Một mặt, quá trình ĐTH tạo ra những “cực tăng trưởng" có sức lan toả rộng lớn đến các vùng nông thôn Vĩnh Phúc: sự thay đổi về KT - XH: đời sống của người dân từng bước được nâng lên, hệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGÔ THỊ CẨM LINH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN VIỆC LÀM
CỦA NÔNG DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGÔ THỊ CẨM LINH
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN VIỆC LÀM
CỦA NÔNG DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 62 62 01 15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Chí Thiện
2 PGS.TS Đỗ Anh Tài
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và chƣa đƣợc dùng để bảo vệ một học vị nào Mọi nguồn số liệu và các thông tin trích dẫn trong luận án đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Ngô Thị Cẩm Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Đại học Thái Nguyên, Ban đào tạo Sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, các Thầy Cô giáo khoa Kinh tế thuộc trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Trần Chí Thiện; PGS.TS Đỗ Anh Tài - Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Lao động Thương binh và Xã hội Vĩnh Phúc, Sở NN&PTNT Vĩnh Phúc, Liên đoàn lao động tỉnh Vĩnh Phúc, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, Uỷ ban nhân dân huyện Bình Xuyên và các hộ nông dân, cán bộ, công nhân tại các doanh nghiệp tôi đã tiến hành trực tiếp điều tra
Tôi xin chân thành cảm ơn Tập thể cán bộ, giáo viên trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc - nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận án!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án
Ngô Thị Cẩm Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án 3
5 Tính mới và những đóng góp của đề tài 7
6 Kết cấu của luận án 8
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về đô thị, đô thị hóa 9
1.1.1 Khái niệm về đô thị, đô thị hóa 9
1.1.2 Đô thị hóa và vấn đề việc làm của nông dân 12
1.2 Lý luận về việc làm 18
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 18
1.2.2 Tạo việc làm 22
1.2.3 Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm 29
1.3 Ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của nông dân 31
1.3.1 Những ảnh hưởng tích cực 31
1.3.2 Những ảnh hưởng tiêu cực 34
Trang 61.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của nông dân trong quá trình đô
thị hoá 34
1.4.1 Những nhân tố thuộc về người lao động 35
1.4.2 Những nhân tố thuộc về người sử dụng lao động 37
1.4.3 Những nhân tố thuộc về nhà nước 39
1.5 Kinh nghiệm giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa 49
1.5.1 Trên thế giới 49
1.5.2 Ở Việt Nam 51
1.5.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Vĩnh Phúc 53
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 56
2.1.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc làm của nông dân 56
2.1.2 Khung phân tích ảnh hưởng của của đô thị hóa đến việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc 58
2.1.3 Câu hỏi nghiên cứu 60
2.2 Phương pháp nghiên cứu 60
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 60
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 61
2.2.3 Phương pháp tổng hợp 65
2.2.4 Phương pháp phân tích thống kê 65
2.2.5 Phương pháp SWOT 68
2.2.6 Phương pháp đánh giá mức độ đô thị hoá theo phương pháp đa tiêu chí 69
2.2.7 Phương pháp dự báo cung - cầu lao động 73
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 75
Trang 7Chương 3 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 77
3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 77
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 77
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 79
3.2 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc (trường hợp huyện Bình Xuyên) 83
3.2.1 Phân tích ĐTH theo phương pháp đa tiêu chí 83
3.2.2 Phân tích đô thị hoá theo tiêu chí diện tích đất phi nông nghiệp và lao động đô thị (phương pháp một tiêu chí) 88
3.3 Thực trạng việc làm của nông dân huyện Bình Xuyên dưới ảnh hưởng của đô thị hoá 89
3.3.1 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến việc làm của nông dân huyện Bình Xuyên 89
3.3.2 Nông dân huyện Bình Xuyên tiếp cận cơ hội việc làm trong quá trình đô thị hóa 96
3.3.3 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc làm 114
3.3.4 Kết quả phân tích SWOT 115
3.3.5 Những mặt đạt được, hạn chế, bất cập, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong tiếp cận cơ hội việc làm của nông dân huyện Bình Xuyên 118
Chương 4 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020 121
4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 121
4.1.1 Bối cảnh quốc tế 121
4.1.2 Bối cảnh trong nước 122
Trang 84.2 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu về giải quyết việc làm trong quá
trình đô thị hoá 122
4.2.1 Quan điểm 122
4.2.2 Phương hướng 125
4.2.3 Mục tiêu 126
4.3 Dự báo cung cầu lao động 127
4.3.1 Dự báo cung lao động 127
4.3.2 Dự báo cầu lao động 127
4.3.3 Cân đối cung cầu lao động 127
4.4 Những giải pháp nhằm tạo điều kiện cho nông dân tỉnh Vĩnh Phúc tiếp cận cơ hội việc làm trong quá trình đô thị hoá 128
4.4.1 Nhóm giải pháp về chất lượng cung lao động 128
4.4.2 Nhóm các giải pháp về cầu lao động 135
4.4.3 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách hỗ trợ của Nhà nước 143
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 158
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả chọn mẫu nghiên cứu 64
Bảng 2.2 Mô tả tên biến sử dụng trong mô hình hàm sản xuất CD phân tích ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm 67
Bảng 2.3 Điểm tối đa cho các tiêu chí, chỉ tiêu 71
Bảng 3.1 Diện tích sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008, 2012 78
Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2012 80
Bảng 3.3 So sánh thu nhập bình quân đầu người và tăng trưởng kinh tế Vĩnh Phúc và cả nước 81
Bảng 3.4 So sánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vĩnh Phúc và cả nước 81
Bảng 3.5 Dân số huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 84
Bảng 3.6 Lực lượng lao động phi NN huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 85
Bảng 3.7 Lực lượng lao động huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 85
Bảng 3.8 Diện tích đất huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 85
Bảng 3.9 Cơ cấu kinh tế huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 86
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá các tiêu chí của huyện Bình Xuyên 87
Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu của huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2012 88
Bảng 3.12 Lao động trong các lĩnh vực của nông dân Bình Xuyên 89
Bảng 3.13 Kết quả khảo sát lao động có việc làm của nông dân Bình Xuyên 90
Bảng 3.14 Số việc làm được tạo ra giai đoạn 2005 - 2012 92
Bảng 3.15 Khảo sát trình độ chuyên môn của lao động Bình Xuyên 93
Bảng 3.16 Kết quả khảo sát lao động huyện Bình Xuyên năm 2011 95
Bảng 3.17 Diện tích, cơ cấu các loại đất huyện Bình Xuyên năm 2005, 2012 96
Bảng 3.18 Lực lượng lao động huyện Bình Xuyên giai đoạn 2000 - 2012 97
Bảng 3.19 Dân số, lực lượng lao động huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2012 99
Bảng 3.20 Lao động có việc làm ở khu vực nông thôn, thành thị năm 2011 100
Bảng 3.21 Tỷ lệ thất nghiệp giữa Bình Xuyên, Vĩnh Phúc và cả nước năm 2011 101
Trang 11Bảng 3.22 Lực lượng lao động Bình Xuyên phân theo trình độ năm 2011 101
Bảng 3.23 Kết quả khảo sát chất lượng nguồn nhân lực huyện Bình Xuyên 102
Bảng 3.24 Kết quả lao động được đào tạo theo NQ37 huyện Bình Xuyên 103
Bảng 3.25 Kết quả lao động được đào tạo theo Đề án 1956 huyện Bình Xuyên 105
Bảng 3.26 Số lượng các doanh nghiệp đầu tư tại Bình Xuyên 106
Bảng 3.27 Kết quả tạo việc làm của doanh nghiệp tại Bình Xuyên 106
Bảng 3.28 Kết quả điều tra các làng nghề huyện Bình Xuyên 107
Bảng 3.29 Khả năng thu hút lao động của các KCN theo diện tích đất công nghiệp có thể đưa vào sử dụng 109
Bảng 3.30 Khả năng thu hút lao động của các KCN theo diện tích đất nông nghiệp đã được thu hồi 110
Bảng 3.31 Khả năng thu hút lao động của các KCN theo diện tích đất đã quy hoạch 111
Bảng 3.32 Kết quả hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư tại Bình Xuyên 112
Bảng 3.33 Số tiền hỗ trợ đào tạo nghề theo NQ37 và Đề án 1956 113
