Ta có thể chia địa hình Đăk Nông thành các vùng: - Vùng địa hình đồi núi trung bình Vùng này chủ yếu phân bố ở phía Nam của tỉnh tạo nên ranh giới giữa Đăk Nông với Lâm Đồng và Bình Ph
Trang 1Khoa địa chất
O0o
Phạm Văn Cương
Đồ án
Tốt nghiệp đại học (Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình)
Tên đề tμi:
Đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn vùng Đăk Nông Lập phương
án thăm dò địa chất thuỷ văn tỷ mỉ phục vụ cấp nước cho Thị xã Gia nghĩa với lưu lượng nước yêu cầu 3000m 3 /ngμy Thời gian thi công phương án 12 tháng
Hμ nội 2009
Trang 2Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
MỞ ĐẦU
kinh tế, khoa học kỹ thuật, nước ngày càng trở thành nguồn tài nguyên vô
cùng quan trọng cho toàn xã hội Do vậy các công việc như điều tra địa chất
thuỷ văn cấp nước cho thành phố, nông thôn, các khu công nghiệp; quy
hoạch và bảo vệ tài nguyên nước ngày càng trở lên bức thiết
Sau quá trình 5 năm học tập tại trường, nhằm mục đích gắn lý thuyết
đã học với thực tiễn và được sự đồng ý của Bộ môn Địa chất thuỷ văn, Phòng
Đại học và Sau đại học, tôi được cử đến thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư
Phát triển Ngành nước và Môi trường Trong quá trình thực tập tôi được tiếp
xúc với các tài liệu vùng Gia Nghĩa - Đăk Nông Sau khi được tách tỉnh năm
2004, kinh tế Đăk Nông đang phát triển nhanh chóng Để đạt được mục tiêu
phát triển kinh tế đến năm 2020, có rất nhiều vấn đề đặt ra cho Đăk Nông
Một trong những vấn đề đó là đáp ứng được nhu cầu nước cấp cho ăn uống,
sinh hoạt, công nghiệp và tưới Chính vì thế tôi đã được Bộ môn Địa chất
thuỷ văn giao làm đồ án tốt nghiệp với đề tài:
“Đánh giá điều kiện Địa chất thuỷ văn vùng Đăk Nông Lập phương án
thăm dò địa chất thuỷ văn tỷ mỉ phục vụ cấp nước cho Thị xã Gia Nghĩa
với lưu lượng nước yêu cầu 3000m 3 /ngày Thời gian thi công phương án
12 tháng.”
được hoàn thành Nôi dung bản đồ án như sau:
Mở đầu
PHẦN CHUNG VÀ CHUYÊN MÔN
Trang 3PHẦN THIẾT KẾ VÀ DỰ TRÙ KINH PHÍ
Mở đầu
Kết luận
Bản đồ án được hoàn thành do sự nỗ lực của bản thân, thêm vào đó tôi
cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong Bộ môn Địa chất
thuỷ văn, đặc biệt là sự hướng dẫn rất tận tình của thầy giáo PGS.TS Đoàn
Văn Cánh Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả những sự
giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Phạm Văn Cương
Trang 4Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
PHẦN CHUNG
VÀ CHUYÊN MÔN
Trang 5Chương 1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1 Vị trí địa lý
Đăk Nông là một tỉnh nằm ở phía Nam Tây Nguyên, được tách từ 6
huyện phía Nam tỉnh Đăk Lăk năm 2004
Tỉnh giới hạn trong toạ độ địa lý:
Từ 11o36' đến 12o48' vĩ độ Bắc
Từ 107o12' đến 108o06' kinh độ Đông
Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước và phía Tây Bắc giáp vương quốc
Campuchia
Hình 1.1 Vị trí vùng nghiên cứu
Trang 6Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n Tỉnh Đăk Nông có diện tích 6.514km2 gồm các đơn vị hành chính :
Thị xã Gia Nghĩa Huyện Đăk RLấp
1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Đăk Nông nằm cuối dãy cao nguyên bazan Tây Nguyên có địa hình
dốc từ Bắc, Đông và Nam về phía Tây, Tây Bắc Nhờ các cao nguyên Buôn
Ma Thuột ở phía Bắc, dãy Trường Sơn ở phía Tây và dãy Chu Yang Sin ở
phía Nam, làm cho đặc điểm khí hậu của Đăk Nông khác biệt với các tỉnh
phía Đông dãy Trường Sơn và Lâm Đồng Hầu hết nước đổ vào hệ thống
sông Sêrêpok chảy về phía Tây qua Campuchia rồi đổ vào sông MêKông
1.2.1 Đặc điểm địa hình
Địa hình Đăk Nông phân cắt mạnh, đặc biệt ở phía Nam của tỉnh Ta
có thể chia địa hình Đăk Nông thành các vùng:
- Vùng địa hình đồi núi trung bình
Vùng này chủ yếu phân bố ở phía Nam của tỉnh tạo nên ranh giới giữa
Đăk Nông với Lâm Đồng và Bình Phước Vùng này gồm các đỉnh cao như
đỉnh Chu Yang Sin (2.445m), đỉnh York Rassone (1.666m), đỉnh Chu Nam
Kao (1.294m), đỉnh Chu KNia (1.707m), đỉnh Nam JerBư (1.578m) Các
đỉnh núi này chủ yếu đều thành tạo từ các khối magma xâm nhập và tạo nên
vùng phân thuỷ giữa lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Sêrêpok
- Vùng địa hình cao nguyên
Vùng này chiếm diện tích lớn từ Bắc xuống trung tâm tỉnh Đăk Nông,
chủ yếu là các đồi lượn sóng có độ dốc nhỏ, đỉnh trơn, sườn thoải, mức độ
phân cắt nhỏ và được cấu thành từ các phun trào bazan Neogen và Đệ Tứ nên
nguyên Đăk Nông phân bố từ Đăk Mil, Đăk GLong đến Lâm Đồng, Bình
Phước với độ dốc 1520o Đây là cao nguyên có độ dốc lớn nhất cả nước
Trang 7- Vùng địa hình đồi thấp và thung lũng
Vùng này phân bố ở phía Tây và Tây Bắc của tỉnh, có bề mặt san bằng
khô lại thiếu nước
1.2.2 Đặc điểm địa mạo
Dựa trên đặc điểm địa hình ta chia địa mạo Đăk Nông thành 4 đơn vị:
- Các bề mặt địa hình dạng vòm phủ
Phân bố bao trùm vùng Tây Nam, phát triển trên các cao nguyên bazan
có tuổi khác nhau ở độ cao từ 5001000m Bề mặt địa hình đã bị thay đổi ít
nhiều do quá trình ngoại sinh, thường tạo ra các bề mặt rộng, sườn thoải,
