Một trong những vấn đề cấp thiết cần được giải quyết đối với chăn nuôi lợn ngoại ở Vĩnh Phúc đó là năng suất chất lượng đàn lợn thịt còn thấp, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại khô
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN THẮNG
GIỐNG DUROC, L19 NUÔI TẠI VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN THẮNG
GIỐNG DUROC, L19 NUÔI TẠI VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 60 62 40
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN TỐ
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Văn Thắng
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến PGS.TS Trần Tố, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Lời cám ơn chân thành của tôi cũng xin gửi tới các Thầy Cô trong
Bộ môn Di truyền-Giống vật nuôi; Khoa Chăn nuôi-Thú y; Khoa Sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Xin chân thành cám ơn Thường trực Hội Nông dân tỉnh Vĩnh Phúc
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Cho phép tôi được bày tỏ lời cám ơn tới Trung tâm giống gia súc, gia cầm tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho luận văn này
Tôi xin cám ơn gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
2011
Thái Nguyên, tháng 10 năm
Tác giả
Trần Văn Thắng
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.1.1.1 Bản chất di truyền của ưu thế lai 5 1.1.1.2 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn 6
1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng
Trang 61.1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng, các yếu tố ảnh hưởng tới 18
1.1.3.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng 20 1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng 22
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống 25
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn cái 26
1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất và chất lượng thịt lợn 26
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 29
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 34
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 36
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản vả sức sản xuất của lợn nái
2.2.2 Nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai giữa đực Duroc 39
và L19 với nái lai F1 (L x Y) và F1 (Y x L)
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai giữa 44
đực Duroc và L19 với nái lai F1 (Y x L) và F1 (L x Y) 45
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
3.1 Kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái lai F 1 (L
Trang 7x Y) và F 1 (Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc 45
3.1.1 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của 49
lợn nái lai F 1 (L x Y) và F 1 (Y x L) nuôi tại Vĩnh Phúc 54
3.2 Kết quả nghiên cứu khả năng sản xuất của con lai giữa đực 54
Duroc và L19 với nái lai F1 (L x Y) và F 1 (Y x L) 61
3.2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm 71
B TÀI LIỆU TIẾNG ANH
PHỤ LỤC
Trang 8DxF1(LY) Duroc x F1(Landrace x Yorkshire)
DxF1(YL) Duroc x F1(Yorkshire x Landrace)
H Giống lợn Hampshire
L hoặc LR Giống lợn Landrace
LW Giống lợn LargeWhite
L06 Dòng Landrace thuần
L11 Dòng Large White thuần
L19 Dòng đực (Duroc x Yorkshire) Viện chăn nuôi
L19xF1(YL) L19 x F1(Yorkshire x Landrace)
L19xF1(LY) L19 x F1(Landrace x Yorkshire)
L64 Dòng Piétrain thuần
L95, MS Dòng Meishan tổng hợp
MC Giống lợn Móng Cái
Trang 9Pi Giống lợn Piétrain
TLN Tỷ lệ nạc
TT Tăng trọng
TTTĂ Tiêu tốn thức ăn
ƯTL Ưu thế lai
Y Giống lợn Yorkshire
402 Dòng đực lai [Yorkshire(L11) x Piétrain(L64)]
Trang 10Bảng 3.12 Đánh giá chất lượng của lợn thịt 70
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm qua các tháng 57 Biểu đồ 3.1 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 59 Biểu đồ 3.2 Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 60 Biểu đồ 3.3 Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng 63
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trên thế giới chăn nuôi lợn là một ngành phát triển, thịt lợn chiếm 40% tổng sản lượng các loại thịt Ở Việt Nam chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống lâu đời của hàng triệu hộ nông dân, thịt lợn chiếm trên 70% tổng sản lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường
Thực hiện định hướng phát triển chăn nuôi, phát triển đàn lợn theo hướng
“nạc hoá” sử dụng tổ hợp lai 3 máu cấp tiến và ngoại thuần, mở rộng hệ thống chăn nuôi tập trung thâm canh, chọn lọc nâng cấp đàn lợn nái nội, nái lai hiện có, hình thành các trang trại nông hộ quy mô vừa, thay đổi cơ cấu đàn, tăng đàn nái ngoại, giảm đàn nái nội Hiện nay chăn nuôi lợn trang trại đang được nhà nước khuyến khích và đã có sự phát triển trong vài năm gần đây
Để có được đàn lợn thịt có tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt tỷ lệ nạc ở mức tối đa của phẩm giống, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc tốt, cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại, việc tạo ra những tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm tốt của mỗi giống, dòng cao sản và đặc biệt sử dụng triệt để ưu thế lai là rất cần thiết Nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, cũng như thực tiễn sản xuất đã khẳng định những tổ hợp lai nhiều giống khác nhau đều có xu hướng tăng số con sơ sinh sống mỗi ổ, nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi
kg tăng khối lượng, nâng cao tỷ lệ và chất lượng thịt nạc Hầu hết các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển trên thế giới đều sử dụng các tổ hợp lai để sản xuất lợn thương phẩm, mang lại năng xuất và hiệu quả kinh tế cao, giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi Ở nước ta nhiều giống lợn cao sản đã được sử dụng như: Yorkshire (Y), Landrace (L), Duroc (D), Hampshire (H), Piétrain (Pi), đã được đưa vào nước ta để cải tiến các giống lợn trong nước, đồng thời nhập và sản xuất một số dòng lai ngoại như L19, L95, L06, L11, L64, C1050,
Trang 13C1230, CA, C22, 402 với hệ thống nhân giống lợn của tập đoàn PIC để tạo ra các tổ hợp lai thương phẩm mang nhiều máu, có ưu thế lai cao đáp ứng được mục đích nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm ở phía Bắc khu vực sông Hồng, có nền văn minh lúa nước lâu đời, là một tỉnh nông nghiệp trọng điểm với hai thế mạnh
là cây lúa và con lợn Ngay sau khi tái lập tỉnh năm 1997 kinh tế của Vĩnh Phúc phát triển với tốc độ khá cao Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Vĩnh Phúc rất chú trọng công tác phát triển nông nghiệp đặc biệt là lĩnh vực chăn nuôi, với mục tiêu tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong
cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tích cực chuyển dịch cơ cấu vật nuôi và cây trồng để góp phần phát triển kinh tế chung trong toàn tỉnh Tổng đàn lợn hàng năm tăng mạnh không những về số lượng mà chất lượng ngày càng được nâng cao Tổng đàn lợn của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2004 đạt trên 521,81 ngàn
con (tăng 42,2% so năm 1997 và 25,19% so năm 2000), năm 2006, đạt 549 ngàn con (tăng 48,58% so với năm 1997 và 31,7% so với năm 2000) Sản lượng
thịt lợn hơi xuất chuồng tăng mạnh, năm 2006 đạt 52,9 ngàn tấn, tăng 91,7% so năm 1997 và 112,3% so năm 2000 Để xây dựng ngành chăn nuôi chuyển từ nhỏ
lẻ, sang sản xuất hàng hóa từ năm 2002, tỉnh đã triển khai các dự án cải tạo giống và phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc, sản xuất giống và chăn nuôi lợn ngoại, bước đầu thu được kết quả đáng khích lệ đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi công nghiệp, quy mô hàng trăm nái có thu nhập cao Thực trạng trong những năm qua, chăn nuôi lợn trang trại ở Vĩnh Phúc có quy mô tương đối nhỏ, tỷ lệ phát triển cũng như mức độ đầu tư trong chăn nuôi còn hạn chế Song cũng có lý do là chăn nuôi trang trại cũng chỉ mới bắt đầu phát triển trong vài năm gần đây, trình độ kỹ thuật chăn nuôi cũng như khả năng quản lý trang trại còn hạn chế, do hầu hết các chủ trang trại đều là nông dân đi lên từ chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ, bên cạnh đó chăn nuôi lợn ngoại có tỷ lệ nạc cao vẫn
Trang 14còn là một nghề mới
Một trong những vấn đề cấp thiết cần được giải quyết đối với chăn nuôi lợn ngoại ở Vĩnh Phúc đó là năng suất chất lượng đàn lợn thịt còn thấp, khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại không ổn định, người chăn nuôi còn nhiều lúng túng trong việc lựa chọn tổ hợp lai nào cho phù hợp với điều kiện nuôi dưỡng ở địa phương để phù hợp với phương thức và qui mô chăn nuôi mang lại hiệu quả Trước tình hình thực tế đó, để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện, tìm ra các biện pháp nâng cao năng suất chất lượng thịt lợn cũng như khả
năng sinh sản của đàn lợn nái, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái lai F 1 (LxY), F 1 (YxL) và con lai của chúng với lợn đực giống Duroc, L19 nuôi tại Vĩnh Phúc”
Thực hiện đề tài này sẽ mang lại giá trị lớn trong công tác chăn nuôi lợn làm cơ sở cho việc phát triển đàn lợn có năng suất, chất lượng cao nuôi trong nông hộ mang lại lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản và sức sản xuất của lợn nái lai
F1(LxY) và F1(YxL) nuôi tại Vĩnh Phúc
- Đánh giá khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa lợn nái lai F1(LxY)
và F1(YxL) với lợn đực giống Duroc và L19
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Chọn ra tổ hợp lai tốt hơn về các chỉ tiêu sinh lý sinh sản và sức sản
xuất của lợn nái lai, và khả năng sản xuất của con lai ở các tổ hợp lai, góp phần nâng cao năng xuất chất lượng đàn nái, đàn lợn thịt của tỉnh
- Kết quả nghiên cứu là số liệu thực tế về ưu thế lai phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học đối với con lợn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 15Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thực tiễn để xây dựng và phát triển các tổ hợp lai trong các trang trại và các nông hộ có khả năng đầu tư, thâm canh cao, làm cơ sở để xác định được các tổ hợp lai phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế đối với chăn nuôi lợn nông hộ tại tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu
Bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó Kiểu gen, dưới tác động của môi trường sẽ biểu hiện thành kiểu hình tương ứng của vật nuôi đó Để công tác chọn lọc giống vật nuôi đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng
1.1.1 Cơ sở di truyền của sự lai tạo và ưu thế lai
1.1.1.1 Bản chất di truyền của ưu thế lai Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau, hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống, hai loài khác nhau Do đó đời con của chúng mang đặc tính của bố mẹ nó Lai giống có tác dụng mang lại ưu thế lai ở đời con một số tính trạng nhất định
Mức độ ưu thế lai của một tính trạng năng suất được xác định như sau:
Trong đó: 1/2(AB) là trung bình của con, A là bố, B là mẹ
1/2(BA) là trung bình của con, B là bố, A là mẹ
Trang 17khi có đồng hợp tử, thế hệ con lai tạo ra giữa hai cá thể được biểu hiện do các gen trội của bố và mẹ
- Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen di hợp tử có tác động lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử Aa>AA>aa (Theo Shull (1952) [83] )
- Thuyết át gen cho rằng hai giống đã hình thành nên các tổ hợp gen mới trong đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locut là nguyên nhân tạo ra ưu thế lai
1.1.1.2 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế chăn nuôi lợn cho thấy việc lai giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Hiện nay trên thế giới những nước phát triển chăn nuôi lợn có tới 90% con giống thương phẩm
là con lai Tuy nhiên việc kết hợp giữa hai giống nào có ưu thế cao phụ thuộc vào sự chọn lựa, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên giá trị giống
Theo nghiên cứu của William (1997) [50] ở lợn có ba loại ưu thế lai:
- Ưu thế lai ở lợn mẹ có lợi cho các cá thể đời con, là ưu thế lai quan trọng nhất bởi vì năng suất sinh sản phụ thuộc vào số đầu con cai sữa/lứa, đây
là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất
- Ưu thế lai của con có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở sự tăng khối lượng, sức sống, đặc biệt là sau cai sữa
- Ưu thế lai về đực giống được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con đực từ kết quả giao phối, ưu thế lai của đực giống được thể hiện rất hạn chế
So sánh về năng suất sinh sản của lợn cái lai (LxLW) phối với đực thuần và đực lai, Gineva và CS (1999) [64] cho thấy kiểu gen của lợn đực giống không ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con đẻ ra và số lượng con sống đến 21 ngày tuổi, song khối lượng lợn con sơ sinh của đực giống lai cao hơn đực giống thuần
Trang 18Ưu thế lai đạt được ở các chỉ tiêu năng suất là khác nhau phụ thuộc vào phương pháp lai, giữa các cặp lai ưu thế lai thể hiện cao đối với các chỉ tiêu sinh sản, thể hiện trung bình đối với các chỉ tiêu vỗ béo và thấp đối với các chỉ tiêu giết thịt
Để lợn lai nuôi thịt có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn thức ăn thấp,
tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai được tổ chức theo sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các tổ hợp lai giữa nhiều dòng, giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau:
- Đàn cụ, kỵ (GGP) có nhiệm vụ nhân các dòng, giống thuần
- Đàn ông, bà (GP) lai giữa hai dòng, giống thuần với nhau tạo ra đời ông bà Nếu dùng tổ hợp lai giữa bốn dòng giống khác nhau, cần có hai đàn ông
bà khác nhau, một đàn ông bà tạo ra đàn bố, còn đàn kia tạo ra đàn mẹ Nếu sử dụng tổ hợp lai giữa ba dòng khác nhau, chỉ cần một đàn ông bà, đàn này thường dùng để tạo ra đàn mẹ, còn đàn bố thường là dòng, giống thuần trong đàn cụ, kỵ
- Đàn bố, mẹ (P) lai giữa hai đàn bố mẹ tạo ra đời con là con lai giữa ba hay bốn dòng giống khác nhau
- Đàn thương phẩm các con lai giữa ba hay bốn dòng giống khác nhau được nuôi để sản xuất thịt
Năng suất chăn nuôi lợn phụ thuộc rất nhiều vào công tác giống, để có năng suất cao chất lượng sản phẩm tốt công tác giống phải là vấn đề then chốt Để có tổ hợp lai tốt, nguyên liệu lai chính là các con giống thuần ở đàn hạt nhân, do đó chọn giống trong đàn hạt nhân sẽ quyết định cho năng suất chăn nuôi lợn
1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
1.1.2.1 Cơ sở sinh lý sinh dục đực
- Sự thành thục tính dục của lợn đực được xác định khi tinh hoàn có đủ khả năng sản xuất tinh trùng thành thục, phối giống có khả năng thụ thai
Trang 19- Đặc điểm và thành phần hóa học của tinh dịch lợn
Tinh dịch lợn cũng như tinh dịch của các loài gia súc khác, nó là hỗn hợp dịch tiết của cơ quan sinh dục đực do các tuyến sinh dục phụ tiết ra, khi con đực hưng phấn cao độ và thực hiện thành công phản xạ sinh dục để tiết tinh dịch vào đường sinh dục của con cái hay dụng cụ lấy tinh Tinh dịch lợn đực gồm hai phần là tinh thanh và tinh trùng
Tinh thanh chiếm 94,7% khối lượng tinh dịch, tinh thanh của tinh dịch là môi trường có tác dụng kích thích tinh trùng hoạt động Sự hoạt động của tinh trùng làm tiêu hao năng lượng dự trữ, làm trương phồng màng bọc đầu tinh trùng, đồng thời làm mất diện tích bề mặt gây ra các đám kết dính làm tinh trùng lợn chóng chết khi ra ngoài cơ thể con đực Tinh thanh của tinh dịch là hỗn hợp chất lỏng được tiết ra bởi tuyến sinh dục phụ như tiền liệt tuyến và niệu đạo (55-70%), tinh nang (20-26%), tuyến Cowper (15-18%) và tinh hoàn phụ (2-3%) Do tinh thanh chiếm khối lượng lớn trong tinh dịch và chỉ là môi trường cho tinh dịch hoạt động, do vậy khối lượng tinh dịch là chỉ tiêu chỉ có
ý nghĩa về mặt pha loãng và qua nó không thể kết luận được tính tốt hay xấu Tinh trùng lợn được tạo ra từ các tế bào Sertoli ở thành của các ống sinh tinh Các ống này chứa rất nhiều loại tế bào khác nhau, trong đó quan trọng nhất là tế bào mầm hay tế bào sinh dục nguyên thủy Vào một thời điểm nào
đó, tế bào sinh dục nguyên thủy tăng lên qua 2 lần phân chia, lần thứ nhất biến thành tinh bào sơ cấp rồi thành tinh bào thứ cấp có 19 nhiễm sắc thể thường và một nhiễm sắc thể sinh dục (X hoặc Y) Một tinh bào thứ cấp tồn tại không lâu rồi phân chia thành hai tiền tinh trùng và hoàn thiện dần thành tinh trùng Khi đã được hình thành, tinh trùng chuyển từ dịch hoàn đến dịch hoàn phụ Trong dịch hoàn phụ, tinh trùng tồn tại trong môi trường hơi có tính axít nên khả năng hoạt động của chúng bị ức chế Khi di chuyển trong
Trang 20dịch hoàn phụ, tinh trùng được bao phủ một lớp lipoprotein, lớp này nâng cao khả năng ổn định cho tinh trùng, giúp cho tinh trùng không bị tụ dính
Quá trình hình thành tinh trùng chịu sự điều khiển trực tiếp của Testosteron (Nguyễn Xuân Tịnh và CS (1996) [35])
Thành phần hóa học của tinh dịch lợn tinh dịch lợn là một hỗn hợp các chất lỏng rất phức tạp, cho đến nay thành phần của nó vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Một số chất chỉ được xác định ở mức định tính, các loài khác nhau thì thành phần hóa học của tinh dịch cũng khác nhau, tác dụng chủ yếu của chúng là rửa đường niệu sinh dục, là môi trường để nuôi sống tinh trùng ngoài cơ thể, kích thích tinh trùng trong quá trình hoạt động ở đường sinh dục cái
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch Khi tinh trùng còn ở trong cơ thể gia súc thì số lượng và chất lượng của tinh dịch phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ khai thác, sử dụng, sức khoẻ và tuổi tác của con vật cũng như những điều kiện về khí hậu, thời tiết Ở các giống khác nhau, số lượng và chất lượng tinh dịch cũng khác nhau
Khi tinh trùng ra ngoài cơ thể gia súc nó sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:
- Ánh sáng: Do tinh trùng có đặc tính ưa tối do vậy ánh sáng sẽ là tác nhân có hại cho sức sống của tinh trùng
- Nhiệt độ môi trường bảo tồn: Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sức hoạt động của tinh trùng theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh, 1993) [36] thì nhiệt độ phù hợp là 10-150C Tuỳ theo từng loại môi trường mà nhiệt độ bảo tồn có thể khác nhau, môi trường Liên Xô II bảo quản ở 120C, môi trường BTS bảo quản ở 180C Theo Hirosi Masuda (1994) [70] tinh trùng hoạt động mạnh ở nhiệt độ 40-420C và chết nhanh ở 600C
- Ảnh hưởng của chất độc hoá học: Các kim loại nặng như Fe, Hg là
Trang 21những chất độc mạnh với tinh trùng Một số chất như khói thuốc lá, mùi Formol, H2S, các chất hữu cơ như cồn, ete, kiềm, axit đều làm cho tinh trùng nhanh chết
- Ảnh hưởng của áp lực thẩm thấu, năng lực đệm pH: Môi trường pha loãng tinh dịch lợn cần có áp lực thẩm thấu đẳng trương với tinh dịch
- Ảnh hưởng của tác động cơ học: Do đặc điểm cấu tạo acrosome của tinh trùng liên kết rất lỏng lẻo với đầu và phần đầu lại liên kết lỏng lẻo với phần cổ, thân vì vậy nó rất dễ bị bong ra do tác động cơ học
1.1.2.3 Cơ sở sinh lý sinh sản ở con cái
Sự thành thục về sinh dục của lợn cái được thể hiện bằng hoạt động sinh dục theo chu kỳ, trứng chín, rụng nếu thụ tinh con cái có khả năng thụ thai chửa đẻ, tiết sữa, nuôi con Tuổi thành thục về tính của các giống lợn có sự khác nhau, đối với lợn ngoại, lợn lai thời gian thành thục về tính khoảng từ 6-
8 tháng tuổi, sự thành thục về thể vóc chậm hơn sự thành thục về tính, do đó xác định tuổi động dục lần đầu, khối lượng động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, khối lượng phối giống lần đầu, thời gian phối giống lần đầu còn phụ thuộc vào cường độ sinh trưởng của lợn cái trong giai đoạn hậu bị, phụ thuộc vào sự thành thục về thể vóc Theo Hughes và cs (1975) [71]; Etienne, Legault (1974) [63]; Self (1955) [82] phạm vi biến động của thời gian phối giống lần đầu cho lợn cái là 135-250 ngày tuổi Xác định thời điểm phối giống để đạt kết quả hết sức quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn Thời điểm phối giống thích hợp được xác định thông qua chu kỳ tính của con cái Thời gian trong chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, dinh dưỡng
