CSTK là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-
Trang 11
TIỀN TỆ TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VÀ CSTK TRONG KINH
CSTK là một phạm trù kinh tế học dùng để chỉ các hành động của Chính phủ quyết định mức chi tiêu công và cách thức có đủ nguồn tài chính để đảm bảo mức chi tiêu công đó Chính phủ phải chi tiêu cho nhiều nhiệm vụ rất đa dạng, từ quân sự, cảnh sát, đến các dịch vụ như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội Có nhiều nguồn để đảm bảo cho các khoản chi trên, trong đó quan trọng nhất là thu thuế từ người dân và vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách
CSTK là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ sử dụng để huy động, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia
Nội dung của CSTK thông thường chứa đựng các yếu tố sau:
- Mục tiêu của chính sách: thể hiện phương hướng, đường lối, chủ trương của nhà nước về sử dụng chính sách huy đông, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính
- Các công cụ của chính sách
- Cơ chế chuyển tải của chính sách, bao gồm cách thức hay phương thức huy động, phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính và các chế tài đảm bảo thực hiện phương thức đó
Căn cứ vào tác dụng điều tiết chu kỳ kinh tế có thể chia CSTK thành CSTK tự
động ổn định và CSTK có sự điều chỉnh của nhà nước
Trang 22
CSTK tự động ổn định là loại CSTC dựa trên cơ sở sự biến động của nền kinh tế
quốc dân mà tự động phát sinh tác dụng thay đổi tình hình kinh tế mà không cần dựa vào sự tác động của phía Chính phủ
Loại hiệu quả ổn định tự động này sinh ra từ nội tại của CSTC, tự mình phát huy tác dụng điều tiết, không cần có bất kỳ hành động can thiệp nào của chính quyền
Tính tự động ổn định của CSTC được thực hiện bởi sự hoạt động của cơ chế thị trường Chính nhờ cơ chế đó mà tạo ra khả năng phân phối lại một cách tự do và nhanh chóng các nguồn tài chính giữa các chủ thể kinh tế khác nhau
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp cơ chế thị trường cũng thể hiện sự kém hiệu qủa trong việc phân phối nguồn tài chính và sự phân phối đó bị ngáng trở bởi các tổ chức độc quyền Nói cách khác, cơ chế thị trường không đảm bảo sự phân phối thu nhập phù hợp với mục tiêu của một xã hội dân chủ Bởi vậy, nẩy sinh sự cần thiết phải thực hiện cơ chế điều chỉnh của nhà nước
CSTK có sự điều chỉnh của nhà nước là một loại CSTC mà bản thân nó không
có tác dụng tự động ổn định mà cần nhờ tác động bên ngoài mới có thể phát sinh tác dụng điều tiết đối với nền kinh tế
Sự cần thiết xuất hiện vai trò của nhà nước can thiệp vào nền kinh tế căn cứ vào việc giải quyết những nhiệm vụ, gắn liền với sự thỏa mãn nhu cầu của xã hội về phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
Tuy nhiên cũng cần phải khẳng định rằng, sự điều chỉnh của nhà nước cũng có những gianh giới qui định hình thành một cách khách quan Nếu can thiệp qúa mức sẽ làm suy yếu những đòn bẩy kinh tế và hạ thấp hiệu qủa hoạt động của cơ chế thị trường
Nếu căn cứ vào tính chất điều tiết mặt lượng của tài chính đối với nền kinh tế
thì CSTK được chia thành: CSTK mở rộng, CSTK thu hẹp và CSTK trung tính
CSTK mang tính chất mở rộng là CSTC mà thông qua phân phối và sử dụng các
nguồn tài chính nhà nước thực hiện kích thích tăng tổng nhu cầu xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế thiếu hụt về tổng cầu, nhà nước thực hiện CSTK mở rộng để thu hẹp khoản chênh lệch giữa tổng cầu và tổng cung Khi tổng cầu và tổng cung đã cân đối thì thông qua CSTK mang tính chất mở rộng nhà nước sẽ làm cho tổng nhu cầu vượt qúa tổng cung cấp
