413.6 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa bê, nghé bình thường và tiêu 3.9 Hiệu lực của thuốc Bivermectin 1% trong ñiều trị giun ñũa 3.10 Hiệu lực của thuốc Bivermectin 1% trong ñiều trị gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
NGUYỄN VĂN VÂN
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ðŨA
BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN ðÔNG SƠN, TRIỆU SƠN - TỈNH THANH HÓA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS NGUYỄN VĂN THỌ
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ ñể thực hiện luận văn này ñã ñược cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện ựề tài này, tôi ựã nhận ựược sự
quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp ựỡ tận tình của các thầy cô giáo, ựồng
nghiệp, bạn bè; sự ựộng viên khắch lệ của gia ựình ựể tôi hoàn thành luận
văn này Nhân dịp này tôi xin ựược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS -TS Nguyễn Văn Thọ ựã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp ựỡ tôi
trong quá trình hoàn thành luận văn này
đồng thời tôi xin cảm lãnh ựạo UBND huyện đông Sơn, Triệu Sơn và
Trường trung cấp Nông Lâm Thanh Hóa, ựã tạo ựiều kiện, giúp ựỡ tôi trong
quá trình học tập và thực hiện ựề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vân
Trang 5Chương 2 đỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
2.3.1 Nghiên cứu một số ựặc ựiểm dịch tễ bệnh giun ựũa bê, nghé ở hai
huyện đông Sơn và Triệu Sơn của tỉnh Thanh Hóa 28 2.3.2 Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun ựũa 28 2.3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun ựũa bê, nghé 28
3.1 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ đẶC đIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN
đŨA BÊ, NGHÉ Ở 2 HUYỆN đÔNG SƠN VÀ TRIỆU SƠN
3.1.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun ựũa bê, nghé 35 3.2 Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun ựũa bê, ghé 41 3.2.1 Biểu hiện lâm sàng của bê, nghé mắc bệnh giun ựũa 41 3.2.2 Mối liên hệ của tỷ lệ nhiễm với hội chứng tiêu chảy của bê, nghé 42 3.3 Nghiên cứu và ựề xuất quy trình phòng trị bệnh giun ựũa bê nghé 44 3.3.1 Chỉ tiêu sinh lý của bê, nghé trước tẩy và sau tẩy 6 giờ 44 3.3.2 Hiệu lực của Bivermectin 1% ựối với bê, nghé nhiễm Neoascaris
3.3.2 Sự biến ựổi và phát triển của trứng Neoascaris vitulorum trong hố ủ 49 3.3.3 đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun ựũa cho bê, nghé 52
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cs : cộng sự Nxb : Nhà xuất bản
TT : Thể trọng
TN : Thí nghiệm
g : gam
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa ở bê, nghé tại hai huyện
3.2 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa bê nghé theo mùa vụ 373.3 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa bê nghé theo tuổi 383.4 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa bê nghé theo ñịa hình 403.5 Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun ñũa 413.6 Tỷ lệ và cường ñộ nhiễm giun ñũa bê, nghé bình thường và tiêu
3.9 Hiệu lực của thuốc Bivermectin 1% trong ñiều trị giun ñũa
3.10 Hiệu lực của thuốc Bivermectin 1% trong ñiều trị giun ñũa
3.11 Bảng kết quả theo dõi sự tăng nhiệt của hố phân sau ủ 50
3.12 Biến ñổi trứng Neoascaris vitulorum giữ trong ñống ủ 50
3.13 Sự phát triển trứng Neoascaris vitulorum giữ trong ñống ủ ñem
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
1.1 Cấu tạo giun ñũa bê nghé Neoascaris vitulorum 4
3.1 Biểu ñồ tỷ lệ nhiễm giun ñũa bê nghé theo mùa vụ trong năm 38 3.2 Biểu ñồ tỷ lệ nhiễm giun ñũa bê, nghé theo lứa tuổi 40 3.3 Biểu ñồ tỷ lệ nhiễm giun ñũa ở bê, nghé bình thường và tiêu chảy 43
Trang 10MỞ ðẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI
Lượng lẫn chất lượng là một vấn ñề quan trọng, nhằm ñáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng, ổn ñịnh nền kinh tế, góp phần nâng cao ñời sống xã hội Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé ñã gây ảnh hưởng rất lớn ñến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong ñó phảỉ kể ñến bệnh giun ñũa bê nghé
Bệnh giun ñũa bê nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng ñến khả năng sinh trưởng
và phát triển của bê nghé
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), giun ñũa Neoascarisvitulorum gây tiêu
chảy chiếm tỷ lệ cao trong tổng số bê nghé sinh ra, tỷ lệ chết có thể tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh
Bệnh giun ñũa là bệnh khá phổ biến ở bê nghé của nước ta Bệnh thường phát vào vụ ñông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi Bê nghé ở miền núi nhiễm giun ñũa cao hơn trung du và ñồng bằng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), Phan ðịch Lân và cs (2005),
bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong ruột non của bê
nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra, giun ñũa còn tiết ñộc tố làm cho bê nghé bị trúng ñộc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không ñược ñiều trị kịp thời
Thanh Hóa là một tỉnh có ñiều kiện tự nhiên thuận lợi ñể phát triển chăn nuôi trâu bò, bê, nghé Tuy nhiên, trong những năm gần ñây, việc nghiên cứu
về bệnh giun ñũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa ñược chú ý Vì vậy,
bê nghé ở các ñịa phương của tỉnh Thanh Hóa còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây thiệt hại kinh tế ñáng kể Trong mấy năm gần ñây, ñiều kiện tự nhiên và
Trang 11thời tiết khắ hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền trung nói riêng có nhiều biến ựổi điều ựó có thể ảnh hưởng, làm thay ựổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ ựó ảnh hưởng ựến ựặc ựiểm dịch tễ của bệnh
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Thanh Hóa
và những vấn ựề ựề cập ở trên, chúng tôi thực hiện ựề tài:
"Nghiên cứu ựặc ựiểm dịch tễ bệnh giun ựũa bê, nghé ở huyện đông Sơn, Triệu Sơn - tỉnh Thanh Hóa và biện pháp phòng trị"
