Với mục đích không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng các giống cỏ, trong những năm qua chúng ta đã tiến hành nhập và lai tạo một số giống cỏ mới có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HOÀNG CHUNG
Thái Nguyên – 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa có ai công bố
Tác giả
Lý Phương Bắc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới:
Thầy giáo PGS.TS Hoàng Chung đã tận tình hưỡng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Các thầy cô giáo, các cán bộ, nhân viên khoa Sinh – KTNN trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên; cán bộ, nhân viên Viện khoa học sự sống – Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suất thời gian học tập, nghiên cứu khoa học
Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên, khoa Sau đại học
Các vị lãnh đạo UBND tỉnh Bắc Giang, UBND huyện Lục Ngạn, UBND xã Kiên Lao, trạm khí tượng thủy văn, trạm khuyến nông, phòng tài nguyên môi trường, phòng nông nghiệp, phòng thống kê, sở tài nguyên và môi trường cùng rất nhiều hộ gia đình đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài khoa học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã khuyến khích, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012
Tác giả
Lý Phương Bắc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc tính sinh vật học của họ hòa thảo 3
1.1.1 Đặc tính sinh thái của cỏ hòa thảo 3
1.1.2 Đặc tính sinh vật 3
1.1.3 Đặc tính sinh lý 5
1.1.4 Đặc tính sinh trưởng 6
1.1.5 Sức sống cỏ hòa thảo 7
1.1.6 Giá trị kinh tế cỏ hòa thảo 7
1.2 Đặc điểm một số giống cỏ làm thí nghiệm 8
1.2.1 Cỏ voi (Pennisetum purpureum) 8
1.2.2 Ngô (Zea mays L) 11
1.2.3 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica) 13
1.2.4 Cỏ lau (Saccharum arundinaceum Retz) 15
1.3 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ 15
1.4 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn trên thế giới và Việt Nam 18
1.4.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới 18
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 20
1.5 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 21
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống 21
1.5.1.1 Thành phần loài 21
1.5.1.2 Những vấn đề nghiên cứu về dạng sống 23
1.5.2 Năng suất đồng cỏ 23
Trang 51.5.3 Những nghiên cứu về động thái đồng cỏ 24
1.6 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam 25
1.6.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả 25
1.6.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam 27
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 29
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn 29
2.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn 29
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 29
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 31
2.1.2 Các nguồn tài nguyên 33
2.1.3 Tình hình kinh tế, xã hội huyện Lục Ngạn 37
2.1.3.1 Nguồn lao động 37
2.1.3.2 Phát triển kinh tế nông nghiệp 37
2.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội xã Kiên Lao 38
2.2.1 Điều kiện tự nhiên của xã Kiên Lao 38
2.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 39
2.2.2.1 Nguồn nhân lực 39
2.2.2.2 Sản xuất Nông – Lâm nghiệp 40
Chương 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 43
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Nội dung nghiên cứu 43
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.2.1 Phương pháp điều tra trong dân 44
3.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 44
3.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu bốn loài cỏ trồng 45
Trang 63.2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 46
3.2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 49
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 50
4.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò tại huyện Lục Ngạn 50
4.2 Kết quả điều tra tập đoàn cây thức ăn gia súc tại xã Kiên Lao 52
4.3 Mô hình chăn nuôi gia súc tại xã Kiên Lao 56
4.3.1 Thực trạng chăn nuôi của người dân xã Kiên lao 56
4.3.2 Mô hình chăn nuôi gia súc quy mô gia đình 57
4.4 Thực nghiệm trồng cỏ 61
4.4.1 Chiều cao của thảm cỏ qua các lứa cắt 61
4.4.2 Năng suất của cỏ thí nghiệm 64
4.4.3 Chất lượng của bốn loài cỏ thí nghiệm 66
4.4.4 Tính ngon miệng của gia súc đối với bốn giống cỏ 70
4.4.5 Lượng ăn vào của gia súc đối với các giống cỏ 71
4.5 Thành phần dinh dưỡng của đất tại nơi thí nghiệm 72
4.6 Đề xuất mô hình giải quyết thức ăn xanh 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 81
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VCK : Vật chất khô VCN : Viện chăn nuôi ĐVTA : Đơn vị thức ăn UBND : Ủy ban nhân dân NXB : Nhà xuất bản TNo : Thí nghiệm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của 1kg cỏ hòa thảo 5
Bảng 1.2: Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa (Gespo, 1974) 10
Bảng 1.3: Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch 10
Bảng 1.4: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng 10
Bảng 1.5: Giá trị dinh dưỡng của ngô trong các giai đoạn khác nhau 12
Bảng 1.6: Thành phần dinh dưỡng của ngô 12
Bảng 1.7: Năng suất Cỏ Para thay đổi theo tuổi thu hoạch 14
Bảng 1.8: Sự thay đổi giá trị dinh dưỡng Cỏ lông Para theo mùa 14
Bảng 1.9: Thành phần dinh dưỡng của cỏ lông Para 14
Bảng 1.10: Thành phần hóa học của một số giống cỏ hòa thảo 17
Bảng 1.11: Thành phần hóa học của một số giống cây bộ đậu 18
Bảng 2.1: Đặc điểm khí hậu huyện Lục Ngạn, năm 2011 33
Bảng 2.2: Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai huyện Lục Ngạn năm 2010 34
Bảng 2.3: Hiện trạng dân số xã Kiên Lao năm 2011 40
Bảng 2.4: Các loại cây trồng chính của xã Kiên Lao năm 2011 41
Bảng 2.5: Các loại vật nuôi chính của xã Kiên Lao 41
Bảng 4.1: Tập đoàn cây thức ăn gia súc tại xã Kiên Lao 53
Bảng 4.2: Khẩu phần ăn bình quân/ngày/con (kg) 58
Bảng 4.3: Chiều cao của cỏ thí nghiệm 61
Bảng 4.4: Năng suất cỏ thí nghiệm 64
