1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp Nâng cao năng lực Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

106 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài Luận văn tập trung việc tổng hợp và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các hoạt động tổ chức và điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với việc phát triển ki

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH …………/………… …………/…………

NGUYỄN THANH TÂM

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀNH CHÍNH CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT

ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

5

1.1 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã 5

1.2 Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của ủy ban nhân dân cấp xã 8

1.2.1 Hệ thống chính quyền cấp xã ở nước ta từ năm 1945 đến trước khi có

Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm

2003

8

1.2.2 Tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay 11

1.3 Những đặc điểm, nguyên tắc làm việc, trách nhiệm và mối quan hệ

công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính quyền địa

phương

16

1.3.3 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Uỷ ban nhân dân cấp

23

1.3.4 Các mối quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã 29 1.3.5 Chế độ hội họp, giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã 32 1.3.6 Quản lý và ban hành văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã 39

1.4 Vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính

quyền cấp xã

42

Trang 3

1.4.1 Trong lĩnh vực kinh tế 42

1.4.2 Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu

thủ công nghiệp

43

1.4.3 Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải 44

1.4.4 Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao 44

1.4.5 Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi

hành pháp luật ở địa phương

45

1.4.6 Trong việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo 46

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY

BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở TỈNH AN GIANG

48

2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức Ủy ban

nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

50

2.2.2 Hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh An Giang 57

2.3 Đánh giá về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh

An Giang trong thời gian vừa qua

60

2.3.3.3 Một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban

nhân dân cấp xã

70

Trang 4

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở

TỈNH AN GIANG

71

3.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy

ban nhân dân cấp xã

71

3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân

cấp xã ở tỉnh An Giang nói riêng và ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

76

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về ủy ban nhân dân các cấp

trong đó có những quy định chi tiết, cụ thể đối với ủy ban nhân dân cấp xã

76

3.2.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã 78

3.2.3 Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã 81

3.2.4 Hiện đại hoá nền hành chính nhà nước ở cấp xã 84

3.2.5 Đổi mới công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ, công chức cấp xã

86

3.2.6 Củng cố mối quan hệ của Ủy ban nhân dân cấp xã với nhân dân, huy

động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào việc giám sát các hoạt động

của Ủy ban nhân dân cấp xã

91

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hoà giữa lợi ích nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước

Chính quyền địa phương ở Việt Nam có 3 cấp đó là: Tỉnh, huyện và xã Trong đó, cấp xã là cấp chính quyền cơ sở, gần dân nhất, đồng thời là nơi trực tiếp triển khai những nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội cũng như đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; Đảm bảo cho các nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả Chính vì vậy, chính quyền cấp xã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống chính quyền địa phương ở Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X, có nêu: “Chính quyền xã có Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quản lý ngân sách xã, quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục, y tế, đất đai, xây dựng, hộ tịch,… trên địa bàn theo quy định của pháp luật Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, xác định cụ thể các chức danh công chức xã theo hướng ổn định và chuyên sâu về nghiệp vụ.”

Như vậy, trong hệ thống chính quyền của Nhà nước ta, chính quyền cấp

xã có vị trí rất quan trọng ở cơ sở, đây là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, có chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng Ở nước ta cũng như

Trang 6

các nước trên thế giới, vai trò của chính quyền địa phương là đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền do dân, vì dân vững mạnh Do cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất, gần dân nhất, có trách nhiệm chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương, phát huy mọi khả năng của mình để xây dựng địa phương vững mạnh, nên chính quyền xã, phường mạnh hay yếu việc làm của cấp xã tốt hay không tốt, đúng hay sai điều tác động trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần có khi ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị của người dân, đến lòng tin của nhân dân đến Đảng và Nhà nước

Trong thời gian vừa qua, chính quyền cấp xã đã thực hiện khá tốt vai trò nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn còn ở một vài địa phương, chính quyền cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế yếu kém, như: công tác quản lý, điều hành của

bộ máy chính quyền cấp xã còn hạn chế, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, kỷ cương của một bộ phận cán bộ công chức còn yếu kém, năng lực trình độ chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới hiện nay Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời nó còn làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân trong địa phương, từ đó nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã không được nhân dân hưởng ứng, ngược lại còn có những thái độ và hành động đi ngược lại với những chủ trương, chính sách

đó

Vì vậy, việc chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang” làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ quản

lý Nhà nước, đó là nhằm mục đích tìm ra những nguyên nhân, giải pháp nhằm

củng cố và nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp

xã ở tỉnh An Giang để đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay

Trang 7

2 Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài

Luận văn tập trung việc tổng hợp và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các hoạt động tổ chức và điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; các vấn đề liên quan đến việc sử dụng, bố trí, tuyển dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói chung và tình hình thực tế đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng Qua đó, nhằm tìm ra những nguyên nhân, đề xuất những giải pháp để nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân cấp xã đảm bảo phù hợp với những nhiệm vụ, yêu cầu phát triển trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

Hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã rất rộng và đa dạng nên trong phạm vi của khoá luận tốt nghiệp, em chỉ tập trung nghiên cứu một số hoạt động có tác động trực tiếp đến tổ chức bộ máy và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã từ năm 2005 đến nay Từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực tổ chức và trong hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

4 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về khoa học tổ chức nhân sự, khoa học quản lý; các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã

- Luận văn sử dụng và kết hợp các phương pháp luận duy vật biện

chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp qui nạp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia

Trang 8

5 Những đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận, đối với chính quyền cấp xã đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề ra những giải pháp, cách thức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của chính quyền cấp xã Vì vậy, luận văn này chỉ nhằm hoàn thiện hơn về mặt

lý luận đối với chính quyền cấp xã, và trong thực tế ở những vùng, miền khác nhau, có những phong tục, tập quán sinh sống khác nhau, do vậy cần phải xác định được những mấu chốt của vấn đề trong xây dựng và cũng có chính quyền ở cơ sở vừa phù hợp với các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vừa phù hợp với thực tế địa phương, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu cải cách, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo được các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới hiện nay; luận văn còn

có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách ở tỉnh An Giang

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã

ở tỉnh An Giang

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của

Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1.1 Quan điểm của Đảng ta về xây dựng bộ máy chính quyền ở cơ

