DANH MỤC CÁC BẢNG 3.1 Kết quả phân tắch ựịnh lượng Alkaloid tổng số các mẫu thảo mộcViện Bảo vệ thực vật và Viện Hóa Học, 2012 40 3.2 Kết quả phân tắch hàm lượng saponin tổng số trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀO ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀO ðÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ VĂN TRỊNH
HÀ NỘI, 2013
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám ựốc Viện Bảo vệ thực vật, Ban Giám ựốc Trung tâm đấu tranh sinh học- Viện Bảo vệ thực vật ựã ựồng ý và tạo ựiều kiện cho tôi ựược tham gia khóa học này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh ựạo và tập thể cán bộ Ban đào tạo sau ựại học - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã giúp ựỡ và tạo ựiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các chị em trong Nhóm ựề tài, cùng các ựồng nghiệp nơi tôi công tác ựã nhiệt tình giúp ựỡ, góp công sức và những ý kiến bổ ắch cho tôi trong quá trình thực hiện ựề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Phân tắch-Viện Kinh tế kỹ thuật Thuốc lá Thăng Long,phòng Phân tắch-Viện Khoa học Công nghệ Việt Namựã giúp ựỡ tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin cám ơn sâu sắc nhất tới tình yêu thương, ựộng viên, khắch lệ của những người thân trong gia ựình: Bố, mẹ, chồng, con, anh chị emẦtình cảm thân thương này là nguồn ựộng viên lớn lao giúp tôi có thể hoàn thành tốt bản luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Tuyết
Trang 4LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực, không trùng lặp với các ñề tài khác và chưa ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Tuyết
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA
HỌC CỦA ðỀ TÀI
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan 6
1.2.1.1 Thành phần và mức ñộ gây hại của rệp sáp trên cây trồng 6 1.2.1.2 Những nghiên cứu sử dụng thảo mộc trong phòng trừ sâu hại 10 1.2.1.3 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc phòng trừ rệp sáp hại cây trồng 19
1.2.2.1 Thành phần và mức ñộ gây hại của rệp sáp trên cây trồng 20 1.2.2.2 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc trong phòng trừ sâu hại 25 1.2.2.3 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc phòng trừ rệp sáp hại cây trồng 29
Trang 6Chương 2 - VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thử nghiệm các phương pháp chiết xuất ựơn giản 32 2.3.2 Xác ựịnh thành phần hoạt tắnh sinh học có trong dịch chiết 34
2.3.3 đánh giá hiệu lực gây chết của các dịch chiết trên một số loại rệp
2.3.4 đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ thảo mộc có tiềm năng (DC1)
2.3.5 đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ thảo mộc có tiềm năng ựối
2.3.6 đánh giá hiệu lực trừ rệp sáp hại mắa trên diện hẹp ngoài ựồng
2.3.7 Xây dựng mô hình ứng dụng thử nghiệm chế phẩm 37
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần các chất có hoạt tắnh gây chết rệp sáp của một số
3.1.1 Hàm lượng Alkaloid, Saponin và dầu béo tổng số có trong một
Trang 73.2.2 Hiệu lực gây chết một số rệp sáp hại cây trồng của các dịch chiết
từ bã Trẩu, bã Sở, thịt quả ðiều và bã Thanh hao hoa vàng 50
3.3 Hiệu lực phòng trừ rệp sáp của dịch chiết DC1 trong phòng thí
3.3.1 Hiệu lực trừ rệp sáp ở các nồng ñộ sử dụng khác nhau 55
3.3.2 Hiệu lực của dịch chiết DC1 ñối với giai ñoạn phát triển của rệp
3.3.3 Hiệu lực phòng trừ rệp sáp của dịch chiết DC1 ở nhiệt ñộ khác
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Kết quả phân tắch ựịnh lượng Alkaloid tổng số các mẫu
thảo mộc(Viện Bảo vệ thực vật và Viện Hóa Học, 2012) 40
3.2
Kết quả phân tắch hàm lượng saponin tổng số trong các
mẫu thảo mộc (Viện Bảo vệ thực vật và Viện Hóa Học,
2012)
41
3.3 Hàm lượng dầu béo tổng số trong một số mẫu thảo
mộc(Viện Bảo vệ thực vật và Viện Hóa Học, 2012) 42
3.4
Hàm lượng Nicotin trong phụ phẩm thuốc lá thu ựược từ
các phương pháp chiết suất khác nhau (Viện BVTV và
đánh giá hiệu lực gây chết rệp sáp bột tua ngắn hại cà phê
của các loại dịch chiết khác nhau (Viện BVTV, 2012) 47 3.7
đánh giá hiệu lực gây chết rệp sáp hại na của các dịch
Hiệu lực trừ rệp sáp hại cà phê của dịch chiết DC1 ở các
nồng ựộ phun khác nhau (Viện BVTV, 2013) 55
Trang 93.11
Hiệu lực trừ rệp sáp hại na của dịch chiết DC1 ở các nồng
3.12
Hiệu lực trừ rệp sáp mềm hại mầm khoai tây giống của
dịch chiết DC1 ở các nồng ựộ phun khác nhau (Viện
BVTV, 2013)
57
3.13
Hiệu lực của dịch chiết DC1 ựối với rệp sáp hại na ở các
giai ựoạn phát triển khác nhau (rệp non, rệp trưởng
thành)(Viện BVTV, 2013)
59
3.14
Hiệu lực của dịch chiết DC1 ựối với rệp sáp hại mầm
khoai tây giống ở các giai ựoạn phát triển khác nhau (rệp
non, rệp trưởng thành) (Viện BVTV, 2013)
60
3.15
Hiệu lực gây chết rệp sáp hại cà phê của dịch chiết DC1 ở
các mức nhiệt ựộ khác nhau (Viện BVTV, 2012) 61 3.16
Hiệu lực gây chết rệp sáp hại na của dịch chiết DC1 ở các
mức nhiệt ựộ khác nhau (Viện BVTV, 2013) 62 3.17
đánh giá hiệu lực gây chết của dịch chiết DC1 ựối với rệp
sáp hại cà phê trong nhà lưới (Viện BVTV, 3/2013) 64
3.18
Hiệu lực phòng trừ rệp sáp hại cà phê của dịch chiết DC1
ngoài ựồng ruộng diện hẹp (Hòa thắng, Buôn ma thuột,
3.19
Hiệu quả phòng trừ DC1 ựối với rệp sáp hại cà phê trên
ựồng ruộng diện rộng (Hòa thắng, Buôn ma thuột, đăk
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sơ ựồ chiết xuất loại dịch chiết DC1 (theo công nghệ CuBa) 43
3.2 Các dịch chiết thu ựược từ các loại thảo mộc khác nhau
3.3 đánh giá hiệu lực của các dịch chiết DC1, DC2 và DC3 ựối với
rệp sáp hại cà phê (Nguồn: Trần Thị Tuyết, 2012) 54
3.4 đánh giá hiệu lực của các dịch chiết DC4; DC5; DC6 và DC7
ựối với rệp sáp hại cà phê (Nguồn: Trần Thị Tuyết, 2012)
54
3.5
Thắ nghiệm ựánh giá hiệu lực trừ rệp sáp ở các nồng ựộ sử
dụng khác nhau của dịch chiết DC1 (Nguồn: Trần Thị Tuyết,
2012)
58
3.6 Thắ nghiệm ựánh giá hiệu lực của dịch chiết DC1 ở giai ựoạn
phát triển của rệp khác nhau (Nguồn: Trần Thị Tuyết, 2013) 63
3.8 đánh giá hiệu quả phòng trừ rệp sáp hại cà phê của dịch chiết
DC1 trên ựồng ruộng (Nguồn: Trần Thị Tuyết, 2013) 69
3.9
Nhân nuôi rệp sáp ựể làm vật liệu nghiên cứu
Trang 11MỞ ðẦU
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong những năm gần ñây, việc tăng cường ñầu tư thâm canh, sử dụng giống mới, hình thành các vùng sản xuất chuyên canh qui mô lớn cùng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiến bộ ñã giúp nâng cao năng xuất, sản lượng và chất lượng nông sản, góp phần nâng cao thu nhập của người nông dân Tuy nhiên, sâu bệnh cũng phát sinh gây hại ngày càng nhiều, dẫn tới những thiệt hại nghiêm trọng ñối với sản xuất Trong ñó, rệp sáp là ñối tượng gây hại quan trọng, chúng thường phát sinh gây hại nặng trên nhiều loại cây trồng có ý nghĩa kinh tế, như cà phê, hồ tiêu, ca cao, mía, cây ăn quả
và trên nhiều loại cây cảnh, v.v Chúng không những gây thiệt hại về năng xuất mà còn làm ảnh hưởng ñến chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, làm giảm giá trị thương phẩm
Rệp sáp là loại côn trùng ña thực phát sinh và gây hại quanh năm Rệp sáp luôn có mặt với mật ñộ cao ở thời kỳ cây ra hoa hình thành quả, tập trung gây hại ở những phần non của cây, như: lá non, chồi non, chùm hoa và quả non Chúng hút chất dinh dưỡng của hoa, quả làm giảm khả năng ñậu hoa hoặc gây rụng quả và làm cây sinh trưởng, phát triển kém