Bảng 4.5 : So sánh năng suất của 4 loài cỏ thí nghiệm 66
Bảng 4.6: Chất lượng cỏ thí nghiệm 67
Bảng 4.7: Bảng so sánh chất lượng bốn loài cỏ 69
Bảng 4.8: Số đơn vị thức ăn trong 1kg cỏ tươi của 4 loài cỏ 69
Bảng 4.9: Lượng cỏ ăn vào của gia súc đối với bốn loài cỏ 71
Bảng 4.10: Thành phần dinh dưỡng của đất tại nơi thí nghiệm 72
Trang 9Đồng cỏ trồng của ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng chứ chưa thành phổ biến đại trà Các giống cỏ năng suất cao được nhập vào nước ta từ những năm 70 của thế kỷ XX với rất nhiều giống tốt đã thích nghi cao với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nước ta nhưng chưa phát huy được trong từng địa phương, vì đến nay diện tích đất dành cho trồng cỏ còn quá nhỏ Đồng cỏ tự nhiên ở Việt Nam phân bố rải rác khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là trên các đồi núi, cao nguyên của trung du và miền núi
Trang 10Khu vực có đồng cỏ tự nhiên với diện tích lớn không nhiều có gặp ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc và một số đồng cỏ thuộc vùng Tây Nguyên Các đồng
cỏ khác thường có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm ha
Năng suất của các giống cỏ phụ thuộc nhiều vào giống, điều kiện tự nhiên và sự chăm sóc của con người, đặc biệt là bón phân và tưới nước Sự chăn thả gia súc bừa bãi, khai thác mà không chăm bón đã làm cho đồng cỏ
bị thoái hoá, diện tích bị thu hẹp dẫn đến thiếu thức ăn cho gia súc Với mục đích không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng các giống cỏ, trong những năm qua chúng ta đã tiến hành nhập và lai tạo một số giống cỏ mới có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, đồng thời khai thác các giống cỏ tự nhiên và nguồn thức ăn trong trồng trọt nhằm góp phần giải quyết vấn đề thức ăn cho gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà cả chất lượng
Để phát triển chăn nuôi nhiều địa phương đã biết trồng cỏ làm thức ăn
bổ xung Song chỉ tập trung trồng một loài là cỏ voi (Penisetum Purpureum)
là loài có năng suất cao, thích nghi với khí hậu Việt Nam, nhiều loài khác ít được chú ý, đặc biệt là các loài cỏ có nguồn gốc Việt Nam, có năng suất và chất lượng tốt
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Đánh giá
hiệu quả một số mô hình thức ăn gia súc tại xã Kiên Lao, Huyện Lục Ngạn, Tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá về mô hình đang khai thác thức ăn gia súc của địa phương và hiệu quả kinh tế của nó
- Trồng thử nghiệm 4 loài cỏ: Cỏ lau từ gốc, cỏ voi, cỏ lông Para, ngô để đánh giá năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của nó
- Đề suất mô hình khai thác thức ăn gia súc cho địa phương
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc tính sinh vật học của họ hòa thảo
Cỏ hòa thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hòa thảo (Graminae) và có
28 họ phụ, 563 chi, 6802 loài (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978) [12]
Cỏ hòa thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ 95-98% và trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại chiếm 70-80%
1.1.1 Đặc tính sinh thái của cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được nhiều vùng và trong những điều kiện đất đai khác nhau Cỏ hòa thảo có thể sinh trưởng được
ở vùng đất khô khan mùa khô kéo dài, độ ẩm tương đối của đất chỉ đạt 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển được như cỏ xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon, Brachiaria decumbens, có loài sinh trưởng ở vùng ẩm thấp, độ ẩm từ 60 - 80%, có loài
có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy thụt ngập nước như: Cỏ môi, cỏ bấc, cỏ lông para, khí hậu nhiệt đới gió mùa ở nước ta ảnh hưởng rất tốt cho khả năng sinh trưởng, phát triển của cỏ hòa thảo
Như vậy, căn cứ vào những đặc điểm sinh thái của từng loài cỏ mà chúng ta chọn giống để trồng trong những điều kiện địa hình thích hợp của từng vùng, có như vậy mới khai thác được tiềm năng của mỗi giống
Trang 12loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978) Thân rễ sống lâu năm, thân lá khí sinh chết hàng năm
Căn cứ vào hình dạng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia
cỏ hòa thảo thành các loại như sau:
+ Loài thân rễ: Loại thân này nằm dưới đất, chia nhánh dưới mặt đất đại diện
là cỏ tranh (Inperata Cylindrica) loài này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa,
độ che phủ thưa có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả
+ Loài thân búi: Loài thân này từ gốc đẻ ra nhiều thân nhánh tạo thành búi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất hoặc trên mặt đất, cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí, đại diện là cỏ Ghine (Panicum maximum)
+ Loại thân bò: Cỏ nhóm này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm ngả trên mặt đất Do thân bò lan nhanh nên có khả năng tạo thành một thảm cỏ dày đặc, che phủ kín mặt đất Đại diện là cỏ Pangola, lông Para Cỏ thân bò cho năng suất thấp, thường dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc vào mùa đông
+ Loài thân đứng: Loài này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng Mầm vươn thẳng lên giống cây mía, thân cao to, cho năng suất cao Đại diện loài này là cỏ voi Cỏ hòa thảo có ưu điểm là sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng nhược điểm cơ bản là nhanh hóa xơ, giá trị dinh dưỡng mà theo đó cũng giảm nhanh
Trang 13Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của 1kg cỏ hòa thảo
0,16 - 0,17 11 - 12g 1,7 - 1,8g 0,6 - 0,7g 50 - 60g
(Theo Đoàn Ẩn và Võ Văn Trị, 1976)
1.1.3 Đặc tính sinh lý
* Nhu cầu về nước
Cỏ hòa thảo yêu cầu nước cao do có bộ lá lớn, hệ số thoát hơi nước lớn hơn họ đậu Hệ số thoát hơi nước vào khoảng 400 - 500gram, trong khi cỏ họ đậu là 214 - 216gram
Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn:
Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%
Giai đoạn phát triển cành: 75%
Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần
(Trịnh văn Thịnh và CTV, 1974)
*Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hòa thảo đòi hỏi đất tốt, giầu mùn và đạm, lân, kali Nhu cầu về dinh dưỡng còn chia theo từng giai đoạn:
Giai đoạn 1: (nảy mầm – phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kali
Giai đoạn 2: (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân
Giai đoạn 3: (ra hoa hình thành hạt) cần nhiều lân và kali
Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981)[41] Trong đồng cỏ người ta thấy có sự quan hệ rõ rệt giữa việc bón phân và số chồi có hoa Trong điều
Trang 14kiện có bón đạm vào mùa Xuân số chồi sinh sản tăng lên Bón phân, tưới nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi
Quan hệ với phân bón cũng vậy ở Pleum pratens không có phân bón, có
605 chồi trên một đơn vị diện tích thô, có 195 số chồi có hoa, nếu bón phân NPK có 790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá 3 - 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài 10 năm có khi hơn
1.1.4 Đặc tính sinh trưởng
Cỏ hòa thảo sinh trưởng và tái sinh qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt lúc này tốc độ sinh
trưởng chậm
+ Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày cỏ sinh trưởng và
phát triển nhanh
+ Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày, cỏ sinh trưởng
chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị, 1976)[2] Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời gian thu hoạch hợp lý Tiêu chuẩn thu hoạch căn cứ vào điều kiện sinh trưởng của giống cỏ Thu hoạch non năng suất sẽ thấp, thu hoạch già giá trị dinh dưỡng sẽ kém ảnh hưởng đến tái sinh lần sau, giảm số lứa cắt trong năm Nếu bộ phận trên đất qúa mau lứa thì dự trữ đường bột tích lũy ở gốc để phát triển thành lá sẽ bị suy kiệt đồng
cỏ chóng bị tàn lụi
Đối với cỏ Ghine thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 - 90cm, cỏ lông Para khoảng 40-50cm, cỏ Pangola khoảng 35 - 50cm
Trang 15Theo Điền Hưng (1974)[23] cho biết:
+ Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau sau cắt 30 - 45 ngày + Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau sau cắt 35 - 45 ngày + Cỏ thân đứng sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày
+ Loài cỏ có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như cỏ giầy, cỏ mật
+ Loài cỏ sức sống vừa (4 - 6 năm) như cỏ Pangola, cỏ voi, cỏ ghine, paspalum, Brachiara
+ Loài cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không râu (Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976)
Căn cứ vào sức sống các loài cỏ mà người ta dự tính thời gian trồng lại
để đảm bảo năng suất
1.1.6 Giá trị kinh tế cỏ hòa thảo
Cỏ hòa thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm
tỷ lệ cao trong thảm cỏ mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao Khi chế biến, dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ có độc ít, chịu đựng chăn dắt cao 1ha cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn chất xanh/ha/năm 1ha cỏ trồng thân bò cho 30 - 40 tấn, thân bụi cho 50 - 60 tấn, thân đứng cho 80 - 100 tấn/ha/năm; nếu thâm canh có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm 1kg cỏ tươi cho từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500 KcalME
Trang 16Cỏ hòa thảo có giá trị dinh dưỡng cao ở những nơi đất nhiều mùn, ẩm loài tốt nhất có thể chứa 16g Protit tiêu hóa và 32g lipit trong 1kg cỏ tươi, 5 - 8kg cỏ có thể tương đương 1 đơn vị thức ăn
1.2 Đặc điểm một số giống cỏ làm thí nghiệm
1.2.1 Cỏ voi (Pennisetum purpureum)
Khu vực gia đình: Đến nay hầu hết các hộ nông dân nuôi bò ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tiến hành trồng cỏ voi, đây là một giống cỏ cho năng suất chất xanh cao trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam và đang được coi là giống cỏ chủ lực được trồng để nuôi trâu, bò
* Đặc điểm sinh vật học
Cỏ voi là cỏ lâu năm, thân đứng có thể cao từ 3- 4m, nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ chân kiềng, cỏ voi ra hoa vào tháng 9 hàng năm màu vàng nhạt Tỷ lệ lá/lá + thân chiếm 53% Tỷ lệ lá + thân/tổng cộng là 58% còn các phần ngầm dưới mặt đất chiếm 42% (Yepes và Alfono 1972) Tỷ lệ lá giảm từ 66; 64; 63; 34; 32 đến 30% qua 2; 4; 8;10 và 12 tuần tuổi (Viện chăn
Trang 17nuôi 1976), đối với những mầm tái sinh sau 35; 44 và 60 ngày tuổi có chiều cao là 126,5; 136,6 và 227,9cm, cao nhất trong cùng một diện tích thí nghiệm
cỏ Ghine (Panicum miximun), cỏ lông Para (Brachiara mutica), cỏ Pangola (Digitaria decumbens) và Faragua (YsabelReyes, 1972) (Nguyễn Thiện)[43]
* Đặc điểm sinh thái học
Cỏ voi chịu được khô hạn, giai đoạn sinh trưởng chính là trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao, sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 – 400C, cỏ voi có thể sinh trưởng ở nơi có độ cao tới 2000m so với mực nước biển Thích hợp nhất với đất giầu dinh dưỡng có tầng canh tác sâu, PH = 6 - 7, đất không bùn, úng Như vậy cỏ voi thích ứng với nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất vẫn là loại đất mầu mỡ và tơi xốp Cỏ voi là loại cỏ mọc rất khỏe, phát triển nhanh, chu kỳ kinh tế của nó kéo dài từ 4 - 5 năm hay hơn nữa và năng suất tương đối ổn định trong suốt thời gian này
* Tính năng sản suất
Cỏ voi có năng suất rất lớn, từ 100 – 300 tấn/ha/năm (Filipe, 1965) và
có thể lên tới 500 tấn/ha/năm (Điền Hưng, 1974) Theo Hacvael – Duclos (1969) năng suất cỏ voi ở Ấn Độ là 105 tấn/ha/năm Nếu không được tưới nước, mỗi năm cắt được 3 – 4 lứa, nếu có nước tưới cắt 5 – 6 lứa Áp dụng biện pháp kỹ thuật hợp lý, cỏ voi có thể thu được năng suất chất tươi cao trong suốt 10 năm mà không cần trồng lại (Trịnh Văn Thịnh) [Mét vài nét về đồng cỏ Miền Bắc Việt Nam]
Thành phần dinh dưỡng trung bình của cỏ voi là: Vật chất khô 20 – 25%; Protein thô 7,2 – 9%; Xơ thô 25 – 28%
