+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ hiện nay.+ Đánh giá thực trạng về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay.+ Đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản để thực hiện tốt chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua những năm tháng đấu tranh trường kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giữ gìn độc lập tự do cho Tổ quốc Trong cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc hàng triệu người con đã hy sinh, hàng chục vạn người đã góp một phần xương máu của mình cho Tổ quốc
Trong gần nửa thế kỷ qua, trung thành và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta không ngừng phấn đấu thực hiện tốt vấn đề chăm sóc thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ Đặc biệt, ngay trong thời kỳ tiến hành đồng thời hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhiệm vụ này cũng đã được đặt lên hàng đầu Chủ tịch
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc lúc bấy giờ rất quan tâm tới công tác chăm sóc thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ Trong thư gửi thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ nhân ngày 27/7/1956, Bác viết “Thương bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”[48, tr.71] Cho đến lúc trước khi qua đời, trong Di chúc Bác không quên nhắc nhở Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: “Đối với những người đã hy sinh một phần xương máu của mình vì độc lập tự do cho đất nước, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải bằng mọi cách làm cho họ có đủ nơi ăn, chốn ở yên ổn”
Thực hiện đạo lý truyền thống của dân tộc ”Uống nước nhớ nguồn” “Đền
ơn đáp nghĩa” những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ và tổ chức vận động toàn dân, toàn quân chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công, giải quyết
có hiệu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước, tăng thêm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước
Trang 2Đời sống của thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ngày càng được quan tâm và có cải thiện đáng kể, hệ thống chính sách,các chế độ trợ cấp, đãi ngộ từng bước được điều chỉnh, việc tổ chức sản xuất, việc làm được quan tâm thích đáng, việc cải thiện nhà ở được đầu tư triển khai ở nhiều cấp, các chương trình chăm sóc người
có công được xã hội đặc biệt quan tâm và đã có những kết quả to lớn góp phần cải thiện cuộc sống đối với người có công Đến nay, đa số gia đình chính sách có cuộc sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú
Thực hiện chính sách xã hội nói chung và chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ nói riêng, huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng nhằm thực hiện tốt nhất, với hiệu quả cao nhất những quy định của Đảng và Nhà nước Hệ thống chính trị từ cấp huyện đến xã đã triển khai sâu rộng và thực hiện nghiêm chỉnh những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương, bệnh binh
và gia đình liệt sĩ Bên cạnh đó, huyện Cẩm Giàng cũng đã có nhiều chính sách cụ thể đối với thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương vững chắc, nâng cao đời sống của thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, tạo sự đồng thuận xã hội trong nhân dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chăm sóc thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ vẫn còn có những bất cập cần phải giải quyết Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt
sĩ còn khó khăn Tình hình đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp
và nhân dân ta phải tiếp tục làm tốt hơn công tác chăm sóc, tiếp tục nâng cao mức sống, đảm bảo đời sống của họ ngày một tốt hơn Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể, xem xét về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ để giúp cho công tác “Đền ơn đáp nghĩa” ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển xã hội hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay”
Trang 3làm luận văn thạc sĩ; Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian gần đây có nhiều công trình, đề tài trong và ngoài quân đội nghiên cứu về CSXH, về các vấn đề liên quan đến đời sống của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội nói chung, đời sống của các thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ nói riêng Một số công trình, đề tài tiêu biểu là:
* Nhóm các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ngoài quân đội:
Viện Chủ nghĩa xã hội Khoa học, Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh: “Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay”, Nxb, CTQG, Hà Nội, 1993 Nhóm tác giả đã luận giải về khái niệm và cấu
trúc của CSXH, đưa ra các giải pháp để xây dựng CSXH đối với các nhóm xã hội
ở nước ta, trong đó có chính sách đối với thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Viện Triết học - Trung tâm KHXH&NV quốc gia: “Hồ Chí Minh về chính sách xã hội”, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995 Công trình khoa học đã trích dẫn các bài
nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CSXH dưới chế độ của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và CSXH dưới chế độ mới; các chính sách đối với các tầng lớp nhân dân, chính sách đối với bộ đội, thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
“Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp” GS Phạm Xuân Nam (chủ biên), Nxb CTQG, Hà Nội, 1997 Đề tài chỉ ra rằng, thực hiện CSXH trên
nguyên tắc công bằng, là nhân tố quan trọng đảm bảo giữ vững định hướng XHCN của công cuộc đổi mới, là biện pháp hữu hiệu để hạn chế và khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, là cơ sở vững chắc tạo nên sự ổn định và đồng thuận xã hội rộng lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội nhìn từ góc độ xã hội học”,
TS Nguyễn Thế Thắng (chủ biên), Nxb Lao động, Hà Nội, 2005 Nhóm tác giả quan niệm: “CSXH là tổng thể các quan điểm, các chủ trương của các giai cấp, nhóm xã hội được thể chế hóa để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải
Trang 4quyết các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển con người” Nguyên tắc của CSXH là nhằm thực hiện công bằng xã hội; cơ sở khoa
học của việc hoạch định, thực thi CSXH là đặt con người vào vị trí trung tâm, là định hướng hướng tới của mọi CSXH
* Nhóm các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong quân đội:
Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị (1999), "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách đãi ngộ đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong tình hình mới", đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ Quốc phòng
Trần Văn Minh (2004), “Tiếp tục đổi mới công tác chính sách trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội Đề cập đến vai trò của chính sách trong quân đội, tác
giả cho rằng, mục đích của công tác chính sách là thực hiện chiến lược con người, xây dựng và phát huy nhân tố con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; công tác chính sách đúng đắn gióp phần thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện Tren
cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất bốn giải pháp đổi mới công tác chính sách trong quân đội hiện nay, trong đó chú trọng giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng nghiên cứu, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác chính sách
Trần Quốc Dũng (2005), “Đổi mới chính sách đãi ngộ của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ khoa học trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội
Tác giả đã đưa ra quan niệm về chính sách đãi ngộ đối với cán bộ khoa học trong quân đội; đánh giá thực trang và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm tốt hơn nữa chính sách đãi ngộ đối với cán bộ khoa học trong quân đội, nhằm phát huy năng lực khoa học của đội ngũ này trong sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Trang 5Nguyễn Hữu Quyền (2008), “Đổi mới chính sách đội ngũ giảng viên khoa học kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Triết học,
chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội Tác giả cho rằng CSXH đúng đắn có vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học; xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên khoa học kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra bốn giải pháp cơ bản: Nâng cao nhận thức của các tổ chức, các lực lượng về vai trò của CSXH đối với giáo viên khoa học kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự; đổi mới công tác nghiên cứu, đề xuất chính sách trong quá trình đổi mới CSXH đối với giáo viên khoa học kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự; đổi mới công tác thực hiện chính sách giáo viên Khoa học Kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng nguồn lực trong quá trình đổi mới CSXH đối với giáo viên Khoa học kỹ thuật ở Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay
* Nhóm các bài báo khoa học: “Bảo đảm mức sống, từng bước cải thiện cuộc sống người có công trong điều kiện kinh tế thị trường và lạm phát”, tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 350/2009, tr.6-7 “Nhìn lại ba năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng”, tác giả Bùi Hồng Lĩnh, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 362/2009, tr.3 “Bộ đội Biên phòng thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, tác giả Đại tá TS Đinh Trọng Ngọc; Tạp chí Khoa học Giáo dục Biên phòng số 09, tháng 7/2009 “Tác động của một số chính sách vĩ mô đến quản lý và phát triển xã hội vùng Tây Nguyên”,
tác giả TS Bạch Hồng Việt, Viện Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên; Tạp chí
Xã hội học, số 2 (114), 2011 “Thực hiện chính sách an sinh xã hội ở quận Hải Châu (thành phố Đà Nẵng)”, tác giả Lê Anh, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 5
(114), 2012
Trang 6Các công trình, đề tài nêu trên với các góc độ tiếp cận khác nhau, bước đầu
đã làm rõ các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa CSXH với các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Tuy nhiên, chưa có công trình, đề tài nào đề cập một cách đầy đủ, có
hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ chính trị - xã hội về chính sách đối với người
có công, đối với thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải
Dương Vì vậy, đề tài “Chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay” mà tác giả lựa chọn không trùng lặp với
các công trình khoa học đã được nghiên cứu và công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ; trên cở sở đó đưa ra yêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ hiện nay
+ Đánh giá thực trạng về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
+ Đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản để thực hiện tốt chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ trên địa bàn huyện Cẩm
Trang 7Giàng tỉnh Hải Dương, nghiên cứu thực tế ở hai xã: Cẩm Phúc, Tân Trường Số liệu thực tế được thu thập từ năm 2005 trở lại đây.