Theo Lavabre (1970) [54], rệp sáp phát sinh với mật ñộ cao sẽ gây nên hiện tượng cây còi cọc, bị hại ở giai ñoạn cây ra hoa, ñậu quả sẽ gây nên hiện tượng khô, rụng hoa, rụng quả, ảnh hưởng nghiêm trọng ñến năng xuất và chất lượng quả ði cùng với rệp sáp luôn luôn tồn tại các nấm muội ñen sử dụng chất thải của rệp, tạo nên lớp nấm muội ñen làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm bẩn tán lá và chùm quả, quả chậm lớn và cây phát triển kém Rệp sáp là ñối tượng rất khó phòng trừ và dễ bùng phát thành dịch khi gặp ñiều kiện thuận lợi (Jurgen et al, 1978) [50] ðể phòng trừ rệp sáp nói
Trang 12riêng và sâu bệnh hại cây trồng nói chung, hiện nay người nông dân vẫn thường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật từ con ựường tổng hợp hóa học Tuy nhiên, việc phòng trừ rệp sáp bằng thuốc hóa học thường ắt có hiệu quả cao nếu không dùng với liều lượng lớn Vì vậy, ựã gây nhiều hậu quả xấu ựến môi trường sinh thái và sức khỏe con người, ựể lại dư lượng thuốc trên nông sản sau thu hoạch, làm suy giảm tắnh ựa dạng của sinh quần và thúc ựẩy tắnh chống thuốc của dịch hại Những lý do như vậy ựã khiến các nhà khoa học phải chuyển hướng nghiên cứu sang các loại thuốc và phương pháp bảo vệ thực vật mới, như sử dụng các vi sinh vật ựối kháng, sử dụng hợp chất thiên nhiên có nguồn gốc sinh học và thực vật làm hoạt chất chắnh ựể sản xuất thuốc trừ sâu sinh học (Oka, Y., Koltai et al, 2000) [63]
Việc nghiên cứu phát triển và ứng dụng chế phẩm sinh học thảo mộc có khả năng sử dụng ựể phòng trừ sâu hại nói chung và rệp sáp nói riêng, an toàn với môi trường và con người là ựòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa lâu dài, vì thuốc trừ sâu phát triển từ các loại thảo mộc thường có hiệu quả trong phòng trừ sâu hại, lại phân hủy nhanh, không gây ựộc hại ựối với người và không làm ảnh hưởng ựến chất lượng sản phẩm
Trong những năm qua, Trung tâm Sinh học (Viện Bảo vệ thực vật) ựã bắt ựầu thu thập, ựánh giá nhằm xác ựịnh các loại thảo mộc có hiệu quả cao trong hạn chế rệp sáp và ựã có một số kết quả bước ựầu có triển vọng Với ựịnh hướng phát triển chế phẩm, góp phần phục vụ phòng trừ rệp sáp có hiệu
quả cao và an toàn, chúng tôi thực hiện ựề tài: ỘNghiên cứu tiềm năng sử
dụng một số loại thảo mộc ựể phòng trừ rệp sáp hại cây trồngỢ
2 Mục ựắch và yêu cầu của ựề tài
2.1 Mục ựắch: đánh giá khả năng gây chết rệp sáp của một số loại thảo mộc
Từ ựó, ựịnh hướng sử dụng có hiệu quả các loại thảo mộc có tiềm năng ựể
Trang 13phòng trừ rệp sáp hại cây trồng, an toàn với con người và thân thiện với môi trường
- Có ñược dữ liệu về hiệu quả hạn chế khả năng phát triển số lượng quần thể rệp sáp hại cà phê của dịch chiết thảo mộc có tiềm năng ngoài ñồng ruộng
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp dữ liệu khoa học cơ bản về tiềm năng của một số loại thảo mộc chứa các hoạt chất sinh học khác nhau trong hạn chế rệp sáp hại cây trồng, làm cơ sở ñể tiếp tục các nghiên cứu sản xuất, ứng dụng chế phẩm thảo mộc trong phòng trừ rệp sáp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ khả năng khai thác nguồn lợi thực vật tự nhiên phục vụ phòng chống dịch hại cây trồng Sử dụng thảo mộc trong phòng trừ rệp sáp hại cây trồng là một biện pháp khai thác, sử dụng các hợp chất thiên nhiên sẵn có, dễ bị phân hủy sau khi sử dụng, không ñể lại
dư lượng trong nông sản và an toàn cho người sử dụng, môi trường Từ ñó, góp phần hạn chế sử dụng các hóa chất ñộc BVTV trong sản xuất nông sản an toàn, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài
4.1 ðối tượng nghiên cứu
Trang 14- Một số loại thảo mộc có khả năng gây chết rệp sáp, gồm bã Trẩu, bã
Sở, bã Thanh hao hoa vàng, thịt quả ðiều và phụ phẩm (bột vụn) thuốc lá
- Các loại rệp sáp hại trên một số cây trồng quan trọng có ý nghĩa kinh
tế, gồm: rệp sáp bột tua ngắn Planococcus kraunhiae Kuwana hại cà phê, rệp sáp phấn Planococcus lilacinus Ckll hại na và rệp sáp Pseudococcus citri hại
mầm khoai tây giống
4.3 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2012 ñến tháng 11/2013
- ðịa ñiểm nghiên cứu: Viện Bảo vệ thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Kinh tế Kỹ thuật thuốc lá Thăng Long (Hà Nội)
và xã Hòa Thắng (thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ðăk Lăk)
Trang 15Các kết quả nghiên cứu ñã công bố ñều khẳng ñịnh trong tự nhiên có nhiều loại thảo mộc có hiệu quả cao trong phòng trừ sâu hại, như hạt củ ñậu, bình bát, trẩu, sở, dây mật, xoan, thàn mát, hạt na, v,.v ðặc biệt, các thảo mộc có hàm lượng saponin cao sẽ có hiệu quả phòng trừ tuyến trùng trong ñất hại rễ các loại cây trồng, như: hồ tiêu, cà phê và các cây trồng cạn khác Còn các thảo mộc có hàm lượng Rotenon, Azadarchtin hoặc Limonin lại có hiệu quả rất tốt trong phòng trừ các loại sâu ăn lá, như sâu tơ, sâu khoang hại rau thập tự và ốc bươu vàng hại lúa [24]; [18]; [25]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Duy Trang, Nguyễn Văn Tuất và ctv (2002) [24] ñã xác ñịnh có tới 53 loài cây ñộc có thể phát triển chế phẩm bảo
vệ thực vật ðiều ñó, cho thấy tiềm năng to lớn của các loại thảo mộc có thể
sử dụng trong phòng trừ các ñối tượng dịch hại cây trồng nông nghiệp Trên thực tế, ñã có một số loại chế phẩm sinh học ñược phát triển từ việc sử dụng các loại thảo mộc khác nhau ñã có hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến trùng hại hồ tiêu [4]; [16], cũng như ñể phòng trừ ốc bươu vàng hại lúa [18]
Trong quá trình phát triển của công nghiệp chế biến thảo mộc như: ép dầu, sản xuất thuốc lá, v.v ñã tạo ra khối lượng lớn các loại phụ phẩm Vì
Trang 16vậy, việc ñánh giá khả năng gây chết rệp sáp hại cây trồng của các loại thảo mộc, nhằm hướng tới khai thác và sử dụng nguồn phụ phẩm ñể phòng trừ rệp sáp là vấn ñề cần ñược quan tâm, góp phần phát triển nền nông nghiệp sạch
và bền vững ở nước ta
1.2 Những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Thành phần và mức ñộ gây hại của rệp sáp trên cây trồng
+ Thành phần rệp sáp
Trên thế giới họ rệp sáp giả Pseudococcidae có khoảng 400 loài Ghi nhận 6 loài gây hại trên mía ñó là Antonina graminis; Birendracoccus
saccharifolii; Brevennia rehi; Dysmicoccus brevipes; Kiritshenkella sacchari
và Saccharicoccus sacchari (Bidhan, 2006)[36]
Theo kết quả nghiên cứu của Dennis Hill (1983)[40] có 5 loài rệp sáp
hại cà phê là Ferrisia virgata, Pineapple mealybug, Pseudococcus citri,
Pseudococcus kenya, Pseudococcus adonium Cũng theo tác giả này loài Pseudococcus citri Risso có 2 chủng khác nhau, một chủng gây hại dưới mặt
ñất còn một chủng phá hoại trên mặt ñất,
Tại Brazin, có tới 64 loài rệp sáp phá hoại trên nhiều cây trồng Từ năm
2004 ñến 2005 có 7 loài rệp sáp họ Pseudococcidae ñược ghi nhận phá hoại
trên một số cây trồng như ñu ñủ, cà phê, cam quýt ñó là Dysmicoccus grasstii Leonardi, Ferrisia malvastra McDaniel, Ferrisia virgata Cockerell,
Phenacoccus tucumanus Granara de Willink, Planococcus minor Maskell, Plotococcus capixaba Kondo và Pseudococcus elisae Borchsenius Trong ñó
5 loài D grassii, F malvastra, F virgata, P tukumanus và P elisae lần ñầu tiên ñược ghi nhận ở bang này Loài F virgata ñược thu thập trên một loài cỏ chưa ñược ñịnh danh, P tucumanus ñược thu thập trên cam chanh Loài P
capixaba tìm thấy trên cây Eugenia cf Pitanga họ Sim và loài P elisae trên
Trang 17cà phê vối Hai loài lần ựầu tiên ựược ghi nhận là loài D grasstii trên ựu ựủ
và cà phê vối (Mark P Culik, et al, 2006) [57]