sông suối dạng toả tia, thoát nước dễ dàng
- Các bề mặt địa hình xâm thực bóc mòn
Phân bố ở khu vực phía Đông và Đông Nam vùng nghiên cứu, phát
triển trên các loại đá khác nhau, kể cả bazan Bề mặt địa hình có dạng đồi,
núi thấp kéo dài, đường phân thuỷ hẹp Thường tạo nên dạng dòng chảy như
sông, suối, khe rãnh
- Các bề mặt địa hình bóc mòn tích tụ
địa hình này lượn sóng, thoải, sườn dốc 510o Phân bố dọc theo các sông
lớn
- Địa hình tích tụ
Phát triển dọc theo các thung lũng sông, suối tạo nên thềm bậc 1, 3
rộng hàng trăm mét, cao vài mét Thành phần là cát, cuội, sỏi, sét
1.3 Đặc điểm khí hậu
Đăk Nông có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm chia thành hai mùa
chính Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 10, 11 Ở phần phía
Nam của tỉnh mùa mưa bắt đầu sớm hơn (tháng 4), phần phía Đông của tỉnh
mùa mưa kết thúc muộn hơn (tháng 11) Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau
Trang 8Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
- Nhiệt độ không khí
đến 24oC
Nhiệt độ không khí của Đăk Nông biến đổi không chỉ theo mùa mà bị
chi phối sâu sắc bởi độ cao địa hình và chế độ mưa, độ ẩm không khí Nhiệt
độ không khí đạt cực đại không phải vào giữa mùa hè mà vào cuối tháng 3,
đầu tháng 4 Vì vào giữa mùa hè mưa nhiều, trời đầy mây, còn đầu tháng 4
khi mùa mưa mới chớm nên trời nắng, nóng Nhiệt độ không khí đạt cực tiểu
vào tháng 2 (22oC)
Tổng nhiệt độ đạt 85008900oC Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là
3436oC, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 58oC
nhiệt độ năm từ 36oC Biên độ dao động nhiệt độ ngày là 1012oC vào mùa
khô, 810oC vào mùa mưa
Dưới đây là bảng tổng hợp nhiệt độ không khí từ năm 2000 đến năm
2006 khu vực Đăk Nông (bảng 1.1)
Bảng 1.1 Tổng hợp nhiệt độ không khí từ năm 20002006 vùng Đăk Nông
Năm
2000 2001 2002 2004 2005 2006 Tháng
Trang 9- Lượng mưa
Lượng mưa trung bình nhiều năm của Đăk Nông biến đổi từ 1350mm
đến 2430mm, trung bình là 1800mm/năm Chế độ mưa phân làm hai mùa rõ
rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trong mùa mưa
mùa mưa các tháng có trung bình 1520 ngày mưa
Cường độ mưa: Số ngày có lượng mưa > 50 mm/trận là 35ngày/năm
Số ngày mưa có lượng mưa > 100 mm trong 24 giờ chỉ có 23ngày
Lượng mưa từ năm 2000 đến 2006 khu vực Đăk Nông được tổng hợp
trong bảng sau (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Tổng hợp lượng mưa từ năm 2000 đến 2006 khu vực Đăk Nông
Năm
2000 2001 2002 2004 2005 2006 Tháng
Lượng bốc hơi thay đổi theo mùa, mùa khô lượng bốc hơi thấp còn
mùa mưa lượng bốc hơi lớn Tổng lượng bốc hơi các tháng dao động từ
27mm đến 148,5mm
Trang 10Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Tuy lượng bốc hơi giữa các tháng dao động không lớn nhưng do lượng
mưa giữa các tháng dao động lớn nên trong năm có nhiều tháng thiếu ẩm
nghiêm trọng, trong khi đó nhiều tháng lại thừa ẩm Đặc điểm này ảnh hưởng
đến trồng trọt và sinh hoạt của người dân, do đó cần chú ý đặc điểm này
trong công tác cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho tỉnh
- Độ ẩm
từ năm 2000 đến 2006 đạt 82%
trùng vào các tháng mưa nhiều và đạt cực đại vào tháng 8 khoảng 32,8mb
Độ ẩm tuyệt đối nhỏ trùng vào các tháng mùa khô và đạt cực tiểu vào tháng 2
1.3)
Bảng 1.3 Tổng hợp độ ẩm từ năm 2000 đến 2006 khu vực Đăk Nông
Năm
2000 2001 2002 2004 2005 2006 Tháng
Trang 11- Chế độ gió
Hướng gió của Đăk Nông phụ thuộc vào hoàn lưu gió mùa Mùa khô
có gió mùa Đông Bắc thịnh hành vào tháng 1, tần suất đạt 6079% Vào các
tháng 5, 6 gió này suy yếu chuyển dần sang gió Tây Nam Gió Tây Nam
thịnh hành vào tháng 7, tần suất đạt 69%
Tốc độ gió trung bình đạt 35m/s Do ảnh hưởng của địa hình ở phần
phía Nam tỉnh tốc độ gió đạt 13m/s Tốc độ gió lớn nhất đạt 2030m/s, gió
mạnh chủ yếu do giông gây lên
Dưới đây là bảng và đồ thị biểu diễn sự thay đổi của nhiệt độ không
khí trung bình, tổng lượng mưa, độ ẩm trung bình từ năm 2000 đến năm
2006, và trong năm 2006 của khu vực Đăk Nông (bảng 1.4, bảng 1.5)
Trang 12Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Bảng 1.4 Tổng lượng mưa, nhiệt độ không khí và độ ẩm từ năm 20002006
Biểu đồ lượng mưa, nhiệt độ không khí và độ ẩm
từ năm 2000 đến năm 2006 khu vực Đăk Nông
Tổng lượng mưa (mm/năm) Nhiệt độ trung bình (t0C) Độ ẩm trung bình (%)
Lượng mưa
Năm
Trang 13Bảng 1.5 Tổng lượng mưa, nhiệt độ không khí và độ ẩm các tháng năm 2006
Hình 1.3 Biểu đồ lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm
năm 2006 khu vực Đăk Nông
Biểu đồ lượng mưa, nhiệt độ không khí và độ ẩm
năm 2006 khu vực Đăk Nông
Tổng lượng mưa (mm/năm) Nhiệt độ trung bình (t0C) Độ ẩm trung bình (%)
Tháng Nhiệt độ không khí (t 0 C)
Độ ẩm (%)
Trang 14Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
1.4 Đặc điểm thuỷ văn
Mạng thuỷ văn của vùng khá phát triển với mật độ sông suối cao từ
0,80,9km/km2, mođun dòng chảy 33 l/s.km2 Do nằm ở vùng cao nên Đăk
Nông là phần thượng nguồn của các sông lớn Trong phạm vi tỉnh có hai hệ