Trang 18Bảng 1.2: Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa (Gespo, 1974)
Năng suất Mùa khô Mùa mưa Tổng cộng % Mùa khô
Bảng 1.3: Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch
% chất khô
Protein thô
Xơ thô Tro
Mỡ khô
Dẫn suất không đạm (DXKD)Tươi, độ cao 80cm
Trang 191.2.2 Ngô (Zea mays L)
* Nguồn gốc
Do thiếu lịch sử chính xác về lịch sử nên chưa làm sáng tỏ nơi phát sinh của ngô Anderson (1945) cho là ngô suất hiện ở Đông Nam Á, tuy nhiên có nhiều dữ liệu cho thấy sự có mặt của ngô ở thời nguyên thủy cổ xưa tại châu
Mỹ Rất có thể ngô bắt nguồn từ Mexico và Guatemala Hiện nay ngô phân
bố rộng ở các nước nhiệt đới và ôn đới nóng trên thế giới Ngô là cây thức
ăn quan trọng ở Việt Nam, dùng làm lương thực cho người, thức ăn tinh cho gia súc
* Đặc điểm sinh vật học
Ngô là cây hàng năm, thân thẳng và đơn độc, không đẻ nhánh, trừ một
số giống địa phương Cây cao tới 2 - 3m Các đốt ở gốc mang rễ Lá hình mũi mác rộng, hai mặt lá hơi ráp, mép lá có lông mềm, lưỡi bẹ ngắn và có lông Cụm hoa đực ở ngọn cây, có lông Cụm hoa cái ở nách lá lớn, hình trụ và không cuống, có bẹ lá hẹp bao bọc Đầu các nhụy có lông dài 10 - 20cm, quả bóng, cứng, nhiều màu, xếp 8 - 10 dãy Hạt có tỷ lệ nảy mầm rất cao Cây ngô sinh trưởng rất nhanh, có thể thu hoạch trong thời gian ngắn
* Đặc điểm sinh thái học
Ngô thích nghi với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, rất nhạy cảm với khô hạn, không chịu được sương muối Ngô được trồng nhiều từ 500 Bắc đến 400
độ Nam và lên độ cao 3300m ở châu Mỹ Ngô có thể sống ở một số loại đất, nhưng tốt nhất là đất tốt, thoát nước, không thích đất mặn và lầy
* Tính năng sản suất
Năng suất chất xanh của ngô thay đổi nhiều tùy theo mục đích sử dụng
và mặt độ gieo trồng vì ngô chỉ là cây một lứa: Nếu thu làm thức ăn xanh sau
40 - 50 ngày cho năng suất 12,6 tấn/ha (Nguyễn Gia Huy, Nguyễn Thị Hợp,1961) Sau 4 - 5 tháng cho 25 - 40 tấn/ha và nếu đất tốt tới 100 - 200 tấn/ha hay hơn, nhưng ở nhiệt đới nằm trong khoảng 8-70 tấn/ha xanh hay 2 -
20 tấn CK/ha
Trang 20Bogdan (1977), Pontailler (1971) cho rằng năng suất xanh tối đa thu được khi cây đã chín sinh lý, tức là 2 tháng sau khi phun râu, khi đến giai đoạn làm hạt hàm lượng chất khô cả cây gần 30% Năng suất không thay đổi nhiều trước và sau khi ngô chín vài ngày, nhưng sau 7 ngày thì giảm hẳn Năng suất thay đổi lớn theo mật độ và hàng
* Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng
Bảng 1.5: Giá trị dinh dưỡng của ngô trong các giai đoạn khác nhau
Chất khô
% chất khôProtein
thô
Xơ thô Tro
Mỡ khô
Dẫn suất không đạm (DXKD)Tươi, 8 tuần (Israel) 15,7 8,9 31,2 10,2 1,9 47,8Tươi, 10 tuần (Israel) 21,9 10,9 31,5 8,7 1,4 48,4Tươi, giữa ra hoa (Puerto
Ủ xilo, chín sữa (tanzania) - 6,5 31,9 5,0 3,3 53,3
(FAO - Thức ăn gia súc nhiệt đới – 1993)
Trang 211.2.3 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)
* Nguồn gốc
Cỏ lông Para có nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brasil), châu Phi và có nhiều ở các nước nhiệt đới, được đưa vào Australia năm 1980, vào nước ta ở Nam Bộ năm 1875, Trung bộ năm 1930 rồi sau đó ra Bắc Bộ
* Đặc điểm sinh vật học
Cỏ lông Para là loại cỏ lâu năm, thân có chiều hướng bò, có thể cao tới 1,5m Thân và lá đều có lông ngắn Cánh cứng, to, rỗng ruột, đốt dài 10 – 15cm, mắt hai đầu đốt có màu trắng xanh Các mắt ở đốt có khả năng đâm chồi và ra rễ dài, lá dài đầu nhọn như hình tim ở gốc Bẹ lá dài, lưỡi bẹ ngắn Ivan Beliuchenko (1971 – 1972) khi theo dõi bộ rễ cho biết chúng không phát triển quá độ sâu 75cm và so với các bộ rễ khác phát triển ở độ sâu tương đương thì trọng lượng và thể tích đứng hàng cuối (226g và 436cm3
)
* Đặc điểm sinh thái học
Cỏ Para là cỏ sinh trưởng trong mùa hè, thuộc cỏ lâu năm Nhiệt độ trung bình thích hợp 210C (Russell và Webb, 1976) Nó có thể sinh trưởng ở những vùng cao tới 1000m so với mực nước biển Thích hợp với những nơi
có lượng mưa cao nhưng có thể tồn tại ở những nơi có lượng mưa thấp 500mm/năm Phát triển mạnh ở chỗ đất bùn lầy, chịu được ngập nước (tới 60cm), nên suất hiện nhanh ở các bờ sông, suối, cống rãnh Có thể sinh trưởng ở đất đỏ, đất mặn, đất phèn…nhưng ưa đất phù sa, đồng bằng Para là cây cỏ nửa nước, nửa cạn và có thể sống được cả ở những nơi nước chảy
* Tính năng sản suất
Năng suất cỏ thay đổi nhiều, có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt (Havard – Duclos, 1969)
Trang 22Bảng 1.7: Năng suất Cỏ Para thay đổi theo tuổi thu hoạch
Những thí nghiệm tại Cuba cho biết mật độ chăn thả là 4,79 và 2,35 con gia súc/ha (Mưa và khô)
* Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng
Bảng 1.8: Sự thay đổi giá trị dinh dưỡng Cỏ lông Para theo mùa
Mùa
Protein thô Xơ Protein thô Xơ Protein thô Xơ
Xơ thô Tro
Mỡ khô
Dẫn xuất không đạm (DXKĐ)Tươi, 6 tuần tuổi (Ấn Độ) 29,5 14,2 26,6 12,4 1,9 44,9
Tươi, 10 tuần tuổi (Ấn Độ) 39,8 13,2 29,4 12,0 1,5 43,9
Tươi, 14 tuần tuổi (Ấn Độ) 36,3 11,9 28,5 11,3 1,8 46,5
Khô, 35 ngày (Venezuela) - 10,9 30,5 8,7 1,8 48,1
Khô, 45 ngày (Venezuela) - 12,0 27,3 10,7 2,9 47,1
Khô, 55 ngày (Venezuela) - 10,4 27,9 9,9 3,0 48,8
Tươi, giữa ra hoa (Trindad) 29,0 9,4 30,8 9,9 2,0 50,9
Trang 231.2.4 Cỏ lau (Saccharum arundinaceum Retz)
Cỏ Lau là loài cỏ sống lau năm, có thân rễ ngắn mọc đứng tạo thành khóm to Thân cao từ 2 – 7m, xốp ở gốc, thân thẳng đứng, nhẵn, các đốt tròn, bóng Lá phẳng, cứng, dai, hình ngọn giáo dài, nhọn đầu, gốc hẹp, nhẵn dài 1– 2m; gân dày, bóng, mầu trắng; bẹ lá tròn, dai, rất nhẵn, họng không có tai, lưỡi bẹ ngắn, mềm, có lông mày
Cụm hoa là chùy kép, thẳng, thuôn, có lông, màu xám nhạt, dài 0,3 - 1m, cuống chung lớn, nhẵn, các nhánh xếp vòng, hình sợi, có đốt, dễ gãy Bông chét màu lục nhạt hay hơi tím, màu vàng nhạt hay hơi tím ở đỉnh, hình dải có mũi nhọn, gốc bông chét có lông ngắn Mày hình ngọn giáo, mỏng nhọn mép có lông mi Nhị có bao phấn dài 2mm Bầu có đầu nhụy màu nâu nhạt, dài gấp đôi vòi
Cỏ Lau là loài cỏ cổ nhiệt đới gặp ở khắp nơi ở nước ta