Có khoảng 50 loài rệp phát triển và gây hại trên nhiều bộ phận của cây
cà phê Các loài quan trọng nhất là rệp sáp mềm xanh Coccus viridis Green)
có màu xanh vàng, lan tràn khắp các vùng nhiệt ựới trên trái ựất Rệp sáp trắng cũng có mặt ở hầu hết trên thế giới, cũng như tất cả các loài thuộc họ
rệp sáp bột (Pseudococcidae) ựược bao bọc bằng lớp sáp trắng dạng bột Hai
loài rệp ựa thực này gây hại trên cà phê chè, cà phê vối và cà phê mắt (Coste (1955) Cũng theo tác giả, có nhiều loài rệp sáp gây hại trên rễ cà phê như
Pseudococcus citri Risso có tại Congo, Camerun và các nước đông Nam Á, Pseudococcus adonidum L., Pseudococcus lilacinus Cockerell, Planococcus kenya Le Pelley và Lachnodius greeni Vays ở Madagascar
Thành phần rệp sáp mềm có trên 250 loài xuất hiện ở lục ựịa nước Mỹ
Hầu hết các loại rệp sáp mềm như rệp mềm Planococcus citri hại cam chanh
có chân phát triển, chúng có khả năng di chuyển nên dễ dàng lây lan sang các cây bên cạnh Chúng là loài ăn tạp và có khả năng truyền ựộc tố vào biểu bì làm phát tán lây lan nguồn bệnh, ựặc biệt là bệnh virus [48]
Ở Cu Ba, có 4 loài rệp gây hại trên mắa, là Dysmicoccus boninsis (Kuwana), Saccharicoccus sacchari (Cockerel), Trionymus radicicola (Morrison) và Kiritshenkella sacchari Riêng loài Dysmicoccus brevipes
(Cockerell) là loài ựa thực có trên mắa ở những hòn ựảo khác vùng Caribbe và Nam Mỹ Nhưng chúng không xuất hiện trên mắa ở Cuba, mặc dù chúng xuất hiện gây hại trên các cây trồng khác ở ựây (Williams, et al., 2001) [72],
Rệp cà phê Planococcus kenya ựược lan truyền từ Uganda sang Kenya
vào ựầu những năm 1920, sự bùng phát loài dịch hại này xảy ra vào thời gian
ngay sau ựó Việc thả ong ký sinh Anagyrus kivensis nhập từ Uganda ựã có
hiệu quả cao trong việc trừ loài sâu hại này Bên cạnh một số thành công,
Trang 18song cũng có những thất bại Bởi biện pháp phòng trừ sinh học cổ ựiển luôn yêu cầu ựiều kiện khắ hậu và sinh thái của hệ sinh thái nông nghiệp của các vùng này phải phù hợp cho việc thiết lập quần thể những loài nhập nội và bất
cứ loại thuốc hoá học nào ựược sử dụng phải ắt ảnh hưởng tới chúng
Theo Gavrilov et al (2007) [44] họ Pseudococidae (mealybug) là họ lớn nhất, số loài rệp sáp thuộc họ Pseudococidae trên thế giới có khoảng hơn
2000 loài thuộc 270 giống Thuộc ựịa nước Mỹ có trên 250 loài rệp sáp thuộc
họ Pseudococcidae (Stijin, 2004) [70]
Trên thế giới, tắnh ựến năm 2007 ựã phát hiện ựược trên 7.770 loài rệp sáp Riêng ở đông Nam châu Á có khoảng 750 loài , trong ựó có gần 50 loài ựược coi là phổ biến hoặc có tầm quan trọng kinh tế Trong số 1.151 loài rệp sáp mềm (Coccidae) phát hiện trên thế giới thì ở đông Nam châu Á có 96 loài
và có 281 loài rệp sáp vảy (Diaspididae) Nhiều loài trong số ựó là dịch hại quan trọng gây hại trên nhiều cây trồng có ý nghĩa kinh tế của nhiều nước trên thế giới [69]
+ Mức ựộ gây hại của rệp sáp
Rệp sáp là loài côn trùng ựa thực, chúng gây hại trên 150 loại cây trồng khác nhau thuộc 68 họ thực vật, trong ựó có những họ quan trọng như cà phê,
hồ tiêu, mắa, nhãn, vải, cam, chanh (Youdewei Anthony, 1983) [73]
Trên cà phê, rệp sáp là một trong những dịch hại nguy hiểm Chúng có mặt ở hầu hết các vùng trên thế giới từ vùng nhiệt ựới ựến vùng cận nhiệt ựới
và gây hại cà phê ở các nước thuộc vùng địa Trung Hải, Nam Phi, Nam Mỹ
và các nước Châu Á Rệp sáp là côn trùng chắch hút, thuộc bộ cánh ựều Homoptera, tổng họ Coccoidae Trong thời kỳ cây ra hoa hình thành quả, rệp sáp luôn có mặt với mật ựộ cao, do ựó thiệt hại của rệp sáp gây ra là rất lớn cả
về năng xuất và chất lượng cà phê Ngoài tác hại trên, rệp sáp còn gián tiếp
truyền ựộc tố vào biểu bì làm phát tán nguồn bệnh virus cho cây [50, 67]
Trang 19Rệp sáp gây hại trên các giống cà phê, như cà phê chè, cà phê mắt và cà phê vối Chúng gây hại tất cả các bộ phận của cây kể cả trên mặt ựất và dưới mặt ựất Phần trên mặt ựất như: thân, cành, lá, quả chúng tập trung gây hại chủ yếu ở phần ựọt non, chùm hoa và quả non làm cho cây kém phát triển, rụng hoa, quả dẫn ựến giảm năng xuất Phần dưới mặt ựất của cây chúng gây hại bộ rễ làm cho cây có triệu chứng lá vàng và cong lại (Youdewey, Anthony, 1983) [73]
Những nghiên cứu về rệp sáp và rệp sáp mềm hại cà phê trên thế giới
cho thấy loài rệp sáp mềm xanh (Coccus viridis), Rệp hình bán cầu (Saissetia
hemisphaerica), rệp sáp (Pseudococcus citri) thường gây hại nặng vào mùa
khô trên cả vườn ươm, cây nhỏ và cây ựã lớn Rệp sáp hại phát sinh với mật
ựộ cao gây nên hiện tượng cây còi cọc, bị hại ở giai ựoạn cây ra hoa, ựậu quả
sẽ gây nên hiện tượng khô, rụng hoa, rụng quả non ảnh hưởng nghiêm trọng ựến năng xuất và chất lượng quả (Lavabre, 1970) [54] Các kết quả nghiên cứu về ựặc ựiểm sinh học, sinh thái cho thấy chúng sống thành quần tụ ở mặt dưới của lá, cành và thân Quần thể lớn làm cho cây sinh trưởng kém, chồi và
lá nhỏ ựi, ảnh hưởng ựến quang hợp và số lượng chồi làm quả nhỏ và kém chất lượng Vòng ựời của rệp sáp kéo dài khoảng 1 tháng và có trên 10 lứa trong năm Nếu cây bị nặng không ựược phòng trừ thì thiệt hại lên tới 15% năng xuất Rệp hút dịch cây từ bên trong vỏ cây bằng việc chắch vòi hút vào cành và cả rễ cây Chúng hình thành những lớp vỏ cứng xanh bao phủ rệp sáp xanh hoặc rệp sáp nâu và rệp hình bán cầu Chắnh ựiều này ựã làm cho chúng rất khó phòng trừ bằng cả thuốc hoá học và sinh học Rệp non mới hình thành
di chuyển từ trong những lớp sáp ra và nằm ở cành Có nhiều loài rệp sáp gây
hại trên rễ cà phê: Pseudococcus citri (tại Congo, các nước đông Nam á, Cameroun), P Adonidum, P Lilacinus, Lachnodius Greeni (Madagascar)
Rệp sáp rễ gây hại trên cây cà phê thường có những vết bệnh màu nâu
Trang 20trên lá và những chấm ựen trên cành kết hợp với các triệu chứng của bệnh khô cành khô quả đôi khi cây còn bị khô gốc giống như bệnh nhũn, thối rễ Nếu kiểm tra rễ sẽ thấy bên ngoài rễ có một lớp vỏ xốp, màu ựen do các sợi nấm hình thành, dưới lớp vỏ xốp này là rệp sáp Các loài nấm hình thành lớp vỏ
xốp là Polyporus coffeae Wak ựã phát hiện tại Indonesia
Rệp sáp là một trong những loài sâu hại dứa quan trọng nhất ở Hawai
do có liên quan ựến bệnh héo dứa Chúng là tác nhân truyền bệnh héo cây dứa, làm giảm khả năng quang hợp do dứa bị hại hình thành các vùng lá bị mất diệp lục, làm thối quả khi gây hại với quần thể rệp lớn Rệp gây hại ở các
lá phắa trong tạo ra các ựường sọc trên lá Bệnh héo dứa là thiệt hại quan trọng nhất gây thất thu dứa ở Hawai (Ronal, 2003) [67] Cũng theo tác giả
này, loài rệp Dysmicoccus brevipes (Cockerell) chủ yếu hại trên dứa, ngoài ra
nó còn hại cả trên các cây họ na, chuối, cam, cà phê, bông, dâm bụt và dâu
Loài này phân bố ở khắp các vùng nhiệt ựới, ựặc biệt là chúng ựược tìm thấy
ở tất cả các vùng trồng dứa như châu Phi, châu Úc, Trung và Nam Mỹ, Ấn độ
và khu vực Thái Bình Dương
Trên mắa, rệp sáp mềm thường xuất hiện với số lượng lớn, làm ngừng trệ sự phát triển của cây mắa, sản sinh ra một lượng dịch mật ựáng kể kéo theo
sự phát triển và hình thành nấm mốc có thể gây ựộc cho cây (Robert, 1999) [66] Rệp sáp hồng hại mắa là một ựối tượng sâu hại quan trọng ở các vùng trồng mắa, rệp làm giảm lượng ựường một cách nghiêm trọng, làm hỏng một
số lớn mầm mắa Ruộng mắa bị gây hại nặng thường giảm năng xuất và chất
lượng một cách ựáng kể
1.2.1.2 Những nghiên cứu sử dụng thảo mộc trong phòng trừ sâu hại
để bảo vệ cây trồng chống lại các dịch hại, con người ựã phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau Trong ựó biện pháp hóa học lâu nay vẫn ựược coi