Bảng 3.34 Cơ hội việc làm của nông dân dưới ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa theo ma trận SWOT 116
Bảng 3.35 Ma trận các chiến lược phát triển trên cơ sở S,W,O,T của nông dân huyện Bình Xuyên 117
Bảng 3.36 Dự báo dân số và cung lao động tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 127
Bảng 3.37 Dự báo cầu lao động giữa các khu vực kinh tế 127
Bảng 3.38 Chênh lệch cung, cầu lao động giai đoạn 2008 - 2020 127
Bảng 3.39 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo đến năm 2020 128
Trang 12DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Đồ thị 1.1 Mô hình tạo việc làm dựa trên lao động và vốn 23
Sơ đồ 2.1 Khung phân tích ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân
tỉnh Vĩnh Phúc 59
Sơ đồ 2.2 Phân tích ma trận SWOT 69
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế Công nghiệp hoá (CNH), đô thị hoá (ĐTH) đang là xu hướng chủ đạo tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế - xã hội (KT - XH) ở nhiều vùng lãnh thổ nước ta Quá trình đô ĐTH là xu thế tất yếu của một xã hội phát triển, phản ánh kết quả của sự tập trung công nghiệp và sự thay đổi mối quan hệ giữa khu vực nông thôn và đô thị Dưới những ảnh hưởng của quá trình ĐTH đã tạo dựng được nhiều cơ sở hạ tầng khang trang hiện đại phục vụ cho phát triển KT - XH của mỗi vùng, cải thiện đời sống người dân góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương
Trong khoảng một thập kỷ gần đây, việc đẩy nhanh quá trình CNH, ĐTH ở tỉnh Vĩnh Phúc đã diễn ra khá nhanh Một mặt, quá trình ĐTH tạo ra những “cực tăng trưởng" có sức lan toả rộng lớn đến các vùng nông thôn Vĩnh Phúc: sự thay đổi về
KT - XH: đời sống của người dân từng bước được nâng lên, hệ thống giao thông từng bước được cải thiện, đã có sự dịch chuyển tích cực trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng mạnh ở lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và giảm ở lĩnh vực nông nghiệp (NN), sự dịch chuyển nguồn cung cấp nguyên liệu, di dân giữa các vùng, miền , bộ mặt nông thôn đã có những thay đổi đáng kể Cùng với quá trình ĐTH, những nhà máy, xí nghiệp mọc lên ngày càng nhiều, số lượng lao động chuyển từ lĩnh vực NN sang lĩnh vực công nghiệp ngày càng lớn đã dần hình thành nên một đội ngũ lao động công nghiệp có kỹ năng, tay nghề và có thu nhập tăng đáng kể đặc biệt là những lao động làm việc ở các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, ĐTH cũng để lại nhiều hệ luỵ trên các phương diện KT - XH: nảy sinh những vấn đề KT - XH nhức nhối, gây bất ổn định xã hội, cản trở quá trình phát triển bền vững Quá trình ĐTH đã mở rộng không gian đô thị, không gian công nghiệp đồng thời thu hẹp các vùng sản xuất NN vốn đã tồn tại và phát triển lâu đời Quá trình ĐTH càng diễn ra mạnh thì ngày càng có nhiều lao động nông thôn
bị mất đất canh tác, diện tích đất giành cho sản xuất NN cũng ngày càng bị thu hẹp, công ăn việc làm của bà con nông dân từ bao đời nay dựa vào đồng ruộng để sinh sống nay đứng trước nguy cơ mất đất để sản xuất, thất nghiệp cao, mất việc làm và thu nhập bị ảnh hưởng, không ít hộ gia đình nông dân rơi vào cảnh khó khăn do không chuyển đổi được nghề nghiệp, không thích ứng được với thay đổi đã dẫn đến thiếu việc làm, thu nhập giảm sút
Trang 14Bên cạnh đó, hàng loạt các vấn đề liên quan khác phát sinh như: quá trình ĐTH quá nhanh, vấn đề an ninh lương thực, vấn đề phân hóa giàu nghèo… trở thành vấn đề cốt lõi khi thực hiện quá trình CNH - HĐH ở Vĩnh Phúc Các khu đô thị mới xuất hiện ở các vùng nông thôn ngày càng nhiều nhưng cũng kéo theo hệ lụy thực tế là khi ruộng đất cho sản xuất NN không còn hoặc là còn rất ít, cơ hội việc làm của nông dân có nhiều thay đổi thì bà con sẽ duy trì cuộc sống của mình như thế nào? Đây không chỉ là câu hỏi đặt ra cho riêng Vĩnh Phúc mà nó còn là câu hỏi đặt ra cho các vùng nông thôn khi phải nhường diện tích đất NN để xây dựng các nhà máy, các đô thị cũng như các công trình công cộng khác trong quá trình thực hiện CNH - HĐH
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về ảnh hưởng của ĐTH đến đời sống của người dân Vĩnh Phúc và đặc biệt là vấn đề việc làm của người nông dân địa phương
Nghiên cứu và đề ra các giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy CNH - HĐH thông qua ĐTH là một tất yếu khách quan gắn liền với giải quyết thỏa đáng vấn đề việc làm, thu nhập cho nông dân địa phương trong giai đoạn hiện nay Chính vì lẽ đó, tôi
lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc làm của nông
dân tỉnh Vĩnh Phúc” được chọn làm đề tài Luận án Đề tài có giá trị về mặt lý luận
cũng như thực tiễn rất sâu sắc đối với việc hoạch định chính sách KT - XH của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2020
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Làm rõ ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc từ đó
đề xuất giải pháp để nông dân tiếp cận được việc làm trong bối cảnh ĐTH
2.2 Mục tiêu cụ thể
a Góp phần hệ thống hóa và phát triển một bước cơ sở lý luận và thực tiễn
về những ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của người nông dân
b Làm rõ những ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc làm của nông dân tỉnh
Vĩnh Phúc
c Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giúp nông dân tiếp cận được việc làm trong quá trình ĐTH ở tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 153 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc làm của người nông dân do ảnh hưởng của ĐTH, sự chuyển đổi về nghề nghiệp, sự dịch chuyển trong cơ cấu lao động trong các lĩnh vực Trong đó, việc làm của người nông dân được nghiên cứu trên phương diện khả năng tạo việc làm từ: chính người lao động tự tạo ra, do doanh nghiệp hoặc do Nhà nước tạo ra
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của ĐTH đến
việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc
Địa bàn khảo sát, điều tra, nghiên cứu các đối tượng (nông hộ, người lao động, doanh nghiệp) được thực hiện tại huyện Bình Xuyên, là địa bàn có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2000 -
2012 Trên cơ sở những ưu việt và hạn chế được phân tích, đánh giá ở huyện Bình Xuyên tác giả đưa ra những khuyến nghị, giải pháp cho trong việc giải quyết việc làm trong quá trình ĐTH trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
+ Phạm vi thời gian:
Đề tài nghiên cứu việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc dưới ảnh hưởng của ĐTH đến từ năm 2005 - 2012 và khuyến nghị giải pháp để nông dân tiếp cận việc làm trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
+ Phạm vi nội dung:
Nghiên cứu và phát triển một bước cơ sở lý luận và khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về việc làm và những ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân
Làm rõ những thay đổi việc làm của nông dân ở tỉnh Vĩnh Phúc do tác động của
ĐTH và trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để nông dân tỉnh Vĩnh Phúc tiếp cận việc làm của dưới tác động của ĐTH đến năm 2020
4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án
Đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu trong nước về quá trình ĐTH và những ảnh hưởng của ĐTH tới mọi mặt của đời sống xã hội đặc biệt là tới đời sống những người nông dân:
Trang 16Tác giả Nguyễn Thị Hải Vân (2013) trong nghiên cứu: “ĐTH và việc làm, lao động ngoại thành Hà Nội” đã sử dụng quan điểm tiếp cận hệ thống, quan điểm
liên ngành và phát triển bền vững Trong phân tích, đánh giá tác giả sử dụng các phương pháp của kinh tế chính trị như: trừu tượng hóa khoa học, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: điều tra xã hội, phân tích và tổng hợp, điền dã, chuyên gia - chuyên khảo… và đã nêu ra các tác động tích cực, sâu sắc tới mọi mặt đời sống KT
- XH của mỗi quốc gia và có mối quan hệ tác động tương hỗ tới lao động việc làm ở nông thôn rất mạnh mẽ, bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu đang diễn ra sâu sắc, các tác động giữa ĐTH tới lao động, việc làm ngày càng phức tạp và gây hậu quả nghiêm trọng, làm tổn hại lợi ích của nông dân và nông thôn, đe dọa đến sự phát triển bền vững Tác giả cũng đã làm rõ về cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của ĐTH tới lao động, việc làm ở nông thôn dưới góc độ kinh tế chính trị, cũng như những nhân tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực tới tình hình lao động, việc làm ở lao động nông thôn ở ngoại thành Hà Nội trong quá trình ĐTH; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước, thể chế, chính sách trong quá trình ĐTH cũng như đề ra các phương hướng, giải pháp về cơ chế chính sách giải quyết việc làm bền vững cho lao động nông thôn đến năm 2020 Tác giả đã đưa ra một số giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của ĐTH tới lao động việc làm ở nông thôn ngoại thành Hà Nội giai đoạn