Cây cỏ Lau mọc phổ biến ở vùng đồi núi cao, khô, nhiều nắng, trên các vùng nhiều cỏ và cây bụi Cây cũng mọc ở nơi ẩm dọc các rạch Cây cỏ Lau
ra hoa từ tháng 6 – 12 hàng năm
1.3 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ
Chất lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hóa học có trong giống cỏ đó, (Nguyến văn Thưởng và L.S.Sumilin, 1992) Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh phụ thuộc vào giống cây trồng, điều kiện khí hậu, đất đai, kỹ thuật canh tác và giai đoạn sinh trưởng Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một giống cây thức ăn, trên cơ sở đó giúp các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý, tạo điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt cho gia súc
Trang 24Trong thực tế để đánh giá chất lượng các giống cỏ người ta thường tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: Vật chất khô (VCK), Protein, đường và chất xơ
Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất cao, phần trăm vật chất khô, protein, đường cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỷ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu protein được chú ý hơn cả
Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn thường giảm khi cỏ bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ càng già Khi chăn thả liên tục theo những khoảng thời gian liên tiếp bằng nhau, giá trị dinh dưỡng của
cỏ có thể ở mức tương đối cao nhưng như vậy năng suất bị giảm đi nhiều Theo Viện chăn nuôi quốc gia lượng protein thô trong cỏ hòa thảo ở Việt Nam trung bình là 9,8% Hàm lượng xơ khá cao (269 – 372g/kg vật chất khô)
Khoáng đa lượng và vi lượng ở cỏ hòa thảo đều thấp, đặc biệt nghèo về canxi và photpho Trong 1kg chất khô, lượng khoáng trung bình có ở cỏ hòa thảo là Ca: 4,7 ± 0,4g; P: 2,6 ± 0,1g; Mg: 2,0 ± 0,1g; K:19,5 ± 0,7g; Mn: 110
± 9,9mg; Cu: 8,3 ± 0,07mg; Zn: 24 ± 1,8mg; Fe: 450 ± 1,8mg
Các giống cây họ đậu bao giờ cũng có giá trị dinh dưỡng cao hơn cây thức ăn hòa thảo, điều này được thể hiện qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả
Trang 25Bảng 1.10: Thành phần hóa học của một số giống cỏ hòa thảo
Trang 26Bảng 1.11: Thành phần hóa học của một số giống cây bộ đậu
(%)
Nguồn: Viện chăn nuôi quốc gia
Như vậy hàm lượng Protein trong thức ăn ở cỏ hòa thảo chỉ từ 1,7 – 4,27% trong chất xanh, còn ở cây họ đậu từ 2,2 – 7,0% trong chất xanh
1.4 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới
Ở những nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin, Anh Chăn
Trang 27nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất của vùng đồi núi ở Đông Nam Á, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về cây thức ăn cho gia súc như: Tác giả T.Kanno và M.C.M.Maccedo [49] đã tiến hành thí nghiệm gieo hạt của các giống cỏ Brachiaria decumbens, B brizantha, B dictyoneura, B humidicola, Andropogon gayanus, Setaria sphacelata và Paspalum atratum đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy Các tác giả thấy không có loài nào có thể sống sót trong mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi gieo hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên không thể sống sót đến hết mùa mưa Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là bắt đầu mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo Theo john W Miles
2004 [48] chi Brachiaria là chi lớn được sử dụng làm thức ăn cho vật nuôi vùng nhiệt đới châu Mĩ
Ở Indonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự nhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải pháp để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ voi và cây đậu) [47]
Ở Thái Lan, với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người dân bằng giải pháp: Giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân trong dự án được cung cấp hạt giống cỏ
để trồng
Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực phía Nam Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ Stylo,
Trang 28Brachiaria, Pennisetum, sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng năm còn sản xuất được 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước
Ở Philippin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các trang trại nhỏ được trồng các giống cỏ Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum atratum, đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc Ngoài ra, các giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả Hàng năm còn sản xuất được trên 1 tấn hạt cỏ (E.F.Latinh, F.Gagunda, 1995)
Một số nước khác như Malaysia, Lào cũng đã chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một số giống
cỏ hòa thảo và cây ho đậu được chọn lọc, đang phát huy hiêu quả cao trong sản suất Hàng năm sản xuất được 2-3 tấn hạt cỏ các loại
Có thể nói, phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc ngày một phát triển
1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam
Đồng cỏ trồng của nước ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng chưa thành phổ biến đại trà Ở nước ta cũng đã có nhiều cố gắng mở rộng diện tích gieo trồng, vừa đảm bảo lương thực cho con người vừa có thể tận dụng cho chăn nuôi gia súc Từ năm 1960, chúng ta đã có chủ trương phát triển đồng cỏ chăn nuôi trâu bò ở những vùng thiếu cỏ Nếu như năm 1960 ở miền Bắc chỉ có 96 ha trồng cỏ thì qua năm 1961 và 1962 diện tích này đã tăng lên 323 và 678 ha Sang năm 1962, theo số liệu ở 6 tỉnh đồng bằng, diện tích trồng cỏ và cây ngô đay làm thức ăn cho trâu bò đạt tới 3587
mẫu Bắc bộ Năm 1976 Bộ Nông nghiệp đã phát hành bản dự thảo “Quy
phạm xây dựng, dự trữ và quản lý đồng cỏ”, từ đó đến nay diện tích đồng cỏ
Trang 29trồng có tới 5000 – 6000 ha, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ, Đồng Giao, Phú Mãn, đã xây dựng hàng nghìn ha đồng cỏ chăn nuôi luân phiên Nhiều khu vực chăn nuôi tập thể đã tiến hành cải tạo bãi cỏ tự nhiên, đồng cỏ cho trâu bò và lợn, nhiều hợp tác xã đã sử dụng đất ven bờ sông nhỏ, ven đê trồng