thống sông chính là hệ thống sông Đồng Nai, hệ thống sông Sêrêpok; và một
vài sông nhỏ khác
1.4.1 Hệ thống sông Sêrêpok
Hệ thống sông Sêrêpok được hợp từ hai sông lớn là KrôngNô và
Krông Ana
- Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy núi Chư Yang Sin, chảy theo hướng
Đông Nam – Tây Bắc, lòng sông dốc, thung lũng hẹp Tổng diện tích lưu vực
trong phạm vi tỉnh Đăk Nông là 3.933km2, sông chính dài 189km
- Sông Krông Ana được hình thành từ hợp lưu của các suối Krông Bak
(bắt nguồn từ dãy hàm rồng trên cao nguyên Đăk Nông), Krông Pach (bắt
nguồn từ dãy núi phía Tây tỉnh Khánh Hoà), Krông Bông (bắt nguồn từ các
dãy núi phía Đông Nam của Đăk Nông) Chiều dài sông chính khoảng
250km
tức là giá trị mođun dòng chảy khoảng 25,5 l/s.km2
1.4.2 Hệ thống sông Đồng Nai
Hệ thống sông Đồng Nai bắt nguồn từ địa phận tỉnh Lâm Đồng Lưu
vực của các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai chiếm phần Tây Nam của
tỉnh Các nhánh chính gồm Đăk Til, Đăk Nông, Đăk Rung với tổng diện tích
Trang 15Chế độ dòng chảy của sông suối ở Đăk Nông phụ thuộc vào chế độ
mưa, địa hình Mùa lũ và mùa kiệt của từng lưu vực sông chênh nhau chút ít
Mùa kiệt thường từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau Mùa lũ thường từ tháng 7
đến tháng 11 hàng năm Vào mùa lũ lưu lượng các sông tăng lên khá mạnh,
có thể gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần lưu lượng mùa kiệt
Chất lượng nước các sông ở Đăk Nông có đặc trưng: Nước thường có
độ tổng khoáng hoá nhỏ (M < 1g/l), thuộc loại siêu nhạt, độ đục nhỏ Thành
phần hoá học của nước sông, hồ khá tốt Nước thuộc loại bicarbonat - clorua
- natri - canxi hoặc natri - magie - canxi, có phản ứng trung tính
22 25 50 30
3 66 07
, 0
) (Na K Mg Ca pH
Cl HCO M
21 25 48 26
3 71 08
, 0
) (Na K Ca Mg pH
Cl HCO M
1.5 Đặc điểm giao thông, dân cư, kinh tế - xã hội
Tỉnh Đăk Nông có hệ thống giao thông phát triển Quốc lộ 14, quốc lộ
28 nối Đăk Nông với các trung tâm trong vùng như Buôn Ma Thuột – Đăk
Lăk, Đà Lạt – lâm Đồng, Pleiku – Gia Lai…và các trung tâm kinh tế lớn khác
như thành phố Hồ Chí Minh, Thủ Dầu Một – Bình Dương, Đồng Xoài – Bình
Phước…Ngoài ra còn các đường tỉnh lộ, đường mòn nối liền các khu vực
trong tỉnh và thông thương giữa tỉnh với nước bạn Campuchia Với hệ thống
giao thông phát triển này rất thuận lợi cho công tác khảo sát, điều tra địa chất
thuỷ văn trong vùng
Tỉnh có dân số khoảng 385.800 người, trong đó nông thôn chiếm
87,1%, thành thị chiếm 12,9% Mật độ dân cư là 59 người/ km2 Dân cư tập
trung đông ở các trung tâm và rất thưa thớt ở những vùng sâu
Trang 16Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Đăk Nông có diện tích đất canh tác màu mỡ, chủ yếu là đất bazan,
thuận lợi trồng các cây công nghiệp như cà phê, cao su, hồ tiêu,…Tỉnh cũng
rất giàu về trữ lượng khoáng sản, đặc biệt là quặng bauxit để sản xuất nhôm
Công nghiệp của tỉnh hiện đang từng bước phát triển, nhất là các ngành khai
khoáng và chế biến
Năm 2005 GDP bình quân dầu người của tỉnh là 370USD/người Tỷ
trọng công nghiệp là 17,8%, dịch vụ tăng từ 6,9% lên 24,4%, nông nghiệp
giảm từ 78,9% xuống 57,8% Nhìn chung, sau khi tách tỉnh kinh tế Đăk Nông
đang dần phát triển, kéo theo sự phát triển về văn hoá, giáo dục và khoa học,
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, thăm dò, tìm kiếm nước dưới
đất
sinh sống Nền văn hoá cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc như pho sử
thi truyền miệng Đam San, các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông, tượng
nhà mồ và các loại nhạc cụ như đàn đá, chuông đá, đàn T’Rưng, đàn Klông
pút, đàn nước, kèn, sáo, cồng, chiêng
Trang 17Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử nghiên cứu địa chất của vùng
Cấu trúc địa chất của vùng nghiên cứu đã được nghiên cứu từ lâu nhằm
xác lập và phân chia ranh giới địa tầng, làm rõ đặc điểm kiến tạo, đặc điểm
thạch học của từng địa tầng Tôi phân chia lịch sử nghiên cứu địa chất của
vùng thành hai thời kỳ:
2.1.1 Thời kỳ trước năm 1975
Trước năm 1975 các nhà địa chất người Pháp đã có các công trình
nghiên cứu địa chất bao trùm khu vực thăm dò, cụ thể là:
đến năm 1964 của nhà địa chất E Saurin
của nhà địa chất J Fromaget
thành lập năm 1971 của nhà địa chất H Fontaine
Các công trình này nhìn chung mới nghiên cứu sơ bộ điều kiện địa chất
của cả vùng rộng lớn Do đó kết quả còn rất sơ lược, mới xác lập và phân
chia ranh giới các địa tầng, làm rõ một vài đặc điểm kiến tạo
2.1.2 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
chất của vùng, cụ thể một số công trình sau:
chỉnh lý bản đồ địa chất Miền Nam - Việt Nam năm 1983 của Đoàn Địa chất
500
năm 1989, do Nguyễn Đức Thắng chủ biên
Trang 18Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
- Thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 ở các vùng Quảng Sơn, Đăk
Song, Tuy Đức, Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa, Nhân Cơ, Đạo Nghĩa từ năm
1985 đến năm 1991
Phần địa chất này tôi dựa chủ yếu trên các tài liệu của công trình thành
lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Bến Khế - Đồng Nai Theo các
tác giả của công trình này thì khu vực Đăk Nông là một bộ phận của đới Đà
Lạt, thuộc rìa Tây Bắc Chiếm phần lớn diện tích lộ trong khu vực là các
thành tạo phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng Hệ tầng Túc Trưng này phủ
trùm lên các thành tạo hệ tầng La Ngà và phức hệ magma Cà Ná Bản thân hệ
tầng Túc Trưng này bị các thành tạo hệ tầng Xuân Lộc, thành tạo bở rời Đệ
Tứ phủ trùm lên ở một vài diện tích nhỏ
2.2 Mô tả đặc điểm địa tầng địa chất
Dựa vào những tài liệu đã nghiên cứu về vùng Đăk Nông như đã trình
bày ở trên, địa tầng vùng nghiên cứu có mặt các trầm tích từ già đến trẻ được
mô tả như sau:
GIỚI MESOZOI
Hệ Jura, thống trung
Hệ tầng La Ngà (J2ln)
Các thành tạo hệ tầng La Ngà lộ ra với diện tích đáng kể ở các vùng
Cư KNia, Đăk Sôr, Nam Đà, Nam Nung, Đức Xuyên, Quảng Sơn, Đăk
R’Măng Ngoài ra còn lộ rải rác ở những nơi tầng phủ bazan bị bóc mòn
Các thành tạo hệ tầng La Ngà bị các đá bazan xâm nhập phức hệ Định
Quán, Cà Ná xuyên cắt gây biến chất tiếp xúc với mức độ khác nhau Ở
những nơi gần khối xâm nhập kích thước lớn, thường gặp các đá biến chất
cao tướng sừng horblen và xa hơn thường gặp các đá biến chất thấp sericit
hoá
Trang 19- Phần dưới cùng là bột kết màu xám đen dạng phân dải và sét kết màu
đen, xen các lớp mỏng cát kết, cát bột kết, bột kết màu xám đen có chứa di
tích thực vật
- Phần giữa gồm bột kết phân lớp mỏng, xen đá phiến sét và lớp mỏng
sét kết màu đen có vảy mica dạng sọc dải Trong bột kết có chứa vụn thực
vật
- Phần trên cùng là cát kết hạt vừa đến mịn màu xám, xen bột kết màu
xám, cát bột kết màu vàng và lớp mỏng sét kết màu đen, cát kết màu xám
Các thành tạo hệ tầng La Ngà bị các thành tạo bazan hệ tầng Túc
Trưng tuổi Pliocen – Pleistocen hạ phủ không chỉnh hợp lên trên Mặt khác
chúng bị xâm nhập phức hệ Định Quán tuổi Jura thượng, phức hệ Cà Ná tuổi
Kreta thượng xuyên qua Hệ tầng La Ngà được xác định tuổi Jura trung
Bề dày của hệ tầng thay đổi từ 700m đến 800m
GIỚI KAINOZOI
Hệ Neogen, thống Pliocen - Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen hạ
Hệ tầng Túc Trưng (N2 - Q1
1tt)
Các thành tạo phun tào bazan hệ tầng Túc Trưng lộ trên 6570% tổng
diện tích tỉnh Đăk Nông, bao gồm phần lớn trường bazan Đăk Nông và các
diện phủ nhỏ rải rác tạo nên địa hình dạng vòm phủ ở độ cao khoảng từ 700m
trở lên Chúng phủ trực tiếp trên bề mặt bào mòn của hệ tầng La Ngà
bazan olivin - augit, bazan olivin-augit - plagioclas, bazan olivin - plagioclas
Gồm các phần chuyển tiếp lên nhau như sau:
- Phần dưới phổ biến là bazan olivin, bazan olivin – augit, bazan olivin
– augit – plagioclas, trên mặt bị phong hoá thành đất màu đỏ Bề dày của
phần này khoảng 7080m
olivin Bề dày của phần giữa khoảng 90140m
Trang 20Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
- Phần trên chủ yếu là bazan pyroxen, bazan olivin – augit – plagioclas,
bazan olivin – augit Từ dưới lên trên phần này gồm các đới: Đới bazan
phong hoá dở dang, nứt nẻ dạng cầu, chiều dày từ 45m; Đới tiếp trên là đới
sét, sét loang lổ có các kết vón laterit, dày từ 2530m; Đới tiếp trên là đới sét
có chứa sạn sỏi laterit bauxit, dày từ 515m; Đới trên cùng là đới thổ
nhưỡng, dày từ 12m
Đá bazan hệ tầng Túc Trưng thường có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, màu
sắc từ xám, xám đen đến đen Đá cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ rỗng, hạnh
nhân Kiến trúc phổ biến là porphyr với nền đolerit, gian phiến Thành phần
(1020%), olivin (45%), paragonit, titanomagnetit, aragonit và thuỷ tinh
núi lửa
Các khoáng sản cần chú ý trong hệ tầng Túc Trưng ngoài laterit bauxit
còn đá quý saphia, rubi, zircon, vật liệu xây dựng
tầng La Ngà và bị các thành tạo hệ tầng Xuân Lộc phủ lên Dựa vào quan hệ
địa chất, hệ tầng Túc Trưng được xếp vào tuổi Pliocen – Pleistocen hạ
Bề dày của hệ tầng Túc Trưng từ 200m đến gần 300m
Hệ Đệ Tứ, thống Pleistocen trung
Hệ tầng Xuân Lộc (Q2
1xl)
Hệ tầng Xuân Lộc gồm các đá bazan lộ ra tập trung ở khu vực Đăk
Mil, Buôn Choah, gắn bó chặt chẽ với cấu trúc núi lửa dưới dạng vòm phủ,
nằm không khớp lên trên bề mặt bào mòn các thành tạo hệ tầng La Ngà và
bazan hệ tầng Túc Trưng có trước
Thành phần của hệ tầng Xuân Lộc, ngoài các đá phun trào dưới dạng
dòng chảy còn một khối lượng lớn các vụn tuf núi lửa Các thành tạo này
gồm hai phần:
Trang 21- Phần dưới là các tro núi lửa màu xám nâu đến đen, đôi nơi có tuf xen
các lớp bazan olivin – augit, bazan olivin – augit – plagioclas, cấu tạo lỗ
hổng
- Phần trên là bazan olivin, bazan đolerit, plagiobazan màu đen, lục
xám, ít hơn là các dăm tuf, bom và xỉ núi lửa Bazan này khi phong hoá
thường tạo nên lớp vỏ laterit cứng chắc
Bazan hệ tầng Xuân Lộc phủ trực tiếp trên bazan hệ tầng Túc Trưng,
một số nơi phủ lên bề mặt bào mòn của các thành tạo hệ tầng La Ngà Và
chúng bị phủ bởi các bồi tích Holocen, do đó các đá bazan hệ tầng Xuân Lộc
được xếp vào tuổi Pliestocen trung