sở

Thực tế, cơ quan Nhà nước ở Trung ương không thể trực tiếp quản lý toàn diện, trọn vẹn tất cả các công việc nhà nước trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia Mặt khác, mỗi vùng lãnh thổ của quốc gia có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, tình hình kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán, phong phú, đa dạng mà Trung ương không thể nắm, hiểu hết và thoả mãn đầy đủ các nhu cầu của dân cư cũng như thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước ở địa phương Do đó, cần có đại diện của mình tại địa phương hoặc uỷ quyền cho một cơ quan, tổ chức ở địa phương thực hiện công việc nhà nước trên địa bàn lãnh thổ, để đảm bảo quản lý xã hội một cách có hiệu lực, hiệu quả Thực tế, ngay sau khi giành được độc lập, việc đầu tiên mà Bác Hồ quan tâm là xây dựng chính quyền non trẻ và từ bước hoàn thiện bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, điều này được thể hiện qua việc ban hành hai sắc lệnh 63/SL và 77/SL năm 1945 quy định về chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là chính quyền cơ sở; Đến nay, theo điều 118 - Hiến pháp nước cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Sữa đổi), hệ thống hành chính nước ta được tổ chức thành bốn cấp: Chính phủ Trung ương; chính quyền tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); chính quyền quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); chính quyền xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) Trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ thì cấp xã là đơn vị có địa giới hành chính nhỏ nhất, vì vậy chính quyền

Trang 10

cấp xã được gọi là chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh

Cấp xã được coi như là chính quyền cấp cơ sở, nơi trực tiếp thi hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và địa phương, có chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, theo sự phân công của cơ quan hành chính cấp trên, nhằm đảm bảo pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân ổn định đời sống vật chất và tinh thần trong phạm vi thẩm quyền quản lý của mình

1.1.1 Về xây dựng Hội đồng nhân dân xã

Căn cứ vào điều 1, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, thì Hội đồng nhân dân

là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng

và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với

cả nước Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương

Về số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, theo Luật bầu cử đại

Trang 11

tùy vào số lượng dân số và vị trí địa lý của từng đơn vị xã phường, thị trấn

Cụ thể: Xã, thị trấn miền xuôi có từ bốn nghìn người trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu, có trên bốn nghìn người thì cứ thêm hai nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu; Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ ba nghìn người trở xuống đến hai nghìn người được bầu hai mươi lăm đại biểu, có trên ba nghìn người thì cứ thêm một nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu; xã, thị trấn có dưới hai nghìn người trở xuống đến một nghìn người được bầu mười chín đại biểu; xã, thị trấn có dưới một nghìn người được bầu mười lăm đại biểu; Phường có từ tám nghìn người trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu, có trên tám nghìn người thì cứ thêm bốn nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu;

1.1.2 Về xây dựng Ủy ban nhân dân xã

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Chính quyền cấp xã mang tính tự quản nhất định với đầy đủ tư cách pháp nhân, có ngân sách, tài sản riêng, năng lực pháp lý tham gia tố tụng Đồng thời chính quyền cấp xã chịu sự kiểm soát của chính quyền cấp trên; phân cấp không có nghĩa là trao độc lập cho chính quyền địa phương mà là hình thức chính quyền trung ương

uỷ quyền cho chính quyền địa phương các cấp thực hiện những công việc nhất định Trong phạm vi thực hiện nhiêm vụ được giao, chính quyền cấp xã được trao thẩm quyền, những nguồn lực nhất định và chịu sự kiểm soát của chính quyền Trung ương và chính quyền cấp trên trong việc thực hiện thẩm quyền của mình

Trang 12

Điều 123 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Ủy ban nhân

dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (hội đồng nhân dân)”

Điều 2 Luật tổ chức của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm

2003 quy định: “Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa

phương, do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà

nước cấp trên”

Theo đó: Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách:

Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp;

Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Số lượng thành viên Ủy ban nhân dân xã có từ 3 đến 5 thanh viên, tuy thuộc vào điều kiện tự nhiên, dân số của mỗi vùng

1.2 Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã

1.2.1 Hệ thống chính quyền cấp xã ở nước ta từ năm 1945 đến trước khi

có Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003

Trang 13

Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, cơ quan chính quyền địa phương giữ vị trí, vai trò rất quan trọng Ở nước ta, chính quyền địa phương của Nhà nước kiểu mới được thành lập bằng cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng vũ trang giành chính quyền từ tay bọn thực dân đế quốc và bọn tay sai của chúng trong cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 Các ủy ban giải phóng ra đời trong cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương là hình thức chính quyền “tiền chính phủ” của nhân dân tại các địa phương khi ta chưa giành chính quyền trong cả nước Cách mạng tháng tám

1945 thành công, các Ủy ban giải phóng đã trở thành các Ủy ban nhân dân là

tổ chức chính quyền tiền thân của các Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính sau này do Chính phủ quy định

Để xây dựng cơ sở pháp lý cho chính quyền địa phương, chỉ vài tháng sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về tổ chức chính quyền địa phương Theo quy định của sắc lệnh số 63/SL

và sắc lệnh số 77/SL năm 1945, chính quyền địa phương ở nước ta được tổ chức ở 4 cấp, đó là: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; ở thành phố tổ chức hai cấp chính quyền đó là cấp thành phố và cấp khu phố

Kế thừa các sắc lệnh 63/SL và 77/SL, Hiếp pháp năm 1946 quy định nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có 3 bộ: Bắc, Trung, Nam Mỗi bộ chia thành Tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã

Ở tỉnh, thành phố thị xã và xã có Hội đồng nhân dân do đầu phiếu phổ thông trực tiếp bầu ra Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã và xã cử ra Ủy ban hành chính; Ở bộ và huyện chỉ có Ủy ban hành chính, chứ không có Hội đồng nhân dân

Đến Hiến pháp năm 1959, đã chính thức bãi bỏ cấp hành chính có tính chất vùng miền (khu, liên khu), chỉ còn ba cấp: cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã; và cấp xã,

Trang 14

thị trấn; đồng thời ở mỗi cấp đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính; Các đơn vị hành chính không chỉ thuần túy là cơ sở để tổ chức hệ thống chính quyền địa phương, mà còn là cơ sở để tổ chức các cơ quan tư pháp

Hiến pháp 1980 vẫn duy trì 3 cấp hành chính địa phương, các đơn vị hành chính điều là cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh, có Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân Việc tổ chức chính quyền địa phương không còn có sự phân biệt địa bàn nông thôn và địa bàn đô thị Khái niệm “đơn vị hành chính tương đương” chính thức được ghi nhận (Thành phố trực thuộc trung ương, quận, phường,… điều được xác định tương đương với tỉnh, với huyện, với xã,…) Điều này thể hiện quan niệm lấy địa bàn nông thôn làm chuẩn Cả ba cấp chính quyền địa phương đều là những cấp cơ bản, có tổ chức chính quyền hoàn chỉnh; Theo luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm

1989, Thường trực Hội đồng nhân dân được thành lập từ cấp huyện và tương đương trở lên; Thường trực Ủy ban nhân dân các cấp bị bãi bỏ Những công việc thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân đều phải được thảo luận tập thể

và quyết định theo đa số trong các phiên họp toàn thể Ủy ban nhân dân

Đến Hiến pháp 1992, việc quy định thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định và không xác định đơn vị hành chính nào là cơ bản, có tổ chức chính quyền hoàn chỉnh Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp năm 1994 và năm 2003, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được thiết lập ở tất cả các cấp hành chính như hiện nay

Nhìn chung lại, từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay, hệ thống chính quyền địa phương đã không ngừng được cũng cố, kiện toàn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của các thời kỳ cách mạng, đã có những đóng góp to lớn vào

sự nghiệp cách mạng của cả nước Có thể nói, nếu so với Quốc hội, Chính

Trang 15

mới nhất cả ở phương diện tư duy nhận thức, phương diện chủ trương, nhất là trong thực tiễn đời sống xã hội Quá trình cải cách tổ chức chính quyền địa phương chưa có nhiều biện pháp có tính thực chất căn bản và có tính quyết định Chính vì thế, có nhiều nơi, nhiều lúc, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính quyền địa phương thể hiện sự trì trệ, nhiều hạn chế, khuyết điểm

1.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã hiện nay

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã cần phải có một cơ cấu, tổ chức khoa học và hợp lý, phát huy vai trò là nền móng của Bộ máy hành chính nhà nước Căn cứ Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 thì Ủy ban nhân dân cấp xã có cơ cấu tổ chức và hoạt động với những nét cơ bản sau: 1.2.2.1 Cơ cấu của Ủy ban nhân dân cấp xã

Điều 122 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân xã bầu ra, có từ 03 đến 05 thành viên, gồm có Chủ tịch, Phó chủ tịch và Uỷ viên

Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân dân

do Hội đồng nhân dân cấp xã trực tiếp bầu ra Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp

xã nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, còn các thành viên khác của Ủy ban nhân dân cấp xã thì không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân Kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn

Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch Ủy ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu người được bầu giữ chức chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu Hội đồng nhân dân quy định này nhằm tạo ra cơ chế linh hoạt và đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực hiện chức năng quản lý và điều hành của hệ thống hành chính

Trang 16

nhà nước, khắc phục tình trang cục bộ địa phương Điều này có mục đích tốt, tuy nhiên có thể sẽ gặp phải khó khăn về mặt tâm lý, người dân địa phương có thể cho rằng người địa phương khác đến không thể hiểu được tình hình của đời sống dân cư tại địa phương mình Đây chính là một trong những vấn đề của cải cách bộ máy nhà nước

Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của chủ tịch Ủy ban nhân dân bằng hình thức bỏ phiếu kín

Các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã cũng do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín, theo sự giới thiệu của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân

Tuỳ theo quy mô số dân ở các xã, phường, thị trấn mà có cơ cấu tổ chức khác nhau Cụ thể:

* Ở các xã miền núi, hải đảo, có dân số từ 5000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8000 người trở lên và xã biên giới:

Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 05 thành viên và được phân công như sau:

Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở xã

Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách khố kinh tế, tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên môi trường Một phó chủ tịch phụ trách khối văn hoá - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác

Các uỷ viên Ủy ban nhân dân: Một uỷ viên phụ trách công an Một uỷ viên phụ trách quân sự

* Ở các xã không thuộc diện nêu trên:

Trang 17

Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 03 thành viên: một chủ tịch, một phó chủ tịch và một uỷ viên căn cứ vào lĩnh vực công việc được phân công theo quy định của pháp luật mà chủ tịch Ủy ban nhân dân xã phân công các thành viên phụ trách cho phù hợp với từng địa phương trong nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm số lượng thành viên Ủy ban nhân dân cấp mình nhưng tổng số không vượt quá 05 thành viên và phải được chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn

* Đối với Ủy ban nhân dân phường, thị trấn:

Cơ cấu tổ chức gồm 05 thành viên: Một chủ tịch, hai phó chủ tịch, hai uỷ viên và được phân công phụ trách công việc như sau:

Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quản lý công tác quy hoạch đô thị

Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách khối kinh tế - tài chính xây dựng cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, nhà đất và tài nguyên môi trường Một phó chủ tịch phụ trách khối văn hoá xã hội và các lĩnh vực xã hội khác Hai uỷ viên: Một uỷ viên phụ trách công an Một uỷ viên phụ trách quân

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi chung là cán bộ chuyên trách cấp xã), gồm có các chức vụ sau đây:

Trang 18

+ Bí thư, Phó Bí thư đảng ủy, Thường trực đảng ủy (nơi không có Phó

Bí thư chuyên trách công tác đảng), Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập đảng ủy cấp xã);

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có các chức danh sau đây:

+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);

+ Chỉ huy trưởng quân sự;

+ Văn phòng - Thống kê;

+ Địa chính - Xây dựng;

+ Tài chính - Kế toán;

+ Tư pháp - Hộ tịch;

+ Văn hoá - Xã hội

* Sau khi có luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/ND-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cụ thể các chức danh của cán bộ, công chức cấp xã như sau:

Trang 19

- Cán bộ cấp xã có các chức vụ:

+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn

có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

+ Trưởng Công an;

+ Chỉ huy trưởng Quân sự;

+ Văn hoá - xã hội

- Về Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:

+ Cấp xã loại 1: không quá 25 người;

+ Cấp xã loại 2: không quá 23 người;

Trang 20

+ Cấp xã loại 3: không quá 21 người;

Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn Tiêu chí phân loại dựa vào dân số, diện tích và các yếu tố đặc thù của các xã, phường, thị trấn

Ngoài các chức danh, chức vụ nêu trên, lực lượng cán bộ, công chức xã còn có các đối tượng là cán bộ không chuyên trách hay bán chuyên trách do

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng địa phương, tương ứng với cấp xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người, cấp xã loại 2 được bố trí tối đa 20 người và cấp xã loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người Đồng thời, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung

1.3 Những đặc điểm, nguyên tắc làm việc, trách nhiệm và các mối quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính quyền địa phương

