1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

98 637 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cỏ còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thái Nguyên - năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS HOÀNG CHUNG

Thái Nguyên - năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Chung - Người thầy đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên trong khoa và các cán bộ, nhân viên của Viện Khoa học sự sống - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các vị lãnh đạo và cán bộ của Ủy ban nhân dân hai xã La Hiên và Tràng Xá, Uỷ ban nhân dân huyện Võ Nhai – Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, khích lệ, động viên, tạo điều kiện của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Thị Hảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ một công trình khác nào

Tác giả

Nguyễn Thị Hảo

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở nước ta 6

1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 12

1.3 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 14

1.3.1 Nghiên cứu về thành phần loài 14

1.3.2 Nghiên cứu về năng suất 15

1.3.3 Nghiên cứu về chất lượng cỏ 16

1.4 Vấn đề sử dụng và thoái hóa đồng cỏ 18

1.5 Các loại thức ăn và đặc điểm thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn cho bò 20

1.5.1 Các loại thức ăn 20

1.5.2 Đặc điểm, thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn 21

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đặc điểm tự nhiên - xã hội huyện Võ Nhai 25

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 29

2.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã La Hiên 30

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 30

2.2.2 Đặc điểm xã hội 31

2.3 Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã Tràng Xá 32

Trang 7

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên 32

2.3.2 Đặc điểm xã hội 33

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đối tượng, địa điểm và nội dung nghiên cứu 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu 35

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 35

3.2.2 Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 38

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Thực trạng nguồn thức ăn gia súc tại các xã của huyện Võ Nhai 48

4.1.1 Tình hình khai thác và sử dụng đất tại các xã của huyện Võ Nhai 48

4.1.2 Các thảm cỏ tự nhiên trong vùng nghiên cứu 52

4.1.3 Các thảm cỏ trồng trong vùng nghiên cứu 75

4.2 Thực trạng về khai thác thức ăn gia súc hiện nay tại huyện Võ Nhai 79

4.2.1 Thực trạng về khai thác 79

4.2.2 Đánh giá chung và đề xuất phương hướng 81

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 83

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1.1: Số lượng và phân bố đàn trâu trên thế giới 3

Bảng 1.2: Số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới 4

Bảng 1.3: Lượng thịt bò sản xuất trên thế giới 4

Bảng 1.4: Lượng sữa sản xuất trên thế giới 5

Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua 6

Bảng 1.6: Số lượng bò sữa và sản lượng sữa ở Việt Nam kể từ năm 1990 7

Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua 8

Bảng 1.8: Sản lượng vật chất khô và chất lượng những loài cỏ trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt 11

Bảng 1.9: Sản lượng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày 11

Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ 18

Bảng 2.1: Khí tượng thuỷ văn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên 26

Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất xã La Hiên tính đến ngày 1/1/2010 48

Bảng 4.2: Thực trạng sử dụng đất xã Tràng Xá tính đến ngày 1/1/2010 50

Bảng 4.3: Thành phần loài tại các điểm nghiên cứu 52

Bảng 4.4: Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên tại các điểm nghiên cứu 64

Bảng 4.5: Sinh khối của thảm cỏ tại xã La Hiên (g/m2) 71

Bảng 4.6: Sinh khối của thảm cỏ tại xóm Khuôn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m2) 71

Bảng 4.7: Sinh khối của đồi cỏ tại xóm Khuôn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m2) 72

Bảng 4.8: Thành phần hóa học của một số loài cỏ chính 73

Bảng 4.9: Kết quả phân tích mẫu đất tại các bãi chăn thả 75

Bảng 4.10: Năng suất cỏ trồng tại các điểm nghiên cứu 76

Bảng 4.11: Kết quả phân tích mẫu đất tại khu vực trồng cỏ 77

Bảng 4.12: Thành phần hóa học của cỏ Voi tại các điểm nghiên cứu 78

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một nước nông nghiệp trong đó chăn nuôi gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu, thỏ là nghề truyền thống lâu đời của nông dân nước ta Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm Muốn phát triển chăn nuôi gia súc thì thức ăn là vấn đề rất quan trọng, quyết định sự thành bại của ngành chăn nuôi ở các địa phương Thức ăn thô xanh là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho gia súc ăn cỏ, nhưng hiện nay nguồn thức ăn cơ bản vẫn là tận dụng cỏ tự nhiên và phụ phẩm trong nông nghiệp Đồng cỏ thâ m canh còn rất nhỏ bé Muốn phát triển chăn nuôi gia súc bắt buộc phải phát triển mạnh đồng cỏ Vấn đề này còn chưa được chú ý nhiều trong tiềm thức của người chăn nuôi

Đồng cỏ Việt Nam chủ yếu là loại hình thứ sinh do sự tàn phá của các loại rừng sinh ra Tuỳ theo mức độ bị tác động hàng ngày của con người và gia súc mà nó biểu hiện ở các trạng thái khác nhau Xu thế chung là ngày càng bị thoái hóa về mọi mặt, một số bãi chăn thả trở thành đất trống, đồi trọc không còn khả năng khai thác làm ảnh hưởng lớn đến việc tăng trưởng

số lượng và chất lượng đàn gia súc, cũng như sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung Đồng cỏ trồng của ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng đất dư thừa, hiệu quả đem lại chưa cao, chưa thành phổ biến đại trà

Võ Nhai là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu, đất ruộng ít, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu trong

đó có chăn nuôi gia súc nhưng thu nhập từ chăn nuôi còn rất thấp Vì vậy, công tác nghiên cứu về thực trạng, hình thức và mức độ sử dụng các thảm cỏ nhằm phục vụ cho chăn nuôi là hết sức cần thiết Để góp phần làm sáng tỏ thực trạng hiện nay về việc khai thác, sử dụng các thảm cỏ tự nhiên và cỏ trồng tại địa

Trang 10

phương, hiệu quả kinh tế của các mô hình chăn nuôi hiện có, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã

La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Điều tra về khí hậu, đất đai, thuỷ văn, thực trạng các thảm thực vật tự nhiên và cây trồng phục vụ cho chăn nuôi Từ đó đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng thức ăn cho gia súc của địa phương

- Đánh giá một số mô hình khai thác thức ăn, sơ bộ cho biết hiệu quả kinh tế của từng mô hình đó Đề xuất mô hình sử dụng hợp lý (trồng cây cỏ loại nào) và phương hướng phát triển cho địa phương

3 Đóng góp mới của đề tài

- Xác định được thực trạng, tình hình và mức độ sử dụng các thảm cỏ phục vụ cho chăn nuôi trong một số vùng sinh thái hiện nay

- Xác định được hiệu quả của một số mô hình chăn nuôi

- Đề xuất khả năng phát triển chăn nuôi tại vùng nghiên cứu và mô hình

sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên thế giới

Trâu bò được thuần hóa cách đây khoảng 8 - 10 ngàn năm và từ đó đến nay ngành chăn nuôi trâu bò đã không ngừng phát triển và được phân bố khắp thế giới Chăn nuôi trâu bò là cách đơn giản để người dân địa phương khai thác đất đai nhằm sản xuất thịt, sữa, sức kéo, phân bón và một số sản phẩm khác

Bảng 1.1: Số lượng và phân bố đàn trâu trên thế giới

(Đơn vị: nghìn con)

Châu Phi 1 617 2 204 2 429 2 800 3 200 3 920Châu Á 91 925 109 855 132 492 145 769 162 728 168 594