cỏ cung cấp cho gia súc Tuy nhiên, diện tích đất trồng cỏ của Việt nam vẫn còn rất nhỏ so với các nước trong khu vực Theo số liệu FAO năm 1990 thì ở khu vực Đông Nam Á diện tích đất dành cho chăn nuôi là 3,7% tổng diện tích đất tự nhiên thì Việt Nam chỉ đạt 0,01%
1.5 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần loài, dạng sống
1.5.1.1 Thành phần loài
Thành phần loài của các quần xã cỏ vùng Đông Dương và Đông Nam Á được nghiên cứu rất ít Phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu thành phần loài họ hòa thảo Whyte R.O (1975); Nguyễn Minh Thuật (1958); Bor N.L (1960); Gibliland N.B (1971) và những người khác
Những hiểu biết về thành phần loài thực vật đồng cỏ Bắc Việt Nam còn rời rạc và không đầy đủ Nguyễn Đình Ngỗi và Võ Văn Chi (1964) nghiên cứu thành phần loài của thảm cỏ vùng Hữu Lũng (Lạng Sơn) [31] Dương Hữu Thời (1963) nghiên cứu thành phần loài của vùng ngoại thành Hà Nội, Dương Hữu Thời, Nguyễn Đình Ngỗi (1965) nghiên cứu thành phần loài của các quần xã cỏ trong nông trường Hà Trung Dương Hữu Thời, Hoàng Chung, Nguyễn Ngọc Chất, Phạm Quang Anh (1969) nghiên cứu thành phần loài đồng cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn ) [42]
Nghiên cứu thành phần loài thực vật thuộc thảo còn nằm rải rác ở các công trình nghiên cứu về thảm thực vật khác Phan Nguyên Hồng (1970)
Trang 30nghiên cứu thành phần loài ven biển Bắc Việt Nam đã chia thảm thực vật Bắc Việt Nam ra các kiểu rừng và thảm thực vật khác nhau
Trong công trình tổng kết các nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam Dương Hữu Thời (1981) có công bố số liệu thu được về thành phần loài của 5 vùng thuộc Bắc Việt Nam gồm 213 loài thường gặp Trong quá trình nghiên cứu ông đề cập khá đầy đủ về loại hình đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam [41]
Hoàng Chung (1980) đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài, thuộc 54 họ và 44 chi khi ông nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam [13] Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu về một số đặc điểm sinh thái, sinh học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [24]
Ma Thế Quyên nghiên cứu về động thái đồng cỏ trong mối quan hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương (Ngân Sơn – Bắc Kạn) sưu tầm được 88 loài 35 họ
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu thành phần loài cây thức ăn gia súc ở vùng nhiệt đới: Lê Sinh Tăng, Nguyễn Chính (1959); Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tăng (1969); Trịnh Văn Thịnh và các tác giả (1974); Điền Văn Hưng (1975); Nguyễn Đăng Khôi (1978, 1979, 1981); Võ Duy Giang (1983); Dương Thành Liên (1981); Bùi Xuân An, Ngô Văn Mậu (1981); Vũ Văn Thường, Hoàng chung (2004); Hoàng Chung, Nguyễn Thị thủy (2006); Hoàng Chung, Nguyễn Thị Hải Yến (2006) Một số tác giả có đề cập đến cải tạo đồng cỏ tự nhiên, sự dụng hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập nội một số loài cỏ mới phân tích thành phần dinh dưỡng một số loài cỏ Việt Nam, Hoàng Kim Nhuệ (1979), Võ Văn Tự (1983) …
Trang 311.5.1.2 Những vấn đề nghiên cứu về dạng sống
Về dạng sống thực vật đã từ lâu được các nhà thực vật nghiên cứu quan tâm, E.Warming (1984, 1908, 1909), Raunkier (1905 ,1934) khi lập hệ thống dạng sống ông đã sử dụng những đặc điểm sinh học (đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự phát triển) Raunkier (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã đưa ra nhiều bảng phân loại dạng sống của thực vật [13]
Ở Liên Xô (cũ) việc phân loại dạng sống của các loài thực vật thuộc loại hình đồng cỏ, thảo nguyên, có các tác giả: Vưsoski (1915), Kazakevit (1922), Villiams (1922), Laprenco (1935), Salut (1955)…Quan trọng nhất là công trình nghiên cứu dạng sống thực vật của Dodulin (1959), Xerebriacop (1954,
1.5.2 Năng suất đồng cỏ
Trên thế giới việc nghiên cứu năng suất đồng cỏ được tiến hành nhiều vào thế kỉ 20 Có những nhà khoa học Ivanop (1941); Odum (1968); Rodin (1968)…đã nghiên cứu sâu về năng suất với mục đích làm sáng tỏ quá trình tích lũy vật chất hữu cơ, cũng như sự chuyển đổi sản phẩm và năng lượng trong các thực vật quần hay hệ sinh thái Nghiên cứu năng suất sinh học các thảm cỏ vùng Đông Nam Á có Iwaki và cộng sự (1964, 1969), Ogawa và cộng sự (1961)
Trang 32Ở Việt Nam đến năm 1955 hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu
về năng suất đồng cỏ Từ năm 1960 đến nay nhiều công trình nghiên cứu năng suất đã được tiến hành, điển hình trên các quần xã cỏ trồng, còn nghiên cứu trên đồng cỏ tự nhiên thì chỉ nghiên cứu một số cây có giá trị kinh tế cao
và chủ yếu tính sản lượng cỏ trong một số vùng nhằm phục vụ cho kế hoạch phát triển chăn nuôi đại gia súc ở vùng đó Nhiều công trình nghiên cứu về năng suất các loại cỏ trồng (chăn thả hay đồng cỏ cắt), Hoàng Chung (1981, 2002); Hoàng Chung và cộng sự (2004) nghiên cứu năng suất đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam
1.5.3 Những nghiên cứu về động thái đồng cỏ
Những nghiên cứu về động thái của các quần xã tự nhiên đã được tiến hành tư lâu như các tác giả Vuxotski G.N (1908, 1909, 1915) và Pachoxki I.K (1917, 1921) khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự chăn thả đến thảm thực vật đã
đi đến kết luận, chăn thả gia súc là một trong những yếu tố quan trọng làm thay đổi thảm thực vật trên diện tích lớn Những thí nghiệm của Lyupcaya A.F (1935), trên đồng cỏ Nga cho thấy chăn thả có ảnh hưởng trực tiếp tới đất, qua đất đến thảm thực vật
Lavrenco F.M (1938, 1940) khi nghiên cứu về sự biến đổi của thảm cỏ trong quá trình chăn thả đã đề nghị chia những biến đổi của thực vật trong đồng cỏ thành những thay đổi hàng năm và những thay đổi lâu năm Đối với những đồng cỏ chăn thả, những thay đổi ngắn hạn là quan trọng nhất