là biện pháp chủ lực và nó ựã phát huy vai trò tắch cực trong thời gian qua
Trang 21Thực sự biện pháp hóa học cho hiệu quả cao, nhanh, ñơn giản và dễ sử dụng Với sự phát triển mạnh mẽ của biện pháp hóa học ñã kéo theo nhiều hậu quả không mong muốn, ảnh hưởng xấu ñến sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường, tăng tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt các loài thiên ñịch, phá
vỡ cân bằng sinh học gây ra sự bùng phát của sâu hại Chính vì thế, ñịnh hướng nghiên cứu nhằm tìm ra các loại thuốc bảo vệ thực vật an toàn với con người và thân thiện với môi trường, trên cơ sở ứng dụng các sản phẩm tự nhiên ñể phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng là một hướng ñi quan trọng, ñã và ñang ñược quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới
Sử dụng thuốc thảo mộc trừ sâu hại là một biện pháp cổ truyền Từ lâu
ở Ấn ðộ và Pakistan ñã dùng cây xoan Ấn ðộ (Azadirachta indica) ñể trừ sâu
hại Hơn 60% nông dân các nước này ñã trộn lá xoan Ấn ðộ với hạt ngũ cốc
ñể bảo quản Hơn 80% những người dân trồng cây bạch ñậu khấu dùng hạt cây xoan Ấn ðộ bón vào ñất ñể trừ tuyến trùng Một số ñồn ñiền trồng cà phê trộn dầu hạt cây xoan Ấn ðộ với thuốc BHC (tỷ lệ 50:50) ñể quét lên cây ñể phòng trừ sâu ñục thân Nhiều người trồng thuốc lá ñã dùng chất chiết xuất từ nhân hạt cây xoan Ấn ðộ phun trừ sâu hại thuộc bộ Cánh vảy
Thảo mộc trừ sâu hại gồm các chất có trong thực vật như Nicotin trong thuốc lá thuốc lào, Rotenone trong rễ cây dây mật, Pakyzyron trong củ ñậu, Azadirachtin trong cây xoan Ấn ðộ, Artemisinin trong cây thanh hao hoa vàng Những chế phẩm thuốc trừ sâu có nguồn gốc từ thực vật tự nhiên (còn gọi là thuốc thảo mộc) ñược xếp vào nhóm thuốc trừ sâu thế hệ thứ nhất (Williams, 1982) [71]
Trong những năm gần ñây, nhiều nhà khoa học trên thế giới ñã tìm kiếm, phát hiện và ñánh giá những loài cây thực vật có khả năng diệt sâu ðồng thời, nghiên cứu phương pháp sử dụng chúng trong bảo vệ thực vật Thành phần loài thực vật có tính ñộc với côn trùng tương ñối phong phú Qua tài liệu
Trang 22của 19 nước ñã ghi nhận có tới 1.800 loài thực vật có tính ñộc ñối với côn trùng (Grainge et al., 1984) [40] Riêng ở Philippines, ñến tháng 5 năm 1987
ñã ghi nhận gần 200 loài có tính ñộc ñối với côn trùng (Morallo- Rejesus, 1987) [60]
Trong vòng 25 năm trở lại ñây, ñã có vài trăm loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học ñược nghiên cứu và áp dụng trong nông nghiệp, lĩnh vực mà hiện nay ñòi hỏi một sản lượng và chất lượng nông sản ngày càng cao Cây xoan
Ấn ðộ là một cây thuốc trừ sâu ñược nghiên cứu nhiều hơn cả ðây là một loại cây thân gỗ, phân bố rộng ở châu Á, châu Phi có chứa các chất Tetranortriterpenoid Azadirachtin là một trong những Tetranortriterpenoid
chứa trong cây xoan Ấn ðộ và xoan ta (Melia azedarach) ðây là một chất
gây ngán và ức chế sự phát triển của nhiều loài côn trùng Sâu non sâu
khoang (S litura) tuổi cuối trước khi hóa nhộng cho ăn lá thầu dầu ñã ñược
xử lí chất Azadirachtin với liều lượng 10, 25 và 50 mcg/1 sâu non ñã phát triển thành một dạng trung gian giữa sâu non và nhộng (Gujar và Mehrotra, 1983) [42] Sâu cắn gié tuổi 5 – tuổi 6, sâu cuốn lá lúa loại nhỏ tuổi 4 – tuổi 5 cho ăn lá lúa ñã ñược xử lí bằng dịch chiết xuất từ hạt xoan Ấn ðộ sẽ bị phá
vỡ quá trình biến thái, gây tỷ lệ chết cao ở các pha sâu non, nhộng và trưởng thành (Schumutterer và Sexena, 1983) Những chế phẩm từ cây xoan Ấn ðộ (dầu từ hạt, các loại dịch chiết, v.v.) có triển vọng trừ các loài côn trùng chích
hút trên lúa (Nephotettix virescens, Nilaparvata lugens, Sogatella furcifera,
Leptocorisa oảtorius) và các loài sâu ăn lá lúa (Cnaphalocrosis medinalis, Mythimna separata, Spodoptera mauritia acronynctoides) Các chế phẩm từ
cây xoan Ấn ðộ tác ñộng lên sâu hại thông qua sự ức chế dinh dưỡng, phát triển và ñẻ trứng, nhưng không làm ảnh hưởng tới các loài ký sinh và bắt mồi Các chế phẩm từ cây xoan Ấn ðộ ñược phun 3 lần vào ngày thứ 20, 40, 60 ngày sau khi gieo cấy cho hiệu quả phòng trừ sâu hại và tăng năng suất lúa
Trang 23cao hơn so với phun 1-2 lần (Kreem, Durairaj, 1987) [53] Các chế phẩm từ cây xoan ấn ðộ ñã sử dụng ñể phòng trừ sâu hại kho cho kết quả rất tốt (Rice, 1987; Jilani, Saxena, 1987) [65], [49] Sản phẩm dầu Neem thu ñược từ ép nguội hạt neem có tác dụng ñặc hiệu lên các loài côn trùng thân mềm như rệp Các hợp chất Disulfide trong dầu neem ñóng vai trò trong việc diệt côn trùng
và trị cả nấm gây bệnh cho cây trồng (Dayan et al, 2009) [38, 47] Còn sản phẩm cao chiết bằng dung môi hữu cơ (ethanol, methanol) từ hạt neem ñã ép kiệt dầu có thành phần chính là Azadirachtin cùng với các tiểu hợp phần là các dẫn xuất của nó Azadirachtin chiếm 0,2 – 0,6% khối lượng trong hạt có hiệu quả diệt côn trùng cao, hạn chế nguy cơ kháng thuốc của sâu hại Azadirachtin có tác dụng làm rối loạn ñiều hòa sinh trưởng của côn trùng bằng cơ chế ức chế lên cơ quan cảm thụ của côn trùng bằng cơ chế ức chế quá trình sinh tổng hợp và giải phóng các hoocmon ecdysteroid của quá trình côn trùng lột xác, cơ chế này còn dẫn ñến tác dụng khác là ức chế sinh sản của côn trùng cái Cho tới năm 2006 ñã có một số sản phẩm thuốc trừ sâu có hoạt chất Azadirachtin ñược bán ở Mỹ và có ít nhất 2 loại ở châu Âu Tuy nhiên, yếu ñiểm của loại hoạt chất này là tác dụng chậm, phân giải nhanh dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời và giá thành cao Vì vậy quá trình thương mại chưa ñược phổ biến
Việc sử dụng và sản xuất Pyrethrum ñã mở ñầu cho sự phát triển biện pháp hóa học trừ sâu hại rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Năm 2003 theo thống kê 74% thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật ñược sử dụng ở California
là Pyrethrum Pyrethrum ñược sử dụng ñể diệt côn trùng trong nông nghiệp, lĩnh vực y tế dự phòng, ñiều trị thú y [37, 38, 39, 47] Pyrethrum là sản phẩm
nhựa dầu (oleoresin) ñược chiết từ hoa khô của cây cúc (Pyrethrum daisy)
Hoa khô ñược nghiền nhỏ và chiết với n-Hexane hoặc một số dung môi phân cực khác ñể tạo thành nhựa chiết màu vàng cam sau khi ñã loại dung môi
Trang 24Trong nhựa dầu có 6 este chính, 3 là của a xít Chrysanthemic và 3 của Pyrethric Trong 6 este thì có các chất chính mang hoạt tính là Pyrethrins I và
II Các pyrethrin này trong sản phẩm bio- insecticide thương mại thường chiếm 20 – 25% thành phần các hoạt chất
Pyrethrins có tác dụng nhanh chóng lên các côn trùng và phổ tác dụng cũng rộng Cơ chế tác dụng là ức chế hệ thần kinh tương tự như là DDT và các thuốc trừ sâu gốc Clo Pyrethrins nhạy cảm với tia cực tím của ánh sáng mặt trời, nên nó bị mất hoạt tính nhanh khi sử dụng ngoài ñồng ruộng ðể khắc phục những nhược ñiểm này người ta ñã tiến tới sử dụng các dẫn xuất bền hơn của nó Sau khi tiến hành thử nghiệm ñến nay ñã có rất nhiều các dẫn xuất của Pyrethrins sử dụng trong thương mại Những sản phẩm này phát triển mạnh từ những năm 1970 – 1980 và trở thành một mô hình thành công của việc ứng dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc tự nhiên Pyrethrum ñược sản xuất chủ yếu từ châu Phi, như Kenya, Tanzania Trong 5 năm gần ñây tổ chức tài nguyên thực vật Australia phát triển sản xuất Pyrethrum từ Tasmania và ñã phát triển rất nhanh trở thành nhà cung cấp 30% sản lượng Pyrethrum trên toàn thế giới