Nam Mỹ 82 267 882 1 651 1 150 1 095Châu Đại Dương 0,5 0,4 0,2 0,2 0,1 0,1

(Nguồn: FAO Statistic - 2006)

Ta thấy trâu chủ yếu tập trung ở các nước nhiệt đới châu Á với số lượng không ngừng tăng Sau đó là ở châu Phi và ít nhất là ở châu Đại Dương

Trong khi đó đàn bò có xu hướng ổn định về số lượng đầu con và phân

bố khá đều ở khắp thế giới Bảng 1.2 cho thấy số lượng và phân bố đàn bò trên thế giới

Trang 12

Bảng 1.2: Số lƣợng và phân bố đàn bò trên thế giới

(Đơn vị: triệu con)

Châu Phi 133,8 155,7 175,4 192,7 201,2 241,7Châu Á 328,7 343,9 374,2 424,2 444,1 455,4Châu Âu 116,9 133,9 132,8 107,4 105,9 131,2Bắc và Trung Mỹ 157,9 190,0 173,9 165,7 160,19 163,9Nam Mỹ 158,0 211,9 250,6 294,5 297,8 342,0Châu Đại Dương 26,0 42,7 31,3 35,8 37,3 27,7

(Nguồn: FAO Statistic - 2005)

Ngành chăn nuôi bò thịt chuyên dụng đã phát triển trên thế giới từ đầu thế kỉ XVIII Bảng 1.3 cho thấy lượng thịt bò sản xuất trên thế giới trong mấy thập kỷ gần đây

Bảng 1.3: Lƣợng thịt bò sản xuất trên thế giới

(Đơn vị: triệu tấn)

Châu Phi 2,2 2,6 3,4 3,6 4,3 4,8Châu Á 3,1 4,2 5,8 10,6 12,8 14,3Châu Âu 7,0 10,2 11,1 9,5 8,8 8,7Bắc và Trung Mỹ 10,7 13,5 13,5 14,5 15,5 15,1Nam Mỹ 4,8 6,2 8,2 10,6 11,8 12,8Châu Đại Dương 1,3 2,1 1,8 2,4 2,6 2,8

(Nguồn: FAO Statistics - 2004)

Hiện nay ở các nước phát triển chăn nuôi bò thịt chủ yếu dựa vào các

hệ thống thâm canh nuôi bò non (6 đến 30 tháng tuổi) và vỗ béo bằng các

Trang 13

khẩu phần cao năng lượng Trong khi đó, chăn nuôi bò thịt ở các nước đang phát triển, trừ Achentina, Brazil và Mehico, chủ yếu là các hệ thống chăn nuôi quảng canh

Phương thức chăn nuôi bò sữa thay đổi tùy theo điều kiện và tập quán của từng nước Các nước châu Âu và Bắc Mỹ có ngành chăn nuôi bò sữa theo hướng chuyên dụng Hệ thống chủ yếu là bãi chăn - chuồng nuôi với việc sử dụng rộng rãi đồng cỏ lâu năm, mùa hè chủ yếu dựa vào chăn thả trên đồng

cỏ, còn mùa đông dùng nhiều thức ăn tại chuồng (cỏ ủ xanh, cỏ khô, thức ăn tinh) Các nước phát triển ở châu Âu, Bắc Mỹ và châu Đại Dương sản xuất tới 68% sản lượng sữa của thế giới với năng suất sữa bình quân cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển Phần lớn ngành chăn nuôi bò sữa ở các nước đang phát triển thuộc về các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ Số trang trại nuôi bò sữa ở các nước phát triển có xu hướng giảm xuống, trong khi đó số hộ chăn nuôi bò sữa ở các nước đang phát triển có xu hướng ổn định

Bảng 1.4: Lƣợng sữa sản xuất trên thế giới

(Đơn vị: triệu tấn)

Châu Phi 11,5 14,1 18,5 22,2 27,2 28,7Châu Á 45,0 58,1 89,1 128,5 159,2 172,4Châu Âu 136,5 156,7 181,7 159,9 161,9 160,7Bắc và Trung Mỹ 69,2 69,4 832 90,0 97,4 99,3Nam Mỹ 16,8 22,6 27,4 40,4 44,9 46,5Châu Đại Dương 13,0 12,9 14,2 17,8 23,5 25,1

(Nguồn: FAO Statistics - 2004)

Về chăn nuôi trâu bò cày kéo ước tính có tới 2 tỷ người trên thế giới đang phụ thuộc vào sức kéo của gia súc để làm đất, vận chuyển hàng hóa và

Trang 14

các lao tác khác Trâu bò lao tác không chỉ là phương tiện sống cho hàng triệ u gia đình mà còn đóng góp vào các hệ thống sản xuất được chấp nhận cả về mặt xã hội trên thế giới Theo ước tính hiện có khoảng 250 triệu gia súc lao tác thuộc các loài khác nhau, trong đó chủ yếu là trâu bò Trâu bò ở rất nhiều nơi trên thế giới được dùng kiêm dụng kết hợp cày kéo với sinh sản, khai thác thịt hay sữa

1.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở nước ta

Về truyền thống chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi

bò địa phương kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp Ngày nay, trong khi đàn trâu bò cày kéo có xu hướng giả m thì chăn nuôi trâu bò theo hướng lấy thịt đang ngày càng phát triển mạnh hơn

để đáp ứng nhu cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân Bảng 1.5 cho thấy diễn biến đàn trâu bò qua một số năm gần đây ở nước ta

Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua

(Nguồn: FAO Statistics - 2008)

Nhờ mức sống của người dân ngày càng được nâng cao nên nhu cầu tiêu thụ thịt trâu và thịt bò ngày càng tăng, giá thịt trâu bò cũng như giá con giống đang tăng lên nhanh chóng Điều đó đang thúc đẩy và là cơ hội để ngành chăn nuôi trâu bò thịt trong nước phát triển

Trang 15

Về chăn nuôi trâu bò sữa, nước ta vốn không có truyền thống nên không có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào mà đều là giống nhập nội hoặc lai tạo Theo tài liệu Cục Nông nghiệp (2003), trong tổng đàn

bò sữa hiện có, trên 75% tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An…, khoảng 20% ở các tỉnh phía Bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2% ở Tây Nguyên Hiện tại, trong cơ cấu giống đàn bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm khoảng 10% và bò lai chiếm khoảng 90% Chăn nuôi bò sữa hiện tại chủ yếu là các hộ gia đình (95%), ngoài ra có một số ít cơ sở chăn nuôi Nhà nước và liên doanh Số lượng bò sữa và sản lượng sữa được thể hiện trong bảng 1.6

(Nguồn: Cục Nông nghiệp - 2008)

Ngoài ra, trâu bò còn được sử dụng để cày kéo Gần đây do sự thu hẹp đất đai canh tác, do có cơ giới hóa một phần các hoạt động nông nghiệp nên nhu cầu về trâu bò cày kéo có xu hướng giảm, thể hiện qua sự giảm về đầu con trâu bò cày kéo trong những năm qua Tuy vậy, ngày nay công việc là m đất nặng nhọc vẫn thu hút gần 70% trâu và 40% bò trong toàn quốc, đáp ứng khoảng trên 70% sức kéo trong nông nghiệp Số lượng trâu bò cày kéo được trình bày trong bảng 1.7

Trang 16

Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua

( Nguồn: Cục Nông nghiệp - 2003)

1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam

Cây thức ăn xanh bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây cỏ hòa thảo, cây đậu, cây thân thảo hay thân gỗ mà có thể được sử dụng là m thức ăn cho gia súc Những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại [1]

Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có khả năng sử dụng và hấp thụ tốt Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ không những rất cần thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của trâu bò Ví dụ: nếu tỉ lệ đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4:1 [2] Cỏ còn

là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa

kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng một lần mà

sử dụng được nhiều năm [12]

Họ hòa thảo quan trọng không những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỉ lệ cao trong số thực vật trên đồng cỏ, mà còn có giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng hydratcacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao hụt

Trang 17

khi thu hoạch Các cây họ đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm thức ăn gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao, nhất là lượng prôtêin và khoáng thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ sung [26]

Theo Meilroy (1972) cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau [37]:

- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lầ n thu hoạch

- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới

- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao

- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất

- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân hủy từ dưới

Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân tố sau để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và

cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng

1.2.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn

đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin,… Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này

Trang 18

Ở Thái Lan, với 70% dân số làm việc liên quan đến sản xuất nông nghiệp, trong khi đó sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng

Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực

phía Nam Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống Brachiaria Pennisetum, cỏ Stylo…sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hằng năm còn sả n

xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước [28]

Một số nước khác như Malaysia, Lào,…cũng đã chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một số giống

cỏ Hòa thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hằng năm sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại

Như vậy, có thể thấy phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển

Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống

cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ

Hai giống cỏ là cỏ đắng (Paspalum atratum) và Paspalum plicatulum là những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan [34]

Ở Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum

khoảng từ 15-20, 18-25, 9-15 và 6-10 tấn/ha được trình bày trong bảng 1.8

Trang 19

Bảng 1.8: Sản lƣợng vật chất khô và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng

đất thấp vào 45 ngày cắt

( Nguồn: Division of Animal Nutrision, Anon - 2000)

Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan)

cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/1ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày [35] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.9

Bảng 1.9: Sản lƣợng VCK của cỏ Ghinê tía cắt sau 30 ngày

Trang 20

Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978), giống Brachiaria decumbens

có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt

36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria mutica) và Ghinê (Panicum maximum) [36]

Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên cứu của

Riveros và Wilson (1970) [39] tại Redlanbay, Queensland, thông báo năng suất đạt từ 23.500-28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện

cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm /ha/năm trên nền đất đỏ bazan màu mỡ

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam

Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưa nhiều Những năm gần đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:

Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình và các cộng sự (1999), [21]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001), [27] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:

+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám tỉnh Bình Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ ha/ năm Lượng

phân đạm bón từ 60 – 90 kg N /ha /năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum TD58 đạt 64,59 – 83,33 tấn /ha /năm Tỷ lệ lá cao 51,48 –

60,44%, năng suất hạt 287-323 kg /ha /năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp

Trang 21

100 tấn /ha/năm Cỏ Ghi nê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha,

tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%

Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 khá cao, khả

năng sử dụng của gia súc đều tốt từ 86 – 100%

Ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45-1,82 cm/ ngày

Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD 58 có tốc

độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày) [22]

Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh (2004), đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90-179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93- 138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17-18,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo băng; 28,5-36,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo đường đi

Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006), tại Mai Sơn - Sơn La đã tiế n hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1 -2 lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ 100 tấn – 120 tấn ha [13]

Diện tích trồng cỏ của cả nước hiện nay chỉ đáp ứng được 7,6% nhu cầu thức ăn thô xanh của gia súc ăn cỏ Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này do các địa phương chưa quy hoạch đất trồng cỏ, chưa khai thác hết diện tích đất chưa sử dụng và chưa mạnh dạn chuyền đổi một phần đất nông nghiệp sang trồng cỏ thâm canh Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhấn mạnh ngành chăn nuôi phải có sự điều chỉnh cơ cấu chiến lược, cụ thể là đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ được coi là hướng

Trang 22

chính Muốn vậy cần có sự chuyển biến mạnh và đột phá trong khâu thức ăn Đối với những vùng phát triển mạnh chăn nuôi gia súc ăn cỏ , cỏ phải được coi là cây trồng chính và trồng cỏ phải được coi là hướng chuyển dịch hướng tới thâm canh

1.3 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên

1.3.1 Nghiên cứu về thành phần loài

Nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Người ta có thể nghiên cứu thành phần loài ở từng vùng hay trên từng thảm thực vật khác nhau Đối với loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, ở Liên Xô (cũ), có nhiều nghiên cứu về thành phần loài thực vật trong đồng cỏ, thảo nguyên đã công bố như: Alekhin (1904), Vưsotxki (1915), Graxits (1927), Sennhicop (1938), Creepva (1978),… Nói chung, theo các tác giả thì ở mỗi một vùng sinh thái xác định sẽ hình thành các thảm thực vật đặc trưng, cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là thành phần loài và dạng sống, đó là chỉ tiêu quan trọng của các công trình nghiên cứu về thực vật

Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài trong đồng cỏ, savan hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm

1950 trở về đây Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài trong đồng cỏ như:

Các tác giả: Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964), đã nghiên cứu thành phần loài của thảm thực vật ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) đã gọi loại hình này là savan cỏ [18]

Dương Hữu Thời, Nguyễn Ngọc Chất, Hoàng Chung, Phạm Quang Anh (1969), khi nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn) đã gọi đây là đồng cỏ [29]

Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ,

Trang 23

savan, thảo nguyên Tác giả đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ và 44 chi Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam” năm 2004 là 79 họ, 402 loài [11]

Dương Hữu Thời (1981) đã công bố công trình “Đồng cỏ Bắc Việt Nam”, tác giả đã đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ của vùng này với sự phân chia 5 vùng đồng cỏ Bắc Việt Nam [30]

Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997), nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [14]…

1.3.2 Nghiên cứu về năng suất

Vấn đề nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã bắt đầu từ thế kỉ XIX, ban đầu chủ yếu là những công trình nghiên cứu có tính chất thống kê trong nông nghiệp Sang đầu thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ cho chăn nuôi đã được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên nhiều kiểu đất khác nhau

Cuối thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục…

Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành cùng với phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó của các kiểu thực bì khác nhau: Salưt (1950), Andreev, Lapverenko và Leonchiev (1955); Badilevich (1958), Xưrokomskaia và Ponhiatopkaia (1960), Xemen-Nova-Chiansianskaia (1966), Alekxenko (1967), Hoàng Chung (1974), Uchekhin (1977)… Nghiên cứu riêng phần trên mặt đất có các tác giả: Kalininna (1954); Xemennôva-Chian-Sanskia (1966)…

Trang 24

Nghiên cứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Xemennop và Chian - Sanskia (1966); Kharitonôp (1967); IgonachenKo, Kirillova và Ponhiatopskaia (1968); Hoàng Chung (1980)

Ivannop (1941), Odum (1968) và Rodin (1968); Mantranop và Siminop (1967)… có những công trình nghiên cứu quá trình tích lũy vật chất hữu cơ, cũng như sự chuyển đổi sản phẩm là năng lượng trong các thực vật quần hay

hệ sinh thái Nhật Bản có các công trình nghiên cứu về năng suất sinh học của các thảm cỏ của các tác giả như: Iwaka (1979); Ogawa và cộng sự (1961); Iwaki và cộng sự (1964,1966) Tại Thái Lan, Ấn Độ đã có một số nghiên cứu

về năng suất của các quần xã cỏ trong rừng thường xanh vùng ôn đới

Ở Việt Nam, đến 1955 hầu như không có công trình nào nghiên cứu về năng suất đồng cỏ Từ 1960 đến nay nhiều công trình nghiên cứu về năng suất