Thời điểm khảo sát thực tế: Tháng 2,3 năm 2013
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước đối với thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
* Cơ sở thực tiễn: Thực trạng quá trình thực hiện chính sách thương, bệnh
binh và gia đình liệt sĩ qua các thống kê, các báo cáo tổng kết đánh giá sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nói chung và quá trình thực hiện CSXH của Đảng bộ huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương nói riêng; kết quả điều tra, khảo sát thực tế của tác giả về quá trình thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu của các khoa học xã hội và nhân văn; phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của chủ nghĩa xã hội khoa học
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích - tổng hợp; lịch sử - lôgíc; điều tra khảo sát thực tế; phân tích tài liệu, số liệu thống kê; phỏng vấn chuyên gia
6 Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận, thực tiễn, cung cấp thêm luận
cứ khoa học cho cáp ủy đảng, chính quyền địa phương trong thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận văn: Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG, BỆNH BINH VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ Ở HUYỆN
CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ hiện nay
1.1.1 Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và chính sách thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ hiện nay
* Thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Pháp lệnh ưu đãi người có công số 26/2005/PLUBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 đã nêu rõ những quy định về TB, BB, GĐLS
Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả
năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Làm nhiệm vụ quốc phòng an ninh ở địa bàn có điều
Trang 9kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; trực tiếp làm nhiệm
vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm [29, tr.8, 9]
Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng
lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên; Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; Làm nghĩa vụ quốc tế; Thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; Khi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1994 [29, tr 10,11]
Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc
ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục
vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không
chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt
ngục mà hy sinh; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm
thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng
cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi
Trang 10đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến
đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh chết vì vết thương tái phát [29, tr.5, 6] Thân nhân liệt sĩ được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” gồm: cha đẻ, mẹ đẻ; người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; vợ hoặc chồng; con của liệt sĩ
* Chính sách xã hội và chính sách thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ hiện nay
Quan niệm về chính sách xã hội
Trên thế giới, thuật ngữ “chính sách xã hội” xuất hiện từ thế kỷ XIX, trong cách mạng công nghiệp, bắt nguồn từ việc giải quyết các vấn đề xã hội nổi cộm trong xã hội, chủ yếu đối với công nhân như: thất nghiệp, đói kém, bệnh tật, không được học hành Ở nước ta, việc ban hành và thực thi chính sách xã hội đã
có từ khi thành lập nước, tháng 9 năm 1945 nhưng thuật ngữ “chính sách xã hội” mới được biết đến và sử dụng phổ thông từ những năm 70 thế kỷ XX Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, năm 1986, thuật ngữ “chính sách xã hội” được đưa vào văn kiện và là một nội dung chiếm một phần riêng cùng với chính sách kinh tế
Tuy có lịch sử khá lâu, song đã và đang còn có những ý kiến khác nhau
trong quan niệm về chính sách xã hội Công trình khoa học: “Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay” của Viện Chủ nghĩa xã hội Khoa học, Viện
nghiên cứu Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh quan niệm: “CSXH
là toàn bộ các phương thức, và phương tiện nhất định bảo đảm cho các thành viên
xã hội thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần thiết yếu của mình” Cuốn
sách “Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp” GS Phạm Xuân Nam (chủ
biên) quan niệm: “CSXH là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương giải
Trang 11quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp đến con người và điều chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân
dân”[21, tr.] Cuốn sách: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội nhìn từ góc độ xã hội học”, TS Nguyễn Thế Thắng (chủ biên) đưa ra định nghĩa: “CSXH
là tổng thể các quan điểm, các chủ trương của các giai cấp, nhóm xã hội được thể chế hóa để tác động vào các quan hệ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần thực hiện công bằng, tiến bộ và phát triển con người”
Từ những quan niệm trên và đi từ sự triết tự cụm từ “chính sách”, “xã hội” cùng với lịch sử hình thành, có thể hiểu chính sách xã hội là “công cụ” tác động của nhà nước vào những quan hệ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội đang
đặt ra, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội Ở nước ta, chính sách xã hội do Nhà nước ban hành, là sự cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng bằng
hệ thống pháp luật; sự tác động của Nhà nước vào các tầng lớp xã hội nhằm điều hoà lợi ích xã hội, quan hệ xã hội, vì sự ổn định và phát triển xã hội theo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Chính sách xã hội mang các tính chất: giai cấp, dân tộc, lịch sử, kế thừa, nhân văn và tính quốc tế, do con người và vì con người Đại hội Đảng lần thứ VI
đã chỉ rõ: “Chính sách xã hội bao trùm lên mọi mặt đời sống của con người, điều kiện lao động sinh hoạt giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình quan hệ giai cấp quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [10, tr.86.]