Các loại tinh dầu thực vật ñược ñiều chế bằng quá trình chưng cất cuốn theo hơi nước và ñược khai thác chủ yếu từ một số chi thực vật như loài Lamiaceae (bạc hà), các loài quế và hồi Các thành phần mono, sesquiterpene trong tinh dầu như d-limonene, menthol, 1,8-cineol, citronellal, eugenol, p-menthane-3,8-diol, cinnamaldehyde, linalool và thymol có tác dụng mạnh lên côn trùng gây hại cho ngũ cốc trong công nghệ bảo quản sau thu hoạch, lên
ký sinh trùng, nấm gây bệnh cho cây và cả diệt cỏ Tinh dầu ñược sử dụng dưới dạng các loại thuốc xông hơi (fumigant) Tinh dầu ñược ứng dụng rộng rãi trong quá trình diệt côn trùng từ những năm 1990 Các thành phần hoạt tính trong tinh dầu thường có tác dụng diệt hạ côn trùng nhanh chóng qua cơ
Trang 25chế ức chế quá trình giải phóng enzyme Acetylcholinesterase và dẫn ñến ngộ ñộc hệ thần kinh của côn trùng Một số thuốc bảo vệ thực vật sinh học ñược bán rộng rãi hiện nay có sử dụng các thành phần của tinh dầu như dầu sả, (clove oil), và thyme oil Các thuốc bảo vệ thực vật sinh học này ñược ưa chuộng trong quá trình kiểm soát bệnh cây trồng trong nhà kính, côn trùng gây bệnh trong thú y (chó, mèo, bò, gà,…) Ưu ñiểm loại này là giá thành thấp, không gây ñộc hại cho con người, một số tinh dầu ñược chấp nhận dùng cho thực phẩm, vì vậy giải quyết ñược vấn ñề dư lượng thuốc trong thực phẩm khi tiêu thụ [38, 39, 45]
Rotenon ñược sử dụng trên 150 năm chủ yếu trước ñây là làm thuốc
diệt cá Rotenone có bản chất Isoflavonoid chiết ra từ các cây họ Legume
Derris, Lonchocarpus và Tephrosia ðược khai thác nhiều ở Venezuela và
Peru từ cây Lonchocarpus urucu, phần nhựa tách ra gọi tên phổ biến là Cube
resin có chứa khoảng 45% Rotenonoids tổng số Trong các Rotenonoid có ñến 40-44% là Rotenone và 22% là Deguelin Thuốc bảo vệ thực vật sinh học dạng bột chứa khoảng 1-8% Rotenone và dạng lỏng 8% Rotenone và 15% Rotenonoid tổng số Rotenone diệt côn trùng qua cơ chế chuỗi hô hấp mitochron, ức chế sự trao ñổi electron trong tế bào mitochron và ức chế quá trình sản xuất năng lượng tại ñó Rotenone gây ñộc cho dạ dày khi tiêu hóa qua ñường ăn ðộc tính của nó ñược so sánh với DDT khi gây ñộc cấp tính với LD50= 132mg/kg, tuy nhiên ñộc tính giảm ñi khi ñược phối trộn thành phẩm Thời gian tự phân giải sinh học của nó là 4 ngày, tuy nhiên dư lượng bị chú ý chặt vì hiện nay có một số nghi ngờ về các ảnh hưởng phụ của rotenone tới con người như cơ chế gây bệnh Parkinson ở người và ñộng vật có phần nào tương tự cơ chế gây ñộc côn trùng của rotenone [38,39,47]
Ryania là một loại bột gỗ ñược nghiền ra từ cây Ryania speciosa Bột
gỗ này chứa khoảng 1% Ankaloid ryanodine ức chế sự tiết Cancium trong tế
Trang 26bào cơ vận ñộng của côn trùng Ryania ñược coi là không gây ñộc cho nhiều loại ñộng vật máu nóng, liều LD50 dao ñộng từ 650- 2500mg/kg tùy theo loài ñược test [39,47]
Sabadilla cũng là một loại botanic – insecticide ñược dùng phổ biến, nó ñược chiết ra từ hạt của cây lily ñộc Schoenocaulon offcinale ở Nam và Trung
Mỹ Cấu trúc phân tử dạng Cevadine-ankloid và gây ñộc cho ñộng vật máu nóng, LD50 lên thỏ là khoảng 13mg/kg Chất này dùng trong các thuốc bảo vệ
thực vật sinh học diệt colding moth (Cydia pomonella) Trong các thuốc bảo
vệ thực vật sinh học hàm lượng của nó vào khoảng 1%, cơ chế tác dụng lên côn trùng là gây ñộc thần kinh dẫn ñến liệt và chết kiểu hạ gục nhanh côn trùng giống như Pyrethrin LD50 từ 4000-5000mg/kg Sabadilla ñược thương mại hóa từ những năm 1970, tên thương mại Red Devil, Natural Guard Hàng năm ở California sử dụng khoảng 100 kg hoạt chất này cho quá trình trừ sâu bệnh, như : sâu ăn lá, rầy xanh, bọ trĩ, bọ xít và bọ xít sống trong nước ở các khu trồng rau sạch [39]
Có nhiều cây có tính ñộc diệt côn trùng ñã ñược nghiên cứu ñánh giá hiệu lực ñối với nhiều loài sâu hại khác nhau Ở Philippines ñã tiến hành ñánh
giá khả năng diệt sâu của 34 loài thực vật (như cây Tinospora rumphii, Vitex
negundo, Blumena balsamifera, Coleus amboinicus,…) Biện pháp nhúng rễ
mạ vào dung dịch nước chiết của cây Tinospora rumphii có hiệu lực trừ nhiều loại sâu hại trên cây lúa Có thể dùng dịch chiết từ cây Tinospora rumphii
phun 2 lần ñể thay thế cho 4 lần dùng thuốc hóa học như ñã khuyến cáo Như vậy, sẽ làm giảm chi phí, tăng thu nhập (Morallo- Rejesus, 1987) [60]
Ở Ấn ðộ tiến hành thử nghiệm sử dụng cây Vitex negundo ñể phòng chống sâu cuốn lá lúa loại nhỏ (C medinalis), sâu ñục thân lúa 2 chấm (S
incertulas), sâu ñục thân 5 vạch ñầu ñen (C polychrysa) và sâu khoang (S litura) Dịch chiết bằng ete ở nồng ñộ 500ppm sau 24 giờ xử lý ñã gây tật dị
Trang 27dạng ở sâu cuốn lá lúa loại nhỏ, gây chết hơn 60% sâu ñục thân ngài 2 chấm
và sâu ñục thân 5 vạch ñầu ñen (Kandasamy et al., 1987) [51]
ðến nay, ñã phát hiện có 82 loài thực vật có tính ñộc diệt sâu tơ Trong
ñó, cây Blumiea balsimefera, Caesalpinia pulcherrina, Coleur amboinicus và
thuốc malathion từ 30 ñến 10 lần (Morallo- Rejesus, 1986) [59]
Sâu mọt hại kho cũng ñược thử nghiệm phòng trừ bằng thuốc thảo
mộc Ở Philippines ñã dùng các cây A indica, Curcuma longa và Acorus
calamus ñể phòng chống sâu mọt kho vừa hiệu quả phòng trừ cao vừa mang
lại hiệu quả kinh tế (Jilani, Saxena, 1987) [49] Ở Sri Lanka ñã thử nghiệm
dùng rễ, vỏ, lá của cây Fenonia limona ñể trừ mọt ñậu Callosobruchus
chinensis (Ranasinghe, 1987) [64]
Những cây ñộc chủ yếu nhất thường tập trung ở các họ Asteraceae,
Fabaceae và Euphorbiaceae Các loại sản phẩm thảo mộc nổi tiếng ñược
chiết xuất từ Pyrethrum, Rotenone v.v ñều từ các họ này (Morallo- Rejesus,
Maini và Sayboc, 1990) [61] Vào ñầu thế kỷ 20, người ta phát hiện Nicotine
có trong 18 loài Nicotina, trong ñó phổ biến nhất trong thuốc lá N.tabacum Lim và thuốc lào N.rustica Ngoài ra, Nicotine còn ñược tìm thấy trong cây cỏ sữa (Asclepia syriaca), cây ớt mả (Atropa belladonna), cây ñuôi ngựa (Equisetum arense), cây thạch tùng (Lycopodium clavatum), v.v
(Beinhart.,1950) [35] Nicotine tinh khiết ñược chiết xuất ñầu tiên vào năm
1828, mặc dù trước ñó người ta ñã dùng bột khô hoặc nước chiết từ cây thuốc
lá ñể trừ sâu hại hoặc chấy rận
Nicotine là một Alkaloid thu ñược từ quá trình chưng cất cuốn theo hơi nước các lá già và lá rụng ra từ cây thuốc lá
Trong các Alkaloids của thuốc lá, ngoài Nicotine ra còn có 2 chất ñộc quan trọng khác là Nomicotine và Anabasine (Metcalf R.L., 1945-1955) [58]
Trang 28Hàm lượng nicotine trong thuốc lá từ 2 Ờ 10%, trong thuốc lào là 16% Nicotine tác ựộng chủ yếu lên hệ thống ựầu dây thần kinh, qua bụng lên não, làm các cơ rối loạn cuối cùng làm sâu hại bị tê liệt và chết (Mcindoo et al., 1936) [56] Nicotine còn ựược coi là chất có tác dụng xua ựuổi côn trùng (Liu and Hsu, 1941) [55] Do những tác ựộng trên mà Nicotine ựược coi là 1 trong
3 loại thảo mộc quan trọng nhất ựược quan tâm nghiên cứu ở thế kỷ 19 ựầu thế kỷ 20 (Beinhart, 1950) [35]
Dịch chiết Melia với tác dụng gây ngán ăn ở côn trùng Hiện ựang ựược ưa chuộng vì có nhiều cây họ xoan này cùng phát triển rộng rãi, thành phần là các Triterpenoid tương tự như azadirachtin Khai thác từ cây berry Trung
Quốc Melia azedarach mọc tại Argentina và Châu Á Từ những năm 1990 tại Trung Quốc sản xuất thuốc dịch chiết của cây M toosendan là một loại cùng
họ với cây berry Trung Quốc (M azedarach) Các hoạt chất chắnh gây tác dụng ngán ăn Một ựiểm yếu là trong cây M azedarach có chứa chất ựộc