đã được tiến hành trong các quần xã cỏ tự nhiên và cỏ trồng (chăn thả hay đồng cỏ cắt) Dương Hữu Thời (1981); Nguyễn Hữu Hiến (1985),… chỉ nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế cao trên đồng cỏ tự nhiên và chủ yếu tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển chăn nuôi đại gia súc của một số vùng đó Hoàng Chung (2004) đã tiến hành nghiên cứu năng suất các quần xã cỏ của vùng Việt Bắc và vùng Tây Bắc trên hai đai (nhiệt đới và á nhiệt đới) Trong những công trình nghiên cứu của ông

đã đề cập đến những chỉ tiêu về khí hậu, thổ nhưỡng, phần trên mặt đất, phần dưới mặt đất và đi đến kết luận về quy luật biến đổi năng suất trên đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam: “ Trong các điều kiện thảm thực vật (savan - đồng cỏ) của Bắc Việt Nam, năng suất sinh vật học giảm dần dần theo trình tự sau: Đồng cỏ á thảo nguyên - Đồng cỏ - Savan cỏ” [10]

1.3.3 Nghiên cứu về chất lượng cỏ

- Độ ăn được:

Những loài trong đồng cỏ Việt Nam có giá trị chăn thả khá tốt, thành phần loài thì trên 95% là thuộc nhóm hòa thảo, trong đồng cỏ tồn tại một số

Trang 25

loài cây bụi và cây thuộc thảo khác, phần lớn những loài này cũng được gia súc ăn Tuy nhiên, giá trị chăn thả của đồng cỏ cũng thay đổi theo thời gian và theo từng kiểu thảm, điều này có quan hệ mật thiết với đặc điểm sinh thái, với các giai đoạn sinh trưởng, với thành phần thực vật, với chiều cao thảm cỏ và thành phần hóa học của nó cùng các hình thức tác động của con người vào thảm cỏ

Ở một số loài giá trị chăn thả hầu như không thay đổi trong suốt cả kì

sinh dưỡng như: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum, Paspalum conjugatum và một số loài một năm Một số loài khác thì giá trị chăn thả giả m

dần theo thời gian, ở những loài này tuổi càng tăng thì tỉ lệ phần thân tăng và phần trăm chất xơ trong thân và lá tăng lên Lá nhiều loài trở nên cứng và sắc như cỏ Tranh, Chè vè,…

Thành phần cây họ Đậu trong đồng cỏ Việt Nam rất ít, một số loài

trong đó giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng như: Desmodium triquetum, một số loài khác thì năng suất lại rất thấp, sinh khối tập trung chủ yếu ở phần thân như: Desmodium microphyllum Trong thành phần cỏ của

một số quần xã có nhiều cây họ Cói, những loài này lá cứng và sắc như

Carex, Rhynchospora,… một vài loài khác năng suất rất thấp [11]

Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô, prôtêin, đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu prôtêin được chú ý nhiều hơn cả

Trang 26

Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dƣỡng của một số loài cỏ

1 Ischaemum indicum Cỏ lông 76,7 1,954 7,86 1 8,8 0,19

2 Arundinella nepalensis Cỏ xương 77,4 1,976 9,94 0,3 7,9 0,18

3 Cymbopogon caesius Cỏ sả 70,4 2,306 9,61 1,9 9,3 0,25

4 Imperata cylindrica Cỏ tranh 74 1,945 9,747 1,1 8,8 0,25

5 Setaria viridis Cỏ sâu róm 67,5 2,1 1,6 10,3 0,27

6 Chrysopogon aciculatus Cỏ may 64,4 3,1 0,6 8,3 0,3

7 Digitaria longiflora Cỏ chỉ 73,6 3,4 0,5 7,4 0,21

8 Fimbristylis annua Họ cói 0,979 4,288

Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn giảm khi cỏ bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ già Khi chăn thả liên tục theo những khoảng thời gian liên tiếp gần nhau, giá trị dinh dưỡng của cỏ có thể ở mức tương đối cao nhưng năng suất giảm nhiều

1.4 Vấn đề sử dụng và thoái hóa đồng cỏ

Trong thực tế hiện nay đồng cỏ luôn luôn bị thay đổi do tác động thường xuyên của con người, vì đồng cỏ đã và đang là đối tượng hoạt động kinh tế nông nghiệp của loài người Làm sáng tỏ nguồn gốc của đồng cỏ và những quy luật biến đổi của nó do tác động của loài người, là điều kiện cần thiết làm cơ sở cho những biện pháp sử dụng hợp lý đồng cỏ

Hiện nay, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả cũng như thảo nguyên của các vùng khác nhau G.I.Vusoxki (1915) đã xác định 4 giai đoạn thoái hóa của thực bì thảo nguyên dưới tác động của chăn thả Patrôxki (1917) nghiên cứu đới nam của thảo

nguyên Stipa longifolia, ông phân chia một số giai đoạn thoái hóa khác nhau

Nó bao gồm cả giai đoạn chăn thả hay không chăn thả được G.I.Popov

(1931) khi nghiên cứu thảm thực vật trong đới phụ thảo nguyên Stipa, thuộc

thảo nguyên nam Varonhet cho thấy các giai đoạn thoái hóa của thảm thực vật

do chăn thả

Trang 27

B.D.Andreev (1958) khi nghiên cứu các giai đoạn hình thành và thoái hóa của thực bì thảo nguyên ở nam Nga đã chia thành 8 giai đoạn: Giai đoạn đầu là sự chặt hạ và cuối cùng là sự hình thành thảm bào tử thực vật

A.V.Abramtruck; P.L Gortriakopski (1980) khi đánh giá mức độ thoái hóa của các quần xã cỏ do tác động của con người ông đã đề ra bảng thang bậc riêng gồm có 3 mức, sự khác nhau giữa các mức là phụ thuộc vào mức độ thoái hóa do con người tạo ra (1 - ít; 2 - trung bình; 3 - nhiều)

Sự biến đổi các thảm thực vật (đồng cỏ) dưới tác động của yếu tố do con người tạo ra ở vùng nhiệt đới đã từ lâu trở thành vấn đề nóng bỏng cho nền kinh tế và cho chăn nuôi ở xứ nhiệt đới Nhưng những nghiên cứu về vấn

đề này cho đến nay vẫn còn ít: Cooper I.P; Taiton N.M và Pleming G (1968); Dương Hữu Thời (1981); Hoàng Chung (1981,1983)…

Đồng cỏ ở vùng núi phía Bắc Việt Nam là loại hình đồng cỏ thứ sinh Đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới đồng thời đồng cỏ ở đây phân bố chủ yếu ở vùng núi, các sườn đồi có độ dốc khá lớn (15 - 400), nên vấn đề thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các nhà nghiên cứu đồng cỏ bắc Việt Nam

Những nghiên cứu về sự thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Na m

hiện nay đã được Dương Hữu Thời (1981) đề cập trong cuốn “Đồng cỏ Bắc Việt Nam” khi phân tích thành phần loài và các điều kiện sinh thái của đồng

cỏ đã đề cập đến hai nguyên nhân của sự thoái hóa đồng cỏ Bắc Việt Nam là

do cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu

Hoàng Chung (1981, 1983, 2004) sau hơn 10 năm nghiên cứu tại đồng

cỏ ở vùng Thôm Luông (Ngân Sơn) đã phân tích ảnh hưởng của sự chăn thả không có kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ và đã đưa ra kết luận về quá trình thoái hóa đổng cỏ Bắc Việt Na m như sau: “Những thay đổi đầu tiên của lớp phủ thực vật đã dẫn đến sự hình thành các quần xã cỏ ở đây, những thảm cỏ này dưới sự tác động thường xuyên nhưng không thật nặng nề của con người như chăn thả, đốt nương rẫy,