Lợn đẻ lứa 2 - 3 chu kỳ động dục là 19,4 ngày
Lợn đẻ lứa 4 - 5 chu kỳ động dục là 20,4 ngày
Lợn đẻ lứa 6 - 7 chu kỳ động dục là 21,5 ngày
Trang 22Lợn đẻ lứa 8 - 9 chu kỳ động dục là 22,4 ngày
Như vậy chu kỳ động dục dài hay ngắn phụ thuộc vào giai đoạn sinh sản của lợn nái
- Thời gian động dục:
+ Xác định thời gian động dục phải xác định thời điểm động dục, đa số lợn động dục vào ban đêm và sáng sớm Theo nghiên cứu của Scofield (1972) [81] lợn nái động dục buổi sáng là 63,44%, lợn nái động dục buổi tối là 36,56%
+ Thời gian động dục của lợn nái khoảng 3-5 ngày trung bình khoảng 3 ngày, phụ thuộc vào giống, tuổi, mùa vụ, chế độ dinh dưỡng Theo nghiên cứu của Gineva (1999) [64] trên 2500 lợn Đại Bạch thời gian động dục khoảng 53 giờ, thời gian động dục phụ thuộc vào mùa vụ, mùa xuân thời gian động dục khoảng 55 giờ, mùa hè 59 giờ, mùa thu 57 giờ, mùa đông 53 giờ
- Số trứng rụng trong một chu kỳ phụ thuộc các yếu tố:
+ Các giống khác nhau có số trứng rụng khác nhau, lợn Đại Bạch có số trứng rụng trong một lần động dục khoảng 17 trứng, lợn Pi khoảng 14 trứng + Tuổi và lứa đẻ theo nghiên cứu của Clark (1986) [59] trong lần động dục đầu tiên số trứng rụng trung bình là 9,8 trứng, lần động dục thứ hai là 11,8 trứng + Dinh dưỡng khẩu phần dinh dưỡng tốt số trứng rụng là 13,5 nếu khẩu phần dinh dưỡng mức trung bình là 11,1 trứng, nuôi theo mức dinh dưỡng thấp số trứng rụng trung bình là 10,6 trứng
Ngoài những yếu tố trên, số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào nhiệt
độ của môi trường, xác định thời điểm rụng trứng để tiến hành phối giống là hết sức quan trọng, điều này quyết định đến khả năng sinh sản của lợn nái
1.1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của con cái
- Ảnh hưởng của giống
Giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau Gia súc có tầm vóc nhỏ thì sự thành thục về tính thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Lợn nội
Trang 23thành thục về tính thường sớm hơn lợn ngoại ở các giống lợn khác nhau thì năng suất sinh sản cũng khác nhau Giống lợn Meishan (Trung Quốc) được coi
là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, đạt 14-18 lợn sơ sinh, trên 12 con lợn cai sữa/ổ ở lứa đẻ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực (1998) [43])
- Số trứng rụng: Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra/lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con Như vậy trứng rụng bao giờ cũng nhiều hơn số con đẻ ra Sự chênh lệch này
có thể do một số trứng được thụ tinh nhưng không phát triển thành hợp tử Haines và CS (1959) [65] cho biết số trứng rụng ở chu kỳ động dục lần đầu là 11,3 trứng, ở chu kỳ động dục lần hai là 12,3 trứng Theo Perry (1954) [77],
số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 Số trứng rụng trung bình của lợn nái là 15-20 (Vangen, 1981 [88]; Haines, 1959 [65]; Skinner, 1977 [84]) Số trứng rụng ở các chu kỳ động dục 1, 2, 3 có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/lứa ở lợn cái hậu bị (Hughes và CS (1980) [72]) Do
số trứng rụng ở chu kì động dục lần đầu ít, nên khi phối giống cho lợn ngoại thường tiến hành ở chu kỳ động dục lần thứ hai hoặc thứ ba Trần Cừ và CS (1975) [11] cho biết ở lợn nái mỗi chu kỳ động dục có thể rụng 15-20 trứng,
có khi đến 40 trứng, và số trứng rụng ở buồng trứng bên trái thường nhiều hơn bên phải Trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày dự kiến phối giống 11-14 ngày, tập trung mức năng lượng cao sẽ làm tăng số lượng trứng rụng Kỹ thuật này đã được áp dụng rộng rãi trong qui trình chăn nuôi lợn nái hậu bị, được gọi là phương pháp Flushing Theo Trần
Cừ và CS (1975) [11], Phạm Hữu Doanh (1995) [13] đối với lợn, áp dụng phương pháp phối kép có thể làm thời gian thải trứng sớm hơn và tăng số lượng trứng rụng Hughes và Varley (1980) [72] cho rằng nếu lợn nái được ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0 -1 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2 -7 ngày (trước động dục) số
Trang 24trứng rụng tăng 1,6 trứng và trong vòng 21 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 3,1 trứng
Tập đoàn Cagill (1998) đã áp dụng qui trình nuôi dưỡng lợn nái theo bốn giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn tăng số lợn con/lứa: Trước phối giống 14 ngày với mức ăn 2,8-3,6 kg/ngày với nái hậu bị và nái nuôi con từ lúc cai sữa đến phối giống + Giai đoạn kinh tế: 91 ngày sau khi phối giống, khẩu phần của lợn nái mang thai là 1,8-2,2kg/ngày
+ Giai đoạn tăng khối lượng lợn con sơ sinh: 21 -23 ngày trước khi
đẻ với mức ăn 2,8-3,2kg/ngày
+ Giai đoạn tạo sữa sau khi đẻ, ăn không hạn chế
- Tỷ lệ thụ thai: Xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định tỷ lệ thụ thai của các trứng rụng trong một chu kỳ động dục của lợn nái Trong điều kiện bình thường tỷ lệ thụ thai có thể đạt 90-100%, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hancock (1961) [67], Self và CS (1955) [82] Phương thức thụ tinh cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai , nếu cho phối giống trực tiếp thì tỷ lệ thụ thai thường cao hơn từ 10-20% so với phối giống nhân tạo Trong kỹ thuật phối giống nhân tạo thì môi trường pha loãng để bảo tồn tinh dịch có ảnh hưởng trự c tiếp đến tỷ lệ thụ thai (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện và Lưu Kỷ, 1995 [ 2]; Nguyễn Văn Thưởng, 1998 [44])
Tỷ lệ thụ thai còn phụ thuộc vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn nái phối giống vào các tháng 6-8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10% so với phối giống ở các tháng 11, 12 (Akina Ogasa (1992) [54])
Tỷ lệ chết phôi và thai: Johanson (1980) [74] cho rằng từ 9-13 ngày sau khi phối giống là thời kỳ khủng hoảng của sự phát triển của phôi vì phôi chết chủ yếu ở thời kỳ này Ngày nay các nghiên cứu đều xác định rằng: 30-40%
Trang 25phôi bị chết trong thời gian làm tổ ở sừng tử cung Perry (1954) [77] và Joakimsen (1977) [73] cho biết phôi bị chết vào ngày 13-18 sau khi thụ tinh
Tỷ lệ thai chết tỉ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời kỳ bào thai (Đặng
Vũ Bình (1995) [4]) Theo Perry (1954) [77], tỷ lệ thai chết thường cao ở sừng tử cung chứa trên 5 bào thai