2011 - 2020 như: hoàn thiện công tác quy hoạch và điều chỉnh mô hình CNH, ĐTH Thủ đô theo hướng bền vững; phát triển ngành nghề tạo việc làm tại chỗ; phát triển đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành; phát huy thế mạnh các làng nghề truyền thống nông thôn; phát triển bền vững các KCN trên địa bàn Tuy nhiên, trong nghiên cứu chưa nêu được các phương pháp đánh giá tác động cũng như chỉ rõ mức độ tác động của ĐTH tới lao động, việc làm nông thôn ngoại thành Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Vĩnh Hà (2006) trong nghiên cứu: “Tác động của quá trình ĐTH tới cơ cấu lao động, việc làm của các hộ gia đình huyện Từ Liêm - Hà Nội” đã
nêu một số lý luận cơ bản và thực tiễn về ĐTH, về lao động - việc làm ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu cũng đã phát hiện ra những tác động tích cực, tiêu cực của quá trình ĐTH đến chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm của các hộ gia đình ở huyện Từ Liêm giai đoạn 2000 - 2005 và trên cơ sở những phân tích, đánh giá tác giả đã đề xuất các giải pháp hỗ trợ việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở các
Trang 17vùng ĐTH ở Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010 Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở mức độ phát hiện ra những tác động tích cực, tiêu cực của quá trình ĐTH đến cơ cấu lao động việc làm, vì vậy việc đề ra các nhóm giải pháp vẫn chỉ mang tính chính sách là cơ bản
Tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) trong luận án: “Nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên” đã tập trung nghiên
cứu về vẫn đề “lao động bền vững” Trong luận án, tác giả cũng đã chỉ ra được năm yếu tố cấu thành việc làm bền vững: các quyền tại nơi làm việc, ổn định việc làm và thu nhập, tạo việc làm và xúc tiến việc làm, bảo trợ xã hội, đối thoại xã hội Trên cơ
sở phân tích năm yếu tố cấu thành đó, tác giả cũng đã đề xuất bốn nhóm giải pháp để tạo ra việc làm bền vững cho lao động nông thôn Tuy nhiên trong phân tích, tác giả mới chỉ đơn thuần nhìn nhận yếu tố tạo việc làm bền vững từ phía doanh nghiệp mà chưa đề cấp tới chính khả năng, năng lực của người lao động có khả năng tiếp cận, thực hiện nhiệm vụ để tạo ra việc làm thỏa đáng hay không
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thơm và Phí Thị Hằng (2009) trong nghiên cứu:
“Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình ĐTH” đã nghiên cứu
về lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình ĐTH và đặc biệt nhóm tác giả đã nghiên cứu thực trạng của một tỉnh trọng điểm đồng bằng sông Hồng là Hải Dương và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cho tỉnh Hải Dương trong vấn đề giải quyết việc làm Tuy nhiên, trong nghiên cứu nhóm tác giả đưa ra các nhóm giải pháp giải quyết việc làm chủ yếu từ phía doanh nghiệp và các cấp chính quyền mà chưa đề cập đến giải pháp do chính người lao động tự tạo việc làm
Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010) trong nghiên cứu: “Việc làm của nông dân trong quá trình CNH - HĐH vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” đã
nghiên cứu một số lý luận về việc làm cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH - HĐH Nghiên cứu cũng đã phân tích thực trạng về việc làm của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2000 - 2007 trên các vấn đề: cơ cấu việc làm, thị trường lao động, thu nhập của nông dân và trên cơ sở đó đề ra giải pháp về tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân Tuy nhiên việc phân tích và đánh giá trên cơ sở những địa bàn thuộc đồng bằng sông Hồng, vì vậy việc đưa ra các các giải pháp có thể không hoặc
ít phù hợp với địa bàn một địa phương
Trang 18Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Thanh - Nguyễn Thế Trường (2009) trong
nghiên cứu: “Tác động của ĐTH - CNH tới phát triển kinh tế và biến đổi văn hóa -
xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc” đã nghiên cứu tổng quát trên tất cả phương diện kinh tế -
văn hóa - xã hội Nhóm tác giả tập trung đi nghiên cứu ở phạm vi lớn: tác động của ĐTH - CNH tới phát triển kinh tế, sự biến đổi văn hóa xã hội trên địa bàn Vĩnh Phúc dưới tác động của CNH - HĐH giai đoạn 1997 - 2004 Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu mà nhóm tác giả tiếp cận chủ yếu là phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và chưa xây dựng các nhóm chỉ số để đánh giá những tác động cụ thể đến các nhân tố ảnh hưởng và trọng tâm nghiên cứu là vấn đề văn hoá, xã hội còn vấn đề việc làm chưa được đề cập một cách thoả đáng
Tất cả những nghiên cứu trên, tuy có nhưng đóng góp nhất định về lý luận, thực tiễn ở những góc độ, khía cạnh khác nhau song cũng chỉ dừng lại ở mức liên quan đến CNH - HĐH, tác động của ĐTH đến đời sống KT- XH nói chung của nhóm tác giả nghiên cứu mà chưa có nghiên cứu nào phân tích những ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân
Từ các cách tiếp cận khác nhau về việc làm, các nghiên cứu đã phân tích, đánh giá vấn đề việc làm trong quá trình CNH - HĐH và ĐTH; chỉ ra ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm và đề xuất một số giải pháp hướng vào giải quyết việc làm trong quá trình ĐTH Tuy nhiên, có thể thấy đằng sau các công trình nghiên cứu về ĐTH và việc làm vẫn còn những khoảng trống chưa được đề cập hoặc đã đề cập nhưng chưa sâu sắc, còn hạn chế nhất định Cụ thể:
- Các nghiên cứu chưa làm rõ đặc điểm việc làm của nông dân ở vùng nông thôn (tính thời vụ, phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, việc làm có thu nhập bằng tiền công ít, việc làm mang lại thu nhập thấp, bấp bênh, ), vai trò của việc làm đối với
sự phát triển kinh tế nông thôn
- Quan hệ giữa ĐTH với việc làm của nông dân là mối quan hệ tương tác hữu cơ trong quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa phân tích, đánh giá sâu sắc để làm rõ bản chất của mối quan hệ này, chưa chỉ ra sự biến đổi việc làm
ở các vùng nông thôn trong quá trình ĐTH
- Chưa làm rõ mức độ phân hoá việc làm do ảnh hưởng của ĐTH và khả năng tiếp cận của dân cư nông thôn trong quá trình ĐTH, những yêu cầu đối với nông dân trước sự thay đổi việc làm trong quá trình ĐTH
Trang 19- Các nghiên cứu còn bỏ ngỏ, chưa phân tích cơ chế ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân, những nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của nông dân trong quá trình ĐTH
5 Tính mới và những đóng góp của đề tài
+ Tính mới của đề tài
- Luận giải làm rõ mối quan hệ giữa ĐTH với việc làm của nông dân về phương diện lý luận và thực tiễn, từ đó khẳng định: Quá trình phát triển đô thị phải luôn luôn gắn liền với các vấn đề phát triển nông thôn, trong đó có việc làm của nông dân
- Luận án chỉ ra ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Lý giải vấn đề ĐTH gắn với giải quyết việc làm, ĐTH có phải là động lực giải quyết việc làm cho nông dân không? Từ đó trả lời câu hỏi làm thế nào gắn ĐTH với giải quyết việc làm cho nông dân trong quá trình này
- Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý để có những quyết định đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc
+ Những đóng góp của đề tài về mặt khoa học cũng như thực tiễn
- Làm rõ hơn lý luận về mối quan hệ giữa ĐTH với việc làm ở nông thôn trong quá trình ĐTH
- Đề xuất các giải pháp gắn ĐTH với giải quyết việc làm cho người nông dân
ở các vùng nông thôn, góp phần giải quyết hài hoà hai mục tiêu: nâng cao đời sống của người dân địa phương và thực hiện thành công chủ trương CNH - HĐH của tỉnh Vĩnh Phúc cũng như của đất nước
- Nội dung cốt lõi của đề tài là góp phần nghiên cứu ảnh hưởng của ĐTH đến việc làm, từ đó ảnh hưởng đến mức sống, mức thu nhập của các hộ gia đình nông dân trong tỉnh từ khi hình thành các KCN, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn (mối quan hệ giữa ĐTH với việc làm của nông dân)