Trang 28

sẽ dẫn tới hình thành loại hình đồng cỏ khô, á thảo nguyên và đồng cỏ Khi chăn thả nặng nề hơn sẽ dẫn đến sự thay đổi phức tạp của thành phần loài ở từng quần xã, đó là sự thay đổi các loài đang mọc bằng những loài từ ngoài đi vào, loài bản địa bị thay thế bởi loài phổ biến rộng rãi, đồng thời đơn giản hóa cấu trúc quần xã, giảm bớt khoảng không phân bố của lớp phủ thực vật, giả m năng suất của nó.” Trên cơ sở đó đã chia quá trình thoái hóa đồng cỏ do sử dụng thành 5 giai đoạn: Bắt đầu từ trạng thái đồng cỏ đến giai đoạn hình thành savan, cây bụi [11] Hoàng Chung, Trần Thị Hương Lam (2006) với công trình điều tra, đánh giá tập đoàn cây thức ăn gia súc hiện có của xã Hà Hiệu - Bắc Kạn đã xác định các đồng cỏ tự nhiên hiện có đang bị chăn thả nặng nề dẫn tới thoái hoá ở mức độ nghiêm trọng…

1.5 Các loại thức ăn và đặc điểm thành phần dinh dƣỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn cho bò

1.5.1 Các loại thức ăn

1.5.1.1 Thức ăn thô

Là những thức ăn chứa ít chất dinh dưỡng trong một đơn vị thể tích Chúng thường là những thức ăn có khối lượng và thể tích lớn, cồng kềnh chứa nhiều chất xơ, ít prôtêin, tỷ lệ tiêu hoá dao động từ thấp đến vừa phải Thức

ăn thô gồm cỏ tự nhiên (cỏ tự nhiên cắt dọc bờ sông, bờ đê, bãi đất hoang…),

cỏ trồng (Pennisetum purpureum, Trisacum laxum, Brachiaria ruziziensis…),

các loại cây thức ăn khác như cây ngô… Thức ăn thô cũng bao gồm các dạng

cỏ khô, cây cỏ ủ chua

Trang 29

- Các phụ phẩm sau khi ép dầu các loại hạt (khô dầu đậu tương, khô dầu hạt bông,…) có hàm lượng prôtêin cao

- Các phế phụ phẩm của công nghiệp chế biến ngũ cốc làm thức ăn cho con người (cám gạo, cám mì, bã bia, rỉ mật mía,…) có hàm lượng cacbohydrate cao Các loại bột có nguồn gốc động vật hoặc có nguồn gốc từ thuỷ hải sản (bột cá) có hàm lượng prôtêin cao

1.5.2 Đặc điểm, thành phần dinh dưỡng của cỏ, cây trồng làm thức ăn

1.5.2.1 Cỏ hòa thảo

Cỏ hoà thảo có ưu điểm là sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng nhược điểm cơ bản là hàm lượng xơ cũng tăng nhanh khi cây cỏ già, do đó giá trị dinh dưỡng theo đó cũng giảm nhanh

Lượng prôtêin thô tính trong chất khô của cỏ hoà thảo ở nước ta trung bình 9,8% (75 – 145 g/kg chất khô), tương tự với giá trị trung bình của cỏ hoà thảo ở nhiệt đới Hàm lượng xơ khá cao (269 – 372 g/kg chất khô) Khoáng

đa lượng và vi lượng đều thấp, đặc biệt là nghèo canxi và phôtpho Trong 1

kg chất khô, lượng khoáng trung bình ở cỏ hoà thảo là Ca: 4,7 ± 0,4g; P: 2,6 ± 0,1g; Mg: 2,0 ± 0,1g; K: 19,5 ± 0,7g; Zn: 24 ± 1,8 mg; Mn: 110 ± 9,9mg; Cu: 8,3 ± 0,07mg; Fe: 450 ± 45mg

Trang 30

Một số giống cỏ hoà thảo chính:

* Cỏ Voi (Pennisetum purpureum Schumach):

Cỏ Voi có nguồn gốc ở Nam Phi, phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thế giới Cỏ Voi là cỏ lâu năm, thân đứng có thể cao 4 – 6m, thuộc nhóm cây tổng hợp chuỗi 4 cacbon (C4) có khả năng thâm canh cao Trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 25 – 30 tấn chất khô/ha; một năm cắt 6 – 7 lứa Đôi khi có thể đạt năng suất cao hơn nếu đáp ứng đủ phân bón và nước Hà m lượng prôtêin thô đạt tới 127g/kg chất khô, lượng đường trung bình 70 – 80 g/kg chất khô

* Cỏ Ghinê (Panicum maximum jacq):

Cỏ Ghinê có nguồn gốc châu Phi nhiệt đới, khả năng chịu hạn tốt, thích hợp với nhiều loại đất Cỏ thu hoạch 6-7 lứa / năm với năng suất từ 10 -14 tấn chất khô/ha, có thể trồng để chăn thả hay thu cắt cho ăn tại chuồng Nếu thu hoạch ở 30 ngày tuổi giá trị dinh dưỡng cao (139g prôtêin thô, 303g chất xơ

và 1920 – 2000 kcal/kg chất khô) Cỏ Ghinê nhanh ra hoa và ra hoa nhiều lần trong năm, vì vậy nếu để cỏ già giá trị dinh dưỡng giảm mạnh

1.5.2.2 Cây họ đậu

Đậu đỗ thức ăn gia súc ở nước ta thường giàu prôtêin, vitamin, khoáng

Ca, Mg, Mn, Zn, Cu, Fe, nhưng ít phốtpho, kali hơn cỏ hoà thảo Tuy vậy, hàm lượng prôtêin thô ở thân lá cây đậu đõ trung bình 167g/kg chất khô, xấp

xỉ giá trị trung bình của đậu đỗ nhiệt đới, thấp hơn giá trị của đậu đỗ ôn đới (175g/kg chất khô), hàm lượng chất khô 200 – 260 g/kg thức ăn, giá trị năng lượng cao hơn cỏ hoà thảo [31]

1.5.2.3 Cây trồng khác

Bao gồm rơm, thân cây ngô già, cây lạc,…loại thức ăn này thường có hàm lượng xơ cao (20 – 35% tính trong chất khô) và tương đối nghèo chất dinh dưỡng

Trang 31

* Rơm (Oryza sativa L):

Rơm thường chứa ít chất dinh dưỡng, hàm lượng prôtêin có khoảng 2% – 3%, chất béo từ 1 – 2%, vitamin và khoáng thường cũng nghèo nhưng xơ cao (từ 31 – 32%) song nó rất cần cho gia súc khi cỏ tươi và cỏ khô ít hoặc không có Bởi vậy, rơm là nguồn thức ăn cần thiết cho trâu bò vào mùa cây cỏ xanh hiếm

* Ngô (Zea mays L):

Trong 1kg thân lá ngô đã thu bắp có 600 – 700g chất khô, 60 – 70g prôtêin, 280 – 300g xơ Năng suất chất xanh của ngô thường thay đổi tuỳ theo mục đích sử dụng và mật độ gieo trồng Nếu thu hoạch làm thức ăn xanh sau