Chính sách xã hội là một chuỗi các hoạt động được giải quyết bởi các nhà quản lý về những vấn đề của xã hội để điều hành và quản lý xã hội vì mục tiêu ổn
Trang 12định và phát triển Quá trình của một chính sách xã hội trải qua 4 giai đoạn: Xây dựng chính sách; Thực hiện chính sách; Đánh giá chính sách và Điều chỉnh chính sách Quá trình đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính khách quan và chủ quan, yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong đó yếu tố chủ quan, bên trong giữ vai trò quan trọng quyết định Chính sách xã hội được thực thi qua nhiều khâu, nhiều bước, nhiều cấp ngành trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương cơ
sở Trách nhiệm và năng lực của những người, những tổ chức đảm nhận công việc của các khâu, các bước trong thực thi chính sách xã hội quyết định hiệu lực, hiệu quả của các chính sách xã hội
Chính sách xã hội thể hiện ở những văn bản pháp luật được ban hành đối với những người có công, ốm đau, bệnh tật, thiệt hại do thiên tai; các chính sách về giai cấp, chính sách với các tầng lớp xã hội
Quan niệm về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Chính sách TB, BB, GĐLS là một trong những chính sách lớn, một bộ phận, nội dung trọng yếu trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta; tổng thể các quan điểm, nguyên tắc và các quy định thể hiện trong các văn bản, chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh những quyền lợi và nghĩa vụ của TB, BB và GĐLS, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước và sự cống hiến của họ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
Chính sách TB, BB, GĐLS là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội với những đặc điểm: Thứ nhất, là một trong những chính sách xã hội trọng yếu luôn được bổ sung hoàn thiện và được luật hóa; thứ hai, chính sách TB, BB, GĐLS được cụ thể hóa thành các tiêu chí mang tính định lượng; thứ ba, chính sách TB, BB, GĐLS hướng tới một đối tượng cụ thể, có nhiều công lao đối với sự nghiệp giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã và đang gặp những khó khăn trong cuộc sống; thứ tư, nhiều cơ quan, nhiều ngành, nhiều cấp và toàn
Trang 13dân tham gia việc hoạch định, thực thi chính sách TB, BB, GĐLS; thứ năm, việc thực thi chính sách TB, BB, GĐLS phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi địa phương.
Chính sách TB, BB, GĐLS luôn được bổ sung hoàn thiện và được luật hóa
Văn bản pháp luật đầu tiên về ưu đãi người có công với cách mạng là Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký ngày 16-2-1947, sau đó được bổ sung bằng Sắc lệnh số 242/SL ngày 12-10-1948, quy định tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng “tử sĩ”, thực hiện chế độ “lương hưu thương tật” đối với thương binh, chế độ “tiền tuất” đối với gia đình liệt sĩ
Ngày 29-6-2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, sửa đổi, bổ sung (số 26/2005/PL-UBTVQH11)
Theo đó, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đã mở rộng từ 7 đối tượng ở Pháp lệnh cũ lên 13 đối tượng Pháp lệnh sửa đổi năm 2005 còn bổ sung chế độ mai táng phí đối với một số đối tượng có công hưởng trợ cấp, phụ cấp hằng tháng;
bổ sung chế độ đối với người có công sau khi chết thân nhân của họ tiếp tục được hưởng một khoản trợ cấp; bổ sung chế độ đối với bố mẹ, vợ hoặc chồng, người có công nuôi dưỡng liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng không phụ thuộc tuổi đời; thân nhân hai liệt sĩ được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng; bổ sung chế độ bảo hiểm y tế và mai táng phí đối với người hoạt động kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp một lần; quy định người hoạt động kháng chiến
bị nhiễm chất độc hoá học là người có công với cách mạng Ngày 26-6-2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, theo đó, ngoài chế độ trợ cấp, người hoạt động kháng chiến còn được hưởng các ưu đãi khác như bảo hiểm
y tế; điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình…, con đẻ của họ được hưởng chế độ ưu đãi trong giáo dục và đào tạo
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, ngày 18-6-2007, Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
Trang 14mạng, sửa đổi, bổ sung lần thứ ba Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng có
Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH, ngày 15-11-2007, hướng dẫn bổ sung việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, trong đó quy định: người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến được Nhà nước tặng huân chương, huy chương kháng chiến đã chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì thân nhân của họ được hưởng trợ cấp một lần như quy định đối với thân nhân người có công với cách mạng chết trước ngày 1-1-1995
Tiếp đó, ngày 7-4-2009, Bộ LĐTB&XH đã ban hành Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn điều kiện, tiêu chuẩn giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học và con đẻ của họ Theo đó điều kiện để hưởng chế độ ưu đãi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là: đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8-1961 đến 30-4-1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hoá học; mắc một trong những bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học/điôxin theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20-2-2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc hoá học điôxin
Như vậy, chính sách TB, BB, GĐLS đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ cách mạng, qua nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, đã phát triển thành hai pháp lệnh Đó là Pháp lệnh Phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Mẹ Việt Nam anh hùng và Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, TB, BB, LS và GĐLS, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp
đỡ cách mạng
Chính sách TB, BB, GĐLS được cụ thể hóa thành các tiêu chí mang tính
định lượng Theo Pháp lệnh Số: 04/2012/UBTVQH13 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì chính sách thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ bao gồm:
Chính sách trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với TB, BB và GĐLS; Chính sách ưu
Trang 15đãi về y tế chăm sóc, sức khỏe cho TB, BB và GĐLS; Chính sách ưu đãi về nhà ở cho TB, BB và GĐLS; Chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho
TB, BB và GĐLS; Chính sách ưu đãi giáo dục và đào tạo đối với con em TB, BB
và GĐLS Ngoài ra còn một số chính sách ưu đãi khác đối với TB, BB và GĐLS
Có thể thấy rõ vấn đề này thông qua một số nội dung chính về chế độ ưu đãi đối với thương binh: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh; bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước; thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên nếu về sống ở gia đình được trợ cấp người phục vụ Người phục vụ thương binh được Nhà nước mua bảo hiểm y tế Thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được Nhà nước mua bảo hiểm y tế cho cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con
từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng Khi thương binh chết thì người
tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, thân nhân được hưởng một khoản trợ cấp Con của thương binh được hưởng chế độ ưu tiên trong tuyển sinh và tạo việc làm, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo
Chính sách TB, BB, GĐLS hướng tới một đối tượng cụ thể, có nhiều công lao đối với sự nghiệp giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã và đang gặp những khó khăn trong cuộc sống Về thương binh, bệnh binh, liệt sĩ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết, đó là những người “quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào Họ hy sinh gia đình và tài sản họ, để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống Họ là những chiến sĩ anh dũng của ta Trong đó, có người đã bỏ lại một
phần thân thể ở trước mặt trận Có người đã bỏ mình ở chiến trường Đó là thương binh, đó là tử sĩ"[42, tr.466]
Thương binh, bệnh binh là những người mang thương tật, nên khả năng lao động suy giảm vì thế họ gặp nhiều khó khăn trong bảo đảm cuộc sống thường
Trang 16ngày, đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của hệ thống chính trị các cấp và toàn thể nhân dân Đại hội Đảng lần thứ X (4-2006) chỉ rõ: “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi người có công với nước; vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa; nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công ngang bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư”
Việc hoạch định, thực thi chính sách TB, BB, GĐLS có sự tham gia của nhiều cơ quan, nhiều ngành, nhiều cấp và toàn dân Có thể thấy rất rõ rằng, việc
ban hành chính sách thuộc về chức năng, quyền hạn của Nhà nước trên cơ sở cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước, thực tiễn việc thực thi chính sách TB, BB, GĐLS; việc tổ chức thực hiện thuộc chức năng, quyền hạn của cấp huyện, xã dưới sự chỉ đạo cùa cơ quan chức năng, theo quy định của pháp luật Với cách thức tổ chức về chính sách TB,
BB, GĐLS có thể xẩy ra tình trạng chính sách đúng, cụ thể nhưng thực hiện không đúng, không cụ thể, hoặc một chính sách mà mỗi địa phương hiểu và thực hiện theo cách riêng, không thống nhất.