Xennhicop A.P (1941) đã phát hiện những động thái mùa của thảm thực vật và chia thành 7 giai đoạn phát triển nối liên với các thời kỳ ra hoa kết quả của một số cây cố định Khi nghiên cứu sự thay đổi của các trạng thái vật hậu học của các loài trong đồng cỏ và sự biến đổi cấu trúc của thảm cỏ, ông đã chia ra thành 8 giai đoạn biến động mùa trong chu kỳ 1 năm của đồng cỏ
Trang 33Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt cỏ đến thành phần loài thực vật Dmitriep (1948) cho thấy, nếu nhiều năm cắt cỏ vào đúng thời gian ra hoa của
cỏ sẽ làm thay đổi lớn loài thực vật trong đồng cỏ
Larin I.V (1965) khi nghiên cứu động thái thảm thực vật đồng cỏ ở miền tây Cazacstan đã đưa ra 2 nhóm yếu tố làm thảm thực vật thay đổi là động thái ngoài và động thái trong
Hoàng Chung (1974), Uchenkhin (1977) đã nghiên cứu về biến động mùa của từng loài riêng biệt trong quần xã và nhóm lại thành các kiểu hình theo phân bố không gian và thời gian Một tính chất quan trọng của quần xã thực vật có liên quan mật thiết với cấu trúc không gian và thời gian là năng suất Đồng thời nó là vấn đề tích lũy và động thái của các phần sống và phần chết của thực vật thuộc thảo, đặc biệt là trong thảo nguyên đồng cỏ, nó có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu không chỉ thảm thực vật mà cả quá trình mùn hóa, quá trình tích lũy và phân hủy các chất hữu cơ [13]
Hoàng Chung (2000) đã nghiên cứu biến động mùa quần xã cỏ miền Bắc Việt Nam Công trình này của ông bắt đầu nghiên cứu từ năm 1975 đã đề cập khá đầy đủ về nhưng chỉ tiêu khí hậu, đất đai phần trên mặt đất và phần dưới đất và đã đi đến kết luận thực vật đồng cỏ miền Bắc Việt Nam là xanh quanh năm, biến động khối lượng quan hệ mật thiết với khí hậu, đặc biệt là độ
ẩm của đất Cuối cùng đã nêu lên được quy luật động thái của đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam [13]
1.6 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam
1.6.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả
Đồng cỏ bị thay đổi dưới tác động thường xuyên của con người, vì đồng cỏ đã và luôn luôn là đối tượng hoạt động kinh tế nông nghiệp của con
Trang 34người Ngày nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hóa của các đồng cỏ chăn thả, cũng như các thảm cỏ ở các vùng khác nhau
Ở Liên Bang Nga đã tích lũy khá nhiều tư liệu của đới thảo nguyên và bán hoang mạc G.I.Vuxotsky (1915), ông đã xác định được 4 giai đoạn thoái hóa của thực vật thảo nguyên dưới tác động của chăn thả Patrotski (1917) nghiên cứu đới nam của thảo nguyên Stypa longifolia, ông chia thành 5 giai đoạn thoái hóa, trong đó có cả giai đoạn chăn thả và giai đoạn không chăn thả được
V.V.Aleokhin (1934) nghiên cứu ở vùng Kursk thuộc đới phụ (phía Bắc) của thảo nguyên đồng cỏ đã xác định những giai đoạn thoái hóa do chăn thả Andreev (1958) khi nghiên cứu các giai đoạn hình thành và thoái hóa của thực bì thảo nguyên ở nam Nga đã chia thành 8 giai đoạn, giai đoạn đầu là sự chặt hạ và cuối cùng là sự hình thành thảm bào tử thực vật Abramtruk (1980)
để đánh giá mức độ thoái hóa của quần xã cỏ do tác động của con người, đã
sử dụng mức độ tham gia của các loài gần người (số lượng loài, độ nhiều) trong thành phần của chúng Để thực hiện được các ông đã đưa ra thang bậc gồm 3 mức Sự khác nhau giữa các mức phụ thuộc vào mức độ thoái hóa do con người tạo ra Đồng cỏ vùng nhiệt đới thoái hóa dưới tác động của các yếu
tố con người tạo ra từ lâu đã trở thành vấn đề nóng bỏng cho nền kinh tế và cho chăn nuôi của sứ nhiệt đới Nhưng những nghiên cứu về vấn đề này cho đến nay còn ít
Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam được hình thành do kết quả tác động lâu dài của con người Đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới Đồng thời đồng cỏ lại phân bố chủ yếu ở vùng núi, sườn có độ dốc khá lớn, do đó vấn đề thoái hóa của đồng cỏ trong quá trình sử dụng là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các nhà nghiên cứu đồng cỏ Việt Nam
Trang 35Những nghiên cứu về thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn rất ít, Dương Hữu Thời (1981), trong cuốn „„đồng cỏ Bắc Việt Nam‟‟ khi phân tích thành phần loài và các điều kiện sinh thái của đồng
cỏ đã dề cập tới hai nguyên nhân của thoái hóa đồng cỏ Bắc Việt Nam đó là cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu [41] Hoàng Chung (1981, 1983) đã phân tích ảnh hưởng của chăn thả không kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ vùng thôm Luông (Ngân Sơn) Ông thấy những tác động do con người trên lớp phủ thực vật vùng nhiệt đới bước đầu dẫn tới sự hình thành thực bì cỏ, một trong số các loại hình thứ sinh Sau
đó do chăn thả và tác động khác nhau đã làm cho đồng cỏ bị thoái hóa dần và biểu thị ra 5 giai đoạn của thoái hóa, cuối cùng của nó đó là trên mảnh đất của đồng cỏ sẽ xuất hiện savan cây bụi hay savan cỏ (hay một kiểu thảm thứ sinh nào đó của cây bụi rồi tiến tới rừng)
1.6.2 Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam do hoạt động khai phá rừng ngày càng tăng lên, diện tích đồng cỏ ngày càng mở rộng Hiện nay đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, như làm bãi chăn thả, trồng cây lương thực, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng rừng…Trong thực tế tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục đích chăn nuôi phần lớn chưa có phương thức sử dụng hợp lý, khai thác một cách nặng nề làm cho thảm cỏ ngày càng
bị thoái hóa Vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ cũng được đề cập đến trong thời
kỳ này, nhưng cho đến nay vấn đề này còn là mới mẻ, tài liệu còn quá ít
Những công trình nghiên cứu dành cho vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ rải rác ở một số công trình: Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn Minh (1968) có nghiên cứu về sử dụng luân phiên đồng cỏ ở Ba Vì, và có đề nghị chia thành 6
ô, mùa hè sử dụng 5 ô Trong một đàn gia súc số lượng lên là 100 - 150con, diện tích đồng cỏ nên là 50 - 80 ha