- Thời gian mang thai: Theo Trần Cừ và CS (1975) [11], thời gian mang thai của lợn dao động từ 110-120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, các yếu
tố khí hậu, thời tiết và điều kiện dinh dưỡng Tuy nhiên Burger (1952) [57] cũng cho biết không thấy có sự khác biệt về thời gian mang thai giữa giống lợn LW và giống Large Black Brand và CS (1954) [56] lại cho rằng thời gian mang thai của các giống lợn trắng ở Anh là 114 ngày với phạm vi biến động
là 110-120 ngày Nhìn chung nếu xét trong phạm vi các giống lợn thì thời gian mang thai có sự sai khác không đáng kể và dao động trong khoảng 113-
115 ngày
- Số lợn con được sinh ra trong ổ thường được đánh giá theo ba loại lợn con (Nguyễn Thiện, Võ Trọng Hốt, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan, 1998 [37]; Nguyễn Văn Thiện, 1998 [40])
+ Loại đẻ ra còn sống, trong số này có một số con chết trong vòng 24 giờ, như vậy số con sơ sinh sống đến 24 giờ được tính là số con đẻ ra trừ đi
số con chết trong 24 giờ
+ Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai
+ Loại thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35-90 ngày tuổi thai chết trong giai đoạn này thường không gây xảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị dạng,
Trang 26hoặc do nhiễm vi rút Pavovirus Lợn nái chửa nhiễm vi rút Pavovirus lúc 70 ngày có chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ cho một lứa đẻ Hughes và CS (1980) [72] cho rằng năng suất của đàn lợn giống được xác định bởi chỉ tiêu số con bán được khi cai sữa/nái/năm Do đó, số con trong ổ là tính trạng năng suất rất quan trọng Giới hạn cao nhất của số con trong ổ là số trứng rụng Từ giới hạn này, số con trong ổ bị giảm đi là do:
+ Một số trứng không được thụ tinh
+ Một số thai chết khi đẻ
+ Một số lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa
Khá nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa Người ta đã thống kê được khoảng 3-5% lợn con chết khi sơ sinh bao gồm cả lợn con chết do đẻ khó và lợn con chết ở giai đoạn chửa Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong quá trình từ sơ sinh đến cai sữa:
Dennis (2000) [12] nghiên cứu thấy 65% số lợn con chết sau khi sinh xảy
ra vào lúc lợn con 4 ngày tuổi Theo Lê Thanh Hải và CS (1998) [22], lợn nái được nuôi dưỡng bằng chuồng lồng đã làm tăng số lợn con 60 ngày tuổi bình quân/ổ thêm 18,51% hay tăng tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi lên 23,19 % so với nuôi chuồng nền
- Thời gian nuôi con của lợn mẹ: Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm Hughes và CS (1980) [72] nhận định rằng mặc dù cai sữa ở 8
Trang 27tuần tuổi là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến số lứa đẻ/nái/năm Trong trường hợp này số lứa đẻ chỉ đạt 1,8-2 lứa, nhưng nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa/nái/năm với chi phí thấp Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con đường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con Muốn vậy vấn đề quan trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày thứ 30 lợn con có thể sống độc lập không cần sữa mẹ (Lê Thanh Hải (1981) [18]) Hiện nay trên thế giới, lợn con được cai sữa ở 23-28 ngày tuổi Ở Úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi (Hilda Meo và Gordon, 1997 [69])
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa một trong những giải pháp có thể rút ngắn chu kỳ sinh sản là cai sữa sớm lợn con Nhưng cai sữa sớm lợn con không đi liền với sớm động dục lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ ngày cai sữa đến ngày động dục lại càng dài, trứng rụng càng ít Hamond (1994) [26]
đã tiến hành cai sữa sớm lợn con ở các ngày tuổi: 10, 21 và 56 ngày Kết quả là thời gian nuôi con của lợn mẹ càng dài thì chu kỳ động dục lại của lợn mẹ càng ngắn và số lượng trứng rụng trong một lần động dục càng cao Cụ thể thời gian cai sữa lợn con là 10, 21, và 56 ngày thì thời gian động dục trở lại sau cai sữa đạt tương ứng là 6,4 ; 9,4 và 16,6 trứng/lần động dục Đồng thời tác giả cũng cho biết thời gian chờ phối ngắn hay dài không chỉ phụ thuộc thời gian cái sưã lợn con mà còn phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng lợn nái trong thời gian nuôi con và sau cai sữa, cũng như độ hao mòn của lợn mẹ Lê Thanh Hải và CS (1996) [21] cho rằng khối lượng của lợn mẹ bị hao hụt tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 và có giảm xuống ở các lứa sau Theo Nguyễn Tấn Anh (1998) [3], mức năng lượng và khẩu phần ăn có ảnh hưởng đến tỷ lệ động dục, tỷ lệ trứng rụng
và thời gian phối sống trở lại, với mức ăn 3 kg/ngày thì thời gian phối giống trở lại là 8 ngày, với mức ăn 5 kg/ngày thì thời gian phối sống trở lại là 5,5 ngày
- Ảnh hưởng của nuôi dưỡng: Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quan
Trang 28trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Protein mức độ protein được cung cấp ảnh hưởng rất lớn tới thành tích sinh sản của lợn mẹ Nếu nhu cầu protein của lợn mẹ không được đáp ứng đầy đủ sẽ làm chậm động dục và làm giảm số lứa đẻ/nái/năm Ở giai đoạn chửa, nếu trong khẩu phần thiếu protein thì lợn con khi sinh ra sẽ có khối lượng sơ sinh thấp, còn ở giai đoạn tiết sữa sẽ làm giảm khả năng tiết sữa, vì thế mà ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng của lợn con
+ Năng lượng: Năng lượng là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động sống của cơ thể Nếu không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sống của lợn nhất là lợn chửa và nuôi con Điều này sẽ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên nếu cung cấp quá thừa năng lượng trong thời gian có chửa lại dẫn tới tình trạng chết phôi,
đẻ khó, mặt khác năng lượng thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ và lợn con sẽ
bị mắc các bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm luợng mỡ sữa cao
+ Vitamin: Vitamin không phải là chất dinh dưỡng nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà các hoạt động sinh lý của cơ thể Thiếu vitamin A và
E sẽ dẫn đến khả năng sinh sản kém, thiếu vitamin B sẽ dẫn đến khả năng tiêu hoá tinh bột giảm, ảnh hưởng tới thần kinh Thiếu vitamin D dẫn tới hiện tượng còi xương, xốp xương, mềm xương, rối loạn chuyển hoá và hấp thu can xi, phốt pho Reddy và CS (1958) [78], Haines và CS (1959) [65] cho biết nếu thiếu trầm trọng vitamin và khoáng có thể gây chết toàn bộ phôi
+ Khoáng: Khoáng được chia làm 2 loại gồm khoáng đa lượng và vi lượng Trong khẩu phần ăn của lợn khoáng chỉ chiếm một lượng nhỏ, nhưng