1.3.1 Những đặc điểm của Ủy ban nhân dân cấp xã

1.3.1.1 Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Ngay từ khi thành lập nước, chính quyền cấp xã đã được công nhận là một cấp chính quyền cơ sở và được thể hiện trong các bản Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau này là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 118, Hiến pháp 1992 quy định: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tỉnh chia thành

Trang 21

thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thi xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị do luật định

Trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ thì xã, phường, thị trấn là đơn

vị hành chính nhỏ nhất, vì vậy chính quyền cấp xã còn được gọi là chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: trung ương, tỉnh, huyện, xã Chính quyền cơ sở (xã, phường thị trấn – gọi chung là cấp xã)

là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong hệ thống tổ chức của bộ máy hành chính Nhà nước, là cấp trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương có chức năng quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo Hiếp pháp và pháp luật, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính nhà nước Theo qui định của Hiến pháp và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thì không có cấp chính quyền nào thấp hơn cấp xã, phường, thị trấn Cấp xã thỏa mãn các yếu tố cấu thành của một cấp chính quyền, đó là được Nhà nước trao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý công việc ở địa phương

Xét về mặt cơ cấu tổ chức, thì chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quản lý địa phương theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong cơ quan, cán bộ, viên chức nhà nước và trong bộ máy hành chính địa phương Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách

Trang 22

nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo qui định của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ động, sáng tạo của địa phương

Uỷ ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân bầu và là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp Ủy ban nhân dân cấp xã mang tính tự quản nhất định với đầy đủ tư cách pháp nhân, có ngân sách, tài sản riêng, năng lực pháp lý tham gia tố tụng Đồng thời Ủy ban nhân dân cấp xã cũng chịu sự kiểm soát của Ủy ban nhân dân cấp trên; phân cấp không có nghĩa là trao độc lập cho chính quyền địa phương mà là hình thức chính quyền Trung ương uỷ quyền cho chính quyền địa phương các cấp thực hiện những công việc nhất định Trong phạm vi thực hiện nhiêm vụ được giao, Ủy ban nhân dân cấp xã được trao thẩm quyền, những nguồn lực nhất định và chịu sự kiểm soát của chính quyền Trung ương và chính quyền cấp trên trong việc thực hiện thẩm quyền của mình

Đơn vị hành chính xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, các xã thuộc vùng núi, hải đảo, thường có tính tự quản, tính độc lập cao hơn so với các đơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn và các cấp lớn hơn như cấp huyện, quận Trong phạm vi mỗi xã, các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chế khác nhau, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa dạng

Do các mối quan hệ cộng đồng gắn bó chằng chịt, cuộc sống “tối lửa, tắt đèn” có nhau nên những người làm việc trong Ủy ban nhân dân cấp xã được

Trang 23

xem là ít quan liêu nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước

ta, song lại dễ bị tác động bởi những yếu tố phi chính thức nhất

Các cơ quan, bộ phận trong Ủy ban nhân dân cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở xã nên vừa phải đủ mạnh, phải thể hiện uy quyền của mình mới có thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó; đồng thời, cũng vừa phải mềm dẻo, linh hoạt khi tiếp xúc, làm việc với dân (những người cùng sinh sống, với những mối quan hệ cộng đồng gắn bó khăng khít, bền chặt chi phối), phải đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi đa dạng của mỗi người dân sao cho vừa đúng pháp luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗi địa phương Do vậy, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền cấp xã ở nước ta rất phức tạp, dễ dẫn đến tình trạng hình thức, kém hiệu lực, hiệu quả hoặc lạm quyền, tùy tiện, cát cứ

Là người sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, hiểu dân,

am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương hơn cả, nên những người đại diện Nhà nước ở cấp xã phải giải quyết các công việc đa dạng, phức tạp của dân, sao cho không trái pháp luật, nhưng có hiệu quả cao nhất Cán bộ xã trong công việc, đòi hỏi phải thực sự vì dân, thương dân, lấy dân làm gốc, không thể vì cái toàn cục mà quên đi hoàn cảnh điều kiện của mỗi người dân, nhưng cũng không vì mỗi người dân cụ thể mà làm trái pháp luật, trái đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các quy định, quyết định của Nhà nước, giải quyết những yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của dân Đồng thời cũng là những người trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến, những đề xuất, kiến nghị của nhân dân Do vậy, họ cũng là cấp phải phản ánh một cách trung thực những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu

Trang 24

của người dân lên các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết những vướng mắc, thoả mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dân nói chung và của mỗi người dân nói riêng

Nếu Ủy ban nhân dân cấp xã làm việc có hiệu quả thì đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo ra sự phấn khởi, sự tin tưởng của nhân dân vào Đảng và Nhà nước; đồng thời tạo ra sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Ngược lại, nếu chính quyền cấp xã không giải quyết một cách thấu đáo những thắc mắc, vướng mắc của nhân dân, các cán

bộ, công chức xã làm việc không tốt có thể sẽ làm bùng phát nhiều phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thậm chí có thể gây mất đoàn kết giữa các dòng

họ, thôn, bản trong xã

Như vậy, chính quyền cấp xã theo nghĩa rộng với tư cách là thiết chế quyền lực chính trị, thì chính quyền cấp xã bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước có phạm vi hoạt động tại địa phương Còn theo nghĩa hẹp, chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân cấp xã và Uỷ ban nhân dân cấp xã Trong

đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra, thay mặt nhân dân, trên cơ sở yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và pháp luật quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân ở đơn vị hành chính cấp xã Còn Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành, sử dụng công cụ như pháp luật, thẩm quyền ra quyết định, bộ máy giúp việc nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân tại địa bàn

1.3.1.2 Đây là cấp cơ sở, cấp gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, ở ngay trong dân Chính quyền Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện giải quyết công việc tiếp xúc với dân ít hơn so với chính quyền cơ sở Những vấn

đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức năng của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã

Trang 25

Công việc hàng ngày của chính quyền là công việc của dân và công việc của dân cũng chính là công việc của chính quyền Cán bộ hàng ngày trực tiếp gắn

bó, làm việc với dân, có điều kiện bám sát dân, thấu hiểu dân Mặt khác, do cán bộ chính quyền cấp xã hầu hết là người địa phương, hàng ngày sinh hoạt cùng nhân dân trong mối quan hệ không chỉ với tư cách đại diện cho chính quyền mà còn trong mối quan hệ với gia tộc, làng xóm với những ràng buộc

về truyền thống, phong tục, tập quán Sự hiểu biết quá rõ này gây bất lợi nhất định khi thực thi công vụ, khiến cho quan hệ công tư dễ lẫn lộn