2 MỤC đÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu ựể bổ sung những thông tin khoa học về ựặc ựiểm dịch tễ học của bệnh giun ựũa bê nghé trong ựiều kiện sinh thái hiện nay
- Xây dựng quy trình phòng chống bệnh giun ựũa bê nghé ựể hạn chế tỷ
lệ nhiễm giun ựũa, giảm thiệt hại do bệnh giun ựũa gây ra, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của ựề tài làm hoàn thiện hơn những thông tin khoa học về bệnh giun ựũa bê nghé tại một số ựịa phương của tỉnh Thanh Hóa, ựồng thời là cơ sở khoa học ựể xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun ựũa cho bê nghé
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của ựề tài là cơ sở ựể khuyến cáo người chăn nuôi trâu bò áp dụng biện pháp phòng trị bệnh giun ựũa cho bê nghé, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun ựũa, hạn chế thiệt hại do giun ựũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA đỀ TÀI
1.1.1 Căn bệnh
Bệnh thường phát vào vụ đông-Xuân ở nghé miền núi do giun Neoascaris vilulorum, thuộc họ Anisakidal ở ruột non bê và nghé Thân giun màu vàng nhạt, ựầu có 3 môi, chân môi tương ựối rộng, thực quản dài 3-4,5 mm nơi nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, ựó là một ựặc ựiểm quan trọng của họ Anisakidae, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau gần ựầu
Giun ựực dài 13-15 cm, rộng nhất 0,35 cm đuôi dài 0,21 -0,46 mm, thon dần, từ phần giữa ựuôi trở xuống có hình ngón tay Trước và sau hậu môn ở phắa bụng có nhiều gai từ 20 ựến 27 cái; ở mặt bụng có 2 hàng, 5 ựôi gai sau hậu môn, trong ựó có một ựôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20mm, có một màng mỏng suốt dọc chiều dài
Giun cái dài 19-23cm, rộng nhất 0,5cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân đuôi hình nón dài 0,37-0,42mm Gần chóp ựuôi có 2 gai bên mặt bụng, ựuôi giống con ựực, có bao phủ nhiều gai
Trứng hơi tròn, màng protit ở ngoài có cấu tạo như tổ ong, kắch thước 0,080 -0,090 x 0,070 - 0,075mm
Trang 13Hình 1.1 Cấu tạo giun ñũa bê nghé Neoascaris vitulorum
(theo MOZGOVOI, DAVTIAN)
a) Miệng: 1- ðỉnh ñầu, 2- Môi phía lưng,
3- Môi phía cạnh giáp bụng
b) ðầu ñuôi: 1- ðoạn ñầu, 2- Gai giao hợp,
3- ðoạn ñuôi con cái (phía cạnh)
c)1 ðoạn thân trước, 2.3 trứng
Theo Davlian (1934-1937), nếu cho bê nuốt trứng giun ñũa gây bệnh sau
43 ngày có thể thấy giun ñũa trưởng thành và còn non ở cơ thể bê Ngoài ra nếu
Trang 14cho bê mẹ trước khi ñẻ 124-192 ngày nuốt trứng giun gây bệnh thì bê ñẻ ra 20-31 ngày trong phân có trứng giun ñũa ðiều này chứng tỏ giun ñũa bê nghé có thể qua máu truyền vào bào thai Thí nghiệm ở chuột bạch, thỏ và bê nghé có thể thấy sau 5-8 giờ ấu trùng ở trứng nở ra, qua 13 giờ nữa ấu trùng có ở gan và phổi
Hình 1.2 Sơ ñồ vòng ñời của Neoascaris vitulorum
+ Tỷ lệ mắc bệnh: Theo thống kê thấy nghé ñẻ ra nhiễm bệnh tới 39,1%,
Trang 15chết 3,8% so với số nghé mắc bệnh
+ Loài vật và tuổi mắc bệnh: N vitubrum chỉ thấy ở bê nghé, trâu bò không mắc Tuổi nghé mắc sớm nhất là 14 ngày (tỷ lệ 23%), muộn nhất là 65 ngày (tỷ lệ 12%), phổ biến là khoảng 20-35 ngày (tỷ lệ 64 %) sau khi ñẻ Tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3-4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trong khoảng 3 tháng, tỷ lệ nhiễm từ 80% giảm xuống còn 2%
1.1.4 Cơ chế sinh bệnh và bệnh tích
Giun ñũa gây tác hại ở bê nghé biểu hiện các mặt sau:
+ Cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương một số khí quan như phổi, gan; giun trưởng thành vít chặt làm tắc ruột non, có khi bị thủng, chui vào ống dẫn mật, gan,
+ ðộc tố: Giun tiết các chất ñộc làm con vật trúng ñộc, bê nghé la lỏng gầy sút, sốt
+ Chiếm ñoạn dinh dưỡng: Giun lấy chất dinh dưỡng của vật chủ làm bê nghé gầy yếu
Mổ khám: xác chết gầy, bệnh tích không rõ lắm
Niêm mạc ruột có tụ máu lấm tấm ñỏ, sữa ñặc lại thành cục, màu trắng không tiêu ở dạ múi khế Bệnh tích chủ yếu là giun ñũa ở ñường tiêu hóa Có nhiều trường hợp có từ 200 ñến 300 con trong ruột non xếp thành 5-6 hàng ở ñoạn tá tràng, vít chặt ruột và hàng nọ nối tiếp hàng kia, có trường hợp còn thấy giun ở các bộ phận khác: dạ cỏ, dạ múi khế, ống dẫn mật
1.1.5 Triệu chứng
Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 8 ngày, phổ biến 11-30 ngày, nghé thường chết vào 7-16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian bệnh tiến triển dài ngắn tùy theo tuổi Sức khỏe con vật, cách nuôi dưỡng
Nghé ốm dáng ñi lù ñù, chậm chạp, ñầu cúi lưng cong, ñuôi cụp, lúc ñầu nghé còn chậm chạp theo mẹ, khi nặng nghé bỏ ăn nằm một chỗ, thở yếu, bụng ñau, nằm ngửa dẫy dụa, ñạp chân lên phía bụng, có khi thấy sôi bụng, nghé gầy sút Lông xù, mắt lờ ñờ, niêm mạc nhợt, mũi khô, hơi thở thối, thân nhiệt cao tới
Trang 1640-410C, khi nghé sắp chết thân nhiệt hạ xuống dưới bình thường.\
Một triệu chứng điển hình là phân màu trắng rất thối Cĩ thể xem phân để chẩn đốn bệnh Khi mới đẻ, phân nghé màu xanh đen, dẻo, hơi tanh, ngày sau phân màu vàng, mùi chua, 3-4 ngày sau phân cứng dần lại, màu đen hơn Nếu nghé mắc bệnh thì phân lổn nhổn hơi táo, màu đen chuyển sang màu vàng sẫm, sau đĩ phân ngả sang màu trắng và lỏng dần, lúc bị nặng thì phân trắng hẳn và lỏng, mùi thối khắm, con vật ỉa vọt cần cẩu, phân dính ở khuỷu chân, chung quanh hậu mơn, nghé gầy sút nhanh
1.1.6 Chẩn đốn
+ Căn cứ triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học: Bệnh thường thấy ở bê nghé, trâu bị khơng bị mắc, chú ý biến đổi của phân, phân trắng, lỏng, khắm + Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng
Muốn nâng cao hiệu quả phương pháp này ta cĩ thể thay Nacl bão hịa bằng các dung dịch bão hịa của một số hĩa chất khác cĩ tỷ trọng lớn hơn Như dung dịch bão hịa sodium hyposulfit (1 lít nước hịa với 1,70g), hoặc dung dịch sodium nitrat (1 lít nước hịa với 1000g), dung dịch magnesum sulfat (1 lít nước hịa với 920g) Tất cả dung dịch trên đây cần giữ ở nhiệt độ 130C, khơng tỷ trọng sẽ giảm đi