Công cụ thực hiện CSTK mang tính chất mở rộng chủ yếu là giảm thuế và tăng quy mô chi tiêu ngân sách Nếu thực hiện song song việc giảm thuế với việc tăng chi tiêu ngân sách, CSTK mở rộng sẽ dẫn đến bội chi ngân sách Bởi vậy,CSTK mang tính chất mở rộng thường được gọi là CSTC bội chi
Trang 33
CSTK mang tính chất thắt chặt là CSTC thông qua phân phối và sử dụng nguồn
tài chính, nhà nước thực hiện giảm bớt và hạn chế tổng nhu cầu Trong điều kiện tăng tổng nhu cầu qúa mức của nền kinh tế, nhà nước thông qua CSTK thắt chặt thực hiện kiềm chế lạm phát để cân đối cung và cầu Trong điều kiện tổng cung cầu đã cân đối, nhà nước có thể thi hành CSTK thắt chặt để tạo ra thiếu hụt nhu cầu hữu ích Biện pháp thực hiện mục tiêu của CSTK mang tính chất thắt chặt chủ yếu là tăng thuế và giảm bớt chi tiêu ngân sách Nếu trong điều kiện vừa tiến hành tăng thuế, vừa thực hiện giảm chi thì có thẻ phát sinh khả năng kết dư ngân sách Bởi vậy, CSTK mang tính chất thắt chặt thường được gọi là CSTC kết dư
CSTK trung tính luôn luôn thể hiện sự cân đối giữa tổng cung và tổng cầu trong
hoạt động phân phối và sử dụng nguồn tài chính Vì thế, hoạt động thu chi tài chính không thể sinh ra hiệu ứng mở rộng, cũng như không thể sinh ra hiệu ứng thắt chặt Nói chung, CSTK trung tính luôn luôn yêu cầu thu chi tài chính giữ vững được sự cân đối
Thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau:
- Thuế là một khoản đóng góp thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước mang tính bắt buộc Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác
- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp
- Việc đóng góp thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật pháp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế trở thành công cụ quan trọng để huy động nguồn lực tài chính cho Chính phủ và thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Sử dụng công cụ thuế để huy động nguồn lực tài chính có ưu điểm:
- Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượng nộp thuế bao gồm toàn bộ thể nhân và pháp nhân hoạt động kinh tế và phát sinh nguồn
Trang 4- Nguồn huy động tập trung thông qua thuế là tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc nội, nhờ đó mà một bộ phận đáng kể thu nhập của xã hội được tập trung vào trong tay nhà nước một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các biện pháp kinh tế -xã hội
- Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ tài chính khác ở chỗ: Thuế kết hợp giữa phương thức cưỡng bức, được qui định dưới hình thức pháp luật cao với kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế đến chất lượng và hiệu qủa kinh doanh
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có Mục tiêu can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế thị trường là nhằm:
- Đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển có hiệu qủa Chính phủ phải cố gắng duy trì môi trường cạnh tranh thuận lợi và sửa chữa những khuyết tật của thị trường như độc quyền
- Đảm bảo yêu cầu công bằng xã hội bằng biện pháp phân phối lại thu thập
- Đảm bảo cho nền kinh tế phát triển trong thế ổn định theo hướng làm giảm tính chu kỳ của nền kinh tế, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Để thực hiện được các mục tiêu đó, nhà nước cần phải sử dụng công cụ thuế để thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đối tượng điều tiết thông qua công cụ thuế là các lĩnh vực, các ngành, các vùng, cũng như các mặt hoạt động khác nhau của đời sống kinh tế xã hội, nơi phát sinh những khó khăn hay những vấn đề về thuế mà nó không thể tự động điều tiết, cần phải có sự can thiệp của nhà nước để hiệu chỉnh cho phù hợp với hoạt động bình thường của xã hội