có tác dụng quan trọng trong việc hình thành xương, tạo máu và cân bằng nội môi Do đó trong quá trình nuôi dưỡng cần cung cấp đủ với hàm lượng thích hợp và tỷ lệ giữa các chất trên phải cân đối
Ngoài các yếu tố trên, còn nhiều yếu tố khác như tuổi phối giống lứa
Trang 29đầu, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, phẩm chất tinh dịch, kỹ thuật phối giống, khí hậu, bệnh tật, đều có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
1.1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng, các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
1.1.3.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở bản chất di truyền của đời trước qui định
Khi nghiên cứu về sinh trưởng của lợn người ta thường quan tâm đến độ sinh trưởng tích lũy, độ sinh trưởng tuyệt đối
- Độ sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích lũy được trong một thời gian
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, thể tích, kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau đây:
A W2 W1
t 2 t1 Trong đó : A là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
W1 là khối lượng tích luỹ đo được ở thời điểm t1
W2 là khối lượng tích luỹ đo đựơc ở thời điểm t2 1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng Các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G)
và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau:
P = G + E
Trang 30P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic value)
G: Giá trị kiểu gen (Genotypic value)
E: Sai lệch môi trường (Enviromental deviation)
- Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản và sinh trưởng của lợn, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền Theo nghiên cứu của Hazen (1993) [68] ở lợn bú sữa h2= 0,15, thời kỳ sau cai sữa h2 cao hơn Một kết quả nghiên cứu khác của Triebler (1982) [86] cho rằng hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05-0,021 hệ số này thấp hơn so với sinh trưởng ở thời kỳ sau cai sữa, vỗ béo Hệ số di truyền về khả năng tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn, đều phụ thuộc vào giống, quần thể, phương thức nuôi Theo Busse và CS (1986) [58] hệ số di truyền về chỉ tiêu sinh trưởng trong thời gian kiểm tra ở giai đoạn từ 20-100kg là 0,50, biến động 0,30-0,65 Đối với sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày) thì h2
= 0,15 (0,10- 0,20) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 30-100kg có h2=0,47 Kết quả nghiên cứu của Driox (1994) [14] cho biết hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh trưởng như sau:
+ Khả năng tăng khối lượng (g/ngày) có h2 = 0,3-0,4 + Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng có h2 = 0,25-0,35
Hệ số di truyền càng cao thì thời gian chọn lọc càng ngắn và ngược lại
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm,
do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn
Trang 31cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn
- Ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậ u, thời tiết
Thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của lợn Theo Trần Cừ và cs (1975) [11] nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi khi lợn nái mới
đẻ là 30-320
C, lợn có khối lượng 30kg nhiệt độ tối ưu là 26 0C, lợn có khối lượng 50kg nhiệt độ tối ưu là 190
C, lợn có khối lượng >50kg thì nhiệt độ <190C Chuồng trại, quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng, phát triển của lợn ở bất kỳ giai đoạn nào
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn đực giống
- Thể tích tinh dịch có thể còn phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh như
chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, thời tiết, kỹ thuật khai thác, mùa vụ,
1.1.4.2 Sức hoạt động của tinh trùng (hoạt lực tinh trùng – A%)
Là tỷ lệ % tinh trùng có sức hoạt động tiến thẳng so với tổng số tinh trùng mà ta quan sát được Hoạt lực liên quan trực tiếp đến chất lượng tinh dịch Tinh trùng có hoạt lực càng cao thì chất lượng tinh dịch càng tốt
1.1.4.3 Nồng độ tinh trùng (C = 106/ml)
Là số tinh trùng có trong 1ml tinh nguyên Đây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng tinh dịch và quyết định mức độ pha loãng tinh dịch trong
Trang 32thụ tinh nhân tạo Các loài khác nhau thì nồng độ tinh trùng cũng khác nhau Thông thường thì gia súc có thể tích tinh dịch thấp thì nồng độ tinh trùng cao
và ngược lại Ở lợn, nồng độ tinh trùng từ 200-300 triệu/ml
- Nồng độ tinh trùng còn phụ thuộc vào giống và cá thể, tuổi, thời tiết khí hậu và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Theo Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993) [36]:
+ Lợn nội: 1 - 2 năm tuổi có C = 40 - 50 triệu/ml
2 - 4 năm tuổi có C = 20 - 40 triệu/ml
+ Lợn nhập nội: 1 - 2 năm tuổi có C = 250 - 300 triệu/ml
2,5 - 3,5 năm tuổi có C = 200 - 250 triệu/ml
+ Vụ Đông - Xuân: Lợn nội có C = 30 - 50 triệu/ml
Lợn ngoại có C = 200 - 300 triệu/ml
+ Vụ Hè - Thu: Lợn nội có C = 20 - 30 triệu/ml
Lợn ngoại có C = 150 - 200 triệu/ml 1.1.4.4 Sức kháng của tinh trùng (R)
Là khả năng chống chịu của tinh trùng với dung dịch nước muối NaCl 1% và nó được thể hiện bằng lượng dung dịch NaCl nồng độ 1% cần thiết để pha loãng một đơn vị thể tích tinh dịch đến lúc tinh trùng ngừng hoạt động tiến thẳng Về cơ sở khoa học người ta dựa trên sự tác động của dung dịch NaCl 1% đối với màng bọc Lipoprotein của tinh trùng Nếu sức chịu đựng của màng này càng cao thì sức kháng của tinh trùng càng cao và tinh dịch đó càng tốt Qua nhiều công trình nghiên cứu các tác giả đã đưa ra quy định sức kháng đạt yêu cầu sau:
Trang 33được trong quá trình kiểm tra Theo nhiều tác giả, tinh trùng kỳ hình thường không có khả năng thụ thai Tinh trùng có thể bị kỳ hình ở đầu, thân, cổ, đuôi Để kiểm tra tỷ lệ kỳ hình người ta thường dùng phương pháp nhuộm (Bleumethylen 5%) và đếm số tinh trùng bị kỳ hình trong tổng số 500 tinh trùng sau đó tính tỷ lệ
% Nếu tỷ lệ kỳ hình càng cao thì chất lượng tinh dịch càng kém
1.1.4.6 Tổng số tinh trùng tiến thẳng (V.A.C)
Là tổng số tinh trùng tiến thẳng có trong 1 lần xuất tinh, đây là chỉ tiêu tổng hợp của 3 chỉ tiêu V, A, C Chỉ tiêu này đánh giá khái quát chất lượng tinh dịch và quyết định cho việc pha loãng Theo Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Thiện và Lưu Kỷ (1995) [2], V.A.C của lợn ngoại ở các tỉnh phía Bắc đạt 26- 41,6 tỷ/1 lần xuất tinh V.A.C càng cao thì chất lượng tinh dịch càng tốt
1.1.4.7 Độ pH của tinh dịch
Được xác định bởi nồng độ ion H+
có trong tinh dịch Các loại khác nhau thì tinh dịch có độ pH khác nhau