- Đưa ra được các giải pháp cho vấn đề việc làm phù hợp với các đối tượng cụ thể theo hướng bền vững tại địa phương trên cơ sở thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển sản xuất NN theo hướng áp dụng khoa học
Trang 20kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đồng thời phát triển các ngành nghề kinh doanh dịch vụ, khai thác triệt để lợi thế từ quá trình ĐTH mang lại nhằm tháo gỡ những khó khăn, thách thức cơ bản của quá trình ĐTH sẽ gặp phải trong tương lai
- Kết quả của quá trình nghiên cứu đề tài tạo ra cơ sở khoa học với tính thực tiễn cao giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách của tỉnh có cách nhìn thấu đáo
về vấn đề quy hoạch phát triển KT - XH; quy hoạch phát triển các KCN, khu đô thị, chính sách việc làm, chính sách đào tạo nghề
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở khoa học về ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của
nông dân
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của nông dân
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 4 Quan điểm, định hướng và những giải pháp cơ bản giải quyết việc làm
cho nông dân trong quá trình đô thị hoá trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA
ĐẾN VIỆC LÀM CỦA NÔNG DÂN
1.1 Một số vấn đề lý luận về đô thị, đô thị hóa
1.1.1 Khái niệm về đô thị, đô thị hóa
1.1.1.1 Đô thị
Các đô thị tồn tại ở khắp mọi nơi , ở mỗi quốc gia khác nhau lại có cách hiểu về đô thị khác nhau Ở Mỹ thì sự xác định đó dựa vào số lượng dân sinh sống ở vùng, khu vực đó, ở Nam Phi số dân cần có để một điểm dân c ư được coi là đô thị tùy thuộc vào chủng tộc dân cư , ở Braxin thì quy mô dân không được sử dụng để xác định các đô thị, mà đơn giản hơn chỉ có thủ đô mới là đô thị
Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về đô thị Theo quan điểm xã hội học , tác giả Trịnh Duy Luân (2004) trong tác phẩm “Xã hội học đô thị” cho rằng: Đô thị là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý và mang những đặc trưng nhất định Cụ thể [33]:
Thứ nhất, có dân số tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất Thứ hai, có một bộ phận dân cư làm công tác phi nông nghiệp và có một số
chuyên gia
Thứ ba, một đô thị phải đảm nhận chức năng thị trường và ít nhất phải có
một quyền lực điều hành
Thứ tư, các đô thị thể hiện những hình thức tương tác , trong đó một cá nhân
được biết đến không phải như một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với những người khác không phải như là những cá nhân, mà là với các vai trò mà họ đảm nhận
Thứ năm, các đô thị đòi hỏi một sự gắn kết xã hội
Một quan điểm khác nhìn nhận đô thị là sự kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức cư trú mang tính toà n vẹn lịch sử của con người , hoặc đặc trưng bởi các dấu hiệu sau [33]:
- Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế
- Đại bộ phận dân cư sinh sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp
- Là môi trường trực tiếp tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
xã hội và cá nhân
Trang 22- Giữ vai trò chủ đạo đối với các vùng nông thôn xung quanh và toàn xã hội nói chung
Theo nghị định số 72/2001/NĐ - CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ Việt Nam về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị [5]:
Đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định thành lập;
Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT - XH của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
Đối với khu vực nội thành phố, nội thị, thị trấn tỉ lệ lao động phi NN tối thiểu phải đạt 65 % tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70 % mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km² [5]
Như vậy, có thể hiểu một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh
nó Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc
Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình ĐTH Đo đạc tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị,
và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị
1.1.1.2 Đô thị hoá
ĐTH là một quá trình KT - XH được gia tăng mạnh mẽ trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, biểu hiện của nó là sự tăng nhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung về dân cư trong các các thành phố, sự phổ biến lối sống đô thị trong toàn bộ mạng lưới dân cư ĐTH là sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc kinh tế và trong các hoạt động của đời sống xã hội
Hiện nay khái niệm ĐTH chưa có được sự thống nhất do các cách tiếp cận khác nhau của mỗi nghiên cứu, ở mỗi chuyên ngành
Theo tác giả Đàm Trung Phường (1995): “ĐTH là quá trình chuyển dịch hoạt động NN phân tán sang hoạt động phi NN tập trung trên một số địa bàn thích hợp” [36]
Trang 23Đô thị hoá là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa dân
số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân số hay diện tích của một vùng
hay khu vực (mức độ đô thị hoá ) Hay đó chính là sự mở rộng đô thị theo thời gian (tốc độ đô thị hoá) [72]
Theo đó, khái niệm về ĐTH được nhìn nhận ở hai dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu đị nh lượng là tỷ lệ % số dân đô thị trên tổng số dân và nhiều khi được nhìn nhận là dấu hiệu duy nhất để đánh giá trình độ (mức độ ) ĐTH của một quốc gia hay của một khu vực Tuy nhiên nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhâ n khẩu học thì sẽ không thể nào giải thích được tầm quan trọng và vai trò của ĐTH cũng như những ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu thường xem ĐTH là một quá tr ình KT - XH lịch sử mang tính quy luật , trên quy mô toàn cầu , ở đó, bên cạnh mặt dân số , địa
lý, môi trường còn phải nói tới sự thay đổi theo xu hướng về mặt xã hội trong
lòng các đô thị
- Dấu hiệu định tính của quá trì nh ĐTH chính là sự thay đổi to lớn và sâu rộng trong đời số ng xã hội , đời sống của các cộng đồng nông thôn và đô thị , hay sự thay đổi trong cấu trúc xã hội , lối sống đô thị hay điều kiện sống của người dân trên địa bàn…
Trên thực tế, ở Việt Nam để thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước thì mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng NN tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ được ưu tiên, chú trọng và diễn ra trên phạm vi rộng lớn,
nó không chỉ được thực hiện ở các thành phố , thị xã , những khu trung tâm , đô thị… mà đến nay quá trình đó đang dần mở rộng phạm vi ra các khu vực nông thôn, vùng ngoại thành Do vậy mà sự tác động đó cũng sẽ ảnh hưởng mạnh đến quá trình ĐTH ở các vùng, miền đến dân số, diện tích ở các vùng nông thôn cũng như thành thị
Thực tế ở Việt Nam hiện nay đã và đang diễn ra các quá trình ĐTH sau:
- Đô thị hoá thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình ĐTH diễn ra ngay chính
trong đô thị Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là sự di dân từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô Với quá trình ĐTH này thường gắn với quan điểm chủ quan của người quy hoạch dựa trên sự chỉnh trang, nâng cấp đô thị Tuy nhiên, ĐTH thay thế này chỉ phù hợp ở từng giai đoạn, thời kỳ và thường là trong ngắn hạn cho đến khi dân cư tăng, xã hội phát triển, nhu cầu đáp ứng cao sẽ dẫn tới sự quá tải trong đô thị cũ, kết cấu hạ tầng, kiến trúc của đô thị cũ lạc hậu, ô nhiễm môi trường sẽ gây ra áp lực về sự di chuyển ra xa trung tâm đô thị cũ
Trang 24- Đô thị hoá cưỡng bức: Là khái niệm được dùng để chỉ sự di chuyển dân cư
từ nông thôn về thành thị, trung tâm Đặc điểm của ĐTH cưỡng bức là không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao Các nhu cầu của dân cư trở nên tập trung, quá tải và không được đáp ứng Đô thị trở nên quá tải về mật độ dân số và từ đó phát sinh các tiêu cực, mâu thuẫn trong quá trình phát triển đô thị Nguyên nhân của sự di chuyển dân cư là vấn đề việc làm và thu thập giữa các vùng, miền, giữa nông thôn và thành thị
- Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang
các đô thị nhỏ, hoặc từ các đô thị nhỏ trở về các vùng nông thôn Thông thường, ở giai đoạn đầu của quá trình CNH - HĐH, KT - XH đang phát triển thì đô thị luôn là nơi tạo ra nhiều việc làm và các dịch vụ tốt hơn đã thu hút hướng di dân từ nông thôn về thành thị Khi quá trình ĐTH kết thúc, khi sự quá tải, ô nhiễm xuất hiện thì môi trường sống (tự nhiên, xã hội) ở nông thôn được cải thiện đã là lực hút sự di dân quay trở về các vùng nông thôn Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách về mức sống, thu nhập và chất lượng sống giữa thành thị - nông thôn Đô thị hoá ngược như một chỉ báo tổng hợp về sự phát triển cao và là xu hướng tất yếu của một đô thị, một quốc gia trong xu thế phát triển, hội nhập