Trên cơ sở mục tiêu và đối tượng kể trên, nội dung điều tiết của thuế đối với nền kinh tế quốc dân bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh tế; cơ cấu ngành, khu vực và từng vũng lãnh thổ; tích lũy tư bản; lạm phat; việc làm; lưu thông tiền tệ; giá cả; tiền lương; phân phối thu nhập; các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, bảo vệ môi trường Như vậy, nội dung của điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, nó bao hàm các qúa trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 55
2) Chi tiêu chính phủ
Chi tiêu của chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu chung toàn xã hội Chi tiêu chính phủ bao gồm hai loại: chi tiêu công cộng (hoặc gọi là các khoản chi thường xuyên) và chi đầu tư XDCB
Đối với các nhu cầu chi tiêu công cộng thông thường bao gồm hai bộ phận: chi tiêu mang tính chất mua sắm và chi tiêu mang tính chất chuyển dịch
Chi tiêu mang tính chất mua sắm, bao gồm chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ là một loại chi tiêu dùng trực tiếp của chính phủ
Chi tiêu mang tính chất chuyển dịch là thông qua chi tiêu nhằm thực hiện chuyển dịch thu nhập tiền tệ của một bộ phận này chuyển dịch cho một bộ phận khác Loại chi tiêu này của chính phủ không ảnh hưởng nhiều đến tiêu dùng của dân cư nên không gây ra các biến động về kinh tế - xã hội Trợ cấp tài chính là một hình thức chi tiêu chuyển dịch
Đầu tư XDCB của chính phủ là khoản chi nhằm hình thành các loại tài sản cố định, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đầu tư của chính phủ chủ yếu cho những ngành nghề, những lĩnh vực có hiệu ứng bên ngoài lớn,
có tác dụng châm ngòi cho đầu tư của khu vực tư nhân Vì vậy, năng lực đầu tư và phương hướng đầu tư của chính phủ có tác dụng then chốt đối với sự điều chỉnh cơ cấu huy động nguồn lực tài chính của xã hội để ĐTPT nền kinh tế quốc dân
Khi chi tiêu của chính phủ lớn hơn mức thuế thu được, Chính phủ phải vay nợ
từ trong nước và ngoài nước để trang trải phần thâm hụt ngân sách hình thành nợ chính phủ và gọi là Tín dụng nhà nước Tín dụng nhà nước được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: công trái, tín phiếu, trái phiếu quốc tế, TPCP
Lúc đầu tìn dụng nhà nước chỉ được dùng để bù đắp bội chi tài chính Theo đà phát triển của kinh tế, Tín dụng nhà nước đã trở thành CSTC quan trọng điều tiết quan
hệ cung cầu tiền tệ và điều tiết mối quan hệ tài chính với tiền tệ - tín dụng
Tác dụng điều tiết của Tín dụng nhà nước chủ yếu thể hiện trên 3 mặt như sau:
Thứ nhất, Tín dụng nhà nước đã thu hút một nguồn lực tài chính đáng kể từ dân
cư cho nhà nước, làm cho đầu tư và tiêu dùng của dân cư giảm đi Do đó, tín dụng của nhà nước có tác dụng điều tiết đối với một bộ phận nguồn lực tài chính sử dụng cho mục đích đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế
Thứ hai, Tín dụng nhà nước có tác động đến cung cầu tiền tệ Nhờ có Tín dụng
nhà nước mà một bộ phận tiền tệ nhàn rỗi, nằm im biến thành tiền tệ lưu thông và đưa
Trang 66
vào ĐTPT kinh tế Sự biến động về số lượng tiền tệ do Tín dụng nhà nước đưa đến gọi
là "hiệu ứng tiền tệ" của Tín dụng nhà nước
Thứ ba, do nguồn trả nợ của Tín dụng nhà nước chủ yếu dựa vào gia tăng thu
thuế ở các năm sau Đối với những người cho nhà nước vay, khi Tín dụng nhà nước đến hạn, họ không chỉ thu hồi được vốn mà còn nhận được lợi tức Nhà nước phát hành Tín dụng nhà nước chủ yếu dùng cho các nhu cầu chung của xã hội, mọi người dân đều được hưởng Như vậy sẽ sinh ra vấn đề chuyển dịch thu nhập giữa những người nộp thuế với những người cho nhà nước vay Ngoài ra, vấn đề trả nợ do tín dụng nhà nước đưa đến, không chỉ ảnh hưởng đến những người đương thời, mà còn tồn tại cái gọi là vấn đề chuyển dịch thu nhập và gánh vác của "các đời" Điều đó gọi là hiệu ứng thu nhập, có tác động điều tiết nguồn lực tài chính của khu vực dân cư