40 – 50 ngày cho năng suất 12,6 tấn/ha Sau 4 – 5 tháng cho 25 – 40 tấn/ha và nếu đất tốt tới 100 – 200 tấn/ha xanh hay hơn, nhưng ở vùng nhiệt đới nằm trong khoảng 8 – 70 tấn/ha xanh hay 2 – 20 tấn chất khô/ha [25]

* Phụ phẩm dứa (Ananas sativa schult)

Phụ phẩm dứa bao gồm chồi và ngọn của quả dứa, vỏ cứng bên ngoài, vụn nát trong quá trình chế biến, bã dứa ép Một tấn dứa đưa vào chế biến có 0,25 tấn chính phẩm, 0,75 tấn phụ phẩm; dứa đưa vào đóng hộp cho 0,35 tấn chính phẩm, 0,65 tấn phụ phẩm, hiện nay chưa được sử dụng rộng rãi

Đặc điểm của loại sản phẩm này là chất xơ cao, nghèo prôtêin, hàm lượng đường dễ tan cao nên thuận lợi cho quá trình lên men, có thể ủ chua

* Cây lá lạc (Arachis hypogea L):

Khi thu hoạch lạc củ, cây lá vẫn còn xanh và giàu chất dinh dưỡng, tỷ

lệ prôtêin từ 15 -16% Bình quân một sào lạc có thể thu 300 – 400kg thân,lá Đây là nguồn thức ăn lớn có giá trị cho vật nuôi, có thể phơi khô, nghiền nhỏ kết hợp với các loại thức ăn khác để chăn nuôi lợn, có thể ủ chua hoặc sử dụng tươi cho trâu bò

Trang 32

* Ngọn lá sắn (Manihot esculanta Crantz):

Ngọn lá sắn giàu prôtêin, có từ 18 – 20% vật chất khô, nhưng lại chứa độc tố xyanoglucozit làm chậm lớn hoặc có thể gây chết khi hàm lượng này cao, tuy nhiên ủ chua có thể loại bỏ gần như hoàn toàn độc tố này Bình quân một sào sắn có thể thu được 200 – 250 kg ngọn lá sắn tươi

* Bã bia:

Thành phần của bã bia gồm: nước 75 – 80%; prôtêin thô 5%; lipit 2%;

xơ 5%; khoáng 0,8% Bã bia là thức ăn chứa nhiều nước, có mùi thơm và vị ngon, đặc biệt là hàm lượng đạm trong bã bia cao Bã bia khi gia súc ăn vào

có tác dụng kích thích vi sinh vật phân giải xơ trong dạ cỏ phát triển, có thể

bổ sung khẩu phần ăn là rơm cho kết quả tốt Ngoài ra bã bia còn chứa các sản phẩm lên men có tác dụng kích thích tính ngon miệng và kích thích tiết sữa tốt

Tóm lại, chăn nuôi là ngành kinh tế ngày càng chiếm tỷ trọng cao Để phát triển chăn nuôi cần phải nghiên cứu đồng cỏ và cây thức ăn gia súc để đáp ứng nhu cầu thức ăn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngày nay, ngoài nghiên cứu đồng cỏ người ta còn tập trung vào tạo giống cỏ, nâng cao năng suất và chất lượng cỏ Việt Nam nghiên cứu về đồng cỏ và cây thức ăn gia súc có chậm hơn các nước, hiện đang tập trung vào việc tạo ra các đồng cỏ có hiệu quả cao, các mô hình sử dụng hiệu quả cao, bền vững cho từng vùng, tận dụng tối đa lợi thế khí hậu và đất đai

Trang 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm tự nhiên - xã hội huyện Võ Nhai

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên, thuộc vùng đặc biệt khó khăn, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, dọc theo quốc lộ 1B tiếp giáp hai dãy núi cao, có toạ độ địa lý 21036’ đến 210

56’ vĩ độ Bắc và 105045’ đến 1060

17’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn)

- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn)

- Phía Nam giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang)

- Phía Tây giáp huyện Phú Lương và Đồng Hỷ (Thái Nguyên)

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện theo địa giới hành chính là 84.010,44 ha gồm 15 đơn vị hành chính : 1 thị trấn và 14 xã, có 172 xóm, bản

* Địa hình, địa mạo

Điểm nổi bật của địa hình huyện Võ Nhai là núi cao, dãy Ngân Sơn chạy từ Bắc Kạn theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và dãy Bắc Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vì vậy huyện có địa hình khá phức tạp, đồi núi

là chủ yếu, đất ruộng ít

Vùng núi dốc và núi đá vôi chiếm 92%, những vùng đất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền sông và các thung lũng của vùng núi đá vôi Toàn huyện độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 - 800 m, đất nông nghiệp phân bố ở độ cao 100 - 450 m

Nhìn chung địa hình, địa mạo huyện Võ Nhai ít bằng phẳng, bị chia cắt nhiều, đất đai được hình thành chủ yếu là đất đỏ vàng trên núi và đất phù sa

Trang 34

cổ do đó không thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, cây công nghiệp và đặc biệt là lúa nước, khó cho việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi và sự giao lưu hàng hoá trong và ngoài huyện

Độ ẩm không khí (%)

Tháng 1 14,4 15,1 55 96 12,3 10,8 83 73Tháng 2 13,5 21,9 27 49 18,4 14,1 77 86Tháng 3 20,8 20,5 71 42 24,6 33,0 86 83Tháng 4 24,0 24,1 54 93 129,7 137,8 87 84Tháng 5 26,7 26,5 128 140 120,8 567,8 80 83Tháng 6 28,1 29,2 110 168 238,8 318,7 83 79Tháng 7 28,4 28,9 156 160 523,3 248,2 83 84Tháng 8 28,2 29,4 148 217 395,7 187,8 85 81Tháng 9 27,7 28,3 153 175 207,1 221,0 86 80Tháng 10 26,1 26,2 108 120 154,1 66,1 85 79Tháng 11 20,5 21,0 158 138 200,1 0,5 79 71Tháng 12 17,3 19,4 101 60 5,3 2,9 75 74

Trang 35

trung bình năm là 22,40C (các tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng

6, 7, 8; tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình 27,80C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, trung bình 14,9 0C; các tháng mùa đông từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau có nhiệt độ trung bình thấp hơn nhiệt độ trung bình năm), số giờ nắng trung bình là 1500 - 1800 giờ/năm Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39,50

C thường vào tháng 6 hàng năm, tối thấp tuyệt đối 30C thường vào tháng 1; Biên độ ngày và đêm trung bình 70C, lớn nhất là vào tháng 10 hàng năm 8,10C

- Chế độ mưa:

Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa bình quân năm: 1.941,5 mm, thấp hơn so với các vùng khác của tỉnh Thái Nguyên (2.050 - 2.500 mm) và phân bố không đều, lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa với 1.765 mm, chiếm 91% lượng mưa cả năm Tháng có mưa lớn nhất là tháng 8 hàng năm 372,2 mm Các tháng mùa khô có lượng mưa không đáng kể, lượng bốc hơi nước lại rất lớn, gây nên tình trạng khô hạn nghiêm trọng cho cây trồng, nhất

là đối với cây trồng hàng năm

- Chế độ ẩm:

Độ ẩm bình quân hàng năm trên địa bàn huyện dao động từ 80 - 87 %; các tháng mùa khô, nhất là các tháng cuối năm (tháng 11 và 12) độ ẩm thấp