Trong nghiên cứu này, ngoài đánh giá mức độ ĐTH như khái niệm trên thì tác giả còn sử dụng tổng hợp một số chỉ tiêu cụ thể để đánh giá mức độ ĐTH (theo phương pháp đa tiêu chí) và trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá và so sánh
1.1.2 Đô thị hóa và vấn đề việc làm của nông dân
1.1.2.1 Đô thị và việc làm
Bên cạnh nông thôn, đô thị là hình thái quần cư cơ bản thứ hai của xã hội loài người Trên thế giới, đô thị ra đời rất sớm, nhưng chỉ thật sự phát triển mạnh
mẽ từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Cho đến nay, ĐTH đã trở thành một hiện tượng
xã hội, một hiện tượng kinh tế có ảnh hưởng hết sức quan trọng tới mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống KT - XH, đặc biệt là vấn đề việc làm
Đô thị có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT - XH của cả nước và là một thành quả tất yếu của quá trình thực hiện CNH - HĐH Sự phát triển đô thị kích thích tăng trưởng và phát triển của các vùng lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế thông qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, lan truyền tiến bộ công nghệ, văn hóa,
xã hội Với sự phát triển của hệ thống các đô thị, nhiều nước đã từng bước hình thành được những vùng, lãnh thổ phát triển không chỉ đảm nhận chức năng là động lực thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền KT - XH đất nước mà còn đảm nhận chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế, vừa đảm nhận vai trò tiếp nhận thông tin, các thành tựu về phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa của thế giới rồi lan
Trang 25rộng ra các vùng xung quanh Vai trò và tác động tích cực của việc phát triển đô thị
có ảnh hưởng rất lớn đến việc làm của người dân Cụ thể:
- Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm, thu nhập, tích lũy của nền kinh tế và nguồn thu cho ngân sách quốc gia Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012, chỉ tính riêng bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng chiếm khoảng 14 % dân số, tạo ra 36,4 % GDP, 45,7 % giá trị sản lượng công nghiệp, và gần 50 % giá trị xuất khẩu của cả nước [53] Các đô thị này đã trở thành những vùng động lực có tốc độ tăng trưởng cao và có đóng góp quan trọng vào việc tăng quy mô của nền kinh tế, tăng giá trị công nghiệp, dịch vụ
và xuất khẩu của cả nước cũng như giải quyết các vấn đề xã hội
- Với quy mô sản xuất, diện tích, dân số lớn và không ngừng gia tăng, sự tập trung lớn các năng lực sản xuất: lao động, vốn, trang thiết bị , các đô thị đã hấp thu một lượng lao động lớn để phục vụ sản xuất và cung cấp một khối lượng đáng kể các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ với chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của nhiều vùng trong nước và nguồn hàng cho xuất khẩu
- Các đô thị tạo việc làm trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ Với việc tập trung các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thương mại ở các
đô thị mới và đặc biệt các hoạt động dịch vụ quan trọng như xuất nhập khẩu, tài chính, tiền tệ, vận tải, du lịch, khoa học công nghệ từ các đô thị lớn bắt đầu có sức lan tỏa và dịch chuyển sang các vùng lân cận đã thúc đẩy sự phát triển KT - XH của các vùng, miền mà trước đây vốn vẫn là các vùng nông thôn thuần túy
- Với ưu thế về nhân lực chất lượng cao, được đào tạo, có khả năng tiếp cận
và vận hành nhanh chóng máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến (thường tập trung
về các vùng đô thị, đô thị lớn) nên ở các vùng đô thị tỷ lệ lao động có việc làm thường chiếm tỷ lệ lớn với mức thu nhập cao và ổn định
- Sự phát triển của đô thị góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động cũng như tăng năng suất và chất lượng lao động cho toàn bộ nền kinh tế Tại các đô thị của Việt Nam đã bước đầu hình thành đội ngũ lao động và cán bộ quản lý có trình độ và tác phong lao động công nghiệp hiện đại Tay nghề của người lao động được nâng cao cùng các kinh nghiệm quản trị kinh doanh…được tiếp tục lan tỏa sang các vùng, miền lân cận thông qua di chuyển, mở rộng và phát triển các chi nhánh, các cơ sở sản xuất kinh doanh đặt tại các địa phương cũng như các địa phương khác, góp phần từng bước hình thành các đô thị mới, đô thị vệ tinh mà tại
đó bản thân họ có thu nhập đồng thời chính họ lại mở ra việc làm mới cũng như cơ hội việc làm cho người dân bản địa
Trang 26- Các đô thị là nơi mở ra cơ hội việc làm có chất lượng trong tương lai Bởi lẽ, việc tập trung số lượng lớn các cơ sở đào tạo và khoa học, giữ vai trò đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, góp phần từng bước nâng cao chất lượng nguồn lao động cho nền kinh tế Về trước mắt, số lượng lao động đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn sẽ "thất nghiệp tạm thời" và nhường cơ hội việc làm cho một lực lượng lao động khác nhưng xét trên phương diện dài hạn họ sẽ là lực lượng lao động có chất lượng, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội và những đòi hỏi của xu thế phát triển
- Các đô thị là nơi tiêu thụ hàng nông sản chất lượng cao, tác động đến sự phát triển các cơ sở cung cấp nguyên liệu và dịch vụ, góp phần chuyển đổi tập quán sản xuất truyền thống của nhiều vùng nông thôn, mở ra khả năng nâng cao số lượng, chất lượng nông sản trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao
hệ số sử dụng đất…Như vậy, sự phát triển của các đô thị sẽ tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động sang lĩnh vực NN - nông thôn theo hướng CNH - HĐH Chính vì vậy, việc giảm cơ cấu kinh tế ở lĩnh vực NN không đồng nghĩa làm giảm việc làm trong lĩnh vực NN
- Sự phát triển của các đô thị đã tạo điều kiện để bổ sung nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển của các vùng nông thôn, vùng kém phát triển Thông qua việc thu hút lao động tới các đô thị, một phần đáng kể trong thu nhập của người lao động được đưa trở về các vùng nông thôn, vùng kém phát triển để giúp đỡ gia đình xây dựng, sửa sang nhà cửa, đường xá, phát triển kinh tế nông hộ
Tóm lại, đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa CNH - HĐH tạo điều kiện để tiến hành quá trình ĐTH, ngược lại ĐTH cũng có tác động tích cực trở lại thúc đẩy quá trình CNH - HĐH diễn ra nhanh hơn Bên cạnh đó, ĐTH đã tạo ra sự đa dạng các ngành nghề, từ đó việc làm được tăng lên đáng kể, điều này tác động tích cực đến thu nhập và đời sống của người dân Tác động lan tỏa của các đô thị được mở rộng cả về phạm vi không gian và biến đổi về chất Nhiều đô thị đã thực sự trở thành các hạt nhân động lực cho sự phát triển của nhiều vùng: vừa giải quyết được việc làm cho lực lượng lao động địa phương và các địa bàn lân cận do ảnh hưởng của nguyên lý "lực hút" đồng thời chính sự di chuyển lao động đến từ các địa bàn lân cận đã mở ra cơ hội việc làm cho người dân địa phương và qua đó tạo điều kiện cho phát triển KT - XH
Trang 271.1.2.2 Đô thị hóa và vấn đề việc làm
+ Những tác động tích cực
Quá trình ĐTH mang lại nhiều kết quả tích cực trong công cuộc phát triển của mỗi quốc gia, vùng, miền Mối quan hệ tích cực đầy ý nghĩa giữa ĐTH và phát triển kinh tế được hình thành và được thể hiện bởi các yếu tố như thương mại hóa, tăng năng suất, tạo nhiều việc làm và cải thiện sự tiếp cận đối với những yếu tố khác nhau về sản xuất, thị trường, những cơ sở hạ tầng và các tiện nghi khác Như vậy, ĐTH dẫn đến tăng việc làm, tăng thu nhập, thay đổi cách sống, đem lại chất lượng cao về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và sự phù hợp với lực lượng lao động ngày càng tăng lên Cụ thể [18]:
Thứ nhất, quá trình ĐTH đã cung cấp một lực lượng lao động lớn, trẻ, có
trình độ, góp phần vào quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các vùng miền Trong những đóng góp này, có lực lượng lao động do quá trình ĐTH thu hút So với người thành phố, lao động nhập cư thường linh hoạt và tích cực hơn trong việc tìm kiếm việc làm, chấp nhận nặng nhọc, độc hại, công việc có thu nhập thấp mà người thành phố không muốn làm
Thứ hai, góp phần giải quyết công ăn việc làm, làm giảm bớt lao động dư