meliatoxin ựi kèm theo với các chất mang hoạt tắnh Meliatoxin gây ựộc lên ựộng vật máu nóng, tuy nhiên ở nhiều vùng meliatoxin không có trong cây
điều này do sự quyết ựịnh về mặt thổ nhưỡng Dịch chiết từ M toosendan thì
có chứa Toosendanin gây ựộc trong dạ dày của côn trùng cắn lá Dịch chiết từ
cây M volkensii trồng ở đông Châu Phi gâu tác dụng tương tự, chủ yếu là
gây ựộc dạ dày và gây ngán ăn [38,39]
Các dẫn xuất benzofural từ họ cây Ngâu, Aglaia elliptica, A odorata có
tác dụng ức chế sinh tổng hợp protein trong côn trùng Rocaglamide là hoạt
chất ựại diện gây ựộc tắnh chậm lên African Cotton Leafworm Spodoptera
littoralis và S litura (Isman, 2000b) [46]
Các Isobutylamide như pipericide từ cây hạt tiêu ựen Piper nigrum có tác dụng diệt côn trùng và diệt nấm hại cây Các cây cùng loài như P
Trang 29retrofractum ở Thái Lan, P guineense ở Tây Phi và P tuberculatum ở Trung
Mỹ cũng sản sinh ra isobutylamide diệt côn trùng (Isman., 2000b) [46]
Các Trilactone terpene từ lá rụng xuống của cây bạch quả Ginkgo
biloba ựược phát hiện gây ựộc cho rầy nâu Nilaparvata lugen, Sâu xanh Helicoverpa armigera và gián Blatella germanica (Isman, M.B., 2000b) [46]
1.2.1.3 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc phòng trừ rệp sáp hại cây trồng
Hơn 300 năm trước ựây, người châu Âu ựã sử dụng cây thuốc lá lấy từ các nước thuộc ựịa châu Mỹ, ựể sản xuất bột hoặc chiết bằng nước lã phun lên cây trồng trừ rệp trong ựó có rệp sáp và các sâu ăn lá Dần dần Nicotine trở thành một trong những chất trừ sâu chủ yếu từ cuối thế kỷ 19 ựầu thế kỷ 20 (Beinhart, 1950) [35], Theo tác giả thì Nicotine có trong 18 loài Nicotina khác
nhau, trong ựó N tabacum và N rustina là phổ biến nhất Nicotine còn có
trong cây cỏ sữa, cây ựuôi ngựa, cây thạch tùng, v.v Cơ chế tác ựộng của Nicotine ựối với côn trùng là tác ựộng trực tiếp lên hệ thần kinh Từ vị trắ trúng thuốc (tiếp xúc hoặc vị ựộc), nicotine tác ựộng lên hệ thống ựầu dây thần kinh, qua bụng lên não, làm cơ thể ựộng vật run lên, sau ựó các cơ rối loạn cuối cùng tê liệt và chết (Narahashi, 1965) [62] Chắnh vì vậy, Nicotine
có tác dụng trừ nhiều loại sâu hại quan trọng như rệp trong ựó có rệp sáp, sâu
ăn lá, bọ cánh cứng hại cây trồng; trừ ựược chấy, rận, bọ chét, v.v trên người
và gia súc Ngoài tác ựộng thần kinh, Nicotine còn ựược coi là chất có tác ựộng xua ựuổi ựối với côn trùng (Liu and Hsu, 1941) [55]
Nhiều nhà nghiên cứu ựã xác ựịnh hạt củ ựậu có hiệu lực trừ các loại rệp, kể cả rệp sáp, bọ nhảy hại rau, bọ cánh cứng hại ựậu, sâu xanh bướm trắng, v.v đã xác ựịnh dung dịch chiết của hạt củ ựậu có tác dụng tiếp xúc và
vị ựộc cao ựối với sâu khoang hại thuốc lá một ựối tượng nhiều loại thảo mộc
có ựộc lực mạnh vẫn không trừ ựược Dịch chiết từ hạt củ ựậu còn có tác dụng gây ngán ăn ựối với nhiều sâu hại khác (Sahu, 1983) [68]
Trang 30Những tư liệu nêu trên cho thấy do ưu thế sản phẩm thảo mộc có hiệu quả phòng chống dịch hại khá cao, có khả năng phân hủy nhanh, không ñể lại
dư lượng trên sản phẩm và môi trường Vì vậy, việc khai thác sử dụng các loại thảo dược ñể phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp ngày càng ñược quan tâm trên thế giới
1.2.2 Nghiên cứu trong nước
1.2.2.1 Thành phần và mức ñộ gây hại của rệp sáp trên cây trồng
+ Thành phần rệp sáp
Có rất nhiều loài rệp sáp khác nhau gây hại trên các loại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam Trên cây cà phê, theo kết quả ñiều tra côn trùng ở các tỉnh phía Bắc 1967-1968, ñã thu thập ñược 5 loài rệp sáp giả trong ñó chỉ phát
hiện ñược 1 loài gây hại trên cà phê ñó là loài Coccus viridis (Viện bảo vệ
thực vật, 1976) [29]
Kết quả ñiều tra của Viện Bảo vệ thực vật năm 1977-1978, ñã ghi nhận ñược 6 loài rệp: Coccus viridis, Coccus celatus de, Hermiberlesia palmae,
Ischnaspis longirostris, Pseudaulacaspis dendrobii, Saissetia coffeae (Viện
Bảo vệ thực vật, 1999) [31] Tập thể tác giả cũng ñã thu thập và xác ñịnh
ñược 41 loài rệp sáp thuộc 7 họ gây hại cây trồng ở một số tỉnh phía Nam Họ
Pseudococcidae có số loài thu ñược nhiều nhất (13 loài), kế tiếp là họ
Coccidae (11 loài) và họ Diaspididae (10 loài) Trong ñó, trên cây cà phê ñã thu thập ñược 10 loài rệp sáp, phân bố trong 3 họ chính thuộc bộ Cánh ñều là
họ rệp sáp giả Pseudococcidae 7 loài (F virgata, P.citri, Pseudococcus
longispinus Tragioni Tozzett, Rastrococcus sp và Dismicoccus sp.), họ Coccidae 2 loài ( S.coffeae, C viridis) và họ rệp bông Margarodidae 1 loài
(Iceria seychelarum West) (Nguyễn Thị Chắt và CS, 2005) [2]
Trên cà phê chè của các tỉnh phía Bắc, công trình nghiên cứu từ năm 2005-2008, Phạm Thị Vượng và cs [33] ñã thu thập ñược 7 loại rệp sáp hại
Trang 31cà phê, thuộc 3 họ chính của bộ cánh ñều là họ rệp sáp giả Pseudococcidae (4 loài), họ rệp sáp mềm Coccidae (2 loài) và họ rệp vảy Disapididae (1 loài) Trong ñó, có 2 loài gây hại nguy hiểm là rệp sáp mềm tua ngắn Planococcus
kraunhiae Kuwana và loại rệp sáp tua dài Ferrisia virgata Cockerell, những
loại rệp sáp này hại cành, lá, hoa và quả cà phê ðặc biệt loài hại trên mặt ñất
và dưới gốc rễ cà phê là hoàn toàn khác nhau, hai loài gây hại chủ yếu ở dưới
ñất là Planococccus lilacinus Cockerell và Planococcus sp
Khi nghiên cứu về rệp sáp về rệp sáp hại cà phê ở Tây Nguyên, Trần Thị Kim Loang (1999) [13] cho biết thành phần loài rệp sáp hại thân, lá, quả
có khả năng gây hại phổ biến là rệp sáp mềm xanh Coccus viridis, rệp sáp mềm nâu Saissetia hemisphaerica, rệp sáp hại quả Pseudococcus sp và rệp
Ở vùng Buôn Mê Thuật, ðắc Lắc, Nguyễn Huy Phát (2000) [15] xác
ñịnh nhóm rệp sáp hại cà phê vối gồm họ Coccidae có 2 loài Coccus viridis
Green và Saissetia coffeae Walker Họ rệp sáp Pseudococcidae có 2 loài ñã
ñược xác ñịnh là rệp sáp hại quả Pseudococcus citri và rệp sáp hại rễ là
Pseudococcus mercaptor
Theo Quách Thị Ngọ và cs (2008) [14] ñã thu thập ñược 49 loài rệp
sáp trên một số cây trồng, xác ñịnh ñược tên của 24 loài thuộc 3 họ
Pseudococcidae, Coccidae, và Disapididae, trong ñó có 8 loài rệp sáp ghi
nhận lần ñầu ở Việt Nam Trên cà phê, ñã thu thập ñược 2 loài rệp sáp là
Formicoccus polysperes William hại trên rễ cà phê và loài Planococcus minor
Maskell trên lá cà phê Theo Hoàng Thị Thu Trang (2009) [23] có 4 loài rệp
Trang 32sáp gây hại trên cà phê chè ở Sơn La, trong ñó 2 loài thuộc họ rệp sáp giả
Pseudococcidae là P citri hại quả cà phê và P minor hại rễ, 2 loài rệp sáp
thuộc họ Coccidae có khả năng gây hại mạnh trên thân cành, lá, quả cà phê là
C viridis và S coffeae
ðối với rệp hại mía, theo Lương Minh Khôi (1997) [11] ghi nhận 5 loại
rệp hại mía, bao gồm: rệp xơ bông trắng Ceratovacuna lanigera Zehnther; rệp vàng Aphis sacchari Zehnther; rệp chích hút rễ cây Tetranneura hirsuta
Baker; rệp sáp hại ở ñốt mía Trionymus sacchari Cockerell; rệp xám Ropalosiphum maidis Fitch; Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng
và ctv từ năm 2002 ñến 2007 [32], trên mía có 3 loài rệp hại chính là:
Ceratovacuna lanigera Zehnther, Saccharicoccus sacchari, Dysmicoccus bonisis Trong ñó, loài rệp bông xơ trắng Ceratovacuna lanigera Zehnther,
rệp sáp hồng Saccharicoccus sacchari là hai loài gây hại quan trọng trên các
vùng trồng mía của tỉnh Thanh Hóa và Sơn La
Kết quả ñiều tra sâu hại trên cây ăn quả ở Việt Nam trong các năm 1997-1998, ñã ghi nhận có 8 loài rệp hại trên cây ăn quả có múi, gồm các loài
rệp sáp Ceraplates rubens, Aonidiella aurantii, Coccus viridis, Icerya
purchasi, Parasaissetia nigra, rệp phấn Planococcus citri và 2 loài rệp muội