- Lượng bốc hơi hàng năm:

Lượng bốc hơi hàng năm trên địa bàn huyện khoảng 985 mm, tháng 5

có lượng bốc hơi lớn nhất tới 100 mm Các tháng mùa khô có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều, chỉ số ẩm ướt < 0,5 nên dẫn đến tình trạng khô hạn gay gắt, nếu không có biện pháp tưới nước giữ ẩm hợp lý sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng và năng suất các loại cây trồng

Trang 36

- Chế độ gió:

Huyện nằm trong vùng có chế độ gió mùa với 2 hướng gió chính thay đổi theo mùa Mùa hạ chủ yếu có thành phần gió Đông Mùa đông chủ yếu có thành phần gió Bắc Các tháng chuyển tiếp giữa các mùa gió có thành phần Tây là chính Các hướng gió chính có gió Đông và Đông Nam vào mùa hạ, Đông Bắc vào mùa đông, gió Tây Nam vào mùa xuân và mùa thu Tốc độ gió trung bình các tháng từ 1,5 - 2 m/s Tốc độ gió mạnh nhất: 32m/s thường vào tháng 6, gió có tốc độ mạnh thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9 hàng năm Gió mạnh thường làm ảnh hưởng không tốt đối với cây trồng Nhất là gió bão làm gãy cành, rách lá đối với cây lâu năm, làm đổ cây lúa và cây trồng hàng năm khác

- Sông Rong: Phân bổ ở phía Nam của huyện, là nhánh của sông Thương bắt nguồn từ xã Phú Thượng chạy qua thị trấn Đình Cả, Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long và chảy vào tỉnh Bắc Giang

Các nhánh sông suối trên địa bàn phân bố khá đồng đều và có nước quanh năm có thể sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài ra trên địa bàn huyện có khá nhiều hồ đầm lớn nhỏ khác nhau là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phục vụ đời sống, cơ sở chăn nuôi thủy sản, nguồn tích trữ nước mùa hè dự phòng và sử dụng cho mùa vụ Đông - Xuân

Trang 37

Nguồn nước ngầm cũng tương đối phong phú, chất lượng nước nói chung là tốt đảm bảo phục vụ cho sinh hoạt của người dân

* Đất đai, thổ nhưỡng

Nhìn chung đất thoát nước tốt, thành phần cơ giới trung bình đến nặng, đất có phản ứng chua, đến chua mạnh (pH = 4 - 4,5), nghèo các chất dinh dưỡng dễ tiêu, Cation kiềm trao đổi, độ no Bagơ và dung dịch hấp thụ thấp

Các vùng đất còn ít chịu tác động của hoạt động sản xuất ở 6 xã tiểu vùng phía Bắc huyện Võ Nhai tuy có địa hình hiểm trở, dốc nhiều nhưng tầng đất còn khá dày (hầu hết diện tích đất có tầng dày hơn 50cm) Đất ở các xã phía Nam huyện (Tràng Xá, Phương Giao, Dân Tiến, Bình Long, Liên Minh) còn lại đa số có tầng trung bình và mỏng

2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Trang 38

2007, dân số trong độ tuổi lao động của huyện Võ Nhai (từ 15 đến 55 đối với

nữ, đến 60 tuổi đối với nam) là 35.057 người chiếm 54,36% dân số toàn huyện, trong đó có: 30.452 lao động nông nghiệp, chiếm 47,22% dân số toàn huyện; lao động phi nông ngiệp 4.605 người chiếm 7,14% dân số toàn huyện

Cơ cấu giữa lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp chênh lệch nhau khá lớn, chứng tỏ nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch vụ trên điạ bàn huyện Võ Nhai chưa phát triển Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá các ngành nghề và dịch vụ ở Võ Nhai tiến triển còn chậm Hơn 80% số lao động trong toàn huyện chưa được qua đào tạo Việc tạo công

ăn việc làm còn gặp nhiều khó khăn Có sự chênh lệch lớn về trình độ lao động giữa khu vực nông thôn và thành thị

2.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã La Hiên

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

La Hiên là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Võ Nhai, diện tích tự nhiên là 3869,50 ha, là cửa ngõ nối giữa 6 xã vùng cao phía Bắc của huyện, có giáp ranh với các địa phương sau:

- Phía Đông giáp xã Lâu Thượng - Võ Nhai - Thái Nguyên

- Phía Tây giáp xã Quang Sơn và xã Tân Long - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

- Phía Nam giáp xã Văn Hán và Khe Mo - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

- Phía Bắc giáp xã Cúc Đường và xã Thần Sa - Võ Nhai - Thái Nguyên

* Địa hình, địa mạo

Xã La Hiên nằm trong tiểu vùng II thuộc vùng núi của huyện Võ Nhai mang đặc điểm của địa hình vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có địa hình thung lũng tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1B với hai bên là hai dãy núi cao có độ dốc lớn Đất đai ở đây được sử dụng hầu hết vào sản xuất nông – lâm nghiệp

Trang 39

* Khí hậu

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến hết tháng 3 (Cụ thể từng yếu tố khí hậu xem ở phần khí hậu huyện Võ Nhai)

* Các nguồn tài nguyên

đất, đất bằng có độ dốc < 80

tương đối thuận lợi cho sản xuất cây trồng hàng năm có diện tích khoảng 370,00 ha chiếm 15,68% tổng diện tích tự nhiên Diện tích thích hợp với trồng mầu, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và lâm nghiệp có khoảng 1500,00 ha chiếm 63,56% tổng diện tích tự nhiên

Nhưng do điều kiện địa hình, địa thế dốc, phân cắt mạnh, mặt k hác hiện nay thảm thực vật rừng che phủ thấp, nên vào mùa mưa dòng chảy tăng, gây ra khả năng lũ lụt lớn Ngược lại trong mùa khô dòng chảy lại rất cạn kiệt gây ra thiếu nước, hạn hán

2.2.2 Đặc điểm xã hội

Toàn xã có 1740 hộ gia đình phân bố ở 15 xóm với 7790 nhân khẩu gồm 08 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí, H’Mông, Dao, Mường trong đó dân tộc Kinh, dân tộc Nùng chiếm đa số Mật độ dân số trung bình là

330 người/km2

Hiện tại nền kinh tế của xã chủ yếu là nông, lâm nghiệp, các ngành công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng, tiểu thủ công nghiệp đã có nhưng còn nhỏ bé, chưa được đầu tư thỏa đáng, sản xuất hàng hóa đã theo hướng kinh tế thị trường, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa được đầy

đủ và chưa cao nên đời sống nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó khăn Nguồn thu nhập của người dân xã La Hiên chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp

Trang 40

Về chăn nuôi, đàn gia súc gia cầm của xã có sự tăng trưởng rõ rệt không những về số lượng mà cả về chất lượng, có nhiều hộ gia đình đã thoát được nghèo từ chăn nuôi Tổng số đàn trâu hiện có là 1050 con, bò là 350 con Ngành chăn nuôi đã cung cấp một số lượng lớn thịt, trứng cho thị trường và cho nhu cầu của đời sống Đây cũng là nguồn thu nhập đáng kể của nhân dân trong xã

2.3 Đặc điểm tự nhiên - xã hội xã Tràng Xá

2.3.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Tràng Xá là xã vùng cao, nằm ở phía Nam của huyện Võ Nhai Ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã như sau:

- Phía Bắc giáp xã Phú Thượng và thị trấn Đình Cả - Võ Nhai - Thái Nguyên

- Phía Tây giáp xã Liên Minh - Võ Nhai - Thái Nguyên

- Phía Đông giáp xã Phương Giao và xã Dân Tiến - Võ Nhai - Thái Nguyên

- Phía Nam giáp xã Dân Tiến - Võ Nhai - Thái Nguyên

* Địa hình, địa mạo

Tràng Xá nằm trong tiểu vùng III thuộc vùng núi của huyện Võ Nhai

Xã có địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu (đất lâm nghiệp có rừng chiếm khoảng trên 50% tổng diện tích tự nhiên) được phân bố trên toàn xã, xen kẽ giữa những dãy núi là các đồi thấp, những cánh đồng nhỏ hẹp

* Khí hậu

Tràng Xá mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc đó

là khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa

và mùa khô (Cụ thể từng yếu tố khí hậu xem ở phần khí hậu huyện Võ Nhai)

* Thuỷ văn

Mạng lưới thuỷ văn của xã có 125,80 ha sông suối, cùng với 74,99 ha

ao hồ, đập lớn nhỏ là những nguồn nước quý phục vụ cho sinh hoạt và sản

Ngày đăng: 25/10/2014, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Văn An, Tôn Nữ Tiên Sa, Phát triển kỹ thuật cây thức ăn xanh với nông hộ, do ACIAR và CIAT xuất bản, ACIAR chuyên khảo số 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ thuật cây thức ăn xanh với nông hộ
[2]. Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị (1976), Gây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao
Tác giả: Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1976
[8]. Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2001, 2003, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 1, 2, 3. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001, 2003, 2005
[9]. Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn Thị Hiền, Phùng Gia Tường (1997), Thực hành hóa sinh học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành hóa sinh học
Tác giả: Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn Thị Hiền, Phùng Gia Tường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[10]. Hoàng Chung (2004), Đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
[11]. Hoàng Chung (2005), Quần xã học thực vật, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần xã học thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
[12]. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
[13]. Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006), Tập đoàn cây cỏ trồng làm thức ăn gia súc tỉnh Sơn La, năng suất chất lượng và khả năng khai thác. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT số 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn cây cỏ trồng làm thức ăn gia súc tỉnh Sơn La, năng suất chất lượng và khả năng khai thác
Tác giả: Hoàng Chung, Giàng Thị Hương
Năm: 2006
[14]. Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997), Nghiên cứu cấu trúc một số mô hình phục hồi rừng trên savan cây bụi ở Bắc Thái, Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại học Thái Nguyên, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc một số mô hình phục hồi rừng trên savan cây bụi ở Bắc Thái
Tác giả: Lê Ngọc Công, Hoàng Chung
Năm: 1997
[15]. Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), Thành phần loài và dạng sống thực vật trong loại hình savan vùng đồi Quảng Ninh, Thông báo khoa học trường Đại học sư phạm Việt Bắc, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và dạng sống thực vật trong loại hình savan vùng đồi Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung
Năm: 1995
[16]. Phạm Hoàng Hộ (1991, 1992, 1993), Cây cỏ Việt Nam, 6 tập. An lllustrated Flora of Vietnam – Montreal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
[17]. Lê Khả Kế và các tác giả (1969, 1975), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 6 tập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
[18]. Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964), Sơ bộ điều tra thảm thực vật savan trên một vùng đồi núi phía Nam Hữu Lũng (Lạng Sơn), Tập san sinh vật địa học - số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ bộ điều tra thảm thực vật savan trên một vùng đồi núi phía Nam Hữu Lũng (Lạng Sơn)
Tác giả: Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi
Năm: 1964
[19]. Nhiều tác giả (1969), Đồng cỏ nhiệt đới, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ nhiệt đới
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1969
[20]. Nhiều tác giả (2004), Cây thức ăn gia súc giàu dinh dưỡng, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thức ăn gia súc giàu dinh dưỡng
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2004
[21]. Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình và các cộng sự (1999), Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt của cỏ Ghinê TD58, Báo cáo khoa học, Bộ NN&amp;PTNT, 28-30 tháng 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt của cỏ Ghinê TD58
Tác giả: Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình, các cộng sự
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 1999
[22]. Nguyễn Văn Quang (2002), Đánh giá khả năng sản xuất và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất một số giống cỏ hòa thảo nhập nội là thức ăn cho gia súc tại Bá Vân - Thái Nguyên. Luận văn thạc sỹ trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất một số giống cỏ hòa thảo nhập nội là thức ăn cho gia súc tại Bá Vân - Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 2002
[23]. Phùng Quốc Quảng, Nguyễn Xuân Trạch, Thức ăn và nuôi dưỡng bò sữa, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng bò sữa
Tác giả: Phùng Quốc Quảng, Nguyễn Xuân Trạch
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[24]. Trần Trọng Thêm, Vũ Chí Cương, Vũ Văn Nội, Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Hữu Lương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Văn Niêm, Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi trâu bò, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi trâu bò
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
[25]. Nguyễn Thiện (2005), Trồng cỏ nuôi bò sữa, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cỏ nuôi bò sữa
Tác giả: Nguyễn Thiện
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số lƣợng và phân bố đàn trâu trên thế giới - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.1 Số lƣợng và phân bố đàn trâu trên thế giới (Trang 11)
Bảng 1.2: Số lƣợng và phân bố đàn bò trên thế giới - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.2 Số lƣợng và phân bố đàn bò trên thế giới (Trang 12)
Bảng 1.3: Lƣợng thịt bò sản xuất trên thế giới - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.3 Lƣợng thịt bò sản xuất trên thế giới (Trang 12)
Bảng 1.4: Lƣợng sữa sản xuất trên thế giới - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.4 Lƣợng sữa sản xuất trên thế giới (Trang 13)
Bảng 1.5: Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.5 Số lượng đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua (Trang 14)
Bảng 1.6: Số lƣợng bò sữa và sản lƣợng sữa - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.6 Số lƣợng bò sữa và sản lƣợng sữa (Trang 15)
Bảng 1.7: Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.7 Số lượng trâu bò cày kéo của cả nước trong những năm qua (Trang 16)
Bảng 1.8: Sản lƣợng vật chất khô và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.8 Sản lƣợng vật chất khô và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng (Trang 19)
Bảng 1.10: Thành phần hóa học và giá trị dinh dƣỡng của một số loài cỏ - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.10 Thành phần hóa học và giá trị dinh dƣỡng của một số loài cỏ (Trang 26)
Bảng 2.1: Khí tƣợng thuỷ văn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.1 Khí tƣợng thuỷ văn huyện Võ Nhai - Thái Nguyên (Trang 34)
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất xã La Hiên tính đến ngày 1/1/2010 - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.1 Thực trạng sử dụng đất xã La Hiên tính đến ngày 1/1/2010 (Trang 56)
Bảng 4.2: Thực trạng sử dụng đất xã Tràng Xá tính đến ngày 1/1/2010 - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.2 Thực trạng sử dụng đất xã Tràng Xá tính đến ngày 1/1/2010 (Trang 58)
Bảng 4.3: Thành phần loài tại các điểm nghiên cứu - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.3 Thành phần loài tại các điểm nghiên cứu (Trang 60)
Bảng 4.4: Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.4 Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ tự nhiên (Trang 72)
Bảng 4.7: Sinh khối của đồi cỏ tại xóm Khuôn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m 2 ) - Đánh giá một số mô hình chăn nuôi trâu, bò tại xã La Hiên và xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.7 Sinh khối của đồi cỏ tại xóm Khuôn Ruộng, xã Tràng Xá (g/m 2 ) (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w