Chăm lo đời sống cho TB, BB và GĐLS là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước
và nhân dân Việc huy động nhân dân tham gia với tinh thần nhân văn, với truyền thống “uống nước nhớ nguồn” là một bảo đảm cho việc thực thi chính sách TB,
BB và GĐLS đạt hiệu quả thiết thực, song đây là một việc không dễ, Trên thực tế
có địa phương huy động được sức mạnh của nhân dân chăm lo đời sống cho TB,
BB và GĐLS nhưng cũng có địa phương chưa làm tốt
Việc thực thi chính sách TB, BB, GĐLS phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi địa phương Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào diều kiện kinh
tế - xã hội của đất nước mà nội dung của các chính sách đối với TB, BB, GĐLS có
những quy định cụ thể Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy rằng, chính sách xã hội nói chung, chính sách TB, BB, GĐLS phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế
- xã hội Chúng ta không thể có những quy định chính sách TB, BB, GĐLS vượt
xa khả năng bảo đảm của nền kinh tế Nếu chính sách TB, BB, GĐLS không bám
Trang 17sát vào điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước sẽ rơi vào sự “không tưởng”, giáo điều, chủ quan duy ý chí.
Trên đất nước ta hiện nay đã và đang có sự phân hóa về kinh tế - xã hội giữa các địa phương Có địa phương đóng góp rất lớn vào ngân sách nhà nước, song cũng không ít địa phương phải dựa vào ngân sách nhà nước để bảo đảm hoạt động của hệ thống chính trị Có quận, huyện khá giả nhưng vẫn còn 62 huyện nghèo
Trong khi đó, có những nội dung cụ thể của chính sách TB, BB, GĐLS phải căn
cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương để thực hiện như quà thăm hỏi nhân các ngày lễ, việc bảo đảm chỗ ở cho TB, BB, GĐLS, bảo đảm việc làm cho con em TB, BB, GĐLS, Trên thực tế, việc thực thi chính sách TB, BB, GĐLS ở các địa phương trên cả nước ta vừa có những nét chung, vừa mang sắc thái riêng, tạo nên bức tranh đa dạng.
Việc thực thi chính sách TB, BB, GĐLS phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã
hội của đất nước, của mỗi địa phương mang tính khách quan ngoại trừ những yếu
tố chủ quan như nhận thức, thái độ, trách nhiệm và hành vi của những cán bộ được giao nhiệm vụ thực thi chính sách TB, BB, GĐLS.
Thực tiễn đã cho thấy rằng, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách
xã hội đối với những người đã hy sinh xương máu, trí lực cho nền độc lập tự do và
sự phát triển của đất nước Các chính sách đối với TB, BB và GĐLS của Đảng, Nhà nước ta là sự tiếp nối truyền thống nhân văn, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc; khẳng định nhà nước của ta thực sự của dân, do dân, vì nhân dân, toàn bộ hoạt động của Đảng, Nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, không ngừng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có đời sống của TB,
BB và GĐLS
1.1.2 Vai trò của chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng đã rất coi trọng công tác chăm sóc TB, BB và GĐLS Người
đánh giá cao sự đóng góp của TB, BB và GĐLS với cách mạng; kính trọng và tôn
Trang 18vinh những anh hùng liệt sĩ Người phân tích, lý giải về đạo lý, về bổn phận, trách nhiệm của đất nước, của nhân dân, của hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với công tác TB, BB và GĐLS Người luôn coi trọng việc biểu dương kịp thời những tấm gương sáng, những việc làm tốt của TB, BB.
Trong những năm tháng kháng chiến chống giặc ngoại xâm, Đảng, Nhà nước
ta khẳng định công tác chăm sóc TB, BB và GĐLS đã góp phần củng cố vững chắc hậu phương, tạo điều kiện cho tiền tuyến đánh giặc lập công Đặc biệt trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đều phản ánh rất rõ sự đánh giá đúng đắn vai trò, ý nghĩa của công tác ưu đãi người có công với cách mạng Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã khẳng định: “Tổ chức việc săn sóc và giúp đỡ chu đáo anh chị em thương binh, gia đình liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng là một nhiệm vụ to lớn của Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể, của các ngành, các cấp và của toàn dân” [43, tr.576]
Tiếp tục khẳng định nhiệm vụ to lớn của Nhà nước và của nhân dân đối với công tác chăm sóc TB, BB và GĐLS, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI, lần thứ VIII trong thời kỳ đổi mới đất nước “coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế” Chính sách TB, BB và GĐLS có vai trò quan trọng,
nó phản ánh sự quan tâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ
đi sau đối với thế hệ cha anh Vì vậy, nó có ý nghĩa xã hội và nhân văn rất sâu sắc Làm tốt chính sách TB, BB và GĐLS sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế Ngược lại, nếu thực hiện không tốt sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị xã hội, ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước Thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS thể hiện ngay trong bản chất và chức năng của Nhà nước Nhà nước ta vừa
là tổ chức quyền lực chính trị công cộng, đại diện cho giai cấp công nhân và tuyệt đại đa số nhân dân lao động, vừa là đại diện cho dân tộc Vì vậy, thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS là sự kết hợp lợi ích giai cấp và lợi ích của dân tộc, đảm bảo cho đất nước, cho dân tộc có sự phát triển lâu dài và bền vững
Trang 19Chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, mà còn thể hiện truyền thống và đạo lý của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Vì vậy, từ trước tới nay, bất luận trong hoàn cảnh nào, Đảng và Nhà nước cũng luôn luôn xác định chính sách đối với TB, BB, liệt sĩ và người có công với Tổ quốc là một trong những chính sách lớn có vị trí rất quan trọng trong chiến lược con người Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã từng bước sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với TB, BB, GĐLS và người có công với cách mạng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) nhấn mạnh: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền
ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có
công với cách mạng”[11, tr.74] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng cũng chỉ rõ: “có
chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh” Thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS là góp phần vào thực hiện chính sách con người của quốc gia, nhằm làm cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai ý thức về trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với tổ quốc, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước
Vai trò của chính sách thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ được biểu hiện trên một số nội dung cụ thể sau:
Một là, thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS góp phần bảo đảm và ổn định cuộc sống cho các đối tượng chính sách Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân, bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, yêu thương và giúp
đỡ họ"; những năm qua, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình xây dựng chủ
Trang 20nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội ta luôn phát huy truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa"; làm tốt việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng; bảo đảm cho các đối tượng chính sách từng bước có cuộc sống ổn định cả về vật chất và tinh thần Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh Trước khi mất, trong di chúc Người có viết: “Đối với những người đã dùng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, công an, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…) Đảng, Chính phủ
và đồng bào phải tìm cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh”[45, tr.503, 504]