1.3 1.3 Cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống gắn liền mật thiết với những lợi ích, nhu cầu thường nhật của quần chúng Hoạt động quản

lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã động chạm đến mọi mặt thiết yếu nhất, bức xức nhất của đời thường Nó động chạm đến những nhu cầu, đòi hỏi rất tối thiểu trong cuộc sống như vệ sinh cống rãnh, vệ sinh chăn nuôi, trật tự nơi công cộng, tranh chấp tường rào hàng xóm láng giềng, tiếng ồn gây tranh chấp, Đây không phải là những công việc lớn nhưng động chạm đến nhiều người, dễ gây bức xúc, tạo ra mâu thuẫn đáng tiếc không ngờ, gây mất đoàn kết trong dân cư

1.3 1.4 Đây là cấp mà theo nghĩa nào đó là hình ảnh thu nhỏ của cả xã hội Cuộc sống của cộng đồng dân cư ở cấp xã với hàng trăm hộ gia đình, hàng nghìn, hàng mấy nghìn con người là cả một tập hợp lớn đa dạng, phức tạp với bao nhiêu chuyện về việc làm, mưu sinh, về tồn tại và phát triển từ kinh tế, sản xuất đến an ninh trật tự, tâm lý, đạo đức, văn hoá,… và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết Do đó, đây cũng là nơi phát sinh từ thực tế biết những kinh nghiệm có thể tổng kết để khái quát thành lý luận, để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách do thường xuyên phải giải quyết những tình huống xảy ra Vì thế, đổi mới manh nha, nảy mầm từ những nhu cầu bức xúc ở ngay cơ sở

Trang 26

1.3 1.5 Là cơ sở xã hội của chính trị, là cơ sở của thể chế nhà nước, của chế độ chính trị Cấp xã là cấp thấp nhất trong phân cấp quản lý nhưng không

có nghĩa là cấp ít quan trọng nhất Không có cơ sở, nền tảng thì không bao giờ hình thành nên toà nhà xã hội Nền móng có vững thì toà nhà mới mạnh Cấp

xã là tầng sâu nhất trên phương diện hiện thực hoá, thực tiễn hoá, vật chất hoá những đường lối, quan điểm, tư tưởng chiến lược phát triển được vạch ra từ cấp vĩ mô, đầu não Đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật muốn đi vào cuộc sống phải thông qua cơ sở, phải được thực hiện ở cơ sở thành phong trào hành động của dân chúng, bằng sáng kiến, nỗ lực và tính chủ động của mọi người dân Như vậy, cấp xã có thể nói là địa chỉ cần phải tới, là cái đích cần phải đạt được của mọi hoạt động chỉ đạo chiến lược từ Trung ương đến địa phương

1.3.2 Nguyên tắc làm việc của Ủy ban nhân dân cấp xã

Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân và tinh thần chủ động, sáng tạo của chủ tịch, các phó chủ tịch và thành viên Ủy ban nhân dân Mỗi việc chỉ được giao một người phụ trách và chịu trách nhiệm chính Mỗi thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm cá nhân về lĩnh vực được phân công; Chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan Nhà nước cấp trên,

sự lãnh đạo của Đản gủy, sự giám sát của Hội đồng nhân dân xã; phối hợp chặt chẻ giữa Ủy ban nhân dân xã với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên; Giải quyết các công việc của công dân và tổ chức theo đúng Pháp luật, đúng thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm; đảm bảo công khai, minh bạch, kịp thời và hiệu quả; theo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy định và chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân xã; Cán bộ, công chức cấp xã phãi sâu sát cơ sở, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp của nhân dân, có ý thức học tập để nâng cao trình độ, từng bước đưa hoạt động của Ủy ban nhân dân

Trang 27

xã ngày càng chính quy, hiện đại, vì mục tiêu xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân

1.3.3 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã

1.3.3.1 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của tập thể Ủy ban nhân dân cấp xã

- Ủy ban nhân dân xã thảo luận tập thể, quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại điều 124 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà Pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã

- Cách thức giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân xã:

+ Ủy ban nhân dân xã họp, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề được quy định tại điều 124 của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và những vấn đề quan trọng khác mà Pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã tại phiên họp của Ủy ban nhân dân xã

+ Đối với các vấn đề cần giải quye612t khẩn cấp nhưng kg tổ chức họp

Ủy ban nhân dân được, theo quyết định của chủ tịch Ủy ban nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân xã gởi toàn bộ hồ sơ của vấn đề cần xử lý đến các thành viên Ủy ban nhân dân đề láy ý kiến Nếu quá nữa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân nhất trí thì Văn phòng Ủy ban nhân dân xã tổng hợp và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định và báo cáo trong cuộc họp gần nhất 1.3.3.2 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của các thành viên

Ủy ban nhân dân xã

- Trách nhiệm chung:

Trang 28

+ Tích cực, chủ động tham gia các cơng việc chung của Ủy ban nhân dân xã; Tham dự đầy đủ các phiên họp của Ủy ban nhân dân, cùng tập thể quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân; Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách, Pháp luật của Đảng và Nhà nước; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; tăng cường kiểm tra, đơn đốc cán bộ, cơng chức xã, trưởng các khĩm, ấp,

tổ trưởng các tổ tự quản, tổ dân phố hồn thành nhiệm vụ, thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, nghiên cứu đề xuất với cấp cĩ thẩm quyền về chủ trương, chính sách đang thi hành tại cơ sở;

+ Khơng được nĩi và làm trái với nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và các văn bản chỉ đạo của cơ quan Nhà nước cấp trên Trường hợp cĩ ý kiến khác vẫn phải chấp hành, nhưng được trình bày ý kiến với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã

+ Trước khi tiếp xúc với các tổ chức nước ngồi đến thực hiện các dự án

về kinh tế, xã hội tại địa phương, Ủy ban nhân dân xã phải báo cáo và xin ý kiến của chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

- Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Chủ tịch UBND xã: + Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân, lãnh đạo và điều hành mọi công việc của Ủy ban nhân dân,chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, nội chính; đồng thời, cùng Ủy ban nhân dân xã chịu trách nhiệm tập thể về họat động của Ủy ban nhân dân trước Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện

Trang 29

+ Chủ tịch Ủy ban nhân xã triệu tập, chủ trì các phiên họp và các hội nghị khác của Ủy ban nhân dân, khi vắng mặt thì ủy quyền Phó Chủ tịch chủ trì thay; bảo đảm việc chấp hành pháp luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của Đảng ủy và Hội đồng nhân dân

+ Căn cứ vào các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và tình hình thực tiễn của địa phương, xây dựng chương trình công tác năm, quý, tháng của Ủy ban nhân dân xã; + Tổ chức thực hiện các chương trình, kế họach công tác; phân công nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra các thành viên Ủy ban nhân dân xã và các cán bộ, công chức khác thuộc Ủy ban nhân dân xã, Trưởng ấp, Tổ trưởng tự quản trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao;

+ Quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều nội dung công việc, những vấn đề đột xuất, phức tạp trên địa bàn; những vấn đề còn

ý kiến khác nhau hoặc vượt quá thẩm quyền của Phó chủ tịch và Ủy viên ủy ban nhân dân xã;

+ Ký ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân xã và thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật;

+ Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội của xã, họat động của Ủy ban nhân dân với Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện Trường hợp trong địa phương xảy ra các vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng hoặc thiên tai, hỏa hoạn phải báo cáo gấp về UBND huyện

+ Thường xuyên trao đổi công tác với Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đòan thể nhân dân cấp xã; phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công tác; nghiên cứu,

Trang 30

tiếp thu về các đề xuất của Mặt trận Tổ quốc và các đòan thể nhân dân đối với công tác của Ủy ban nhân dân; tạo điều kiện để các đoàn thể họat động có hiệu quả;

+ Tổ chức việc tiếp dân, xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân theo quy định của pháp luật Đôn đốc công tác hòa giải ở các ấp và trực tiếp tổ chức hòa giải ở cấp xã

+ Chịu trách nhiệm về công tác cải cách hành chính và tuyên truyền, phổ biến pháp luật của địa phương mình

- Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Phó Chủ tịch UBND xã:

+ Trực tiếp chỉ đạo các lĩnh vực và địa bàn công tác do Chủ tịch phân công; chủ động xây dựng chương trình, kế họach triển khai các công việc theo lĩnh vực được phân công trên địa bàn Phó Chủ tịch được sử dụng quyền hạn của Chủ tịch khi giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực được giao;

+ Chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch, trước Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân xã về lĩnh vực được giao, về những quyết định chỉ đạo, điều hành của mình; cùng Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về toàn bộ hoạt động của Ủy ban nhân dân trước Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân huyện Đối với những vấn đề vược quá phạm vi thẩm quyền thì Phó Chủ tịch phải báo cáo Chủ tịch quyết định

+ Khi giải quyết công việc, nếu có vấn đề liên quan đến phạm vi và

Trang 31

dân thì chủ động trao đổi; phối hợp với thành viên đó để thống nhất cách giải quyết; nếu vẫn còn ý kiến khác nhau thì báo cáo Chủ tịch quyết định; + Kiểm tra, đôn đốc cán bộ, công chức, các trưởng ấp và tổ trưởng tổ tự quản thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật thuộc lĩnh vực đươcï giao

- Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Ủy viên Ủy ban nhân dân xã

+ Ủy viên Ủy ban nhân dân xã chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; cùng Chủ tịch và Phó Chủ tịch chịu trách nhiệm tập thể về họat động của Ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện; nắm tình hình, báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về lĩnh vực công tác của mình và các công việc khác có liên quan;

+ Trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc công việc thuộc lĩnh vực được phân công trên địa bàn; chủ động đề ra các biện pháp để hòan thành tốt công việc đó;

+ Phối hợp công tác với các thành viên khác của ủy ban nhân dân, các cán bộ, công chức có liên quan và giữ mới liên hệ chặt chẽ với cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân huyện (sau đây gọi chung là cơ quan chuyên môn cấp huyện) để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân giao

1.3.3.3 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của công chức cấp xã:

Trang 32

Ngồi việc thực hiện các quy định tại Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, công chức cấp xã còn có trách nhiệm:

- Giúp Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước, bảo đảm sự thống nhất quản lý theo lĩnh vực chuyên môn; chịu trách nhiện trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã và cơ quan chuyên môn cấp huyện về lĩnh vực được phân công

- Nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động giải quyết công việc được giao, sâu sát cơ sở, tận tụy phục vụ nhân dân, không gây khó khăn, phiền hà cho dân Nếu vấn đề giải quyết vượt quá thẩm quyền, phải kịp thời báo cáo Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch phụ trách để xin ý kiến

- Tuân thủ Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân xã, chấp hành sự phân công công tác của Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; giải quyết kịp thời công việc theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, không để tồn đọng; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật và nội quy cơ quan

- Không chuyển công việc thuộc phạm vi trách nhiệm cá nhân lên Chủ tịch, Phó Chủ tịch hoặc tự ý chuyển cho cán bộ, công chức khác; không tự ý giải quyết các công việc thuộc trách nhiệm của cán bộ, công chức khác; trong trường hợp nội dung công việc có liên quan đến cán bộ, công chức khác thì phải chủ động phối hợp và kịp thời báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch xử lý

- Chịu trách nhiệm bảo quản, giữ gìn hồ sơ tài liệu liên quan đến công tác chuyên môn; tổ chức sắp xếp, lưu trữ tài liệu có hệ thống phục vụ cho công tác lâu dài của ủy ban nhân dân xã; thực hiện chế độ báo cáo bảo

Trang 33

đảm kịp thời, chính xác tình hình về lĩnh vực công việc mình phụ trách theo quy định của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã

1.3.3.4 Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của cán bộ không chuyên trách, trưởng ấp và tổ trưởng tự quản:

- Cán bộ không chuyên trách xã chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về nhiệm vụ chuyên môn được Chủ tịch phân công, thực hiện các nhiệm vụ được quy định tại Điều 5 Quy chế này

- Trưởng ấp, tổ trưởng tự quản chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về mọi mặt họat động của ấp, tổ tự quản; tổ chức thực hiện mọi nhiệm vụ công tác trên địa bàn; thường xuyên báo cáo tình hình công việc với Chủ tịch, Phó Chủ tịch phụ trách; đề xuất giải quyết kịp thời những kiến nghị của công dân, tổ chức và các ban ấp, tổ tự quản