Trang 36Võ Văn Trị (1983) đã chia đồng cỏ thành những ô nhỏ, sự luân phiên trong mùa hè theo ông có thể khoảng 40 - 45 ngày, mùa đông là 60 ngày
Dương Hữu Thời (1981) có đề cập tới một số vấn đề sử dụng hợp lý như luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi [41]
Vấn đề cải tạo đồng cỏ có Võ Văn Trị (1968) tiến hành dùng phân vô
cơ bón cho đồng cỏ Ba vì và ông thấy đạt kết quả tốt trong điều kiện độ ẩm đất cao hơn 24 %, theo ông với đất chua vùng Ba Vì nên dùng phân NH4NO3
Trần Nhơn (1981) cũng thí nghiệm trồng một số loài cỏ nhập nội đạt kết quả tốt
Nguyễn Nghi, Phan Văn Lợi, Trần Công Xuân (1982), Nguyễn Văn Thưởng (1977) cũng thu được kết quả tốt như trồng cây hỗn hợp cỏ hoa thảo với họ đậu
Trịnh Văn Thịnh (1977) cũng tiến hành trồng một số cây cây cỏ đạt năng suất cao
Hoàng Chung (1981) tiến hành nghiên cứu vấn đề sự dụng hợp lý đồng
cỏ vùng núi Bắc Việt Nam nhằm hạn chế tác động phá hoại lớp phủ và lớp đất mặt do chăn thả, hay những tác động khác làm giảm sút thảm cỏ
Tóm lại: Chăn nuôi là một ngành quan trọng của kinh tế nông nghiệp và từ
lâu con người đã dùng nó, vì thế nghiên cứu về đồng cỏ và cây thức ăn gia súc cũng có từ lâu Bước đi trong nghiên cứu đồng cỏ phản ánh lịch sử phát triển của chăn nuôi, từ đồng cỏ tự nhiên đến đồng cỏ trồng, từ thành phần loài
và dạng sống để phục vụ khai thác tốt hơn đến nghiên cứu năng suất chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và nghiên cứu ảnh hưởng chăn thả đến quá trình thoái hóa đồng cỏ để có quy trình sử dụng tốt, và cuối cùng là nghiên cứu thâm canh đồng cỏ để nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích trồng cỏ
Trang 37Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn
2.1.1 Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm trên trục đường Quốc lộ 31, trung tâm huyện lỵ là thị trấn Chũ cách thành phố Bắc Giang 40 km về phía Đông Huyện Lục Ngạn có tổng diện tích tự nhiên là 101.728,2 ha, được chia thành 02 vùng rõ rệt: Vùng thấp gồm 17 xã và thị trấn Chũ; vùng cao gồm 12 xã
Địa giới hành chính huyện Lục Ngạn như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Hữu Lũng và huyện Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn + Phía Đông giáp huyện Sơn Động của tỉnh Bắc Giang và huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn
+ Phía Tây và Nam giáp huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang
Địa hình: Huyện Lục Ngạn là một bồn địa được bao bọc bởi 2 dải núi lớn là Bảo Đài ở phía Bắc và Yên Tử, Huyền Định ở phía Nam và Đông Nam Địa hình chia thành 2 vùng rõ rệt là vùng cao và vùng thấp Vùng thấp bao gồm những dãy đồi bát úp xen kẽ những cánh đồng có độ cao trung bình từ 100 – 150m so với mực biển, độ dốc < 20 0 Vùng cao bao gồm những dãy núi có độ dốc trung bình từ 25 – 300, độ cao trung bình > 300m
so với mực nước biển
Trang 3830
Trang 392.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu: Nằm ở phía đông bắc của vùng Đông Bắc Việt Nam, Lục
Ngạn là một huyện trung du miền núi có địa hình tương đối thấp Dạng địa hình phổ biến là núi thấp và đồi, núi trung bình ít và không có núi cao
Huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Khí hậu phân hoá rõ rệt theo mùa: Mùa mưa nóng ẩm trùng với mùa
hè và mùa đông lạnh khô vào đầu mùa, lạnh ẩm vào cuối mùa
Mùa mưa: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Vào mùa này gió mùa Đông Nam mang hơi nước từ biển Đông vào nên thường gây ra mưa lớn; lượng mưa tập trung vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Đây cũng là mùa có độ
ẩm và nhiệt độ cao, độ ẩm lên tới 87% vào tháng 8; nhiệt độ cao nhất trong năm thường vào tháng 6 trung bình là 29,90C
Vị trí địa lý và địa hình không thuận lợi để đón gió mùa gây mưa lớn, nên Lục Ngạn có chế độ mưa ít là phổ biến, chỉ các vùng núi mới có mưa vừa Tuy lượng mưa hàng năm nhìn chung thuộc loại thấp tổng lượng mưa trong năm là 1581,4mm nhưng tính chất khô hạn của mùa ít mưa lại không khắc nghiệt do có độ ẩm cao và mưa phùn thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển
Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thường gây rét đậm kéo dài, nhiệt độ thấp vào tháng 1
và tháng 12 Lượng bốc hơi lớn, độ ẩm không cao, khoảng 74 - 75% vào tháng 10 và 11, tiết trời rất hanh khô Vào mùa này cũng thường xuất hiện sương muối nhưng lượng gây hại là không đáng kể
Số giờ nắng: Nằm phía đông bắc của vùng Đông Bắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc nên huyện Lục Ngạn có số giờ nắng thấp, tổng số giờ nắng cả năm là 1242,3 giờ
Trang 40Chế độ gió: Nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam, cách xa biển có địa hình vùng núi nên ở địa bàn nghiên cứu chế độ gió phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện địa hình địa phương Tần suất lặng gió đạt giá trị rất lớn, trong khoảng 54 - 64% Vào mùa đông, hướng gió chủ yếu là Bắc có tần suất tương đối lớn, đạt 23 - 43% Trong mùa hè hướng gió là Nam và Đông Nam với tần suất mỗi hướng dao động trong khoảng 13 - 23% Tần suất lặng gió thay đổi không nhiều trong năm, khoảng 24 - 46%
Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 0,9 - 1,8m/s phụ thuộc vào điều kiện địa hình địa phương Tốc độ gió trung bình lớn nhất thường quan sát vào mùa đông đạt 1,5 - 2,6 m/s ở những khu vực tương đối thoáng gió Còn trong các thung lũng tốc độ gió trung bình ít thay đổi trong năm và đạt trên dưới 1,0 m/s Tốc độ gió trung bình của các hướng gió chính tương đối lớn, đạt 2 - 4m/s
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt như: Mưa đá, sương mù, mưa phùn, gió khô nóng
và chịu ảnh hưởng của bão xảy ra với tần suất ít và thời gian ngắn
Thủy văn: Trên địa bàn huyện có sông Lục Nam chảy qua, cùng với
đó là hệ thống các hồ có trữ lượng nước lớn như: Hồ Quý Sơn; hồ làng Thum;
hồ Khuân Thần và nguồn nước ngầm vô cùng lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, phân bố nguồn nước không đều theo địa hình và các mùa trong năm