Bề dày của bazan hệ tầng Xuân Lộc khoảng từ 100m đến 120m
Hệ Đệ Tứ, thống Holocen (Q 2 )
Các trầm tích sông tuổi Holocen hạ - trung (aQ1 2
2 ): Phân bố dưới dạng
các tích tụ bở rời ven phần cao sông Đăk Nông, tạo thành thềm sông bậc 1 có
độ cao 610m Thành phần gồm cát, sét, bột màu loang lổ và kết vón laterit
Chiều dày của các trầm tích này khoảng 56m
Các trầm tích sông - đầm lầy tuổi Holocen trung - thượng (abQ2 3
2
):
Phân bố dọc các thung lũng sông Đăk Nông, Krông Ana, Krông Pach tạo
thành các trũng lầy thấp, dài hàng chục km, rộng từ 14km Thành phần gồm
cát, bột, sét, đôi chỗ có than bùn và sét than Bề dày của các trầm tích này
thường thay đổi từ 0,53m đến vài chục mét
Các trầm tích sông tuổi Holocen thượng (aQ3
2): Thường tạo nên các
bãi cát ven lòng hoặc bãi bồi, phát triển dọc theo các sông suối trong vùng
Thành phần khá đa dạng gồm cát thạch anh, cuội sỏi của đá cát kết, đá biến
chất, đá phiến granitoit, đá phun trào, độ mài mòn kém đến trung bình Các
bãi bồi, bãi cát này cao khoảng 13m với bề dày trung bình từ 12m
Các trầm tích sông hệ Đệ Tứ không phân chia (aQ): Các trầm tích này
phân bố dọc các thung lũng sông Krông Pach, Krông Ana…Thành phần
Trang 22Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n thạch học gồm cuội, cát, sạn của các đá granit, đá phiến, bột kết thạch anh
Bề dày của chúng trung bình khoảng 210m
2.3 Các thành tạo magma xâm nhập
nhập axít và trung tính, được phân thành 2 phức hệ với các đặc trưng cơ bản
khác nhau:
2.3.1 Phức hệ Định Quán ( J 3 dq)
lớn khoảng một vài km2, phân bố rải rác ở khu vực Đăk R’Lấp, Đăk R’Măng
Thành phần gồm điorit, gabro điorit, biotit horblen, gabro điorit horblen Đá
hạt trung màu xám trắng đốm đen
thạch anh (1731%), biotit (713%), horblen (38%), pyroxen (07%);
khoáng vật phụ gồm apatit, zircon, sphen
chất tiếp xúc và bị phủ bởi bazan hệ tầng Túc Trưng Chúng được xếp vào
tuổi Jura thượng
2.3.2 Phức hệ Cà Ná ( K 2 cn)
Các thành tạo xâm nhập phức hệ Cà Ná chỉ lộ ở Đăk Song và một vài
khối nhỏ phân bố rải rác Lớn hơn cả là khối Đăk Song có diện tích 170km2,
gồm hai pha xâm nhập chính:
- Pha 1 ( K2cn1): Chiếm hầu hết khối Đăk Song, bao gồm granit biotit
giàu thạch anh và có muscovit, granit hai mica Đá hạt vừa đến thô sáng màu,
cấu tạo khối hoặc dạng porphyr Thành phần khoáng vật gồm plagioclas
(1525%), felspat kali (3545%), thạch anh (3040%), biotit (36%),
Trang 23muscovit (03%) Khoáng vật phụ gồm zircon, apatit, granat, tuamalin Kiến
trúc của đá hạt nửa tự hình, đôi khi có dạng porphyr
- Pha 2 ( K2cn2): Lộ khối nhỏ ở phía Đông Bắc với diện tích khoảng
gồm các đá granit hai mica, granit alaskit, granit granophyr Đá sáng màu, hạt
nhỏ, cấu tạo khối hoặc dạng porphyr Thành phần khoáng vật gồm plagioclas
(1724%), felspat kali (4152%), thạch anh (3640%), muscovit (25%),
biotit (23%) Khoáng vật phụ có zircon, apatit, sphen, granat, tuamalin và
fluorit
Các đá thuộc phức hệ Cà Ná xuyên cắt và gây biến chất, sừng hoá
mạnh mẽ các thành tạo hệ tầng La Ngà ở rìa tiếp xúc, có liên quan đến các
biểu hiện khoáng sản vàng, thiếc, vonfram…Các đai mạch không phân chia
gồm các đai mạch thạch anh, pegmatit, lamporphyr…chúng có dạng mạch
hoặc thấu kính nhỏ có kích thước 15m, phân bố rải rác hoặc tập trung dọc
theo các đứt gãy, xuyên theo các lớp đất đá hệ tầng La Ngà Do đó phức hệ
Cà Ná được xếp vào tuổi Kreta thượng
2.4 Các hệ thống đứt gãy
2.4.1 Hệ thống đứt gãy Đông Bắc – Tây Nam
từ Quảng Tín đến Đức Mạnh, chiều dài trên 60km và còn phát triển ra ngoài
diện tích vùng nghiên cứu ở cả hai phía Đứt gãy có mặt trượt nghiêng về Tây
Bắc, góc dốc 8085o Phần lớn đứt gãy bị che khuất dưới tầng phủ bazan
Cánh Tây Nam của đứt gãy là cánh sụt và cánh Đông Bắc là cánh nâng
Đăk Hà đến Quảng Sơn, chiều dài trên 64km và còn tiếp tục phát triển ra
ngoài cả hai phía Đứt gãy chia cắt và gây dịch chuyển dạng trượt bằng phải
trong các đá trầm tích hệ tầng La Ngà Đứt gãy có mặt trượt nghiêng về Tây
Trang 24Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n Bắc, dốc 7580o Các đứt gãy kéo theo dạng bậc thang làm mở rộng đới dập
vỡ hàng trăm mét
2.4.2 Hệ thống đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam
Đại diện cho hệ thống đứt gãy này là đứt gãy Đăk Nông – Đức Minh
Đứt gãy kéo dài trên 45km, có mặt trượt dốc 7580o, nghiêng về Tây Nam
với cánh Tây Nam là cánh sụt và cánh Đông Bắc là cánh nâng Chính điều
này đã làm cho địa hình có tính chất dạng bậc từ Tây Nam đến Đông Bắc
2.5 Khoáng sản
2.5.1 Quặng bauxit
Đăk Nông gồm 8 mỏ bauxit: Mỏ 1 – 5, mỏ Quảng Sơn, mỏ Nhân Cơ, mỏ
Đạo Nghĩa, mỏ Gia Nghĩa, mỏ Bắc Gia Nghĩa, mỏ Tuy Đức, mỏ Đăk Song
Tất cả quặng của các mỏ là quặng bauxit laterit, phong hoá từ đá bazan hệ
tầng Túc Trưng
Bảng 2.1 Tổng hợp trữ lượng quặng bauxit khu vực Đăk Nông
(Số liệu đánh giá năm 1990)
TT Tên mỏ Diện tích (km 2 )
Chiều dày trung bình (m)
Độ thu hồi tinh quặng (%)
Trữ lượng tinh quặng (tấn)
Trang 252.5.2 Quặng vàng
huyện Đăk GLong
Toạ độ: 107o04'47'' kinh độ Đông
12o13'30'' vĩ độ Bắc