Hai là, thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS góp phần củng cố niềm tin của các đối tượng chính sách, các tầng lớp xã hội đối với Đảng, Nhà nước và chế
độ xã hội chủ nghĩa Xuyên qua những chế độ quy định cụ thể, chính sách TB, BB
và GĐLS là sự thể hiện quan điểm, thái độ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hy sinh một phần xương máu của mình cho nền độc lập tự
do của Tổ quốc Với phạm vi tác động và hiệu quả rộng lớn chính sách TB, BB và GĐLS thẩm thấu đến từng người, từng gia đình, từng tổ chức Chính sách không những tác động trực tiếp đến các TB, BB và GĐLS mà còn tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm, tư tưởng và ý thức chính trị của mọi tầng lớp nhân dân Thông qua sự ghi nhận công lao, trân trọng cống hiến của các TB, BB và GĐLS; sự chăm sóc, đùm bọc, giúp đỡ, bảo vệ của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với họ và gia đình họ đã làm tăng thêm tình cảm, niềm tin của họ vào Đảng, Nhà nước và chế
độ, tăng thêm lòng tự hào, ý chí tự lực tự cường khắc phục khó khăn Đó là nguồn động lực mạnh mẽ giúp họ tiếp tục phấn đấu vươn lên, hăng hái đi đầu xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước hiện nay
Trang 21Ba là, thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh và xây dựng hệ thống chính trị ở
cơ sở vững mạnh Công tác TB, BB và GĐLS có vị trí hết sức quan trọng, làm tốt
công tác này là góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước Đất nước ta luôn tự hào biết bao thế hệ những người Việt Nam “Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành” với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” sẵn sàng hi sinh, vượt qua gian khổ, quyết giành độc lập tự do cho Tổ quốc Bước vào thời kỳ mới, lực lượng TB, BB và GĐLS tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của người lính Cụ Hồ, ra sức phấn đấu thi đua, bảo vệ những thành quả cách mạng, xây dựng và phát triển Đảng, chính quyền địa phương góp phần bảo vệ chế
độ XHCN; gương mẫu đi đầu trong lao động, sản xuất kinh doanh; góp sức mình cùng với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH quê hương, đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn trân trọng và tạo điều kiện thuận lợi
để TB, BB và GĐLS phát triển toàn diện; chủ động tham gia đóng góp ý kiến cho cấp uỷ, chính quyền các cấp về các vấn đề chính trị - xã hội; kịp thời phát hiện, đề xuất các giải pháp và tham gia tích cực trong việc giải quyết các vụ việc phức tạp, nổi cộm, nhất là vấn đề an ninh ở nông thôn, an ninh tôn giáo Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc; các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, lãng phí; đấu tranh chống các âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, góp phần ổn định tình hình chính trị địa phương, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền Nhiều chủ trương, chính sách ra đời đã thúc đẩy và phát huy các giá trị truyền thống cách mạng, bản chất anh hùng của người lính Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh
Trang 22Động viên cựu chiến binh giúp nhau làm kinh tế, cải thiện đời sống, tích cực tham gia giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh” [15, tr 243, 244].
Bốn là, thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS góp phần khơi dậy, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Truyền thống của dân tộc Việt Nam ta luôn luôn suy tôn và tri ân những người có công với cách mạng Truyền thống đó hun đúc thành đạo lý “Đền ơn đáp nghĩa”,
“Uống nước nhớ nhuồn” Truyền thống, đạo lý đó được nhân lên trong thời đại
Hồ Chí Minh, phản ánh rõ nét trong chính sách xã hội, chính sách TB, BB và GĐLS Thông qua việc thể hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa tình, chính sách góp phần giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chế độ, tình cảm cách mạng trong sáng cho mọi người, nhất là thế hệ trẻ Lòng yêu mến, trân trọng những người con
đã hy sinh, cống hiến cho đất nước; trân trọng, tự hào nền độc lập tự do của dân tộc được đổi lấy bằng xương máu của hàng triệu người con, từ đó sẵn sàng xả thân vì dân, vì nước là biểu hiện rõ ràng truyền thống yêu nước, yêu chế độ của mỗi người
Nói tới chủ nghĩa anh hùng là nói tới tinh thần dũng cảm hy sinh Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chúng ta chính là chủ nghĩa anh hùng của thời đại ngày nay, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân Đồng chí Phạm Văn Đồng tại Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước năm 1967 đã phân tích kỹ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng ấy: “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng là sản phẩm của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam Nó không ngừng phát triển qua các giai đoạn đấu tranh ngày càng rộng lớn và quyết liệt từ khi Đảng ta ra đời, qua cách mạng tháng Tám, qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, qua cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, qua 10 năm cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đến sự nghiệp
Trang 23chống Mỹ ngày nay Nó phát huy truyền thống của dân tộc, phát huy phẩm chất cao thượng của người Việt Nam ta Đồng thời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam là sản phẩm của thời đại ngày nay, thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và tan dã của chủ nghĩa đế quốc Đó là chủ nghĩa anh hùng của giai giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc đang đấu tranh để tự giải phóng…”[47, tr 3].
Chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ thể hiện ở một số người ưu tú nhất
mà đang trở thành nếp sống chiến đấu và lao động của hàng triệu quần chúng thuộc mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp nhân dân; chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ nảy nở ở những mặt trận đấu tranh quyết liệt với quân thù mà đang mở rộng toàn diện, khắp mọi nơi, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, ở nông thôn và thành thị, ở đồng bằng và miền núi, ở trên mặt trận chiến đấu và mặt trận sản xuất, trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, chủ nghĩa anh hùng cách mạng không chỉ bùng lên đột xuất trong những giờ phút thử thách gay
go nhất mà đang diễn ra thường xuyên hàng ngày, hàng giờ trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài bền bỉ
Ðể giành được độc lập, tự do, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ cách mạng của ta đã
bị địch bắt, cầm tù, tra tấn và sát hại một cách dã man Dưới chế độ nhà tù hà khắc được coi là "địa ngục trần gian" của thời đại văn minh, nhưng các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày vẫn luôn nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng, hy sinh gian khổ, đoàn kết, sáng tạo, đấu tranh trực diện với kẻ thù; biến nhà tù của thực dân, đế quốc trở thành trường học cách mạng, nâng cao trình độ chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, mài sắc ý chí đấu tranh Nhiều đồng chí đã trở thành những nhà lãnh đạo kiệt xuất, những nhà quản lý tài ba, những nhà khoa học xuất sắc của đất nước ta Tinh thần bất khuất, khí phách kiên cường, quả cảm chịu đựng hy sinh, gian khổ của các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau noi theo, nhất là thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay Ðể ghi nhớ công lao to lớn của những
Trang 24người đã hy sinh xương máu vì nước, vì dân, Ðảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi đối với TB, BB và GĐLS Ðây không những là trách nhiệm cao cả của các thệ hệ sau đối với thế hệ anh hùng đi trước, mà còn là biểu hiện của đạo lý truyền thống tốt đẹp "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam.