Nồng độ tinh trùng càng cao, quá trình trao đổi chất càng lớn thì nồng
độ ion H+
càng tăng do đó pH của tinh dịch có xu hướng giảm Tinh dịch ở phần dịch hoàn phụ hơi toan (pH=6,7-6,8), nhưng khi ra ngoài được các tuyến sinh dục phụ có pH hơi kiềm pha loãng, do vậy tinh dịch lợn có tính kiềm yếu Thông thường thì pH tinh dịch lợn trung bình là 7,5 (7,3-7,8) Còn theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh, 1993) [36], pH tinh dịch lợn trung bình là 7,4 trong khoảng (6,4-7,8)
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của lợn cái
1.1.5.1 Khả năng sinh sản
Hiệu quả của chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng lợn con cái sữa/nái/năm Hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra, số lứa đẻ/năm,
tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ, sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng,
Trang 34chăm sóc Chính vì vậy việc cải tiến để nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa là một trong những biện pháp làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản nói chung và sản xuất lợn con nói riêng Bên cạnh đó nhất thiết phải làm giảm khoảng cách giữa 2 lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày động dục lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa kế tiếp Trần Đình Miên (1997) [30] cho biết việc tính toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa
Vander Steem (1986) [87] cho rằng sức sinh của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, khối lượng động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, khối lượng phối giống lần đầu, tỷ lệ thụ thai, tuổi đẻ lứa đầu, số con/ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả Legault (1990) [75] cho rằng ở các trại chăn nuôi tiên tiến, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất về năng suất sinh sản của lợn nái Chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa
đẻ thứ nhất đến lứa đẻ cuối cùng) Hamond (1994) [24] cho biết đặc tính sinh sản ở lợn nái gồm tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa Theo tác giả trên thì số con cai sữa/nái/năm ở lợn
LW và L Pháp là 21,2 con, ở lợn L Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con
Ở nước ta theo tiêu chuẩn nhà nước (TCVN-1280-81, 3879-54, 3900- 84, ngày 1/1/1995), các chỉ tiêu giám định về khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại các cơ sở công nghiệp lợn giống nhà nước như sau:
- Tuổi đẻ lứa đầu với lợn đẻ lứa 1 (ngày)
- Số con đẻ ra sống/lứa (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)
- Khối lượng cai sữa/lứa (kg)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
Trang 35Thông thường các chỉ tiêu sau thường được đề cập tới để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái:
- Tính đều đặn của chu kỳ (ngày)
- Số con sơ sinh/ổ (con)
- Số con sơ sinh còn sống/ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Số con đẻ ra chết/ổ (con)
- Số con để nuôi/ổ (con)
- Số con sống đến 21 ngày tuổi/ổ (con)
- Tỷ lệ sống đến 21 ngày tuổi (%)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/ổ (kg)
- Khối lượng 21 ngày/con (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Tỷ lệ sống đến cai sữa (%)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
- Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa đầu (ngày)
- Thời gian phối giống sau cai sữa (ngày)
Trang 36- Khối lượng 21 ngày toàn ổ là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng khối lượng của lợn con, khả năng tiết sữa của lợn mẹ, khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất đến ngày thứ 21 sau đó giảm dần
- Khối lượng toàn ổ khi cai sữa, khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh và là cơ sở cho khối lượng xuất chuồng
- Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, tỷ
lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn, sự chênh lệch này ít thì có tỷ lệ đồng đều cao
- Khoảng cách lứa đẻ là thời gian để hình thành một chu kỳ sinh sản bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa, khoảng cách lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ của nái/năm
- Khả năng tiết sữa là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, lợn mẹ tiết sữa cao nhất cho đến 21 ngày tuổi, vì vậy để tận dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ không nên cai sữa trước 21 ngày tuổi mà thường cai sữa ở 24-28 ngày tuổi
1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất và chất lượng thịt lợn
Để đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu nuôi vỗ béo, thân thịt và chất lượng thịt
Theo Clutter và Brascamp (1998) [60], các chỉ tiêu quan trọng của khả năng nuôi vỗ béo bao gồm: Tăng khối lượng ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, thu nhận thức ăn/ngày và khối lượng đạt được lúc giết thịt Đối với thân thịt, các chỉ tiêu quan trọng là: Tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng và diện tích cơ thăn Các chỉ tiêu chất lượng thân thịt bao gồm: Tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, cấu trúc cơ, mỡ giắt, pH cơ thăn 45 phút và 24 giờ sau khi giết thịt (Reichart và CTV (2001) [79])
Trang 371.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nửa đầu thế kỷ XX nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần Nhưng từ nửa sau thế kỷ này có thêm những hiểu biết mới về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, nên ở các nước có ngành công nghiệp tiên tiến đã phát triển mạnh về lai kinh tế ở lợn Lúc đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa 2 giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ 3, 4, 5 giống lợn
và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn Hybrid
- Các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Canada, đã sử dụng các tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như L, Y, D,
H Các nước này thường dùng lợn nái lai từ 2 giống lợn, sau đó cho phối giống với lợn đực thứ 3 để sản xuất ra lợn thương phẩm Ví dụ đực D lai với cái
F1(LY) Cũng có khi sử dụng lợn đực lai cho phối với lợn nái lai để sản xuất ra lợn con nuôi thịt 4 máu Tổ hợp lai dưới đây được nhiều nước ứng dụng trong sản xuất: ♂(DxL) x♀F1(HxY)
Hiện nay Mỹ đã sử dụng “Hình tháp di truyền truyền thống” và mô hình
“Hình tháp di truyền cải tiến” để xây dựng hệ thống giống lợn Đối với mô hình hình tháp truyền thống ở đàn lợn cụ kỵ (GGP) thường là lợn nái Y cho phối với lợn đực Y để sản xuất ra lợn Y thuần chủng ở đàn ông bà Lợn nái Y ở đàn ông bà (GP) được phối với lợn đực L để sản xuất ra lợn bố mẹ (P) là F1(LY)