thừa hiện nay Những ngành nghề phi NN, công nghiệp chế biến, công nghiệp nông thôn chưa phát triển, lao động NN ở một số địa phương khó hoặc không thể tìm việc làm ngay ở quê hương mình thì họ có thể tiếp cận được việc làm ở các khu đô thị, kết quả của ĐTH mang lại Hơn thế nữa, quá trình CNH - HĐH và phát triển KTTT trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, người nông dân ít được đào tạo và luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ mất đồng ruộng do bị nhà nước thu hồi cho mục tiêu phát triển công nghiệp hóa Họ là đội quân tiềm năng ngày một lớn cho ĐTH
Thứ ba, ĐTH đã góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai Đất đai luôn
có giới hạn, việc tập trung cao dân cư trong các vùng nội đô hay vùng ven đô thị đã làm cho diện tích đất NN mà đặc biệt là diện tích đất canh tác giảm đi đáng kể Tuy nhiên, việc áp dụng khoa học kỹ thuật, những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất NN và cách tư duy khoa học của người dân đã làm cho hệ số sử dụng đất đạt cao nhất có thể, tiết kiệm nhất và kéo theo tổng diện tích gieo trồng hàng năm tăng đã tạo thêm một lượng việc làm đáng kể cho nông dân
Trang 28Thứ tư, ĐTH tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn
Nó tạo tiền đề, thị trường cho khu vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển
Sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờ quá trình ĐTH cũng là quá trình thị trường hoá, kích thích cầu và mở đường cho cung ứng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và cả sức lao động Như vậy, khi thị trường được khai thông sẽ tạo điều kiện cho sự gia tăng việc làm trong các lĩnh vực cần thiết
Thứ năm, ĐTH tạo điều kiện cải biến con người thuần nông sang người thành
thị, có tính công nghiệp cao hơn từ những người nông dân với nền sản xuất lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Đây cũng là một trong những con đường đưa nhà nước ta đi lên CNXH thông qua sự đào luyện trong quá trình phát triển kinh tế Trên thực tế, hiện nay nhiều người nông dân vốn được tự do: làm theo ý chủ quan của bản thân, sản xuất dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu, chưa mạnh dạn áp dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất , nền kinh tế NN nước ta hiện nay chưa đủ điều kiện đào tạo họ thành người biết tuân thủ đầy đủ yêu cầu của điều kiện khách quan, nhưng nền KTTT trong quá trình ĐTH mà họ đang gia nhập ở thành phố, đô thị có những đòi hỏi cao hơn nhiều lần ở nông thôn sẽ buộc họ tự rút bài học trong thất bại và thành công của chính mình và thực hiện những điều chỉnh theo yêu cầu của nền KTTT Quá trình này đi từ tự phát đến tự giác, đi từ chủ quan đến khách quan, hiểu quy luật khách quan mà trung tâm là lợi ích kinh tế Họ được rèn luyện trong quá trình kiếm sống, phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với yêu cầu khách quan Quá trình này đã rèn luyện họ có nhiều phẩm chất mới từ ý thức kỷ luật đến kỹ thuật và cả trình độ văn hoá, khoa học Dần dần từ người nông dân tự do ban đầu trở thành người dân thành phố với tính công nghiệp, chuyên nghiệp và khả năng thích ứng cao Với khả năng thích ứng trong môi trường mới, tiếp cận với khoa học kỹ thuật nhanh chóng và thuận lợi hơn sẽ giúp họ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm việc làm thuận lợi cho bản thân
Trang 29trong giai đoạn suy thoái Những tác động mang tính lý thuyết kể trên đã được chứng minh qua thực tiễn trên phạm vi toàn cầu Những tác động đó đối với các nước đang phát triển với quá trình ĐTH càng có mối liên quan chặt chẽ đến quá trình CNH và trình độ phát triển kinh tế Mặt khác, nếu không được quản lý và kiểm soát chặt chẽ thì quá trình ĐTH cũng sẽ làm tăng các khu đô thị nghèo, làm mất cân bằng không gian đô thị, cơ sở hạ tầng và dịch vụ bị quá tải dẫn đến làm giảm chất lượng cuộc sống đô thị Cụ thể [18]:
Thứ nhất, vấn đề lao động, việc làm Người lao động địa phương, lao động
nhập cư chủ yếu chưa qua đào tạo, lao động vẫn là cơ bắp, giản đơn Họ đi về thành phố trong hoàn cảnh hụt hẫng không còn ruộng đất, thất nghiệp, lo lắng về tương lai Họ chủ yếu vẫn là sản phẩm của nền sản xuất nhỏ, giản đơn, phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên Nền sản xuất mang nặng tính tự cung, tự cấp, ít cho họ khả năng ứng phó như người lao động sản xuất trong cơ chế hàng hoá Họ là người tự do, ít bị nền sản xuất buộc phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt, họ bước vào kinh tế đô thị với đòi hỏi khắt khe của nền sản xuất hàng hoá Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá trực tiếp không còn được tự do như trong nền sản xuất tự cung, tự cấp, nơi họ đã làm việc trước kia Những bỡ ngỡ này không phải khắc phục được trong một thời gian ngắn Do vậy, việc họ tìm công việc đáp ứng nhu cầu mới có tính giản đơn, cá thể của cư dân đô thị trong thời kỳ CNH - HĐH theo yêu cầu, phù hợp với người lao động trong trước mắt là không hề đơn giản
Thứ hai, kết cấu hạ tầng giao thông và môi trường sống luôn bị phá vỡ,
không theo kịp thực tế Sự tăng lên đột biến của dân số trong quá trình ĐTH đã làm cho kết cấu hạ tầng đã có bị lạc hậu nhanh chóng trong khi kết cấu hạ tầng mới chưa kịp xây dựng hoặc xây dựng dở dang Số người sử dụng phương tiện giao thông tăng nhanh theo thời gian đã góp làm ô nhiễm môi trường hiện nay tại các vùng đô thị, nông thôn trên cả nước Sự phát triển nhanh chóng của các nhà máy, xí nghiệp, KCN trên địa bàn đã phá vỡ hạ tầng sản xuất nông nghiệp trước đó, diện tích đất nông nghiệp lớn xung quanh không thể tiếp tục sản xuất do hệ thống thuỷ lợi bị phá vỡ, ô nhiễm môi trường xung quanh do hệ thống nước thải của các nhà máy, xí nghiệp, KCN Chính điều này đã dẫn đến lượng việc làm trong lĩnh vực
NN giảm: do giành đất cho xây dựng các KCN, do một diện tích lớn đất NN xung quanh các KCN cũng không thể canh tác
Trang 30Thứ ba, quá trình ĐTH đã gây sức ép về chất lượng giáo dục và y tế Sự tăng lên
đột biến của dân số đồng thời cũng kéo theo sự tăng lên số người đến độ tuổi đi học Quá trình di cư từ vùng này sang vùng khác đã tạo ra sự xáo trộn về hộ khẩu, gây áp lực về giáo dục, các trường học quá tải về số lượng trong khi cơ sở vật chất không tăng dẫn đến hiện tượng một lượng lớn LLLĐ trong tương lai của đất nước không được quan tâm, giáo dục đầy đủ, chu đáo về mọi mặt Trong tương lai họ trở thành LLLĐ có chất lượng kém, không hoặc ít có khả năng tiếp cận và tìm việc làm phù hợp trong tương lai
Thứ tư, công tác quy hoạch không theo kịp thực tế dẫn tới quy hoạch, cấp phép
tràn lan không tính đến nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường lao động cũng như nguồn lực, khả năng thực tế của các nhà đầu tư dẫn đến quy hoạch treo, doanh nghiệp không hoạt động, người dân mất đất sản xuất, lao động không có việc làm
Như vậy, trong quá trình ĐTH đã nảy sinh các cơ hội việc làm mới và chính những cơ hội việc làm mới được nông dân nắm bắt lại là động lực cho quá trình ĐTH diễn ra nhanh hơn Có thể nói, ĐTH và việc làm được diễn ra theo mối quan
hệ tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động
là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quá trình sản xuất Sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động
Trang 31Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những
vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi
là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Nhưng với khái niệm việc làm như trên thì chưa được coi là đầy đủ vì con người chỉ có thể tồn tại trong gia đình và xã hội, do đó việc làm được hiểu theo một cách hoàn chỉnh đó là ngoài phần người lao động tạo ra cho xã hội còn phải có phần cho bản thân và gia đình nhưng điều cốt yếu là việc làm đó phải được xã hội thừa nhận (được pháp luật thừa nhận)
Một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc
mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận
Tuỳ từng cách phân loại mà ta có các hình thức việc làm ở đây ta chỉ tiếp cận hai hình thức sau: Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ: là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính
Với việc nghiên cứu đặc điểm, khái niệm và phân loại việc làm giúp cho ta hiểu rõ hơn về việc làm từ đó đưa ra những tiêu chí đánh giá một cách sâu hơn nhằm xác định được các mục tiêu và giải pháp trong việc lập kế hoạch việc làm