1.1.3 Yếu tố chi phối quá trình tổ chức thực hiện chính sách thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở cấp huyện, cấp xã hiện nay
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay có 4 cấp: Trung ương, tỉnh thành phố (cấp tỉnh), quận huyện thị xã (cấp huyện), xã phường thị trấn (cấp xã) Cấp tỉnh, huyện được xem là “cấp trung gian”, song cấp huyện là cấp chỉ đạo, quản lý, điều hành trực tiếp xây dựng và hoạt động của cấp xã Cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở địa phương Xét trong phạm vi hoạt động về chính sách TB, BB, GĐLS, cấp huyện và cấp xã
là cấp tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước đối với TB, BB, GĐLS.Quá trình thực thi chính sách TB, BB và GĐLS sẽ liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân vì thế kết quả tổ chức thực thi chính sách cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, các yếu tố chủ yếu:
Một là, vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị cấp huyện, cấp xã trong
tổ chức thực hiện chính sách thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Chính sách TB, BB và GĐLS ở nước ta trong tình hình hiện nay là một chính sách lớn và rất quan trọng, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn
xã hội Đây là nghĩa vụ, là tình cảm, là lòng chung thủy của mọi người dân đối với những người đã có công lao đối với Tổ quốc Giải quyết tốt công tác TB, BB và GĐLS sẽ có ảnh hưởng tốt đến các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có ảnh hưởng đến tinh thần, thái độ và trách nhiệm của quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc cũng như đến việc củng cố sự đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng ở hậu phương
Cấp huyện, cấp xã là cấp cơ sở trong hệ thống quản lý hành chính của Nhà nước, là nơi sinh sống của các đối tượng chính sách Cấp huyện, xã và đơn vị cơ
Trang 25sở có vị trí hết sức quan trọng trong việc thực hiện các chính sách đối với TB, BB
và GĐLS Bởi vì, cấp huyện, xã thay mặt Nhà nước trực tiếp chăm sóc TB, BB và GĐLS, thực hiện đầy đủ, chu đáo các chính sách, chế độ gồm các khoản phụ cấp, trợ cấp hàng tháng, bảo đảm y tế, phục hồi chức năng, động viên khai thác mọi tiềm năng của cộng đồng để đáp ứng những nhu cầu về đời sống người có công
Do vậy, hệ thống chính trị cấp huyện, xã giữ vai trò quan trọng quyết định trong tổ chức thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS ở các địa phương
Vai trò của hệ thống chính trị cấp huyện xã trong tổ chức thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS ở các địa phương thể hiện ở vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò quản lý và điều hành của chính quyền, vai trò vận động và tổ chức nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp huyện xã Vấn đề mấu chốt là phải tạo ra sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các tổ chức trong của hệ thống chính trị cấp huyện xã, sự thống nhất trong lãnh đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện để chính sách đến được đúng,
đủ, kịp thời, hiệu quả đối với TB, BB, GĐLS Đồng thời phải có cơ chế hoạt động
để vừa phát huy vai trò của hệ thống chính trị vừa huy động được sức mạnh của nhân dân trong việc chăm lo cho TB, BB, GĐLS ở địa phương
Xuất phát từ vai trò đó, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp huyện xã là
ra chủ trương lãnh đạo đúng, sáng suốt, kịp thời và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS ở địa phương, kịp thời phát hiện gương tốt, mặt tốt để biểu dương nhân điển hình, phát hiện những bất cập, khuyết điểm
để sửa chữa, điều chỉnh Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện xã là chỉ đạo điều hành, quản lý tốt quá trình triển khai thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS ở địa phương theo đúng chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội là tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS ở địa phương
Trang 26Một trách nhiệm rất lớn của hệ thống chính trị cấp huyện xã là lựa chọn, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng đội ngũ cán bộ, viên chức trực tiếp làm công tác chính sách TB, BB, GĐLS ở địa phương; thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động của đội ngũ này cả trên phương diện tổ chức và phương diện cá nhân, có những khen thưởng, xử phạt đúng, kịp thời, nghiêm minh với đội ngũ cán bộ, viên chức làm công tác chính sách TB, BB, GĐLS ở địa phương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.
Hai là, điều kiện kinh tế - xã hội ở cấp huyện, cấp xã
Cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian qua đã đạt được những thành
tựu to lớn Đó là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu và điều kiện vật
chất để giải quyết các vấn đề xã hội Đất nước ta vừa ra khỏi chiến tranh, trải qua
thời kỳ dài của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, nền kinh tế lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh; cơ sở vật chất còn thiếu thốn; do vậy, việc thực hiện các chế độ ưu đãi đối với TB, BB, GĐLS sau chiến tranh là một vấn đề phức tạp trong khi tiềm lực kinh tế của đất nước lại gặp nhiều khó khăn Bởi bất cứ một chính sách nào cũng phải dựa trên khả năng kinh tế của đất nước hoặc dựa trên sự phát triển kinh tế từng địa phương với quy mô, bình diện khác nhau Những chính sách tưởng chừng như không liên quan đến kinh tế, như quốc phòng - an ninh, văn hoá
- xã hội hay thực hiện quy chế tổ chức ở cơ sở cũng không thể tách rời các điều kiện kinh tế Hiểu một cách đơn giản nhất, trước hết là khả năng của ngân sách cấp cho hay khả năng huy động các nguồn lực vật chất để thực hiện chính sách Yếu tố kinh tế là một nội dung quan trọng để chăm lo bảo đảm lợi ích vật chất cho
TB, BB, GĐLS Thông qua chính sách ưu đãi đối với TB, BB và GĐLS mà đời sống của các đối tượng chính sách ngày càng được cải thiện trước hết là “ăn, mặc,
ở, đi lại” là những yêu cầu tối thiểu nhất mà xã hội đáp ứng
Điều kiện kinh tế có tác động rất lớn đến việc thực hiện chính sách TB, BB
và GĐLS Ở một số xã trong huyện vẫn gặp nhiều khó khăn không chỉ đối với
Trang 27phát triển kinh tế - xã hội mà cả trong việc thực hiện chính sách xã hội nói chung
và chính sách TB, BB và GĐLS nói riêng Nhiều gia đình TB, BB và GĐLS có thu nhập rất thấp, chỉ trông chờ vào chế độ trợ cấp của Nhà nước dẫn đến phân hóa giàu nghèo trong các tầng lớp dân cư Được sự quan tâm của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, cùng với việc tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, đặc biệt là chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong toàn huyện cho nên việc thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS của huyện trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ
Cùng với điều kiện kinh tế, các vấn đề về xã hội ở các địa phương cũng là một tác nhân chi phối việc thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS như: tính cộng đồng, tình nghĩa làng xóm, phong trào xã hội, văn hóa truyền thống, quan hệ dòng họ,… Địa phương nào tính cộng đồng bền chặt, tình nghĩa làng xóm dòng họ sâu sắc, truyền thống văn hóa thương yêu đùm bọc lẫn nhau được phát huy ở địa phương đó việc thực hiện chính sách TB, BB, GĐLS trở thành phong trào xã hội sâu rộng, đem lại hiệu quả cao Xã hội hòa thuận, ổn định, ít biến động, đậm chất nhân văn, nhân nghĩa là môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực thi chính sách
xã hội đối với TB, BB, GĐLS
Ba là, phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác chính sách
Công tác chính sách giữ vị trí trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng Đội ngũ cán bộ làm công tác chính sách, là chỗ dựa tin cậy của cấp ủy Đảng, trực tiếp tham mưu cho các cấp ủy về việc thực thi các chính sách đối với TB, BB và GĐLS Bởi vậy, để nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, nhất thiết nhiệm
vụ nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ chính sách phải được đặt lên
hàng đầu Vấn đề bố trí cán bộ đủ đức, tài đảm nhiệm công tác TB, liệt sĩ, Đảng ta
khẳng định: “Vấn đề thương binh liệt sĩ và các vấn đề xã hội lớn vừa phức tạp, lại
Trang 28là vấn đề phải giải quyết lâu dài, vì vậy, rất cần các cấp ủy đảng và chính quyền đặc biệt quan tâm cấp ủy đảng và chính quyền địa phương cần bố trí đủ số cán
bộ cần thiết cho các cơ quan thương binh và xã hội Phải chọn cán bộ có phẩm chất, có nhiệt tình với công tác này, có khả năng chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách”[44, tr.267, 269] Người làm công tác chính sách cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có quan điểm, chính kiến rõ ràng; có tính quyết đoán đối với công việc; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; có ý chí khắc phục khó khăn, đứng vững trước những cám dỗ, sức ép trong công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và mạnh dạn đổi mới, không trì trệ, bảo thủ Trong công việc phải trung thực, khách quan, công tâm, công khai, công bằng, dân chủ, không phân biệt thân sơ, sang hèn; Không báo cáo, phản ánh tình hình sai sự thật, không khuất tất, mờ ám Luôn gần gũi với mọi người, giải quyết công việc trên cơ sở có lý, có tình
Người cán bộ chính sách phải có phương pháp làm việc khoa học, đi sâu phân tích, tìm hiểu cặn kẽ hoàn cảnh, điều kiện làm việc, khả năng, nguyện vọng
và tâm tư tình cảm của TB, BB và GĐLS Do đó, đòi hỏi người cán bộ chính sách phải được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ công tác tổ chức, những kiến thức về tâm lý học, kỹ năng hiểu biết, nghệ thuật ứng xử đối với con người Bởi hơn bất cứ nghề nghiệp nào, công tác chính sách là một nghề khó khăn, phức tạp
vì đối tượng tác động tới chính là con người, mà mỗi người lại có hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục, văn hóa khác nhau với các mối quan hệ xã hội đa dạng
và phức tạp
Trong thực hiện chính sách đối với TB, BB và GĐLS, bản thân họ những người trực tiếp làm việc trong hệ thống chính trị cơ sở là những người thực thi chính sách cũng như trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng chính sách Chính vì vậy ngoài năng lực, trình độ và ý thức chính trị của mỗi con người chủ thể ra chính sách cần phải nghiên cứu những đặc tính tâm lý của từng loại đối tượng Nghiên cứu và vận dụng đúng đặc tính tâm lý của từng loại đối tượng chính sách sẽ giúp
Trang 29cho cán bộ tự tin và thuận lợi trong việc thực thi nhiệm vụ và ngược lại nếu không tính đến vấn đề này sẽ rất khó khăn cho cán bộ chính sách, thậm chí là phản tác dụng Do vậy, cấp ủy Đảng các cấp cần quan tâm xây dựng đội ngũ làm công tác tham mưu trong thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS đáp ứng những yêu cầu tiêu chuẩn trên, tin rằng công tác chính sách sẽ có nhiều chuyển biến tích cực; góp phần không ngừng nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Bốn là, thái độ của thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
Thái độ của đại đa số quần chúng nhân dân phản ánh mức độ phù hợp hay không phù hợp của chính sách khi mới ban hành đối với lợi ích của nhân dân (đương nhiên phải loại trừ trường hợp quần chúng bị kẻ xấu kích động, lôi kéo lợi dụng) Thái độ của quần chúng nhân dân; các tổ chức kinh tế, văn hoá, chính trị, tôn giáo hoặc dân cư một địa phương, vùng đặc biệt là TB, BB và GĐLS, đối tượng trực tiếp được hưởng chính sách, nếu đồng tình với chính sách sẽ là thuận lợi cho chính sách đi vào cuộc sống, thực thi có hiệu quả, còn nếu dân chúng thờ ơ hay phản đối sẽ trở thành những trở ngại to lớn trong việc thực thi chính sách Chính sách TB, BB và GĐLS nếu phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, những con người được nhân dân tin yêu, kính trọng, được Đảng, Nhà nước quan tâm hỗ trợ sẽ trở thành động lực thúc đẩy mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Trường hợp chính sách mà Nhà nước đưa ra đi ngược lại, làm nguy hại đến lợi ích, đời sống của dân chúng đều có thể dẫn đến những xung đột chính trị, trở thành điểm nóng, thậm chí biến thành vũ trang chính trị, bạo loạn lật đổ Do vậy, khi ban hành một chính sách, một chủ trương không thể không xem xét đến nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân, đến nguyện vọng cũng như tâm
lý xã hội của các nhóm lợi ích khác nhau Còn đối với TB, BB và GĐLS thì cần giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ; có thái độ khiêm tốn, đoàn kết với mọi người, có tinh thần kỷ luật cao, luôn luôn xứng đáng là
Trang 30người con trung hiếu của Đảng, của nhân dân, đồng thời thấy rõ những khó khăn chung của đất nước trong giai đoạn hiện nay mà tích cực sản xuất, công tác, học tập, tiếp tục cống hiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.2 Thực trạng chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
Vài nét về huyện Cẩm Giàng và thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng hiện nay
Cẩm Giàng là một trong 12 huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Hải Dương, nằm ở phía tây nam của tỉnh, với tổng diện tích tự nhiên là 108,95 km² (bằng 9,64% diện tích toàn tỉnh), số dân 121.935 người, được chia ra làm 17 xã và 2 thị trấn, thị trấn Lai Cách là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện Cẩm Giàng có vị trí tương đối thuận lợi trong viêc giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùng trong và ngoài tỉnh
Cẩm Giàng là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Ngay từ những năm đầu thế kỷ trước, Cẩm Giàng đã là cái nôi của phong trào đấu tranh cách mạng Bắt nguồn và kết tinh từ bề dày lịch sử, chiều sâu văn hóa của dân tộc đã xây
dựng nên truyền thống của quê hương Cẩm Giàng: luôn đoàn kết gắn bó, năng động sáng tạo cho dù ở hoàn cảnh nào, thời kỳ nào
Cách đây vừa tròn 67 năm, Đảng bộ huyện Cẩm Giàng được thành lập Đây
là sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ trong phong trào cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Cẩm Giàng Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân huyện Cẩm Giàng đã kiên cường đấu tranh, góp phần cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhân dân huyện Cẩm Giàng đã vươn lên xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và đang từng bước vươn lên trở thành huyện công nghiệp Sau
25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Cẩm Giàng đã giành
Trang 31được những thành tựu to lớn, tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; xây dựng Đảng, củng cố chính quyền và các đoàn thể, làm thay đổi cơ bản đời sống vật chất tinh thần của nhân dân Năm
2012, tổng sản phẩm bình quân đầu người trên địa bàn đạt trên 20 triệu đồng