là Toxoptera aurantii, T citricidus (Nguyễn Công Thuật và ctv, 2007) [20]
Nguyễn Thị Thủy (2012) [21] ñã thu thập ñược 8 loài rệp sáp hại cà
phê tại ðắk Lắk, thuộc các họ Pseudococcidae (5 loài), Coccidae (2 loài) và
Disapididae (1 loài) Trong ñó loài rệp sáp bột tua ngắn P kraunhiae là loài
quan trọng nhất Tác giả cũng ñã bổ sung 4 loài rệp sáp vào thành phần sâu
hại trên cà phê là P lilacinus, Aulacaspis sp., Planococcus sp và P
kraunhiae Trong ñó loài P kraunhiae lần ñầu tiên ñược ghi nhận ở Việt
Nam
Trang 33+ Mức ñộ gây hại của rệp sáp
Theo Cục Bảo vệ thực vật (2009), nhóm rệp sáp giả là loài côn trùng ña thực, chúng gây hại trên nhiều loại cây trồng nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, ñặc biệt là cây ăn quả như mãng cầu, xoài, cam quýt, na, nhãn, mít, v.v.; trên cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, mía, ñiều, lạc; cây lương thực như khoai lang, sắn, cây rau, cây hoa và cây cảnh như phong lan, mai vàng, vạn tuế, v.v Do ảnh hưởng của rệp sáp giả (rệp bột), nhiều cây trồng bị suy thoái
do rệp làm cây bị còi cọc, phủ ñầy muội ñen Sản phẩm thu hoạch bị hại sẽ giảm chất lượng, mẫu mã gây ảnh hưởng rất lớn ñến việc giới thiệu sản phẩm
ra thế giới
Rệp sáp mềm (Planococcus citri) gây hại trên nhiều họ thực vật ở
nhiều nước trên thế giới gây hại phổ biến ở các vùng trồng cam, quýt, cà phê,
na, hồng xiêm, v.v (Lê ðức Khánh, 2003) [10]
Trên cà phê chúng hại tất cả các bộ phận trên mặt ñất và dưới mặt ñất,
và gây hại trên cả 3 loại cà phê là cà phê chè, cà phê vối và cà phê mít Dựa vào ñặc ñiểm gây hại của các loài rệp sáp có thể chia chúng làm 2 nhóm, nhóm gây hại trên mặt ñất và nhóm gây hại dưới rễ
Các loài rệp sáp hại các bộ phận trên mặt ñất của cây cà phê: chúng tập trung gây hại ở các phần non của cây cà phê như phần ngọn, các ñọt non và
bộ phận hoa và qủa non dẫn ñến cây kém phát triển, cành lá vàng, quả rụng Rệp còn tiết ra dịch làm cho nấm muội ñen phát triển ảnh hưởng ñến quang hợp của cây, làm bẩn tán lá và chùm quả, quả chậm lớn Rệp sáp là ñối tượng rất khó phòng trừ vì chúng ñược bao quanh bởi lớp sáp ngăn không cho thuốc
và ký sinh thiên ñịch tiếp xúc với cơ thể, ngoài ra lớp sáp của chúng còn bao bọc xung quanh cành, thân quả cà phê làm các bộ phận này không thể phát triển ñược
Theo kết quả của Võ Chấp (1997) [3], rệp chích hút tiết ra dịch làm môi
Trang 34trường cho nấm hoại sinh phát triển tạo thành một lớp bọc không thấm nước quanh rễ Cây bị suy yếu do rệp chích hút nhựa và lớp bọc nấm bó chặt làm cho rễ kém hoạt ñộng, rễ bị thối, cây héo vàng dần, bị nặng lá rụng hàng loạt, quả nhỏ, hạt bị lép, cây khó hồi phục và có thể bị chết Hiện tượng vàng lá xuất hiện trên cà phê khi mật ñộ rệp sáp trên 100 con/gốc
Theo Vũ Văn Tố (2000) [22], rệp sáp (Pseudococcus citri Risso) hại
quả cà phê là loài rệp phổ biến nhất ở hai tỉnh ðắk Lắk và Gia Lai Rệp nặng làm quả bị rụng, cây bị nặng năng xuất giảm từ 20 – 40% Kết quả theo dõi của Nguyễn Thị Chắt (2003) [1] thì tỷ lệ cây cà phê tại Lâm ðồng và Bình Phước bị hại do rệp sáp là 53%, tỷ lệ cành bị hại là 22-29%, tỷ lệ lá bị hại là 11-21%, tỷ lệ trái bị hại là 11-17% Rệp sáp giả không chỉ hại cành, lá mà còn hại cả gốc cà phê
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Vượng và ctv từ năm 2005 ñến
2008 [33], loài rệp sáp mềm tua ngắn và rệp sáp tua dài là loài gây hại quan trọng cho cà phê Chúng phát sinh quanh năm trên vườn, ñỉnh cao nhất từ tháng 2 ñến tháng 4 và giảm khi mùa mưa ñến, sau ñó lại tăng quần thể từ tháng 9 ñến cuối năm, tuy nhiên không cao như ñỉnh cao tháng 2 ñến tháng 4
Kết quả theo dõi của Nguyễn Thị Thủy (2012) từ năm 2006 ñến 2009 tại ðắk Lắk cho thấy mức ñộ phát sinh và mật ñộ của rệp sáp tua ngắn
Planococcus kraunhiae chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh, trong ñó
yếu tố mưa là quan trọng nhất, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát sinh phát triển của rệp tua ngắn Ở lượng mưa 82,2mm thì sau mưa 1 ngày và 3 ngày mật ñộ rệp tua ngắn giảm tương ứng là 41,4 – 51,5% và 60,75 – 72,31% Trong mùa khô, rệp sáp tua ngắn có mật ñộ như nhau ở các vị trí khác nhau trên tán cây
cà phê, biến ñộng từ 21,42 con/ñoạn cành ở tầng dưới của tán cây ñến 22,75 con/ñoạn cành ở tầng trên của tán cây Nhưng vào mùa mưa thì có sự khác biệt về mật ñộ ở các vị trí khác nhau trong tán cây Biến ñộng từ 0 con/ñoạn
Trang 35cành ở tầng trên của tán cây ñến 9,25 con/ñoạn cành ở tầng dưới của tán cây Mật ñộ rệp sáp tua ngắn ở trên ñỉnh ñồi từ 42,92 ñến 58,75 con/ñoạn cành, cao hơn nhiều so với mật ñộ ở dưới chân ñồi từ 14,72 ñến 36,58 con/ñoạn cành Cây cà phê ở thời kỳ kinh doanh rệp sáp tua ngắn phát sinh gây hại nặng hơn nhiều so với cà phê ở thời kỳ kiến thiết cơ bản
Theo Lương Minh Khôi (1997) [11], rệp sáp hại ở ñốt mía Trionymus
sacchari Cockerell thường phát sinh 6- 7 ñợt trong một năm Rệp trưởng
thành ít di chuyển Rệp non thường bám vào ñốt mía phía trong bẹ lá ñể hút chất dinh dưỡng Rệp tiết ra chất ngọt nên tạo ñiều kiện cho bệnh muội và nhiều loại kiến ăn mật cùng cộng sinh với rệp và giúp rệp phát tán
Nguyễn Thị Hoa (2006) xác ñịnh trong tổng số 27 loài sâu hại mía có 2
loài rệp sáp Trong ñó có loài rệp sáp S sacchari phổ biến nhất và gây hại nặng, còn loài Pseudococcus sp tần xuất bắt gặp trung bình Nhóm rệp sáp
mía là ñối tượng sâu hại quan trọng cho vùng mía ở vùng nghiên cứu Chúng xuất hiện ngay từ cây mía mới mọc mầm(mía lưu gốc) và gây hại nặng khi mía ở giai ñoạn làm lóng kéo dài ñến hết vụ mía Rệp non và rệp trưởng thành sống trong các bẹ lá mía và các mắt mía, rễ mía, chúng hút dịch cây và làm ảnh hưởng ñến sự sinh trưởng phát triển của cây mía và làm các mắt mía mất khả năng nảy mầm không sử dụng ñược ñể làm giống cho vụ sau Kết quả ñiều tra ñã thu ñược hai loài rệp sáp hại mía Nhưng loài rệp sáp có mật ñộ
quần thể cao và ảnh hưởng lớn ñến việc sản xuất mía là loài rệp sáp S
sacchari
1.2.2.2 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc trong phòng trừ sâu hại
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt ñới, là một nước có hệ thực vật rất phong phú và ña dạng, phát triển quanh năm Trong ñó, có nhiều loài cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học, có thể ứng dụng làm nguyên liệu cho ngành sản xuất hóa dược và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)
Trang 36Trong lĩnh vực phòng trừ các côn trùng gây hại, từ lâu ở Việt Nam người ta ựã biết sử dụng một số loại cây phục vụ mục ựắch này Cụ thể, các cây ruốc cá, củ ựậu, hạt thàn mát ựã ựược dùng ựể phòng trừ sâu hại cây trồng, diệt chuột trong nhà, ựánh bắt cá ngoài ựồng ruộng Lá xoan ta phơi khô cho vào chum ựựng hạt giống cây trồng ựể trừ mối mọt Dùng khói khi ựốt của một số cây như cây chổi sể ựể xua ựuổi muỗi, nước ựiếu ựể trừ rệp sáp hại cây cảnh như vạn tuế, thiên tuế, hương sả ựể xua ựuổi côn trùng, gỗ thông ựể trừ mối, v.v
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, ựã có nhiều công trình nghiên cứu thăm dò hiệu lực trừ sâu của một số cây ựộc như hạt thàn mát, hạt mác bát, hạt củ ựậu, rễ dây mật, v.v Những năm 80, những công trình tiến hành tại phòng Nông dược ỜViện Hóa Học công nghiệp (nay là Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam) ựã tiến hành nghiên cứu thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc ựể ứng dụng vào thực tế, như dịch chiết Eugenol từ dầu hương nhu làm nguyên liệu tổng hợp Metyl eugenol làm chất dẫn dụ ruồi vàng hại cam
Dacus dorsalid (đào Văn Hoằng, 1983) [6]
Từ năm 1979 ựến 1981, Cục Bảo vệ thực vật ựã tiến hành ươm trồng
cây Ruốc cá (Derris sp.) và sản xuất một số dạng chế phẩm từ rễ cây này
ựược thử nghiệm ựể phòng trừ một số loại sâu như sâu ba ba, rệp hại bông, sâu tơ, rầy xanh, bọ xắt muỗi hại chè đã tách chiết và xác ựịnh ựược hàm
lượng Rotenone trong rễ cây Derris elliptia (Trần Quang Hùng và ctv, 1985;
Trang 37hại kho lương thực (Trần Minh Tâm, 1992) [17] Bộ môn sinh thái , Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật ựã sản xuất thử chế phẩm ST3 từ cây Thanh hao hoa vàng và phối hợp với Viện BVTV nghiên cứu, thử nghiệm hiệu lực của chế phẩm này với một số sâu hại rau và lúa (Vũ Quang Côn và ctv, 1993) [5] Nguyễn Thị Minh Tâm và ctv (1992) [16] ựã thắ nghiệm trong nhà lưới cho thấy hạt bình bát và lá thuốc lá ở nồng ựộ 10% có thể khống chế ựược rầy lưng trắng, rễ cây ruốc cá và lá bạch ựàn chanh ở nồng ựộ 15% có thể làm giảm mật ựộ rầy
Năm 1995, Viện Bảo vệ thực vật ựã xác ựịnh có 53 loại cây ựộc ở 10 tỉnh phắa bắc Việt Nam, trong ựó có nhiều cây triển vọng chế biến và sử dụng làm thuốc thảo mộc trừ sâu cây Derris trừ sâu tơ hiệu lực ựạt 70 Ờ 80%, rầy xanh hại chè, rệp hại bông; cây xoan ta trừ sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh, sâu tơ hiệu lực ựạt trung bình 50 Ờ 60%; cây thuốc lào và thuốc lá có thể trừ ựược bọ trĩ, bọ xắt dài, cuốn lá nhỏ hại lúa, rệp hại ngô, rệp cải, sâu tơ, sâu xanh bướm trắng hại rau họ hoa thập tự, nhện ựỏ hại cam; hạt củ ựậu trừ sâu hại rau họ hoa thập tự, bọ xắt ựùi to, bọ nẹt (Nguyễn Văn Tuất, Lê Văn Thuyết, 2000) [28] Năm 2000 Ờ 2001, Viện Bảo vệ thực vật ựã công bố kết quả thực hiện dự án Ộđiều tra ựánh giá các cây có ựộc tắnh trừ sâu ựể sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộcỢ đã tiến hành ựiều tra thu thập trên 11 tỉnh trong phạm vi cả nước xác ựịnh có 137 loài cây ựộc chia 3 nhóm:
Nhóm I: Gồm 23 loài có ựộc tắnh cao, hiệu quả sinh học rõ rệt, tiềm năng nguyên liệu lớn, triển vọng khai thác nguyên liệu tốt như: Hạt củ ựậu, Bình bát, Cà ựộc dược, Cứt lợn, Ruốc cá, Gấu tầu, Na, Neem, Sở, Thàn mát, Nghể, Thanh hao hoa vàng, thuốc lá, thuốc lào, Trẩu, Xoan, v.v
Trang 38Nhóm II: Gồm 55 loài cũng có ựộc tắnh cao, hiệu quả sinh học, tiềm năng nguyên liệu khá, có triển vọng khai thác sử dụng như: Bạch ựàn, Bồ hòn, Bồ kết, Cỏ lào, cỏ sữa lá to, Cúc vạn thọ, đào, Húng chanh, Keo dậu, Ké ựầu ngựa, Lá ngón, Mần tưới, v.v
Nhóm III: Gồm 59 loài có tắnh ựộc thấp như Bạc hà, Bìm Bìm, Hương nhu tắa, Long não, v.v
Nguyễn Văn Liêm và cs (2008) [12] ựã ựánh giá 2 loại thuốc thảo mộc dạng bột PN- Funaton 1 và PN- Funaton 2 ựối với mọt hại kho trong phòng thắ nghiệm đã xác ựịnh PN- Funaton 1 ở liều lượng 0,5% và 0,1% gây chết 100% số mọt sau 72 giờ xử lắ còn PN- Funaton 2 ở liều lượng 0,5% ựạt hiệu quả 82,89%, ở liều lượng 0,5% chỉ ựạt 67,81% số mọt sau 72 giờ; Tác giả cũng chỉ rõ ở những công thức xử lý thuốc mọt trưởng thành còn tránh tiếp xúc với hạt ngô có thuốc Chứng tỏ ngoài tác dụng diệt mọt, thuốc còn có tác dụng xua ựuổi
để thỏa mãn nhu cầu về lương thực và thực phẩm, ngành nông nghiệp trên toàn thế giới ựã phát triển theo chiều hướng tập trung thâm canh Nhưng khi thâm canh trồng trọt thì không chỉ làm tăng năng xuất cây trồng mà tăng
cả sự thiệt hại do các dịch hại gây ra, ựể bảo vệ mùa màng người nông dân sử dụng thuốc hóa học là tất yếu Tuy nhiên, việc sử dụng tràn lan, không có kiểm soát các loại thuốc trừ sâu hóa học ựã tạo ra nguy cơ ngộ ựộc thực phẩm, ô nhiễm môi trường, các sản phẩm có dư lượng thuốc BVTV gặp rất nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển
Bắt ựầu từ những năm 2000, trong danh mục thuốc BVTV ựược phép
sử dụng ở Việt Nam ựã xuất hiện những sản phẩm có nguồn gốc thảo mộc Năm 2001, Viện Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và PTNT) ựã ựăng ký
Trang 39thuốc khử trùng kho Gu chung Jing 25DP, trong thành phần chứa thảo mộc 25% Một số công ty nước ngoài ựã ựăng ký sản phẩm thuốc trừ sâu chứa 0,1 Ờ 0,3% hoạt chất là Azadirachtin, chiết xuất từ cây Neem (xoan Ấn độ)
Cũng trong năm 2001, Công ty Thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO)
ựã nghiên cứu thành công và ựăng ký thuốc trừ sâu thảo mộc VINEEM 0,15
ND, chứa 0,15% hoạt chất Azadirachtin chiết từ cây xoan trồng ở Ninh Thuận (đào Văn Hoằng và CS, 2001), sản phẩm có thể diệt ựược nhiều ựối tượng như sâu, bướm, rầy, nhện, mọt, tuyến trùng và các côn trùng y tế Các sản phẩm có nguồn gốc thảo mộc ựược khuyến cáo sử dụng trong chương trìnhg phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) ở các nước phát triển và Việt Nam
Thời gian gần ựây, thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc ựã bắt ựầu ựược sử dụng ở Việt Nam do những tắnh chất ưu việt với sản phẩm và môi trường Năm 2008, ựã có tổng cộng gần 40 loại thuốc thảo mộc ựược ựăng ký
sử dụng, trong ựó có 11 loại thuốc trừ sâu, 12 loại thuốc trừ nấm bệnh, 7 loại thuốc trừ ốc, 4 loại thuốc dẫn dụ, 3 loại chất hỗ trợ, 1 loại thuốc khử trùng (Danh mục thuốc BVTV ựược phép sử dụng ở Việt Nam năm 2008) Những hoạt chất chủ yếu ựược sử dụng là Saponin (trẩu, sở và một số cây khác), Matrin (cây hòe), Eugenol (Hương nhu), Carvacrol (cỏ Xạ hương), Oligo Ờ alginate (rong biển), Rotenone (Ruốc cá) và một số tinh dầu như dầu chanh, cam, dầu hạt bông, dầu ựinh hương, dầu tỏi,
1.2.2.3 Nghiên cứu sử dụng thảo mộc phòng trừ rệp sáp hại cây trồng
Từ lâu, nhân dân ta ựã có kinh nghiệm dùng một số cây ựộc ựể trừ rệp như sử dụng hạt củ ựậu, nước ựiếu trừ rệp sáp hại cây cảnh vạn tuế, thiên tuế
Công ty TNHH Thành Phương cũng ựã ựăng ký sử dụng thuốc thảo mộc có tên thương mại là TP- Thần điền 78SL có hoạt chất là Saponozit 46%
và Saponin acid 32% ựể trừ rệp sáp, rệp vảy xanh, rệp nâu trên cây cà phê,
Trang 40xoài, rệp muội trên nhãn vải, bọ trĩ trên dưa chuột, rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện
ñỏ trên chè
Công ty TNHH XNK Quốc tế Sara cũng ñã ñăng ký thương mại một loại thuốc thảo mộc có tên là Dibonin 5WP, 5SL, 5GR có hoạt chất là Rotenone 2,5% phối hợp với Saponin 2,5% trừ một số rệp sáp, rệp vảy xanh, rệp muội, hại cà phê, hồ tiêu, cam, quýt, trừ bọ nhảy, sâu xanh trên rau cải, trừ sâu xanh, sâu tơ, sâu xanh da láng trên bắp cải, rau cải xanh, rầy chổng cánh trên bầu bí, dưa chuột, cam quýt, nho và một số sâu hại trên cây cảnh [9] Năm 1995, Viện BVTV ñã xác ñịnh có 53 loài cây ñộc có khả năng khai thác sử dụng làm thuốc trừ sâu phòng trừ một số loại rệp và một số sâu hại cây trồng (Nguyễn Văn Tuất, Lê Văn Thuyết, 2000)
Từ những tư liệu có ñược cho thấy, nguồn thảo mộc tự nhiên ñể phát triển thuốc trừ sâu thảo mộc ñược nghiên cứu sâu và ñược sử dụng khá rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu về thuốc thảo mộc trừ dịch hại còn rất hạn chế, mới chỉ tập trung vào việc ñiều tra xác ñịnh các loài thực vật có tính ñộc ñối với sâu hại, còn việc ứng dụng các loại chế phẩm thảo mộc trong bảo vệ thực vật chưa nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu ñánh giá và sử dụng các loại thảo mộc ñể phòng chống rệp sáp cũng như các ñối tượng dịch hại khác trên cây trồng là yêu cầu cần thiết, ñể ñáp ứng yêu cầu sản xuất trong phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng ngoài ñồng ruộng và nông sản bảo quản trong kho