Việc làm là khái niệm rất phức tạp, nó gắn với hoạt động thực tiễn của con người, vì vậy để hiểu rõ được khái niệm việc làm thì chúng ta phải làm rõ khái niệm người có việc làm
Tại Hội nghị lần thứ 13 năm 1983 tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra
khái niệm: “Người có việc làm là người làm một việc gì đó, có được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không được nhận tiền công hay hiện vật”
Trang 32Trong Bộ luật Lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyền làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà pháp luật không cấm” (khoản 1, điều 16) Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”[38]
Như vậy, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động
và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”
Theo điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có
ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”[38]
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai
điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh
tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn
cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc
đó Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm
Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, Tổ chức Lao động Quốc tế phân chia "việc làm" thành các loại:
Trang 33tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ nhưng lớn hơn hoặc bằng giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành Số giờ quy định ở trên có thể được thay đổi theo từng năm hoặc từng thời kỳ
- Việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả:
Việc làm hợp lý là sự phù hợp về số lượng và chất lượng của các yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ Việc làm hợp lý có năng suất lao động và hiệu quả KT - XH cao Việc làm hợp lý còn là việc làm phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động
Việc làm hiệu quả là việc làm đem lại mức thu nhập cao cho người lao động Việc làm không hiệu quả là việc làm đem lại thu nhập thấp không đủ cho các chi tiêu cơ bản trong đời sống của người lao động hoặc thấp hơn so với mức thu nhập tối thiểu trong xã hội
Như vậy, việc làm là tất cả những công việc mà người lao động thực hiện để đem về thu nhập cho bản thân và gia đình mà không vi phạm pháp luật
1.2.1.2 Nông dân
Nông dân là những người sinh sống ở khu vực nông thôn Là bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và việc làm chính của nông dân là trồng trọt và chăn nuôi
Với đặc thù sản xuất chính trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, do đó việc làm của nông dân có những đặc điểm sau:
- Sản xuất bị chi phối trực tiếp bởi quy luật tự nhiên, thời tiết, khí hậu,,
- Sản xuất theo mùa vụ, lặp đi lặp lại từ năm này qua năm khác vì vậy người nông dân thường sản xuất theo hướng kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng tạo và áp dụng khoa học vào sản xuất
- Công việc sản xuất mang tính mùa vụ nên lao động nông thôn thường căng thẳng việc làm ở chính vụ thiếu việc làm trong những lúc nông nhàn
- Cùng với quá trình ĐTH đang diễn ra mạnh mẽ, nông dân mất đất sản xuất, trình độ tay nghề thấp sẽ tạo ra nguy cơ thất nghiệp cao đối với nông dân
Trang 341.2.2 Tạo việc làm
1.2.2.1 Bản chất của tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Như vậy, quá trình tạo việc làm là:
- Quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất: quá trình tạo ra tư liệu sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất, khả năng quản lý, sử dụng đối với những tư liệu sản xuất đó
- Quá trình tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động: Số lượng sức lao động phụ thuộc vào quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động Chất lượng sức lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Quá trình tạo ra những điều kiện KT - XH khác như các chính sách của Nhà nước, các giải pháp đào tạo nghề, giải pháp khuyến khích đầu tư, mở rộng thị trường
Xét trên khía cạnh tạo việc làm từ phía doanh nghiệp, có thể mô hình hóa mô hình tạo việc làm theo phương trình sau:
Y = f(C,V,X ) Trong đó: Y: Số lượng việc làm được tạo ra
C: Vốn đầu tư V: Sức lao động X: Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trong đó hai yếu tố quan trọng nhất để tạo việc làm chính là vốn đầu tư và sức lao động Hai yếu tố này hợp thành năng lực sản xuất của doanh nghiệp Có thể biểu diễn mối quan hệ đó trên đồ thị sau:
Trang 35Đồ thị 1.1 Mô hình tạo việc làm dựa trên lao động và vốn
Đường N là năng lực sản xuất của doanh nghiệp Trên N là tập hợp mọi sự kết hợp giữa C và V (mối quan hệ giữa C và V phụ thuộc vào tình trạng công nghệ) Đường N1 thể hiện năng lực sản xuất mở rộng của doanh nghiệp Đường OA thể hiện trình độ công nghệ nhất định (với điều kiện C/V không đổi) Khi năng lực sản xuất của doanh nghiệp được mở rộng, khả năng tạo việc làm phụ thuộc vào trình độ công nghệ và vốn đầu tư như sau:
Trường hợp 1: Trong điều kiện công nghệ không thay đổi, mở rộng năng lực
sản xuất theo tỷ lệ C/V như cũ Khi đó:
Va
Ca
=
Vb Cb
Như vậy trong trường hợp này, năng lực sản xuất được mở rộng thêm từ A đến B vì vốn đầu tư tăng từ CA đến CB và số việc làm tăng từ VA đến VB
Trường hợp 2: Trong điều kiện mở rộng quy mô, trình độ công nghệ cao hơn
trước, mở rộng năng lực sản xuất theo tỷ lệ C/V cao hơn Khi đó :
Va
Ca
<
Vi Ci
Trong đồ thị đường AI biểu hiện trình độ công nghệ cao hơn, tiến bộ hơn, và tại I
có CI >CB nhưng số việc làm giảm đi từ VB về VI (việc làm giảm lượng tương đối VIVB)
Trường hợp 3: Trong điều kiện mở rộng quy mô, nhưng trình độ công nghệ
thấp hơn trước, mở rộng năng lực sản xuất theo tỷ lệ C/V thấp hơn
Trang 36Để tạo ra việc làm cho người lao động cần có sự phối hợp giữa 3 bên (cơ chế
3 bên): đòi hỏi sự tham gia tích cực của người lao động, nhà nước và bên sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường đúng lúc, đúng chỗ
- Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ (từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định
- Về phía người sử dụng lao động: cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu
ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm Hơn nữa, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còn cần có kinh nghiệm quản lý, điều hành, có những chính sách marketing hợp lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhà nước trong lĩnh vực lao động, việc làm Đồng thời đề ra các quy định phù hợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu về kinh tế cũng như hiệu quả về xã hội, nâng cao sự thoả mãn của người lao động và khơi dậy động lực lao động ở mỗi người
- Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các văn bản luật,
chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho nông dân
Như vậy, tạo việc làm theo nghĩa rộng chính là tổng thể những biện pháp, chính sách KT - XH của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho người có khả năng lao động có việc làm Còn tạo việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp
Trang 371.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm
+ Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địa phương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người là một trong những nguồn lực quan trọng tác động đến khả năng tạo việc làm cho người lao động Đó có thể là đất đai màu mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điều kiện khí hậu, thuỷ văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại cây trồng, vật nuôi; các nguồn tài nguyên khoáng sản nhiều hay ít, địa hình bằng phẳng hay không bằng phẳng, thuận lợi phát triển ngành sản xuất nào, tạo ra bao nhiêu chỗ làm việc mới Trên thế giới có nhiều quốc gia rất giàu tài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn thuận lợi cho phát triển các ngành sản xuất và thu hút lao động Còn đối với những quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi: đất đai chật hẹp, nghèo tài nguyên thì bản thân họ phải vượt lên trên cơ sở tạo vốn, tạo công nghệ kỹ thuật hiện đại, máy móc tiên tiến, phương pháp quản lý tiên tiến để tạo ra được nhiều việc làm mới và việc làm có chất lượng cao
+ Dân số
Dân số vừa là yếu tố của sản xuất, vừa là yếu tố của tiêu dùng Xét trên phương diện là yếu tố của tiêu dùng, các kết quả dân số: quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số quy định quy mô, cơ cấu, chất lượng, sự phân bố các ngành nghề, các lĩnh vực sản xuất của xã hội Sản xuất cho ai; sản xuất cái gì, khi nào, ở đâu, chất lượng sản phẩm hàng hoá ra sao là do số lượng, cơ cấu, chất lượng dân số quy định Cụ thể:
- Quy mô dân số tăng, nhu cầu về lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
tăng lên Để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá các ngành nghề hoạt động Điều đó dẫn đến nhiều ngành nghề mới ra đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo
- Cơ cấu dân số quyết định cơ cấu tiêu dùng Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành
nghề, tôn giáo, dân tộc đều có tâm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhu cầu tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá, dịch vụ cũng khác nhau Để thoả mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tất yếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng chủng loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngành nghề Nghĩa là số lượng việc làm được tạo
ra nhiều hơn, phát triển đa dạng hơn
Trang 38- Mức sinh tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm Mức sinh cao,
số trẻ em mới được sinh ra nhiều, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là của trẻ em tăng lên Các khoản chi phí cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ và nhiều lĩnh vực hoạt động khác đều tăng, các dịch vụ khác ăn theo cũng phát triển hơn, cơ cấu việc làm thay đổi Nghĩa là cùng với mức sinh tăng lên, nhiều việc làm mới được tạo ra, quy
mô, cơ cấu việc làm đa dạng hơn Mức sinh giảm nghĩa là số người già đông hơn, vì nhiều lý do mà họ phải gia nhập trở lại thị trường lao động, áp lực về việc làm tăng lên, tạo việc làm cho người già trở nên nan giải
- Mức chết: sự biến đổi của mức chết cũng tác động đến vấn đề tạo việc làm
Mức chết tăng lên, nhất là mức chết của dân cư trong độ tuổi lao động cao dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, nhiều chỗ việc làm không có người đảm nhận Hơn nữa khi mức chết tăng cao, số người chết trung bình hàng năm nhiều lên, các dịch vụ phục vụ và nhiều hoạt động khác đi kèm cũng thay đổi, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo Mức chết giảm xuống, nhất là mức chết của dân số trong độ tuổi lao động giảm, cung lao động tăng lên tương đối, nhu cầu và áp lực việc làm tăng theo Mức chết giảm xuống, dân số có xu hướng già hoá, số người già đông hơn, tuổi thọ trung bình trong dân cư tăng lên việc làm cho người già, các dịch vụ chăm sóc người già cũng tăng theo
- Di dân làm cho quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số ở vùng đi
và vùng đến thay đổi Di dân thường xảy ra đối với những người đang trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ở vùng đi giảm xuống Đây là xu hướng tất yếu trong nền kinh tế mở và hội nhập Sự di chuyển dân số xảy ra khi cung và cầu về sức lao động có sự chênh lệch và thường di chuyển từ: xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác, tỉnh này sang tỉnh khác và quốc gia này sang quốc gia khác Từ đó, cơ cấu dân số cũng thay đổi: ở vùng đến cơ cấu dân số thường trẻ hơn, ở vùng đi cơ cấu dân số già đi, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đáp ứng cho từng đối tượng sẽ thay đổi Vùng đến nhu cầu tiêu dùng tăng lên đòi hỏi phải cần mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng nhu cầu Chính vì vậy, đã thúc đẩy nhiều ngành nghề mới ra đời, tạo ra ra nhiều chỗ làm mới cho người lao động
+ Cung lao động
Cung cầu lao động có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng lao động quy định quy mô, phân bố, cơ cấu và chất lượng việc làm Ở đâu và khi nào lao động được cung ứng lớn thì nơi đó, khi đó việc làm được tạo ra nhiều hơn và ngược lại
Trang 39Cung lao động là nam hay nữ, già hay trẻ, trình độ cao hay thấp đều tác động đến cơ cấu việc làm Bởi vì, mỗi độ tuổi, giới tính khác nhau đều có những ưu thế riêng trong lĩnh vực hoạt động, trong sản xuất kinh doanh Nếu khai thác và sử dụng hiệu quả thế mạnh từ khía cạnh tuổi và giới tính của người lao động sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực Khi cơ cấu lao động thay đổi, cơ cấu các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân nói chung, nhiều lĩnh vực khác nói riêng tất yếu phải có
sự điều chỉnh cho phù hợp Điều đó dẫn đến đặc điểm hoạt động nghề nghiệp, tính chất của việc làm sẽ thay đổi
Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khoẻ, trình độ, phẩm chất Vấn đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của người lao động Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày một tiên tiến, đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất định để đáp ứng yêu cầu công việc Người lao động có trình độ càng cao thì cơ hội tìm được việc làm càng dễ dàng và thu nhập đạt được càng cao Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu là những người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó, người lao động muốn kiếm được việc làm
và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp cần phải có các thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặc biệt là đầu tư vào vốn con người cả về thể lực
và trí lực Mỗi người lao động cần tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủ các nguồn tài trợ để tham gia các khóa học giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao động nhằm nâng cao kiến thức, nhận thức, kinh nghiệm Đó cũng chính là điều kiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập, nâng cao vị thế bản thân mỗi người lao động trên thị trường lao động
+ Cầu lao động
Cầu lao động phán ánh số việc làm được tạo ra ở một thời điểm, là nhu cầu về lao động để phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế Cầu lao động phụ thuộc vào: năng lực sản xuất, chiến lược kinh doanh, khả năng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cũng như cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước giành cho doanh nghiệp Để kích thích và tạo cầu lao động cho thị trường lao động ở mối vùng, miền địa phương khác nhau cần có những tác động là khác nhau, tuy nhiên cần hướng tới:
- Khôi phục và phát triển của các làng nghề truyền thống: Đây là một thị trường sức lao động tạo ra một lượng cầu lớn và ổn định Tuy nhiên với mỗi làng nghề khác nhau cần có những chiến lược khác nhau để tiêu thụ, mở rộng thị trường cũng như thu hút lao động, giải quyết việc làm
Trang 40- Phát triển các KCN và hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi lẽ việc phát triển và mở rộng sản xuất của các KCN, doanh nghiệp sẽ tạo ra một lượng cầu rất lớn về lao động việc làm trong lĩnh vực công nghiệp Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ các doanh nghiệp này phải đảm bảo khả năng hoạt động, phát triển bền vững và đạt được hiệu quả KT - XH của doanh nghiệp, người dân và xã hội
- Ngoài ra chính bản thân người lao động cũng có thể tạo ra việc làm cho chính mình thông qua việc tư duy, nắm bắt thị trường và sản tiến hành xuất kinh doanh trên
cơ sở các điều kiện, khả năng có sẵn ở các lĩnh vực NN - công nghiệp và dịch vụ
+ Cơ chế, chính sách KT - XH của nhà nước
Cơ chế chính sách của chính phủ, quốc gia, của chính quyền địa phương, các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việc làm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ra những chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngành khác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặp nhau
Đảng ta đã xác định phương hướng cơ bản là: “Nhà nước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình KT - XH Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động” [57]
Chính sách việc làm có thể phân chia thành:
- Nhóm chính sách chung: Chính sách về vốn - tín dụng, chính sách đất đai,
chính sách thuế
- Nhóm chính sách khuyến khích phát triển: Thường được cụ thể hóa cho
từng vùng, miền hay lĩnh vực khác nhau phụ thuộc vào tình hình, đặc điểm và định hướng phát triển cụ thể ở mỗi thời điểm khác nhau hướng tới thu hút lao động (chính sách phát triển và khôi phục các làng nghề, chính sách dạy nghề ngắn hạn cho nông dân, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng )
Chính sách về lao động việc làm là hệ thống thiết chế pháp luật của Nhà nước, là công cụ của nhà nước trong việc quản lý lao động, việc làm và có tác động đến toàn bộ lực lượng lao động trong xã hội Vì vậy, việc xây dựng chính sách phải dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người được tiếp cận với việc làm một cách công