+ Mổ khám, tìm giun trưởng thành ở ruột và ấu trùng ở gan và phổi
Trang 17+ Phenothiazin: 0,05g/kg thể trọng, hai lần trong ngày, uống liền trong hai ngày
+ Tinh dầu giun: Liều dùng 30-60ml/con, cho uống
* Phòng trừ
+ Cần tẩy giun cho bê nghé, nhất là bê nghé ở vùng có bệnh
+ Giữ vệ sinh cho nghé và bê: ở chuồng sạch sẽ, khô ráo, ñịnh kỳ làm vệ sinh chuồng trại, phân cần tập trung ủ diệt trứng giun
+ Bồi dưỡng ñầy ñủ cho trâu bò mẹ ñẻ ñủ sức cho con bú, bồi dưỡng cho nghé nhằm nâng cao sức ñề kháng của con vật
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIUN ðŨA
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1 Nghiên cứu căn bệnh giun ñũa bê, nghé
Bệnh giun ñũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn
có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970), Euzeby (1981) nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu - Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cái ở 1/6 trước thân Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) từ năm 1982 - 1988,
về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản Hai tác giả ñã nghiên cứu 7 giun ñũa ñực và 21 giun ñũa cái về hình thái học, cho thấy ñộ dài trung bình của giun ñực là 15,64 cm (14,0 - 18,0 cm), giun cái 25,75 cm (16,5 - 34,0 cm) Thân trắng ñục và mềm Trứng giun dài 81,6µm và rộng 71,8µm, bề mặt
vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo
Prokopic J.và Sterba J.(1989) ñã quan sát giun ñũa Neoascaris vitulorum
trên kính hiển vi ñiện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ
và phần ñuôi, ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên
Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) thì giun ñũa T viturlorum
là ký sinh trùng ñường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể ñến
Trang 1830,00 cm Giun ñũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy ñược các cơ quan nội tạng, trứng giun ñũa có một lớp vỏ dày và trong suốt
1.2.1.2 Nghiên cứu về vòng ñời của giun ñũa bê nghé
Vòng ñời của giun ñũa bê nghé không cần ký chủ trung gian Davtian (1934 - 1937) làm thí nghiệm; cho bê nuốt trứng giun ñũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun ñũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi ñẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì
bê ñẻ ra 20 - 31 ngày trong phân ñã có trứng giun ñũa ðiều ñó chứng tỏ giun ñũa
bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai Ở trâu mẹ thời kỳ chửa ñầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé ñẻ ra ñều bị nhiễm giun qua nhau thai Skjabin và Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng ñến giai ñoạn cảm nhiễm kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt ñộ 28-300C và 17-19 ngày ở nhiệt ñộ 250C
Vichitr Sukhapesna(1 982) ñã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ nhiễm
Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi bê
nghé ñược sinh ra Tác giả cho rằng trâu bò mẹ là nơi chứa mầm bệnh chính làm
cho bê nghé con bị nhiễm S papillosus và N vitulorum Bê nghé ñã bị nhiễm S papillosus qua bú sữa từ trâu bò mẹ và nhiễm N vitulorum qua nhau thai
Nghé ñẻ ra sau 14 ngày ñã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai
Giun ñũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé ñẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặp ñiều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là trứng ñã có sức gây bệnh Sau ñó trứng này lại vào
cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo ñiều kiện nhiệt ñộ và ñộ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau
Theo Soulsby (1965), ở nhiệt ñộ tối ưu 28 - 300C, thời gian này là 7 ngày; ở 250C cần 10 - 11 ngày, ở 15 - 180C cần trên 28 ngày Trứng giai ñoạn
Trang 19cảm nhiễm có chứa ấu trùng, có sức ñề kháng cao với ñiều kiện ngoại cảnh
Galila A.B và cs (1990) cho biết, ở 250C trứng giun ñũa phát triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày Kết quả trên giống với nghiên cứu của Refuerzo và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 270C Nhưng theo báo cáo của Schwartz (1922) là mất 10 - 12 ngày ở 250C ñể phát triển thành trứng chứa ấu trùng Giai ñoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng ñã ñược quan sát thấy ở vào ngày thứ 11 và có 91% trứng ñược phát triển ñến giai ñoạn này vào ngày 15 ngày Tawkif (1970) báo cáo rằng mất 9 ngày ở 26 - 280C ñể phát triển ñến giai ñoạn trứng chứa ấu trùng
Irfan và Sarwar (1954) ñã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển ñến giai ñoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 260C, trứng sẽ bị thoái hoá nếu ñể ở nhiệt
ñộ 300C; ở 100C trứng ngừng phát triển
Euzeby (1981) ñã theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt ñộ 15 – 170c, cần 38 ngày ñể trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh Theo Orlov (1970), ở nhiệt ñộ 300C cần hai tuần, ở nhiệt ñộ 250C cần ba tuần Refuerzo và Jemenez (1954) ñã quan sát sự phát triển của trứng giun ở Philippin cho biết, ở nhiệt ñộ 170C phôi bắt ñầu hình thành vào ngày thứ sáu, hoàn thành vào ngày thứ 9 và có khả năng gây bệnh ở ngày thứ 13 - 15
Trứng giun cảm nhiễm có sức ñề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức ñề kháng cao ñối với một số chất sát trùng
Refuerzo và Jemenez (1954) ñã làm thí nghiệm về sức ñề kháng của trứng giun ñũa ở Philippin, thấy trứng có sức ñề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế; trong nước nóng 90 - 1000C, trứng ñã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị huỷ, nhưng nếu ở trong phân thì chỉ ở lượt ngoài trứng bị hỏng
ðối với một số chất sát trùng thông thường như: Lysol 2%, Zyphen 4 -
Trang 205%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không
bị diệt Phạm Chức (1980) cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun ñũa trong 1 giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút ñến một giờ