Tác dụng của tín dụng nhà nước chủ yếu thông qua quy mô tín dụng nhà nước,
cơ cấu người mua, cơ cấu về kỳ hạn, lãi suất tín dụng nhà nước Nhà nước thông qua việc điều chỉnh quy mô tín dụng nhà nước, lựa chọn đối tượng mua, phân chia kỳ hạn hoàn trả tín dụng nhà nước, xây dựng lãi suất tín dụng nhà nước khác nhau, để thực hiện mục tiêu điều tiết của CSTC
Trong điều kiện thực thi CSTC gắn với CSTT, thông qua thị trường tín dụng nhà nước, Chính phủ có thể điều hành được hai hệ thống chính sách lớn: một mặt, tín dụng nhà nước có thể làm nhẹ bớt hậu qủa lạm phát do bội chi ngân sách, việc huy động vốn từ tín dụng nhà nước để bù đắp bội chi ngân sách so với bù đắp bằng phát hành tiền có ảnh hưởng nhỏ hơn tới sự biến động của tiền tệ và lạm phát; mặt khác, còn
có thể gia tăng khả năng linh hoạt điều tiết việc cung ứng tiền tệ của ngân hàng trung ương
1.3 Vai trò của CSTK trong kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính chỉ phát huy được vai trò tích cực của mình khi nhà nước xây dựng và thực hiện CSTK phù hợp Nếu CSTK được xây dựng đúng đắn, hợp lý thì có thể bảo đảm cho nền kinh tế phát triển liên tục, ổn định, nhịp nhàng Ngược lại, khi CSTK không được hoạch định phù hợp quy luật khách quan thì nền kinh tế có thể phát triển mất cân đối và kém hiệu qủa
CSTK với tư cách là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển kinh tế- xã hội của nhà nước, có vai trò nổi bật trên các mặt sau đây:
1 Hướng dẫn
Một trong những nội dung quan trọng của CSTC là huy động, phân phối, sử dụng các nguồn tài chính và mối quan hệ cân đối của nó, mà loại quan hệ này lại đụng chạm đến lợi ích vật chất và khống chế hoạt động kinh tế của các chủ thể trong xã hội CSTK phát huy vai trò hướng dẫn thông qua việc điều chỉnh lợi ích vật chất để hướng
Trang 77
mọi hoạt động kinh tế của chủ thể kinh doanh đi vào quỹ đạo quản lý của nhà nước, phù hợp với phương hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân
Vai trò hướng dẫn của CSTK thể hiện ở hai mặt: Trực tiếp và gián tiếp
Trực tiếp hướng dẫn là sự thể hiện vai trò phát huy tác dụng trực tiếp của CSTK đối với đối tượng điều chỉnh
Gián tiếp hướng dẫn là ảnh hưởng của CSTK đối với đối tượng điều tiết thông qua các công cụ và đòn bẩy khuyến khích khác của cơ chế thị trường
từ đó tác động tới sự phát triển kinh tế-xã hội
Vai trò điều tiết của CSTK chủ yếu biểu hiện ở sự điều chỉnh một số mặt mất cân đối nào đó trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội Trong nền kinh tế thị trường, sự phát triển kinh tế theo chu kỳ là điều khó tránh khỏi CSTC, thông qua phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính có thể tác động một cách thích hợp vào các giai đoạn của chu kỳ kinh tế, nhằm rút ngắn thời gian nền kinh tế bị khủng hoảng tiêu điều, kéo dài thời kỳ nền kinh tế phục hồi hưng thịnh Đồng thời, thông qua việc phân phối và phân phối lại thu nhập mà CSTC có thể điều hòa các mối quan hệ lợi ích và thực hiện sự cân đối giữa các khu vực, các ngành nghề và các tầng lớp dân cư
3 Kiềm chế
CSTK thông qua phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính mà tác động ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của các chủ thể kinh tế trong xã hội Thông qua đó, CSTC thực hiện vai trò kiềm chế hoặc thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tê quốc dân
Sở dĩ CSTK có vai trò không chế, chủ yếu là do các thuộc tính bên trong của chính sách quyết Bất kể CSTK thuộc loại hình nào đều mang yếu tố không chế nào đó
ở bên trong Các chính sách này đều thông qua các chế tài nhất định để bắt buộc các chủ thể kinh tế phải thực hiện các quy định của chính sách