Điểm quặng bao gồm tập hợp các mạch, thấu kính thạch anh sunfua –
vàng, có bề dày 0,81m, chiều dài từ 50140m, thế nằm 250 50 Khoáng
vật quặng pyrit, chalcopyrit và vàng Hàm lượng vàng là 1,21,8g/t Công
tác nghiên cứu ở mức độ khảo sát sơ bộ
- Vàng sa khoáng Đăk R’Mong: Dọc theo sông Đăk R’Mong và các
chi lưu, vàng tồn tại trong các trầm tích bở rời thuộc thềm bậc 1, bãi bồi và
trầm tích lòng Vàng tập trung ở lớp cuội sỏi hạt thô, chiều dày thay đổi từ
0,11m Trong các mẫu đãi trọng sa gặp vàng từ 1025hạt Hạt vàng kích
khoáng này
2.5.3 Kaolin
15km Mỏ kaolin này đã được làm rõ trong đề án “Đánh giá triển vọng kaolin
và các khoáng sản khác vùng Đăk Hà, Khiêm Đức – Đăk Nông” do Đoàn Địa
chất 506 thuộc Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ thi công
hạt 0,002 chiếm > 37,8%, chỉ số dẻo 14%, giới hạn chảy trung bình là
(19,9124,69%), TiO2 (0,06%), Fe2O3 (1,61,68%), MgO (0,61,61%),
CaO (0,421,75%), Na2O (0,16%), K2O (3,553,73%), SO3 < 0,01% Trữ
lượng dự báo khoảng 20 triệu m3, quy mô thuộc loại lớn
Trang 26Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
2.5.4 Đá ốp lát
Glong, có toạ độ HN – 72 là X = 1.324.264, Y = 472.241 Đây là loại đá có
cấu tạo lăng trụ, có giá trị trong một số lĩnh vực xây dựng và trang trí theo
dạng khối tự nhiên, hiện đang được thị trường trong và ngoài nước quan tâm
Đá bazan lăng trụ lộ ra trên diện tích 500300m2 Đường kính các trụ
đá phổ biến từ 0,40,6m, đôi khi đạt 0,8m, chiều dài > 5m Đây là các đá
bazan olivin màu đen, đẹp, cấu tạo đặc sít, kiến trúc ban trạng Thành phần
gồm plagioclas (70%), pyroxen (25%) Đặc tính cơ lý đá là dung trọng
2,84g/cm3, tỷ trọng 2,91g/cm3, độ rỗng 2,08%, độ hút nước 0,56, cường độ
nén 1240kG/cm2, cường độ kháng nén 1180 kG/cm2, hệ số hoá mềm 0,95 Độ
bóng của sản phẩm có thể đạt > 7080% Trữ lượng dự báo là 37.500 trụ
2.5.5 Nước khoáng
Điểm nước khoáng carbonic thuộc xã Đăk Mol huyện Đăk Mil Tại lỗ
khoan số 809 của Đoàn Địa chất 701, ở độ sâu 128m gặp nước khoáng nóng
Nước có áp lực phun cao trên mặt đất 18m, lưu lượng Q = 25 l/s, bão hoà khí
CO2 Trữ lượng dự báo 840m3/ngày, khí CO2 là 9,5t/ngày
Trang 27Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN VÙNG NGHIÊN CỨU
3.1 Lịch sử nghiên cứu địa chất thuỷ văn vùng Đăk Nông
Trên vùng cao nguyên bazan Đăk Nông từ năm 1980 đến nay, Liên
đoàn ĐCTV – ĐCCT Miền Trung đã tiến hành một số công trình tìm kiếm,
khai thác nước dưới đất và lập bản đồ Địa chất thuỷ văn như sau:
- Báo cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Đăk Mil năm 1983
- Khoan, thí nghiệm, đánh giá trữ lượng nguồn nước khoáng Đăk Mol
Như vậy so với diện tích cao nguyên Đăk Nông thì các vùng điều tra
còn ít, một số vùng mới nghiên cứu ở tỷ lệ 1:200.000 Kết quả điều tra của
các công trình nêu trên mới mang tính đánh giá tổng quát về điều kiện địa
chất thuỷ văn và tài nguyên nước dưới đất trên cao nguyên Đăk Nông
Đặc điểm địa chất thuỷ văn vùng Đăk Nông được miêu tả dựa trên cơ
sở tổng hợp, chỉnh lý các kết quả điều tra, nghiên cứu địa chất thuỷ văn của
các vùng và điều tra bổ sung về hiện trạng khai thác, sử dụng nước ngầm trên
diện tích toàn tỉnh Đặc điểm địa chất thuỷ văn của vùng nghiên cứu được thể
hiện theo dạng tồn tại của nước dưới đất Nghĩa là, phân chia các thành tạo
địa chất theo đặc điểm và tính chứa nước, dẫn nước thành các đơn vị địa chất
thuỷ văn theo dạng tồn tại và khả năng chứa nước Cụ thể từ trên xuống dưới
vùng nghiên cứu có các đơn vị địa chất thuỷ văn như sau:
bazan Pleistocen trung, hệ tầng Xuân Lộc (Q2
1 xl)
Trang 28Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
- Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong các thành tạo phun trào
bazan Pliocen - Pleistocen hạ, hệ tầng Túc Trưng (N2 - Q1
3.2 Mô tả địa tầng địa chất thuỷ văn
3.2.1 Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen (Q 2 )
Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen gồm những thành
tạo bở rời nguồn gốc sông, phân bố dọc theo các suối Đăk Rung, Đăk Nông,
Đăk Til, Krông Nô, các trũng thấp với tổng diện tích khoảng 40km2
sét, cuội sỏi Chiều dày nhỏ hơn 10m
Nước trong các thành tạo tầng chứa nước này thuộc loại nước không
áp, tồn tại chủ yếu trong các lớp cát lẫn cuội, sỏi và có quan hệ mật thiết với
nước sông Tài liệu khảo sát cho thấy nước ít xuất lộ, lưu lượng thay đổi từ
0,08 đến 0,85 l/s, thường gặp từ 0,35 đến 0,40 l/s Chưa có lỗ khoan thí
nghiệm nào trong tầng chứa nước này
Kết quả phân tích thành phần hoá học cho thấy nước thuộc loại siêu
nhạt, độ tổng khoáng hoá từ 0,027 đến 0,089g/l Loại hình hoá học chủ yếu
của nước là bicarbonat – clorua Độ pH thay đổi từ 6,6 đến 7,6
Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước chủ yếu là nước mưa, nước sông
suối Miền thoát là mạng xâm thực địa phương và thấm xuống các tầng chứa
nước phía dưới
bố hẹp, chiều dày mỏng, thuộc loại nghèo nước không có ý nghĩa trong cung
cấp nước
Trang 293.2.2 Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong các thành tạo phun trào
bazan Pleistocen trung, hệ tầng Xuân Lộc (Q2
1 xl)
Tầng chứa nước phân bố ở khu vực Đăk Mil, tạo thành dải hình vành
khuyên theo quốc lộ 14 với chiều dài khoảng 16km, rộng từ 2,5km đến 4km
và diện tích khoảng 50km2
bazan đặc sít Đá cấu tạo khối, nứt nẻ không đều Phần trên bị phong hoá triệt
để tạo thành sét, bột màu đỏ lẫn ít sạn sỏi laterit, chiều dày thay đổi từ 5m
đến 25m, thường gặp từ 7m đến 10m Bề dày tầng chứa nước khoảng từ 52m
đến 120m
Nước dưới đất thuộc loại nước không áp, đôi nơi có áp lực cục bộ
khoan thí nghiệm trong tầng chứa nước này có 3 lỗ khoan rất nghèo nước
(chiếm 37,5%), 4 lỗ khoan nghèo nước (chiếm 50%) và 1 lỗ khoan chứa nước
trung bình (chiếm 12,5%) Hệ số thấm K của tầng chứa nước thay đổi từ 0,02
đến 0,5m/ngày, thường gặp 0,1 đến 0,4m/ngày Như vậy có thể nói tầng chứa
nước này thuộc loại rất nghèo đến nghèo nước
nước cho thấy nước có độ tổng khoáng hoá thay đổi từ 0,06 đến 0,32g/l,
thường gặp từ 0,15 đến 0,3g/l, thuộc loại siêu nhạt đến nhạt Loại hình hoá
học chủ yếu của nước là bicarbonat – natri, clorua – bicarbonat – natri
Trang 30Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Bảng 3.1 Kết quả hút nước thí nghiệm trong tầng chứa nước Xuân Lộc
Lưu lượng
Q l/s
Trị số
hạ thấp mực nước S(m)
Tỷ lưu lượng
q l/s.m
Hệ số thấm
K m/ng
Độ khoáng hoá M g/l
Loại hình hoá học nước
(Nguồn: Nước dưới đất khu vực Tây Nguyên, Cục Địa chất và khoáng sản)
Tại khu vực lỗ khoan ĐM801 và ĐM802 có hiện tượng tụt mực nước
không nên khoan sâu quá 100m
Động thái của nước dưới đất trong tầng chứa nước biến đổi rõ rệt theo
chậm hơn chu kỳ mưa từ 1,5 đến 2 tháng Độ chênh giữa mực nước hai mùa
trung bình là 2,44m
Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước chủ yếu là nước mưa rơi trực tiếp
trên phần lộ, ngấm từ tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen nằm trên
Nguồn thoát là thấm không đáng kể ra dòng mặt và ngấm xuống các tầng
chứa nước bên dưới
Tầng chứa nước này tuy có bề dày lớn song diện phân bố hẹp, độ chứa
nước kém nên chỉ có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước với quy mô nhỏ
3.2.3 Tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong các thành tạo phun trào
bazan Pliocen – Pleistocen hạ, hệ tầng Túc Trưng (N 2 - Q1
1tt)
Trang 31Tầng chứa nước hệ tầng Túc Trưng phân bố rộng khắp trên toàn cao
nguyên Đăk Nông, chúng chỉ bị phun trào bazan hệ tầng Xuân Lộc phủ lên ở
khu vực thị trấn Đăk Mil và một số diện tích nhỏ bị phủ bởi trầm tích
Holocen
Cấu tạo của tầng chứa nước là: Phần trên cùng là bazan phong hoá triệt
để thành sét, bột lẫn sạn sỏi laterit chứa bauxit, chiều dày từ 1013m Phần
dưới là bazan phong hoá dở dang, tiếp đến là bazan chưa bị phong hoá có cấu
tạo đặc sít xen lỗ hổng, nứt nẻ không đều Chiều dày của các thành tạo phun
trào bazan thay đổi từ 23,8m (ĐN19) đến 302m (ĐN4), thường gặp khoảng
100200m
Nước trong tầng chứa nước thuộc loại nước không áp, đôi nơi có áp
lực cục bộ Mực nước tĩnh phụ thuộc nhiều vào độ cao địa hình và thay đổi
trong phạm vi rộng Vùng Đăk Mil mực nước nằm sâu dưới mặt đất, thường
thường gặp nhỏ hơn 10m
Kết quả thí nghiệm lỗ khoan cho thấy khả năng chứa nước của tầng
chứa nước thay đổi rất lớn từ rất nghèo đến rất giàu Trong số 25 lỗ khoan
nghiên cứu có 4 lỗ khoan thuộc loại rất nghèo nước (chiếm 16%), 12 lỗ
khoan thuộc loại nghèo nước (chiếm 48%), 6 lỗ khoan thuộc loại trung bình
(chiếm 24%), 2 lỗ khoan thuộc loại giàu nước (chiếm 8%) và 1 lỗ khoan
thuộc loại rất giàu nước (chiếm 4%) Lộ trình khảo sát đã phát hiện khá nhiều
điểm lộ và chùm điểm lộ Các điểm lộ thường chảy từ bazan nứt nẻ và phong
hoá dạng cầu Trong số 273 điểm lộ khảo sát có 27 điểm lộ có lưu lượng <
0,1 l/s (chiếm 9,8%), 161 điểm lộ có lưu lượng từ 0,1 đến 0,5 l/s (chiếm
59%), còn lại 85 điểm lộ có lưu lượng > 0,5 l/s (chiếm 31,2%), có một số
điểm lộ đạt tới 3 l/s Hiện nay các điểm lộ này đang được khai thác sử dụng
cho sinh hoạt và tưới cà phê Như vậy tầng chứa nước hệ tầng Túc Trưng
thuộc loại chứa nước từ nghèo đến trung bình Ta có bảng kết quả hút nước
thí nghiệm hệ tầng Túc Trưng (Nguồn: Nước dưới đất khu vực Tây Nguyên)
Trang 32Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Bảng 3.2.Kết quả hút nước thí nghiệm tầng chứa nước hệ tầng Túc Trưng
Lưu lượng
Q (l/s)
Trị số hạ thấp mực nước
S (m)
Tỷ lưu lượng
q (l/s.m)
Hệ số thấm K(m/ngày)
Hệ số nhả nước
Độ khoáng hoá
M (g/l)
Loại hình hoá học nước
Trang 33Nước trong các thành tạo phun trào hệ tầng Túc Trưng thường không
màu, không mùi, vị nhạt Độ khoáng hoá thay đổi từ 0,03g/l đến 0,5g/l,
thường gặp từ 0,2g/l đến 0,3g/l, thuộc loại nước nhạt đến siêu nhạt Nước chủ
yếu thuộc kiểu bicarbonat – natri, bicarbonat – clorua – natri Độ pH từ 6,8
đến 8,03 Kết quả phân tích mẫu nước vi lượng, phóng xạ, vi trùng cho thấy
chúng đều có hàm lượng nhỏ đảm bảo chất lượng cung cấp cho ăn uống và
sinh hoạt
Động thái của nước thay đổi theo mùa, biên độ dao động mực nước
giữa hai mùa thay đổi từ 0,82m (ĐN28) đến 2,39m (ĐN16)
Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước chủ yếu là nước mưa rơi trực tiếp
ở phần lộ, thấm từ tầng chứa nước phía trên xuống Nguồn thoát là thấm ra
các sông suối trong vùng qua các điểm lộ, thấm xuống tầng chứa nước hệ
tầng La Ngà bên dưới
Tầng chứa nước này có diện phân bố rộng, chiều dày lớn, mức độ chứa
nước trung bình, chất lượng tốt Do đó nước của tầng chứa nước này có khả
năng đáp ứng cung cấp nước tập trung quy mô vừa đến lớn
3.2.4 Tầng chứa nước khe nứt - vỉa trong các thành tạo trầm tích Jura
trung, hệ tầng La Ngà (J 2 ln)
Tầng chứa nước này lộ chủ yếu ở phía Đông (khu mỏ Quảng Sơn) và
một vài chỏm nhỏ ở trung tâm vùng với diện tích khoảng 50km2, còn lại bị
phun trào bazan và trầm tích Holocen phủ lên
trầm tích này lớn hơn 500m
Nước dưới đất của tầng chứa nước chủ yếu tồn tại trong các khe nứt và
đới phong hoá, thuộc loại nước không áp Trong vùng chỉ có 1 lỗ khoan thí
nghiệm, theo tài liệu khoan, hút nước thí nghiệm của lỗ khoan này thì tầng
chứa nước hệ tầng La Ngà có mực nước tĩnh nằm sâu dưới mặt đất 2,4m, lưu
lượng Q = 0,47 l/s, tỷ lưu lượng q = 0,03 l/s.m, hệ số thấm K = 0,03m/ngày
Kết quả khảo sát 14 mạch lộ cho thấy nước xuất lộ dưới dạng chảy xuống,
Trang 34Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n lưu lượng thay đổi từ 0,1 đến 0,23 l/s, thường gặp là từ 0,1 đến 0,15 l/s Như
vậy tầng chứa nước này thuộc loại nghèo nước
Kết quả phân tích nước lấy từ các điểm lộ và lỗ khoan cho thấy độ
tổng khoáng hoá của nước trong tầng chứa nước này dao động từ 0,1g/l
(mạch lộ) đến 0,13g/l (lỗ khoan), độ pH dao động từ 6,9 đến 7,57, chất lượng
nước tốt Loại hình hoá học của nước chủ yếu là bicarbonat – natri,
bicarbonat – clorua
Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước là nước mưa rơi trực tiếp ở phần
lộ và nước thấm từ các tầng chứa nước phía trên
nước kém, ít có ý nghĩa trong cung cấp nước
3.2.5 Các thành tạo magma xâm nhập rất nghèo nước và không chứa
nước, phức hệ Cà Ná ( K 2cn)
Các thành tạo này lộ ra dạng những khối nhỏ phân bố rải rác ở khu vực
Đăk R’Lấp, Đăk R’Măng, Đăk Song
điorit, gabrodiorit, biotit horblen, gabrodiorit horblen phức hệ Định Quán
Đá cấu tạo khối, ít nứt nẻ, khả năng chứa nước kém Phần trên đá bị
phong hoá mềm bở với chiều dày nhỏ, thường gặp từ 0,5 đến 4m Đới phong
hoá này có thể tàng trữ nước nhưng thường cạn về mùa khô
Trong quá trình khảo sát đã phát hiện 9 điểm lộ nước, nước chảy ra
dưới dạng thấm rỉ, lưu lượng mạch lộ nhỏ hơn 0,1 l/s, thuộc loại rất nghèo
nước
Trang 35Chương 4 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ TRỮ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
4.1 Đánh giá chất lượng nước
4.1.1 Chất lượng nước mặt
Theo các tài liệu đã nghiên cứu trước đó tại vùng Đăk Nông, tôi đã tổng hợp kết quả phân tích nước mặt vào bảng sau:
Bảng 4.1 Kết quả phân tích các chỉ tiêu hoá lý toàn phần
và vi sinh nước mặt vùng Đăk Nông
Trạm 24S.S Cơ
Ho
Trạm 10S.S
Ea Krông
Trạm 9S.S Ea Krông
Trạm ĐăkNông
Trang 36Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Từ các kết quả phân tích mẫu nước tại suối Cơ Ho, suối Ea Krông,
sông Đăk Nông, so sánh với tiêu chuẩn 1329/2002 của Bộ Y Tế, tôi thấy:
Nguồn nước mặt trong vùng Đăk Nông có chất lượng tương đối tốt, chỉ có
một số ít mẫu có độ pH và hàm lượng sắt tổng vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Nước mặt Đăk Nông có thể sử dụng cho tưới, xây dựng và công nghiệp
Tuy nhiên lưu lượng và chất lượng nước mặt thay đổi theo mùa, do đó
việc đánh giá chất lượng nước chỉ có ý nghĩa tại thời điểm lấy mẫu phân tích
4.1.2 Chất lượng nước dưới đất phục vụ cấp nước sinh hoạt
Để đánh giá chất lượng nước dưới đất, tôi sử dụng tiêu chuẩn Việt
Nam (TCVN 5502 - 2003), tiêu chuẩn của Bộ Y Tế theo quyết định số
1329/2002 ngày 18/04/2002
Bảng 4.2 Bảng chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước cho cấp nước sinh hoạt
STT Tên chỉ tiêu Đơn vị
Trang 37Theo các tài liệu đã nghiên cứu trước đó, tại vùng Đăk Nông mới chỉ
lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu nhiễm bẩn, hoá toàn phần và vi lượng trong
tầng chứa nước Túc Trưng Mặt khác như đã trình bày trong chương 3, tầng
chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong các thành tạo phun trào bazan hệ tầng Túc
Trưng là tầng chứa nước triển vọng nhất, có thể đáp ứng cung cấp nước tập
trung quy mô vừa đến lớn Do đó, trong phần đánh giá chất lượng này tôi chỉ
đánh giá chất lượng nước tầng chứa nước Túc Trưng Kết quả phân tích các
chỉ tiêu nhiễm bẩn, vi lượng và hoá toàn phần của tầng chứa nước này được
Trang 38Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Trang 3983 G-§L83 §¹o NghÜa-§¨kR' LÊp 7,24 0,00 1,23 0,00 0,00 255,70
84 G-§L84 §¹o NghÜa-§¨kR' LÊp 7,08 0,00 2,00 0,00 0,00 184,91
85 G-§L85 §¹o NghÜa-§¨kR' LÊp 8,03 0,00 0,30 0,00 0,00 176,79
86 G-§L86 §¹o NghÜa-§¨kR' LÊp 7,57 0,00 0,15 0,00 0,00 199,55
Trang 40Tr−êng §H Má - §Þa chÊt Bé m«n §Þa chÊt thuû v¨n
Bảng 4.4 Kết quả phân tích vi lượng