Ở bào thai ấu trùng sống trong gan Theo Augustine (1972) và Noda (1954) ấu trùng sống không biến ñổi trong suốt thời kỳ bào thai còn ở trong tử cung Theo Spent (1958), thời kỳ cuối trước khi ñẻ ấu trùng có thể từ gan lên phổi biến thái một lần Nhưng nói chung, ở mọi trường hợp, chỉ sau khi bê nghé ñược ñẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một ñợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như sự di hành của giun ñũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành ñẻ trứng
Trong ñiều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên ñã có thể tìm thấy trứng giun ñũa trong phân Thường tuổi bê, nghé mắc bệnh là 15 - 42 ngày (Boulenger C.L., 1922, Spent, 1946, Keith,1951, Irfan và Sarwar, 1954, Spirestava và Mehre, 1955 ) ðối với một số giun ñũa khác như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt ñầu cảm nhiễm trứng giun ñũa cho ñến khi thành giun trưởng thành có khả năng ñẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé làm người ta nghĩ ñến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai Mặt khác, nhiều thí nghiệm gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi trở lên nuốt trứng giun ñũa có phôi ñều không thành công (Brampt, 1922, Schmidt, 1933) Năm 1935, Davtian
ñã gây bệnh ñược bằng cách cho một bê nuốt trứng giun 2 giờ sau khi ñẻ, sau
ñó 30 ngày xuất hiện trứng trong phân Mổ khám sau khi chết, ngày thứ 43 thấy một giun trưởng thành và 8 giun con
1.2.1.3 Nghiên cứu về dịch tễ bệnh giun ñũa bê, nghé
Bệnh giun ñũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới
Travassos và Lacombe (1959) ñã ñiều tra ở Braxin và cho biết, giun ñũa Neoascaris vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê
Swain G.D (1987) cho biết, ñã kiểm tra 12 nghé ở Ấn ðộ, thấy 4 con có
Trang 21Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột Tripathi J.C (1967)
cũng cho biết, bê nghé ở Ấn độ thường bị giun ựũa ký sinh
Theo Vichitr Sukhapesna (1981), bê nghé nhiễm giun ựũa Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa
Ranatunga (1960) ựiều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy nhiều nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10 - 26 ngày sau khi ựẻ Theo tác giả, tỷ lệ nghé chết về bệnh này còn cao hơn bệnh do cầu trùng gây ra
Muangyai M (1989) thông báo rằng, giun ựũa bê nghé Neoascaris vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho bê ghé
Theo Pandey V.S và cs (1990), kiểm tra phân của 20 bê nghé trong giai ựoạn 15 - 20 ngày tuổi ở ựồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng ựếm ựược từ 257 - 19821 trứng /gam phân
Akyol C.V (1993) cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu trùng
cũng ựược tìm thấy trong mẫu sữa đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm
bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau
Một thông báo khác cho biết, ở Braxin nghé bị nhiễm giun ựũa với tỷ lệ 58% ở tuần tuổi thứ nhất, 87,5 % ở tuần tuổi thứ 2, 96 % ở tuần tuổi thứ 3 và 100% ở tuần thứ 4 Hầu hết bị nhiễm qua bào thai, một số ắt truờng hợp nhiễm qua sữa Bê, nghé phát bệnh trong ựộ tuổi 3 - 17 tuần tuổi (Barbosa và Correa, 1989 ) Starke W.A., Machado R.Z, Becchara G.H và Zocoller M.C (1996) ựã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun ựũa Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi
Wen Y.L và cs, (1986) ựã phát hiện 99 con nghé nhiễm giun ựũa trong
số 245 nghé ở 7 làng của tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc Tỷ lệ nhiễm giun ựũa của nghé ựực cao hơn nghé cái (43,02% so với 38,03%)
Theo Roberts J.A (1990), tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng ựầu sau khi
sinh ở vùng đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S
Trang 22papillosus
Gupta và cs (1985) cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn ðộ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%, giun ñũa 15,2%, giun ñầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa ñông (52,2%) Trong 2411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong ñó giun ñũa là 29,1%, giun móc 20,7%; giun ñầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa ñông (56,3%)
Kết quả ñiều tra cho thấy, có trường hợp bê mắc bệnh sớm nhất là 15 ngày (Lee - Nigeria, 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga, 1960) Theo Orlov (1970), sau 3 tháng tuổi bê có hiện tượng tự thải giun ñũa
1.2.1.3 Nghiên cứu về triệu chứng và bệnh tích
Theo Usanakorkul S (1987), khoảng 10 - 30% nghé ở Thái Lan bị chết trước khi chúng ñược cai sữa Hầu hết chúng bị chết bởi nguyên nhân là ký sinh trùng Nghé nhiễm bệnh giun ñũa và giun lươn qua ñường sữa Trứng của giun ñũa có trong phân bê nghé từ 21 - 131 ngày tuổi Cường ñộ nhiễm cao nhất trong khoảng 21 - 35 ngày Khi có số lượng giun lớn bê nghé bệnh có triệu chứng kém ăn, ỉa chảy và thiếu máu
Hossain M.I và cs (1988) ñã thông báo, Neoascaris vitulorum ñã ñược
tìm thấy ở 296/350 nghé (84,57%) với triệu chứng chậm phát triển, còi cọc, thiếu máu, ỉa chảy và mất nước
Aumont và cs (1991) cho biết, giun ñũa Neoascaris vitulorum là ký sinh
trùng chính của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh ñến giai ñoạn cai sữa khoảng 10,5kg
Theo Srivastava A.K., Sharma D.N (1981), ở Muthura - Ấn ðộ, 16 trong 90 nghé 1 tháng tuổi ñã có 500 - 700 trứng giun ñũa trong 1 gam phân và
có những triệu chứng: ăn ít, gày còm, xù lông, táo bón, ỉa chảy, phân hôi thối, lưng cong, ñau bụng và dáng ñi cứng nhắc
Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ñũa ký sinh, có thể tạo
Trang 23thành búi làm tắc ruột Sữa bị vĩn cục, màu trắng, cĩ mùi khĩ chịu, gạt lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc cĩ nhiều vết loét Cĩ trường hợp bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc Ngồi ruột non, cĩ thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm cĩ mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi
Srivastava và Sharma (1981), Makundi và cs (1996) cho biết, Toxocara vitulorum là một trong những ký sinh trùng nguy hiểm nhất của bê nghé Ấu trùng của T vitulorum di hành gây ra tổn thương lớn cho nhiều cơ quan, đặc
biệt là gan và ruột, nĩ gây chết cho bê , nghé từ 11 đến 50%
1.2.1.5 Nghiên cứu về chẩn đốn giun đũa bê, nghé
Maria F.N., Wilma A.S.B., Alessandra M.M.G (2003) [44] đã tìm hiểu
sự phát triển phản ứng viêm của ruột và mơ của bê bị nhiễm giun đũa trong trong các giai đoạn tuổi Các mẫu máu được thu thập hai tuần một lần từ khi sinh ra đến 174 ngày sau sinh và thấy trong mơ cơ ở chân của bê bị nhiễm giun đũa, số lượng tế bào mast tăng đáng kể, số lượng bạch cầu ái toan tăng ở niêm mạc của tá tràng (gấp 2 - 5 lần so với bình thường)
Abdulalim Aydin và cs (2005) đã xác định tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi
bê nghé ở Hakkari thuộc khu vực phía đơng của Thổ Nhĩ Kỳ bằng cách sử dụng phương pháp phù nổi Fulleborne và buồng đếm Mc Master để đếm trứng giun
đũa cĩ trong 1 gam Trứng giun đũa Neoascaris vitulorum đã được tìm thấy
trong 208 mẫu phân trên trong 718 mẫu phân bê nghé được xét nghiệm (28,96%) Bê nghé từ 1- 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 34,4%, từ 6-12 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm là 6,6%, trên 12 tháng tuổi là 3,3%
Hussein M.O., Barriga O (1991) đã làm thí nghiệm, gây nhiễm cho 10 thỏ cái New Zealand trứng giun đũa bê nghé cĩ sức gây nhiễm Kết quả kiểm tra máu thấy tế bào hồng cầu giảm, nhưng bạch cầu ái toan và ái kiềm tăng Starke W.A và cs (2001) đã tìm hiểu phản ứng miễn dịch, mức độ kháng thể, kháng nguyên chiết xuất hịa tan (Ex) từ nghé bị nhiễm ấu trùng giun đũa bằng phương pháp ELISA gián tiếp với huyết thanh của 15 nghé con, mẫu
Trang 24ñược lấy ở 15 và 180 ngày tuổi Từ tất cả các mẫu huyết thanh kiểm tra trong thời gian 180 ngày ñầu tiên, mức ñộ kháng thể thấp nhất và cao nhất trong bê ở
1 ngày tuổi trước và sau khi bú sữa ñầu cho thấy rằng nguồn gốc của kháng thể
là sữa non Ngay sau khi sinh, nồng ñộ kháng thể trong bê ñược bú sữa vẫn ở mức cao cho ñến 15 ngày tuổi, sau ñó bắt ñầu giảm xuống mức thấp hơn từ 15 ñến 30 ngày tuổi và tương ñối ổn ñịnh cho ñến 120 ngày tuổi
1.1.1.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trị
Balabakian X.P (1956) ñã ứng dụng có kết quả dung dịch Natri sunfat 10% với liều 4,0g cho 1 kg thể trọng ñể tẩy giun ñũa cho bê, cho uống qua ống cao su và phễu
Theo Robert J.A (1989), hiệu quả tẩy giun ñũa bê nghé của Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5 mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol tiêm (0,1 ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%
Vichitr Sukhapesna (1981), ñã dùng Pyrantel Tartrate với các liều khác nhau 5,10 và 20 mg/kg tẩy cho bê 28 nghé bị nhiễm giun ñũa thì thấy với các liều lượng trên thì ñều có hiệu quả cao (100%) Số lượng trứng giun ñũa thải ra theo phân giảm nhiều sau 1 tuần ñiều trị
Gabriel Davila, Max Irsik và Ellis C G (2010), ñã ñánh giá tỷ lệ nhiễm giun ñũa ở bê tại Bắc Trung Bộ Florida - Mỹ Phân tích 433 mẫu phân bê dưới
9 tháng tuổi thấy có trứng giun ñũa trong phân Tỷ lệ nhiễm theo các lứa tuổi là:
Bê dưới 3 tháng tuổi là 17,6%, 3 - 4 tháng tuổi là 0,4% và bê 5 - 6 tháng tuổi
có tỷ lệ nhiễm 0,9% và không thấy trứng trong bê lớn hơn 6 tháng tuổi 20 bê bị nhiễm giun ñũa ñược tẩy bằng Fenbendazole (10% Fenbendazole) với liều 5 mg/kgTT Sau 2 tuần dùng thuốc, phân tích lại tỷ lệ và cường ñộ nhiễm ñể ñánh giá hiệu quả của Fenbendazole, thì thấy có 17 bê không có trứng giun ñũa trong phân, chiếm tỷ lệ 85%
Gadjiev (1953) cho biết, Hexachloretan với liều 0,2 ml/kg TT, cho uống
2 lần, cách nhau 10 ngày cho kết quả tốt trong việc tẩy giun ñũa bê nghé
Trang 251.2.1 Nghiên cứu ở trong nước
1.2.1.1 Nghiên cứu căn bệnh giun ñũa bê, nghé
Theo Phan Thế Việt và cs (1977), giun ñũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại ñộng vật học như sau:
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945
Giống Neoascaris Travassos, 1927
Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782 Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996), Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999), giun tròn Neoascaris vitulorum có
thân màu vàng nhạt ñầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưu, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần ñầu Giun ñực không có cánh ñuôi, dài 13
- 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, ñuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một ñôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20
mm Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, ñuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, ñuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm
Theo ðỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Phan ðịch Lân và cs
(2005), giun ñũa Neoascaris vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê nghé có kích
thước: Giun ñực ở nghé dài 13 - 15 cm, ñường kính 0,3 cm, ở bê dài 14 - 16
cm Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, ñường kính 0,5 cm, trứng 70 - 75 x 80 - 90
µm, giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100 µm, vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân
Phan Lục (2005) cho biết, giun ñũa có kích thước to, vàng nhạt, dài 13 -
Trang 2622 cm, trên đầu cĩ 3 mơi Thực quản hình ống dài, phần cuối cĩ chỗ phình to ra gọi là dạ dày giả Xung quanh lỗ hậu mơn của giun đực cĩ nhiều gai chồi, cĩ hai gai giao hợp to bằng n hau Trứng cĩ 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngồi cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm
Nguyễn Thị Lê và cs (1996), đã mơ tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm, đuơi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần
về cuối mút, thực quản dài 4,49 mm, gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, cĩ màng mỏng bao bọc, ở phía trước hậu mơn cĩ 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu mơn cĩ 5 đơi nhú, đơi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 - 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm, đuơi hình nĩn, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm, gần mút đuơi cĩ 2 nhú bên, lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể, trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm
1.2.1.2 Nghiên cứu về vịng đời giun đũa bê, nghé
Theo ðỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), trứng giun thải ra mơi trường ở thời kỳ đầu là trứng khơng cảm nhiễm Skjabin và Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28-300C và 17-19 ngày ở nhiệt độ 250C
Chẩn đốn bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân
Phạm Sỹ Lăng (2005)cũng cho biết, bệnh giun đũa bê nghé lây nhiễm qua 2 con đường:
- Qua đường tiêu hĩa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm
- Ấu trùng từ máu trâu bị mang thai xâm nhập vào bào thai
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962), trứng giun đũa ra ngồi thiên nhiên gặp nhiệt độ nĩng ẩm thích hợp thì phát triển thành phơi: ở nhiệt độ 15 - 170C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 220C thì phải sau 20 ngày Nếu để phân khơ đi hoặc ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát dục Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 - 15 ngày phơi chết, mùa đơng phân khơ thì sau một tháng phơi bị diệt
Trang 27Theo ðỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), trứng giun ñũa phát dục thành phôi trong khoảng 20 ngày ở nhiệt ñộ 19 - 220C, nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt ñộ 15 - 17oC
Dương Công Thuận và cs (1986), ñã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun ñũa có nhiều trứng, trộn với nước ñể giữ ẩm, cho vào ñĩa Pettri, ñể ở nhiệt ñộ trong phòng khoảng 15 - 220C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt ñộ 15 - 170C phôi hình thành sau 38 ngày
Phạm Sỹ Lăng và Phan ðịch Lân (1999) cho biết, con cái ñẻ trứng ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt ñộ thích hợp trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt ñộ 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần 20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt ñộ ñến 34
- 350C thì trứng không phát triển)
Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008), trứng giun ñũa bê nghé có sức
ñề kháng với ñiều kiện ngoại cảnh, chỉ bị diệt ở nhiệt ñộ 450C trở lên và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và dịch ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng ñến tim trái và từ ñó vào ñại tuần hoàn Phần lớn ấu trùng ñều theo mạch máu ñến các mô và phủ tạng, ở ñó nó ñóng kén và có thể sống từ 5 ñến 6 tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong thời gian chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai ñến bào thai hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng ñóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu ñến nhau thai và vào bào thai
Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở ñó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng 6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén ñi vào nhau thai
Trang 281.2.1.3 Nghiên cứu về dịch tễ bệnh giun ựũa
Ở Việt Nam, bệnh giun ựũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến Nghé có triệu chứng ựặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh
"Nghé ỉa cứt trắng" Năm 1923, Phạm Văn Long ựã thông báo về một ca bệnh trên nghé Nhưng ựến ựầu năm 1950, bệnh này mới thực sự ựược chú ý vì nó gây thiệt hại lớn cho ựàn trâu sinh sản ở miền núi
đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết, do ảnh hưởng của khắ hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác Trứng giun ựũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa ựông này qua mùa ựông năm sau, gặp ựợt nghé ựẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng "nghé ỉa cứt trắng"
Do tập tắnh sinh sản của trâu bò miền núi phắa bắc nước ta là ựẻ vào mùa ựông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun ựũa bê nghé gây tác hại nhiều ựối với nghé sơ sinh
Theo Lê đăng đảnh và cs (2004), thì bệnh giun ựũa bê là bệnh phổ biến
ở nước ta, tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi ựẻ, chưa thấy bò trưởng thành mắc bệnh Ở nghé nếu mắc phải giun ựũa thì mẫn cảm hơn là ở bê và có thể bị chết do tiêu chảy
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) cho biết, bệnh giun ựũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi ựẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới
Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc ựồng bằng trung du miền nú Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông ựi theo mẹ ựi ăn
Tô Du (2005) cho biết, bệnh giun ựũa ở bê nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong ựất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ có dắnh trứng giun ựũa, bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé ựẻ vào
vụ đông - Xuân
Bệnh giun ựũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, ựồng bằng và ở các cơ sở
Trang 29chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan địch Lân, 1999)
Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008), cho biết bê ng hé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun ựũa nhiều hơn so với vùng trung du và ựồng bằng Ở nước ta bê nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ đông - Xuân), do trâu bò thường ựẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê nghé mắc bệnh giun ựũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở 65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh
Qua ựiều tra liên tục 6 vụ ựông xuân (từ 1954 - 1960) trên hàng nghìn nghé tại xã Hoà Phú, Phúc Thịnh (Chiêm Hoá - Tuyên Quang), xã Minh Sơn (Ngọc Lặc-Thanh Hoá), xã Phượng Tiến (định Hoá - Thái Nguyên), đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun ựũa chiếm tới 38 - 44% so với số nghé ựẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25 - 50% số nghé ốm Như vậy, mỗi năm số nghé chết về giun ựũa chiếm 20% số nghé ựẻ ra
Tô Ngọc đại (1953) cho biết, bệnh giun ựũa bê nghé gây ra tình trạng
bê nghé ỉa phân trắng là khá phổ biến và trầm trọng ở miền núi, nơi có chăn nuôi trâu bò sinh sản với số lượng lớn
Trịnh Văn Thịnh (1959) cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào thai, ựến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi ựến tuổi
ấy nghé tự tống giun ra ngoài
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962), qua ựiều tra trên 32 xã thuộc nhiều tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun ựũa chiếm 39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với số nghé ốm đặc biệt bệnh chỉ phổ biến trên ựàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng ựồng bằng bệnh giảm rõ rệt
Theo Trịnh Văn Thịnh (1966), ở Sơn Tây, Phia đén (Cao Bằng) Ngọc Thanh (Vĩnh Phú), ựàn bê mắc bệnh giun ựũa chiếm 20% so với số bê ựẻ ra và
bê chết do giun ựũa chiếm 5% so với số bê ốm
Theo Thanh Cưu (1970), ựàn bê của nông trường Ba Vì nhiễm giun ựũa 14,6%, thường từ lứa tuổi sơ sinh ựến sáu tháng
Trang 30Dương Công Thuận (1972) ñã ñiều tra trên ñàn bê của nông trường Tam ðảo (Vĩnh Phú), nông trường Hà Trung (Thanh Hoá), thấy có 30 - 40% mắc giun ñũa, Nhưng triệu chứng lâm sàng không rõ như ở nghé, số chết rất ít
Phạm Văn Khuê và cs (1981) cho biết, bệnh giun ñũa bê nghé khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc Theo Nguyễn Bá Phụ (1992), ở Việt Bắc bê nghé thường mắc bệnh giun ñũa từ 30 - 50%
Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986), ñã ñiều tra tình hình nhiễm giun ñũa ở nghé Murah ở nước ta: 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%, 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%, 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%, 7tuần tuổi nhiễm 28%, 9 tuần tuổi nhiễm 25%, 10 tuần tuổi nhiễm 23%
Phạm Sỹ Lăng và Phan ðịch Lân (1996) cho biết, bệnh giun ñũa bê ghé
có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong ñộ tuổi 1- 3 tháng, bê trong ñộ tuổi
17 ngày ñến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh
Theo Cao Tuyết Lan (1996), Tỷ lệ nhiễm giun ñũa là 35,3%, cao nhất lúc 31 - 45 ngày tuổi (71,4%)
1.2.1.4 Nghiên cứu về triệu chứng và bệnh tích
Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biến là
11 - 30 ngày Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian tiến triển của bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi, sức khỏe của gia súc, cách nuôi dưỡng
Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977), bê nghé bị bệnh giun ñũa có dáng ñi lù ñù, ñầu cúi, lưng cong ñuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm một chỗ không theo mẹ Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ ñờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C Con vật mệt mỏi, ñứnglên nằm xuống, ỉa phân lúc ñầu táo hoặc lổn nhổn, màu ñen, dần dần chuyển thành màu trắng, lỏng
Theo ðỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), con vật ăn kém, ỉa chảy, ñôi khi táo bón, chướng hơi, ñi lại không yên, ñau bụng, ho, co giật Trường hợp tự thải giun hay ñược ñiều trị thì các triệu chứng sẽ mất ñi, ở thể
Trang 31mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng
Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun đũa
và bệnh viêm phổi, một phần do giun phổi
Phan ðịch Lân (1986), đã thơng báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa ở Nơng trường Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) cĩ triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại chỗ và
cĩ con chết
Dương Cơng Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986), Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) cho biết, bê nghé mắc bệnh thường lù đù, chậm chập, đầu cúi, lưng cong, bụng to, lơng xù lên, khoeo và đuơi dính phân bẩn, phân cĩ mùi tanh khắm, màu trắng ngà
Chu Thị Thơm và cs (2006), cho biết về lâm sàng của bệnh giun đũa bê nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê nghé từ 11 - 30 ngày tuổi Bê nghé ủ rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuơi cụp, thường chết vào ngày thứ 7 - 16 Lúc đầu cịn theo mẹ, khi bệnh nặng nghé bỏ bú, khơng theo mẹ, nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngửa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng Cĩ khi nghe
rõ tiếng sơi bụng Bê, nghé gấy sút nhanh chĩng, da khơ, lơng dựng, mắt lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khơ, hơi thở thối
Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu mơn Cĩ thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đốn xác định bệnh giun đũa bê nghé
Phan Lục (1993) đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hố vùng đồng bằng sơng Hồng cho kết quả, trâu bị bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đĩ nghé nhiễm giun đũa là 15,1%, bê là 5,4%
Vương ðức Chất (1995), cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê ở
Hà Nội qua mổ khám là 15,6%
1.2.1.5 Nghiên cứu về chẩn đốn bệnh giun đũa bê nghé
Chẩn đốn bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê nghé dựa vào triệu
chứnglâm sàng, các thơng tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fulleborn để tìm trứng giun đũa, kết hợp mổ khám kiểm tra
Trang 32bệnh tích ở ruột non cho phép chẩn đốn chính xác bệnh
* ðối với bê nghé sống:
Theo nhiều tác giả, việc chẩn đốn bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum
ở bê nghé cĩ thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh
Phạm Văn Khuê và cs (1996), Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), cho biết, bệnh giun đũa bê nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì khơng bị nhiễm Trâu bị khơng mắc bệnh này ðây chính là những điều tra cơ bản để sơ bộ chẩn đốn bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quang hậu mơn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đốn bệnh giun đũa bê nghé
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đốn chính xác được bệnh gì, vì cĩ rất nhiều bệnh ký sinh trùng cĩ biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng
giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đốn bệnh
Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, cĩ thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ
* ðối với bê nghé chết:
Mổ khám, quan sát những biến đổi bệnh tích trong đường tiêu hố của
bê, nghé, tìm giun đũa trưởng thành ở ruột non
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), áp dụng phương pháp mổ khám tồn diện của Skriabin K.I (1982) Phương pháp mổ khám cĩ thể phát hiện tất cả các lồi giun sán ký sinh trong cơ thể bê nghé Phương pháp này được đánh giá là phương pháp chẩn đốn bệnh chính xác nhất, khơng những xác định được tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm, mà cịn quan sát được những tổn thương ở đường tiêu hố do giun sán gây ra
Trang 331.2.1.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trị
Phùng Quốc Quảng và cs (2006), ñã ñưa ra phương pháp phòng bệnh giun ñũa cho bê nghé như sau:
- ðể chủ ñộng phòng bệnh, sau khi ñẻ 7 - 10 ngày, cần cho bê nghé uống một trong số các thuốc tẩy giun như: Piperazin, Hexachloretan, Mebenvet uống một lần trong một buổi sáng Khi uống bắt bê nghé nhịn ñói
- Cho bò mẹ ăn uống tốt ñể có ñủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường, cho uống nước sạch, giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo, tập trung phân ủ ñể diệt trứng giun
Theo Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài (1997), Piperazin, Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng ñể tẩy giun ñũa cho bê nghé
ðỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) cho biết, trong bệnh giun
ñũa Neoascaris vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02 g/kg
TT, cho uống thuốc tẩy kèm theo
Nguyễn Văn Thiện và cs (1977), ñã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với
20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với 2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, ñể lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền, hoặc 2 ñến 3 lá ñu ñủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60 ml dầu ñu ñủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2 - 0,3 gam/kg TT
Lê ðăng ðảnh và cs (2004) cho biết, ñể chủ ñộng phòng trị bệnh giun ñũa bê nghé ngay sau khi sinh, chúng ta dùng một số thuốc ñặc trị bệnh giun ñũa cho bê nghé, có thể dùng: Polystrongle với liều 0,04 g/kg TT cho uống, Levamisol tiêm bắp, Ivomec tiêm dưới da với liều 1 ml/50kg TT
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982), Piperazin 0,3 - 0,5 gam/kg TT, Silicofluorat natri liều 0,035 g/kg TT chia hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30 -
Trang 3460 ml, cho uống Kết hợp giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu ựáo cho trâu bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), cũng sử dụng những hoá dược như trên tẩy giun ựũa bê nghé cho kết quả tốt
Theo Cao Tuyết Lan (1996), dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun ựũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt
Vương đức Chất (1995), ựã tẩy giun ựũa cho bê nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT lúc 15 - 20 ngày tuổi, Mebendazole 10 mg/kg TT ựạt kết quả tốt
Phạm Vă n Khuê và Phan Lục (1996), ựã thử nghiệm ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phú), Kim Bảng (Nam Hà), Gia Lâm, đông Anh, Từ Liêm, Sóc
Sơn (Hà Nội) dùng Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kgTT, tẩy cho 73 bê nhiễm Neoascaris vitulorum, kết quả ựạt 100%
Phạm Sỹ Lăng và Phan địch Lân (1996), cho biết, dùng các loại hoá dược như Piperazin 0,3 - 0,5g/kgTT, Tetramizole 10 mg/kgTT, Mebenvet 0,5
g/kgTT và một số hoá dược khác ựể tẩy trừ Neoascaris vitulorum cho kết quả
rất tốt, bê nghé khỏi bệnh phân trắng
Chu Thị Thơm và cs (2006), ựã ựưa ra các phác ựồ sau: Dùng Piperazin 0,5 g/kgTT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng, Phenolthiazin 0,5 g/kgTT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền, Tetramisol
10 - 15 mg/kgTT, cho uống sau khi bê nghé ựã bú hoặc ăn Ngoài ra tác giả còn ựưa ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun ựũa như:
- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu, sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống 3 - 5 g liên tục 3 buổi sáng, hoặc có thể sắc lấy nước, cô ựặc, cho uống vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30 - 50 ml
- Hạt cau: nghiền nhỏ 4 g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống, hoặc nghiền nhỏ, rang khô ựem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng
Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs, có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau ựể ựiều trị bệnh giun ựũa bê nghé: Piperazin dùng liều 0,3 - 0,5 gam/kgTT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn, Levamisol dùng
Trang 35với liều 15 - 20 mg/kgTT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kgTT dùng tiêm, Mebenvet(10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kgTT, Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kgTT tiêm cho bê nghé
Lê Thị Thanh Nhàn (2008), ñã ñiều trị tiêu chảy cho bê nghé do giun ñũa bằng cách: sử dụng một trong các thuốc kháng sinh như Norfacoli hoặc Colistin ñể ñiều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun ñũa cho bê nghé dưới 3 tháng tuổi với mục ñích ñiều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun ñũa Trong quá trình ñiều trị bổ sung chất ñiện giải
và vitamin C ñể tăng cường sức ñề kháng cho con vật