Đặc trưng nổi bật về vai trò không chế của CSTC là tính chất gián tiếp, vì rằng cái mà CSTK cung cấp là một phương thức hay áp lực điều hòa kinh tế
Trang 88
4 Ổn định
CSTK thông qua điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, làm cho tổng mức chi tiêu tiền tệ cân bằng với sản lượng sản xuất và thu nhập, từ đó thực hiện phát triển ổn định nền kinh tế quốc dân
CSTK thực hiện vài trò ổn định thông qua các công cụ của mình Nhà nước sử dụng thuế, chi tiêu ngân sách, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp là những công cụ chủ yếu của CSTK và được coi là "công cụ ổn định bên trong" của nền kinh tế Việc sử dụng đúng đắn và hợp lý các công cụ của CSTC vào những thời điểm thích hợp của chu kỳ kinh tế sẽ tạo ra tiền đề để thực hiện ổn định nền kinh tế xã hội
Chẳng hạn, trong thời kỳ phồn thịnh, thu nhập quốc dân tăng lên, do đó cần phải tăng thuế để điều tiết thu nhập và đầu tư của các chủ thể kinh doanh, áp lực của lạm phát sẽ được giảm nhẹ Trong thời kỳ suy thoái, mức thu nhập quốc dân xuống thấp, thuế sẽ giảm đi, còn chi tiêu công cộng cần phải tăng lên, thu nhập có thể chi phối của dân cư tăng lên một cách tương tối, do đó tổng cầu của xã hội cũng tăng lên Vai trò của CSTK mang tính chất phản chu kỳ
Mặt khác, trong điều kiện mất cân đối giữa tắc tổng cung và tổng cầu, có thể thông qua CSTKh để gia tăng chi tiêu công cộng, hoặc là giảm bớt thu nhập của chính phủ từ thuế khóa để duy trì sự không thay đổi về tổng nhu cầu Ngược lại, nếu chi tiêu của các tổ chức tư nhân quá nhiều, có nguy cơ gây ra lạm phát, CSTK, một mặt cần giảm bớt chi tiêu công cộng, mặt khác cần tăng gia thu thuế để thu hút sức mua dư thừa của xã hội Vai trò đó của CSTK mang tính chất ổn định
Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, để khống chế và đẩy lùi lạm phát, các biện pháp của tài chính thường được sử dụng như: Cắt giảm chi tiêu Ngân sách, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư; vay dân qua con đường phát hành công trái, tín phiếu Kho bạc nhà nước hoặc sử dụng công cụ tín dụng và lãi suất để thu hút lượng tiền mặt trong lưu thông làm giảm sự căng thẳng trong quan hệ tiền - hàng
2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA HỘI NHẬP
2.1 CSTT, mục tiêu và nội dung của CSTT
Tiền tệ là sản phẩm của quan hệ trao đổi hàng hóa Có thể nói bất cứ vật gì được chấp nhận chung để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ hoặc để thanh toán các khoản nợ đều được gọi là tiền tệ
Trang 99
Tiền tệ có vai trò quan trọng trong kinh tế thị trường Để phát huy được vai trò
đó, nhà nước phải hoạch định CSTT theo những định hướng nhất định, hình thành CSTT
Như vậy, CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW soạn thảo và tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định
Trong tác phẩm “Tiền tệ, ngân hàng và TTTC”, F.S Miskin đã đưa ra quan điểm
về CSTT theo nghĩa rộng: “CSTT là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên
cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định TTTC và ổn định tỷ giá hối đoái”
Bất kỳ nền kinh tế nào, ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền trong nước luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn NHTW điều hành CSTT phải kiểm soát được tiền tệ, làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền và hàng, không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu của lưu thông
Xét cho cùng, CSTT có thể được xác định theo một trong hai hướng sau:
- CSTT mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm Trong trường hợp này, chính sách nhằm vào chống suy thoái
- CSTT thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế đầu
tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp này CSTT nhằm vào việc kiềm chế lạm phát
Bằng cách NHTW tác động đến cung ứng tiền (money supply) làm thay đổi cung ứng tiền để tác động đến lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến chi tiêu của các khu vực nền kinh tế, cuối cùng CSTT có tác động quan trọng đến GDP (thực, tiềm năng) và lạm phát Trong dài hạn, CSTT xác định giá trị danh nghĩa hay giá trị tiền tệ của hàng hóa
và dịch vụ - đó chính là mức giá chung hay CSTT chính là yếu tố quyết định mức giá chung trong dài hạn Tuy nhiên, những thay đổi của CSTT cũng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong ngắn hạn và trung hạn CSTT là cách thức hay tổng thể các biện pháp, công cụ của NHTW nhằm góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế, thông qua việc chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng, tức
là thông qua chi phối dòng chu chuyển tiền và khối lượng tiềni
Qui trình hoạt động của CSTT có thể tóm tắt như sau:
Trang 10Mục tiêu cuối cùng
Mục tiêu cuối cùng của CSTT thường là mục tiêu trung hạn, vì tác động trễ của tiền tệ đến sản lượng và lạm phát CSTT là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, nên mục tiêu CSTT theo đuổi không ngoài mục tiêu của kinh tế vĩ mô là “ mức sản lượng cao và tăng trưởng nhanh; mức công ăn việc làm hữu hiệu với mức thất nghiệp tự nguyện thấp nhất; ổn định giá cả” Trên thực tế NHTW các nước điều hành CSTT đều theo đuổi mục tiêu trên Tuy nhiên, CSTT không phải là duy nhất để nền kinh tế đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô với mức tăng trưởng bền vững, công ăn việc làm cao và lạm phát thấp, mà để đạt được điều đó phải phối hợp đồng bộ với nhiều chính sách khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách đối ngoại Có thể khái quát hoá mục tiêu cuối cùng của CSTT thường là ổn định hệ thống tiền tệ, hỗ trợ sự phát triển kinh tế bền vững, ổn định giá cả hay là kiểm soát được lạm phát ở mức mong muốn Trong từng thời kỳ, mục tiêu cuối cùng được lượng hoá cụ thể phù hợp với diễn biến kinh tế và diễn biến tiền tệ
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là những biến số tiền tệ mà có thể đo lường được, NHTW có thể kiểm soát được và phải có tác dụng dự báo được mục tiêu cuối cùng Điều đó có nghĩa rằng biến số tiền tệ đó có mối liên kết với mục tiêu hoạt động và có thể tác động đến mục tiêu cuối cùng của CSTT
Qua đúc kết kinh nghiệm của các nước, IMF đã chia mục tiêu trung gian được chia thành 3 loại: Mục tiêu trung gian là tổng tiền, thường là lượng chọn M2 và/hoặc là tổng tín dụng nền kinh tế Mục tiêu trung gian là tổng tiền, hoặc tỷ giá hối đoái, hoặc lãi suất thị trường đã được áp dụng trong nhiều thập kỷ qua, qua đó cho thấy mỗi một mục tiêu được lựa chọn gắn liền với những diễn biến kinh tế và TTTC trong từng giai đoạn
Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu trung gian
Mục tiêu cuối cùng Công cụ của
CSTT
Trang 1111
phát triển, gắn liền với mục tiêu và giải pháp đảm bảo sự ổn định vĩ mô Như vậy, để lựa chọn được mục tiêu trung gian thích hợp, đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về các diễn biến kinh tế, tiền tệ hiện tại và dự báo trong tương lai, và xác định rõ định hướng phát triển kinh tế trong ngắn hạn cũng như dài hạn
là biến số chủ yếu để NHTW thực thi CSTT
IMF đã chia mục tiêu hoạt động thành hai loại là mục tiêu hoạt động giá cả hay lãi suất ngắn hạn và mục tiêu hoạt động là khối lượng (tiền cơ bản), cụ thể như sau:
+ Gắn với mục tiêu hoạt động là giá cả nghĩa là NHTW kiểm soát lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng Thông thường NHTW qui định lãi suất trần và lãi suất sàn của NHTW trên thị trường liên ngân hàng nhằm tạo ra hành lang dao động cho lãi suất ngắn hạn trên thị trường theo mức mong muốn của NHTW, thông qua sự tác động của công cụ CSTT như nghiệp vụ thị trường mở v.v Trong trường hợp việc chỉ đạo CSTT hầu hết thông qua sự can thiệp của NHTW trên thị trường ngoại hối hơn là việc điều chỉnh lãi suất thì tỷ giá được xem như là mục tiêu hoạt động
+ Gắn với mục tiêu hoạt động là khối lượng tiền tệ nghĩa là NHTW kiểm soát tiền cơ bản (MB), hoặc các cấu thành của nó, chẳng hạn như Dự trữ quốc tế ròng, Dự trữ của các NHTM, hoặc tài sản có trong nước ròng trên bảng cân đối của NHTW
+ Đối với mục tiêu giá cả tiền tệ, việc kiểm soát lãi suất sẽ có hiệu quả trong điều kiện thị trường tiền tệ phát triển- thị trường liên ngân hàng có tính thanh khoản cao và hiệu quả, hệ thống NHTM tồn tại sự cạnh tranh, NHTW phải có sự tín nhiệm với thành viên thị trường Sở dĩ phải có điều kiện như vậy là do lãi suất chỉ có tính nhạy cảm cao trong môi trường như vậy, khi đó bất cứ sự thay đổi nhỏ trong cung tiền của NHTW sẽ tác động đến sự biến động của lãi suất Đối với mục tiêu là khối lượng điều kiện áp dụng có phần ngược lại, tức là có thể áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, kém hiệu qủa, khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng là thấp, nhất là trong điều kiện môi trường lạm phát cao Tuy nhiên trong tình hình như vậy, một điều kiện tiên quyết là giữa hệ số tạo tiền và hàm cầu tiền phải có sự liên hệ chặt chẽ với nhauii
Trang 1212
Trong cơ chế thị trường, CSTT bao gồm 3 chính sách cơ bản Đó là chính sách tín dụng; chính sách ngoại hối; chính sách đối với NSNN
Chính sách tín dụng
Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quĩ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường
Khi các TCTD thiếu phương tiện thanh toán thì họ đến NHTW xin tái cấp vốn NHTW luôn là người cho vay cuối cùng, đóng vai trò chủ nợ với các tổ chức tín dụng
Chính sách ngoại hối
Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản có giá trị thanh toán đối ngoại, phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và gia tăng việc làm trong xã hội
Chính sách ngoại hối được thể hiện trên các phương diện: (i) Chính sách hối
đoái; (ii) Dự trữ ngoại hối và (iii) Tỷ giá hối đoái
Chính sách hối đoái: Chính sách hối đoái thường hướng vào việc ngăn chặn tích
trữ ngoại hối trong các pháp nhân và thế nhân, quản lý việc mua bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW
Dự trữ ngoại hối: Mỗi nước đều có dự trữ ngoại hối tùy thuộc vào khả năng của
nền kinh tế đó Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước Khi NHTW mua ngoại tệ sẽ làm gia tăng dự trữ ngoại tệ, gia tăng khối lượng tiền tệ và ngược lại Qua việc mua bán ngoại hối, NHTW can thiệp vào thị trường, chủ động tác động vào tỷ giá hối đoái theo ý muốn nhất định
Tỷ giá hối đoái: Phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ Tỷ giá hối
đoái ảnh hưởng trực tiếp đến xuất nhập khẩu Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp sẽ khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái quá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu Do tầm quan trọng của nó, nên NHTW rất quan tâm và khi cần thiết dùng nhiều biện pháp để ổn định tỷ giá hối đoái
Chính sách đối với ngân sách
Ngân sách cân bằng hay không cân bằng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau đối với lưu thông tiền tệ
Trường hợp ngân sách cân bằng Vẫn có thể tác động mạnh tới CSTT Nếu CSTT nhằm chống lạm phát, thì ngân sách thăng bằng vẫn có thể làm tăng giá Nếu
Trang 13thanh toán cho Chính phủ
2.2 Các công cụ của CSTT và sự lựa chọn