Để sản xuất ra lợn thương phẩm người ta thường dùng nái F1 phối với lợn đực cuối cùng như H hoặc D để sản xuất ra lợn lai thương phẩm ba máu:
♂ H x♀ F1(LxY) để sản xuất ra lợn thương phẩm [H(LxY)]
♂ D x♀ F1(LxY) để sản xuất ra lợn thương phẩm [D(LxY)]
Năng suất sinh sản, phẩm chất thịt lợn phụ thuộc vào phẩm giống và các giống phối hợp với nhau, Bereskin Stele (1986) [55] cho biết với tổ hợp lai
Trang 38thuận nghịch giữa 2 giống D và LW, lợn lai có tốc độ tăng khối lượng nhanh hơn D hay LW thuần Độ dày mỡ lưng của tổ hợp lai đực D với cái LW thấp hơn so với tổ hợp lai đực LW với cái D Stoikov và CS (1996) [85] thông báo kết quả nghiên cứu về khả năng sinh sản của các giống lợn L và Y có nguồn gốc khác nhau, đối với Y Anh số con đẻ ra là 9,7 con/ổ, Y Thụy Điển 10,6 con/ổ, Y BaLan 10,5 con/ổ L Anh là 9,8 con/ổ, L Bungari 10 con/ổ, L Bỉ là 8,5 con/ổ Kết quả nghiên cứu của Pavlik và CS (1989) [76] về con lai giữa D
và L cho thấy tăng khối lượng trung bình 804 g/ngày, tiêu tốn thức ăn là 2kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc/thân thịt xẻ là 51,86%, độ dày mỡ lưng là 2,23cm ở Anh sau nhiều năm nghiên cứu công ty PIC không những sử dụng nái lai mà sử dụng cả đực lai để tạo con lai thương phẩm có 4 đến 5 giống Theo Gineva E., Stojkov A (1999) [64] cho biết tuổi phối giống lần đầu ở nái lai F1(L x Y) là 236,2 ngày, khoảng cách lứa đẻ là154,6 ngày
- Lai kinh tế ở một số nước Châu Âu: ở Liên Xô (cũ), Hungari, Đức, kết quả lai kinh tế đã làm tăng số lợn con sơ sinh trung bình/ổ là 12-16% Tỷ
lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn từ 10-15% so với lợn thuần Khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25-30 ngày, đạt khối lượng giết
mổ 100 kg Nhiều kết quả nghiên cứu của Winters và CTV (1978) [51] đã chứng minh, lợn lai khác giống vượt lợn thuần chủng về số lượng lợn con nuôi sống và vỗ béo đến khi xuất chuồng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp hơn Tác giả nhận xét lợn lai từ 2 giống có số con trung bình/ổ lúc sơ sinh cao hơn 11,6%, giảm thời gian nuôi thịt là 17 ngày và tiết kiệm được 28kg thức ăn cho một đời lợn nuôi thịt đạt khối lượng 100 kg/con so với lợn nuôi thuần Lợn lai từ 3 giống có số con trung bình một ổ khi sơ sinh cao hơn 7,2% so với lợn lai 2 giống và cao hơn 19,6% so với lợn thuần Từ đó tác giả
đi đến kết luận: Nhóm lợn lai có xu hướng đẻ nhiều con hơn, giảm được thời gian nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với nhóm lợn thuần
Trang 39Ở Hà Lan chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng Thịt lợn chiếm 60% tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm Trong chăn nuôi lợn thì trên 90% lợn vỗ béo là lợn lai Tổ hợp lai hai máu (LY) chiếm tới 69%, các tổ hợp lai nhiều giống tham gia ngày càng tăng ở Hà Lan Các giống lợn chủ yếu dùng trong lai kinh tế là L Hà Lan, L Bỉ, Đại Bạch, Pi Hà Lan Nhiều địa phương của Hà Lan đã sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa phương khác thì ưa chuộng lợn lai 3-4 máu, trong đó giống thứ 3, 4 thường được chọn là lợn đực D Canada Lợn lai có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình một ổ lợn con lúc sơ sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa/năm
Khi lai giữa D với L Bỉ, các tác giả Pavlik và Pulkrabek (1989) [76] cho biết con lai có tăng khối lượng đạt 804 g/ngày cao hơn so với lợn lai F1(LY)
Ở Tây Đức kết quả nghiên cứu cho thấy con lai 3 giống Pix(YL) đạt tỷ lệ nạc cao 59,2% Trong khi đó lai 2 giống PixL tỷ lệ nạc đạt 53,7% và con lai 2 giống LY tỷ lệ nạc chỉ đạt 50,6%
Chương trình lai tạo giống lợn “PIC CAMBOROGH 22” của Anh quốc sau nhiều năm nghiên cứu PIC đã lựa chọn được tổ hợp lai từ 4 giống lợn:
♂(PiY)x♀[Dx(LxY)] Tổ hợp lai này có khả năng sinh sản cao từ 14-16 con/lứa Lợn thịt từ 30-90kg tăng khối lượng trung bình 850 g/ngày, tỷ lệ thịt xẻ trên 80%, độ dày mỡ lưng tại vị trí P2 là 10,5mm giết lúc 80kg, tỷ lệ nạc trên 60%
so với thịt xẻ, chất lượng và hương vị thịt thơm ngon Tổ hợp từ 4 giống lợn Pi,
Y, D, L được nuôi phổ biến ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Nhật, Thái Lan và đã được đưa vào Việt Nam từ năm 1997 (PIC Việt Nam)
- Lai kinh tế lợn ở Trung Quốc và Thái Lan
Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất thịt lợn, số lượng lợn của Trung Quốc chiếm trên 40% tổng số lợn của thế giới Trung Quốc có tới
60 giống lợn được nuôi ở các vùng sinh thái khác nhau Để nâng cao chất lượng đàn lợn thịt, Trung Quốc đã nhập một số giống lợn có khả năng sản
Trang 40xuất cao, phẩm chất thịt tốt như lợn Y, D , H, L cho phối với lợn nái Meishan của Trung Quốc vì vậy đã làm tăng khả năng sinh sản của lợn nái, đạt trung bình 12,5 con/ổ Lợn vỗ béo đạt khối lượng 90kg lúc 180 ngày tuổi, tiêu tốn 3,4 kg thức ăn/1kg tăng khối lượng, độ dày mỡ lưng trung bình là 26mm và đạt tỷ lệ thịt nạc trên 48%( Đỗ Thị Tỵ (1994) [45])
Tương tự như các nước ở Châu Âu, trước năm 1960 Thái Lan chỉ quan tâm đến dòng thuần, phải sau năm 1960 mới quan tâm lai kinh tế 2 máu (2 giống) Sau năm 1970 các nhà khoa học Thái Lan tiến hành lai kinh tế 3 máu (3 giống) và sau 1980 đã tiến tới lai 4 máu (4 giống) Các giống lợn được sử dụng chủ yếu để lai kinh tế ở Thái Lan là Y, L, D, H Hiện nay ở Thái Lan lợn thương phẩm chủ yếu là lợn lai từ 3- 4 giống có tỷ lệ thịt nạc từ 50-55%
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Để nâng cao năng suất và chất lượng giống trong chăn nuôi lợn, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phù hợp với nền sản xuất hàng hóa hiện nay, đồng thời cải thiện những nhược điểm của giống lợn địa phương từ những năm 60 Việt Nam đã nhập các giống lợn Đại Bạch, Berkshire của Liên Xô (cũ) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng lợn thịt trong nước Tiếp sau đó, đến các năm gần đây Việt Nam nhập tiếp các giống lợn ngoại Y, L, D, từ Cu Ba, Nhật, Pháp, Đức, về nuôi tại các trại giống lợn của các viện nghiên cứu, các trường Đại học Nông nghiệp, các cơ sở giống của trung ương và tỉnh để nuôi thích nghi và phục vụ lai tạo sản xuất giống lợn trong nước Nghiên cứu năng suất sinh sản của hai giống lợn L và Y của Nguyễn Văn Thiện và CTV (1992) [38] cho biết số con sinh ra/ổ của lợn nái L và Y là 9,57
và 8,40 con/lứa, khối lượng sơ sinh/ổ là 11,89 và 11,30kg, khối lượng 21 ngày tuổi là 31,30 và 33,67kg Nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và CTV (1995) [8] cho biết năng suất sinh sản của lợn nái L và Y nuôi tại trung tâm giống gia súc
Hà Tây, khối lượng phối giống lần đầu của hai giống này là 99,3-100,2kg, tuổi