1.3.4 Các mối quan hệ cơng tác của Ủy ban nhân dân cấp xã

1.3.4.1 Quan hệ với Ủy ban nhân dân huyện và cơ quan chuyên môn cấp huyện

- Ủy ban nhân dân xã và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chịu sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban nhân dân huyện; Trong chỉ đạo điều hành, khi gặp những vấn đề vựợt quá thẩm quyền hoặc chưa được pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân xã phải báo cáo kịp thời để xin ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện; thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tình hình với Ủy ban nhân dân huyện và cơ quan chuyên môn cấp huyện theo quy định hiện hành về chế độ thông tin báo cáo

Trang 34

- Ủy ban nhân dân xã chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp huyện trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trên địa bàn xã; có trách nhiệm phối hợp với

cơ quan chuyên môn cấp huyện trong đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức xã, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã; Ủy ban nhân dân xã bố trí cán bộ, công chức đủ năng lực đáp ứng yêu cầu theo dõi các lĩnh vực công tác theo hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên, giữ mối liên hệ chặt chẽ với cơ quan chuyên môn cấp huyện, tuân thủ sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan chuyên môn cấp trên

- Khi điều động cán bộ công chức xã phải có thỏa thuận và được sự thống nhất của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn cấp huyện Trường hợp có

ý kiến khác nhau, Chủ tịch UBND xã phải báo cáo Chủ tịch UBND Huyện quyết định

1.3.4.2 Quan hệ với Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đồn thể

a) Quan hệ với Đảng ủy:

- Ủy ban nhân dân xã chịu sự lãnh đạo của Đảng ủy xã trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các văn bản chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên;

- Ủy ban nhân dân xã chủ động đề xuất với Đảng ủy phương hướng, nhiệm vụ cụ thể về phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh, trật tự an tòan xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và những vấn đề quan trọng khác

ở địa phương; có kế họach đào tạo, bồi dưỡng để giới thiệu với Đảng ủy

Trang 35

những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đảm nhiệm các chức vụ công tác chính quyền

b) Quan hệ với Hội đồng nhân dân xã:

- Ủy ban nhân dân xã chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân xã; chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, báo cáo trước Hội đồng nhân dân xã; phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị nội dung các kỳ họp của hội đồng nhân dân xã, xây dựng các đề án trình Hội đồng nhân dân xã xem xét, quyết định; cung cấp thông tin về họat động của Ủy ban nhân dân xã, tạo điều kiện thuận lợi cho họat động của các đại biểu Hội đồng nhân dân xã;

- Các thành viên Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm trả lời các chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân; khi được yêu cầu, phải báo cáo giải trình về những vấn đề có liên quan đến công việc do mình phụ trách;

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thường xuyên trao đổi, làm việc với Thường trực Hội đồng nhân dân xã để nắm tình hình, thu thập ý kiến của cử tri; cùng Thường trực Hội đồng nhân dân xã giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân

c) Quan hệ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đòan thể: Ủy ban nhân dân xã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đòan thể trong thực hiện các nhiệm vụ công tác, chăm lo đời sống và bảo vệ lợi ích của nhân dân; tạo điều kiện cho các tổ chức này họat động có hiệu quả; định kỳ 6 tháng một lần hoặc khi thấy cần thiết thông báo về tình hình phát triển kinh tế- xã hội địa phương và các họat động của Ủy ban nhân dân cho các tổ chức này biết để phối hợp, vận động, tổ chức các tầng lớp nhân

Trang 36

dân chấp hành đúng đường lối chính sách, pháp luật và thực hiện tốt nghĩa vụ công dân đối với nhà nước

1.3.4.3 Quan hệ giữa Ủy ban nhân dân xã với Trưởng ấp và tổ trưởng tổ tự quản

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã phân công các thành viên Ủy ban nhân dân phụ trách, chỉ đạo, nắm tình hình các ấp và tổ tự quản Hàng tháng, các thành viên Ủy ban nhân dân làm việc với Trưởng ấp, Tổ trưởng tổ tự quản thuộc địa bàn được phân công phụ trách hoặc trực tiếp làm việc với ấp, tổ tự quản để nghe phản ánh tình hình, kiến nghị và giải quyết các khiếu nại của nhân dân theo quy định của pháp luật

- Trưởng ấp, Tổ trưởng tổ tự quản phải thường xuyên liên hệ với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã để tổ chức quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản chỉ đạo điều hành của cơ quan nhà nước cấp trên và của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã để triển khai thực hiện; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở

Trưởng ấp, Tổ trưởng tổ tự quản kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã về tình hình mọi mặt của ấp, tổ; đề xuất biện pháp giải quyết khi cần thiết, góp phần giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn 1.3.5 Chế độ hội họp, giải quyết cơng việc của Ủy ban nhân dân cấp xã 1.3.5.1 Chế độ hội họp, làm việc của Ủy ban nhân dân xã

a) Phiên họp Ủy ban nhân dân xã:

- Ủy ban nhân dân xã mỗi tháng họp ít nhất một lần, ngày họp cụ thể

Trang 37

Thành phần tham dự phiên họp gồm có: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên Ủy ban nhân dân xã Chủ tịch Ủy ban nhân dân mời Thường trực Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp tham dự Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, người đứng đầu các đoàn thể, cán bộ không chuyên trách, công chức và các trưởng ấp, Tổ trưởng tổ tự quản được mời tham dự khi bàn về các công việc có liên quan Đại biểu mời tham dự được phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết;

- Nội dung phiên họp:

Nội dung phiên họp của Ủy ban nhân dân xã gồm những vấn đề được quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy chế này

+ Các đại biểu dự họp phát biểu ý kiến;

+ Chủ tọa phiên họp kết luận từng đề án và lấy biểu quyết Đề án được thông qua nếu được quá nữa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành

+ Trường hợp vấn đề thảo luận chưa đựơc thông qua thì Chủ tọa yêu cầu chuẩn bị thêm để trình lại vào phiên họp khác;

Trang 38

+ Chủ tọa phát biểu ý kiến kết luận phiên họp

b) Giao ban của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã:

- Hàng tuần, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch họp giao ban một lần theo quyết định của Chủ tịch để kiểm điểm tình hình, thống nhất chỉ đạo các công tác; xử lý các vấn đề mới nảy sinh; những vấn đề cần báo cáo xin ý kiến của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện; chuẩn bị nội dung các phiên họp Ủy ban nhân dân, các hội nghị, cuộc họp khác do Ủy ban nhân dân xã chủ trì triển khai Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đòan thể và cán bộ, công chức xã được mời tham dự khi bàn về các vấn đề có liên quan;

- Trình tự giao ban: Văn phòng Ủy ban nhân dân xã báo cáo những công việc chính đã giải quyết tuần trước, những khó khăn, vướng mắc, tồn tại và các công việc cần xử lý; chương trình công tác tuần; Chủ tịch, Phó Chủ tịch thảo luận, quyết định một số vấn đề thuộc thẩm quyền và xử lý các nội dung công tác

- Khi cần thiết, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã triệu tập các trưởng ấp, Tổ trưởng tổ tự quản, một số cán bộ, công chức họp để chỉ đạo, giải quyết các vấn đề theo yêu cầu nhiệm vụ

- Sáu tháng một lần họăc khi cần thiết, Ủy ban nhân dân xã họp liên tịch với Thường trực Đảng ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu các đòan thể, cán bộ không chuyên trách và công chức, Trưởng ấp, Tổ trưởng tự quản để thông báo tình hình

Trang 39

kinh tế- xã hội, kiểm điểm sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân và triển khai nhiệm vụ công tác sắp tới

- Các hội nghị chuyên đề, sơ kết, tổng kết công tác 6 tháng, cả năm của Ủy ban nhân dân xã về các nhiệm vụ công tác cụ thể được tổ chức theo hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên

c) Làm việc với UBND huyện và cơ quan chuyên môn cấp huyện tại xã:

- Theo chương trình đã được Ủy ban nhân dân huyện thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo Phó Chủ tịch, Ủy viên Ủy ban nhân dân, các cán bộ, công chức có liên quan cùng Văn phòng Ủy ban nhân dân xã chuẩn bị nội dung, tài liệu làm việc với Ủy ban nhân dân huyện và cơ quan chuyên môn cấp huyện;

- Căn cứ nội dung công tác cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch phục trách lĩnh vực chịu trách nhiệm chuẩn

bị nội dung và trực tiếp làm việc với cơ quan chuyên môn cấp huyện, báo cáo kết quả và xin ý kiến Chủ tịch về những công việc cần triển khai

- Các cán bộ, công chức xã phải tham dự đầy đủ và đúng thành phần quy định các cuộc họp, tập huấn do cấp trên triệu tập; sau khi dự họp, tập huấn xong phải báo cáo kết quả cuộc họp và kế họach công việc cần triển khai với Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch phụ trách

- Việc tổ chức các cuộc họp và tiếp khách của Ủy ban nhân dân xã phải quán triệt tinh thần thiết thực; tiết kiệm, chống lãng phí

d) Trách nhiệm của Văn phòng Ủy ban nhân dân xã trong phục vụ các cuộc họp và tiếp khách của Ủy ban nhân dân xã:

Trang 40

- Chủ động đề xuất, bố trí lịch họp, làm việc, cùng với các cán bộ, công chức có liên quan đến nội dung cuộc họp, tiếp khách chuẩn bị các điều kiện phục vụ;

- Theo chỉ đạo của Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân, phối hợp với cán bộ, công chức liên quan chuẩn bị nội dung, chương trình các cuộc họp, làm việc; gửi giấy mời và tài liệu đến các đại biểu; ghi biên bản các cuộc họp

1.3.5.2 Giải quyết các công việc của Ủy ban nhân dân xã

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức theo cơ chế “một cửa” từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả kết quả thông qua một đầu mối là “bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại Ủy ban nhân dân; ban hành quy trình về tiếp nhận hồ sơ, xử lý, trình ký, trả kết quả cho công dân theo quy định hiện hành

- Công khai, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, của Hội đồng nhân dân,Ủy ban nhân dân xã, các thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc của công dân, tổ chức; bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức và công dân; xử lý kịp thời mọi biểu hiện gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân của cán bộ, công chức cấp xã

- Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm phối hợp các bộ phận có liên quan của Ủy ban nhân dân hoặc với Ủy ban nhân dân huyện để giải quyết công việc của công dân và tổ chức; không để người dân có nhu cầu liên hệ công việc phải đi lại nhiều lần

Ngày đăng: 25/10/2014, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. GS.TSKH Vũ Huy Từ, (2002), “Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở”, Tạp chí Quản lý nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở
Tác giả: GS.TSKH Vũ Huy Từ
Năm: 2002
11. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và luật bầu cử Hội đồng nhân dân, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và luật bầu cử Hội đồng nhân dân
Năm: 2010
12. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
Năm: 1994
14. Nghị định 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 của Chính phủ qui định số lượng Phó chủ tịch và cơ cấu thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 107/2004/NĐ-CP
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2004
19. Nghị định số 31/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính Phủ quy định về mức lương tối thiểu chung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 31/2012/NĐ-CP
Nhà XB: Chính Phủ
Năm: 2012
20. PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
22. Phạm Tấn Linh, (2005), Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện hành chính Quốc gia, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Phạm Tấn Linh
Nhà XB: Học viện hành chính Quốc gia
Năm: 2005
28. Tỉnh uỷ An Giang, (2010), “Nghị quyết Đại hội lần thứ IX” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội lần thứ IX
Tác giả: Tỉnh uỷ An Giang
Năm: 2010
29. TS. Đặng Quốc Tiến, (2002), “Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở”, Tạp chí Tổ chức nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở
Tác giả: TS. Đặng Quốc Tiến
Năm: 2002
30. TS. Đinh Văn Mậu – TS. Lê Kiếm Thanh (chủ biên), (2002), Cẩm nang công tác chính quyền cấp xã, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang công tác chính quyền cấp xã
Tác giả: TS. Đinh Văn Mậu, TS. Lê Kiếm Thanh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
31. TS. Lê Chi Mai, (2002), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - Vấn đề và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - Vấn đề và giải pháp
Tác giả: TS. Lê Chi Mai
Năm: 2002
32. TS. Nguyễn Trọng Điều (2002), “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”, Tạp chí quản lý nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay
Tác giả: TS. Nguyễn Trọng Điều
Nhà XB: Tạp chí quản lý nhà nước
Năm: 2002
35. TS. Vũ Đức Đán, (2002), “Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở”, Tạp chí quản lý nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở
Tác giả: TS. Vũ Đức Đán
Năm: 2002
37. Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, (2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
1. Ban Tổ chức – Cán bộ chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), (2000), Chính quyền xã và quản lý nhà nước ở cấp xã, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
2. Báo cáo tổng kết chương trình Cải cách hành chính tỉnh An Giang giai đoạn 2006 – 2010 Khác
3. GS.TS Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), (2005), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội Khác
5. Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Khác
6. Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Khác
7. Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w