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn sử dụng các công cụ CSTT trong điều hành CSTT của các NHTW trên thế giới, IMF đã tổng kết và phân chia các công cụ CSTT thành 2 loại chủ yếu: Công cụ tiền tệ trực tiếp và công cụ tiền tệ gián tiếp
4) Công cụ trực tiếp
Là cách thức mà NHTW trực tiếp tác động thông qua các quy định để giới hạn mục tiêu giá cả (hoặc mục tiêu khối lượng) thường nhằm vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại Các công cụ này thường được áp dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, khả năng sử dụng các điều kiện thị trường để điều tiết tiền tệ của NHTW còn hạn chế, như: kiểm soát trực tiếp lãi suất của nền kinh tế, hạn mức tín dụng, tín dụng chỉ định
Ấn định lãi suất tiền gửi và tiền vay
Nếu lãi suất qui định cao, sẽ thu hút được nhiều tiền gửi, làm gia tăng nguồn vốn cho vay Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng
Nhược điểm của biện pháp này là làm cho các TCTD mất đi tính linh hoạt và quyền tự chủ kinh doanh, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ ngoại tệ, bất động sản, trong khi ngân hàng bị hụt hẫng về tiền mặt cũng như nguồn vốn cho vay
Ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay
NHTW có thể qui định khung lãi suất (giới hạn tối đa và tối thiểu về lãi suất) bắt buộc các TCTD phải thực hiện
Biện pháp này có ưu điểm là giúp ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại bỏ những dự án kinh tế kém hiệu quả Nhìn chung việc ấn định khung lãi suất tiền gửi và cho vay ngày càng ít được áp dụng ở các nước theo cơ chế thị trường Bởi vì, trong cơ chế thị trường, lãi suất rất nhạy cảm với đầu tư, nó phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
Trang 1414
Ấn định hạn mức tín dụng đối với các TCTD
Đây là biện pháp mà NHTW khống chế mức cho vay tối đa đối với các TCTD Trên cơ sở qui mô, tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng TCTD, NHTW tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng TCTD, đó chính là mức tối đa mà mỗi TCTD được phép vay từ NHTW Với việc sử dụng biện pháp này tạo cho NHTW dễ đạt được các mục tiêu trung gian của CSTT Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự biến động thường xuyên của cung và cầu tiền vay, biện pháp này bỏ ra không còn phù hợp vì không điều chỉnh kịp thời với sự biến động của nền kinh tế
Bên cạnh việc qui định hạn mức tín dụng đối với các TCTD, NHTW còn qui định hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế Trong trường hợp này, NHTW có thể qui định giới hạn khối lượng tín dụng mà các TCTD có thể cung cấp cho nền kinh tế Nó được sử dụng để kiểm soát chặt chẽ sự mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện chính sách chặt tiền tệ
Phát hành tín phiếu ngân hàng trung ương
Trong một số trường hợp, NHTW có thể phát hành tín phiếu để giảm khối lượng tiền trong lưu thông Việc phân bổ tín phiếu mang tính chất bắt buộc đối với TCTD Việc phát hành tín phiếu NHTW thường áp dụng trong trường hợp lạm phát cao, hoặc được sử dụng để hỗ trợ một số công cụ khác
Phát hành trực tiếp cho NSNN và cho đầu tư
Trong điều kiện NSNN bị thiếu hụt, NHTW phát hành tiền để bù đắp sự thiếu hụt ấy Biện pháp này làm gia tăng khối lượng trong lưu thông, hậu quả là gia tăng lạm phát
Phát hành trực tiếp cho đầu tư có thể qua NSNN hoặc qua con đường tín dụng ngân hàng Biện pháp này cần thiết trong điều kiện nền kinh tế suy thoái, dư thừa tiềm năng kinh tế Nó sẽ mang lại hiệu quả tích cực, nếu phát hành này được sử dụng để khơi tăng tiềm năng về tài nguyên và con người
5) Công cụ gián tiếp
Các công cụ gián tiếp là các công cụ mà sự tác động của chúng vào các mục tiêu trung gian được thông qua một biến số khác thuộc về sự kiểm soát của NHTW và phải thông qua cơ chế tự điều tiết của các lực lượng thị trường Thuộc về nhóm công cụ này bao gồm: