồm:
- Các loại hạt ngũ cốc (ngô) có hàm lượng cacborhydrate cao, hạt các cây
họ đậu (đậu tương) có hàm lượng protein cao
- Các phụ phẩm sau khi ép dầu các loại hạt (khô dầu đậu tương, khô dầu hạt bông,…) có hàm lượng protein cao
- Các phế phụ phẩm của công nghiệp chế biến ngũ cốc làm thức ăn cho con người (cám gạo, cám mì, bã bia, rỉ mật mía,…) có hàm lượng cacbohydate cao Các loại bột có nguồn gốc động vật hoặc có nguồn gốc từ thủy hải sản (bột cá) có hàm lượng protein cao
1.5.2 Đặc điểm, thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn
1.5.2.1 Cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo có ưu điểm là sinh trương nhanh, năng suất cao nhưng nhược điểm cơ bản là hàm lượng xơ cũng tăng nhanh khi cây cỏ già, do đó giá trị dinh dưỡng theo đó cũng giảm nhanh
Lượng protein thô tính trong chất khô của hòa thảo ở nước ta trung bình 9,8 % (75 – 145 g/kg chất khô) Khoáng đa lượng và khoáng vi lượng đều thấp,
Trang 38đặc biệt là nghèo canxi và photpho Trong 1 kg chất khô, lượng khoáng trung bình ở cỏ hòa thảo là Ca: 4,7 ± 0,4g; P: 2,6 ± 0,1g; Mg: 2,0 ± 0,1g; K: 19,5 ± 0,7g; Zn: 24 ± 1,8mg; Mn: 110 ± 9,9mg; Cu: 8,3 ± 0,07mg; Fe: 450 ± 45mg
Một số giống cỏ hòa thảo chính:
- Cỏ voi (Pennisetum purpureum Schumach): Cỏ voi có nguồn gốc ở Nam Phi, phân bố rộng rãi ở các nước trên thế giới Cỏ voi là cỏ lâu năm, thân đứng
có thể cao 4 – 6m, thuộc nhóm cây tổng hợp chuỗi 4 cacbon có khả năng thâm canh cao Trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 25 – 30 tấn chất khô/ha; một năm cắt 6- 7 lứa Đôi khi có thể đạt năng suất cao hơn nếu đáp ứng đủ phân bón và nước Hàm lượng Protein thô đạt tới 127g/kg chất khô, lượng đường trung bình
70 – 80 g/kg chất khô
- Cỏ Ghine (Panicum maximum jacq): có nguồn gốc ở châu Phi nhiệt đới, khả năng chịu hạn tốt, thích hợp với nhiều loại đất Cỏ thu hoạch 6 – 7 lứa/năm với năng suất từ 10 – 14 tấn chất khô/ha, có thể trồng để chăn thả hay thu cắt cho
ăn tại chuồng Nếu thu hoạch ở 30 ngày tuổi giá trị dinh dưỡng cao (139 g protein thô, 303 g chất xơ và 1920 – 2000 kcal/kg chất khô)
Cỏ Ghine nhanh ra ra hoa và ra hoa nhiều lần trong năm, vì vậy nếu để cỏ già giá trị dinh dưỡng giảm mạnh
1.5.2.2 Cây họ đậu
Đậu đỗ thức ăn nước ta thường giàu protein, vitamin, khoáng Ca, Mg, Mn,
Zn, Cu, Fe, nhưng ít photpho, kali hơn họ hòa thảo Tuy vậy, hàm lượng protein thô ở thân lá cây đậu đỗ trung bình 167 g/kg chất khô, xấp xỉ giá trị trung bình của đậu đỗ nhiệt đới ( 175g/kg chất khô), hàm lượng chất khô 200 – 260 g/kg thức ăn, giá trị năng lượng cao hơn cỏ hòa thảo [31]
1.5.2.3 Cây trồng khác
Trang 39Bao gồm rơm, thân cây ngô già, cây lạc,… loại thức ăn này thường có hàm lượng xơ cao (20 – 35 % tính trong chất khô) và tương đối ngèo chất dinh dưỡng
- Rơm (Oryza sativa L): rơm thường chứa ít chất dinh dưỡng, hàm lượng
protein có khoảng 2 - 3 %, chất béo từ 1 – 2 %, vitamin và khoáng thường cũng nghèo nhưng xơ cao (từ 31 – 32%) song nó rất cần cho gia súc khi cỏ tươi và cỏ khô ít hoặc không có Bởi vậy, rơm là nguồn thức ăn cần thiết cho trâu bò vào mùa cây cỏ xanh hiếm
- Ngô ( Zea mays L): trong 1 kg thân lá ngô đã thu bắp có 600 – 700 g chất
khô, 60 – 70 g protein, 280 – 300 g xơ Năng suất chất xanh của ngô thường thay đổi tùy theo mục đích sử dụng và mật độ reo trồng Nếu thu hoạch làm thức ăn xanh sau 40 – 50 ngày cho năng suất 12,6 tấn/ha Sau 4 – 5 tháng cho 25 – 40 tấn /ha và nếu đất tốt tới 100 – 200 tấn/ha xanh hay hơn, nhưng ở vùng nhiệt đới nằm trong khoảng 8 – 70 tấn/ha xanh hay 2 – 20 tấn chất khô/ha [25]
- Cây lá lạc (Arachis hypogea L): Khi thu hoạch lạc củ, cây lá vẫn còn
xanh và giàu chất dinh dưỡng, tỷ lệ protein từ 15 – 16 % Bình quân một sào lạc
có thể thu 300 – 400 kg thân, lá Đây là nguồn thức ăn lớn có giá trị cho vật nuôi,
có thể phơi khô, nghiền nhỏ kết hợp với các loại thức ăn khác để chăn nuôi lợn,
có thể ủ chua hoặc sử dụng tươi cho đàn trâu bò
Tóm lại: Chăn nuôi là ngành kinh tế ngày càng chiếm tỷ trong cao Để
phát triển chăn nuôi cần phải nghiên cứu đồng cỏ và cây thức ăn gia súc để đáp ứng nhu cầu thức ăn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngày nay, ngoài nghiên cứu đồng cỏ người ta còn tập trung vào việc tạo giống cỏ, nâng cao năng suất và chất lượng cỏ Việt Nam nghiên cứu về đồng cỏ và cây thức ăn gia súc có chậm hơn các nước, hiện đang tập trung vào việc tạo ra các
Trang 40đồng cỏ có hiệu quả cao, các mô hình sử dụng hiệu quả cao, bền vững cho từng vùng, tận dụng tối đa lợi thế khí hậu và đất đai