Những năm qua, kinh tế của huyện tăng trưởng từ 10-15%/năm Năm
2010, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 16,6%; công nghiệp 65,2%, giao thông
và dịch vụ 18,2% Hiện nay trên địa bàn có 6 khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp đã và đang triển khai xây dựng Đã có trên 300 doanh nghiệp, trong đó có
136 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động địa phương
Trong sản xuất nông nghiệp, Cẩm Giàng luôn là địa phương tích cực ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất Đặc biệt, trong những năm gần đây, huyện đã chỉ đạo quy hoạch vùng sản xuất lúa lai, lúa chất lượng cao tập trung với trên 60% diện tích gieo cấy trong toàn huyện Năng suất lúa vẫn giữ vững truyền thống đứng trong tốp đầu của tỉnh (năm 2010 năng suất lúa cả năm đạt 125 tạ/ha) Giá trị sản xuất bình quân đạt 90 triệu đồng/ha đất nông nghiệp
Về giáo dục, văn hóa – xã hội Toàn huyện có 61 làng văn hoá, hơn 70% số
hộ đạt gia đình văn hoá, 29 trường đạt chuẩn quốc gia Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến Hằng năm huyện có hàng trăm học sinh đoạt giải ở các cấp học, năm 2010 có 771 em thi đỗ vào các trường đại học và cao đẳng Cả 19 trạm y
tế trên địa bàn huyện đã đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,91% phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã được triển khai thực hiện đạt kết quả Nhà văn hoá ở các thôn, KDC được đầu tư xây dựng, nâng cấp và thường xuyên được bổ sung các trang thiết bị phục vụ sinh hoạt hội họp và các hoạt động VHVN-TDTT Trong 5 năm trở lại đây, huyện đã giải quyết việc làm mới cho trên 13 nghìn lao động, quan tâm thực hiện tốt chính sách đối với người có công, người nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội
Trang 32Quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường, trật tự an toàn xã hội được
giữ vững Công tác xây dựng đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân vững mạnh thường xuyên được chú trọng, quan tâm Hằng năm, có trên 80% tổ chức cơ
sở đảng, chính quyền trong huyện đạt TSVM Năm 2006, cán bộ và nhân dân huyện được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba
Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, quân và dân Cẩm Giàng đã cùng với nhân dân cả nước lập nhiều chiến công vang dội như du kích sông Mao, phụ nữ Kim Giang với đòn gánh đánh Tây, đặc biệt là những chiến công ròn rã trên tuyến đường sắt, “Tiếng sấm đường 5” làm cho giặc Pháp khiếp vía kinh hoàng, qua đó góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, Đảng bộ và nhân dân Cẩm Giàng với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược” đã tiễn đưa hàng vạn con em “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ” Trong 10 năm (từ 1965 - 1975), toàn huyện đã đóng góp trên 71 nghìn tấn lương thực, hơn 14 nghìn tấn thực phẩm chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam
Trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, cùng với cả nước, hàng vạn người con ưu tú của quê hương Cẩm Giàng đã nối tiếp nhau lên đường đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường Có biết bao người con của quê hương đã anh dũng hy sinh hoặc mất đi một phần máu thịt của mình, hiến trọn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân Như lời Bác Hồ đã nói “Máu đào của các liệt sỹ đã nhuộm lá cờ cách mạng vẻ vang thêm đỏ chói Tiếng thơm của các liệt sỹ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh” [46, tr.427] Theo số liệu của Phòng LĐTB&XH toàn huyện có: 2.474 liệt sĩ; 1.565 thương bệnh binh, 299 người nhiễm chất độc hóa học, 89 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 6 tập thể và 1 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang,
1 đơn vị và 1 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Huyện Cẩm
Trang 33Giàng vinh dự được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu cao quý “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” [phụ lục 1].
Với nhiều thuận lợi và những khó khăn thách thức, song với tiềm năng và nguồn lực được xây dựng trên nền văn hiến và truyền thống anh hùng cách mạng, trong những năm tới, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân huyện Cẩm Giàng sẽ tiếp bước thắng lợi trên con đường đổi mới, xây dựng huyện Cẩm Giàng ngày càng giàu đẹp, dân chủ văn minh và sớm đạt mục tiêu trở thành huyện công nghiệp
1.2.1 Những ưu điểm về chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ
ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay và nguyên nhân.
* Ưu điểm thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay
Một là, chính sách trợ cấp ưu đãi hàng tháng đối với TB, BB, GĐLS được bảo đảm kịp thời, đúng, đủ, trực tiếp đến TB, BB và GĐLS
TB, BB và GĐLS là đối tượng ưu đãi đặc biệt, được Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội thường xuyên giúp đỡ, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống đối tượng có công Những năm gần đây huyện Cẩm Giàng đã thực hiện tương đối tốt chính sách chi trả trợ cấp ưu đãi đối với TB, BB và GĐLS, việc tăng giảm cho các đối tượng luôn đảm bảo đáp ứng kịp thời, chính xác những khoản trợ cấp này đến tay họ theo đúng quy định, định mức trợ cấp của Chính phủ Năm 2012 tổ chức tốt việc chi trả chế độ trợ cấp cho Người có công bảo đảm chính xác, kịp thời hàng tháng cho 2.950 đối tượng, chi truy lĩnh trợ cấp và trợ cấp
1 lần cho 3.090 đối tượng [30, tr.3] Các loại trợ cấp này gần đây đã đựợc sửa đổi, được nâng lên góp phần đáng kể trong thu nhập của người có công Một số loại trợ cấp được ban hành theo Nghị định 47/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/5/2012, như sau: [2, tr.3,4,5]
- Trợ cấp thương tật cho thương binh:
Trang 34+ Mức cao nhất: 3.560.000 đồng
- Trợ cấp bệnh tật cho bệnh binh:
- Trợ cấp tuất đối với thân nhân 1 liệt sỹ: 1.110.000 đồng
- Trợ cấp tuất thân nhân 2 liệt sỹ trở lên: 1.983.000 đồng
- Trợ cấp nuôi dưỡng đối với thân nhân liệt sỹ: 1.983.000 đồng
- Trợ cấp Bà mẹ Việt Nam anh hùng (còn sống): 1.983.000 đồng (không kể phụ cấp)
Cùng với việc hoàn trả và điều chỉnh trợ cấp cho các đối tượng đang hưởng, phòng LĐTB&XH huyện đã triển khai việc lập hồ sơ cho các đối tượng mới quy định tại pháp lệnh Qua số liệu báo cáo của phòng LĐTB&XH huyện Cẩm Giàng, năm 2012 đã giải quyết mai táng phí và trợ cấp 3 tháng cho 146 người có công từ trần; giải quyết chế độ ăn thêm lễ, tết cho 51 thương, bệnh binh nặng; thụ lý, đề nghị cho 07 vợ liệt sĩ tái giá hưởng chế độ tuất liệt sĩ [31, tr.2] Thực hiện các chính sách, chế độ đối với người có công và đối tượng bảo trợ xã hội Chỉ đạo thực hiện tốt việc cấp quà và trợ cấp khó khăn trong dịp tết Nhâm thìn và dịp Kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2012) với tổng số xuất quà là: 23.739 xuất, với tổng số tiền là: 5.689.790.000 đồng; trong đó, chi quà và trợ cấp khó khăn của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh cho 5.066 xuất với tổng số tiền là: 1.542.500.000 đồng; quà của Huyện ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ huyện trao tặng là: 1.972 xuất với số tiền là: 506.850.000 đồng [31, tr.2]
Hai là, thực hiện chính sách ưu đãi về nhà ở cho TB, BB, GĐLS là một chương trình hành động lớn, một phong trào xã hội
Thực hiện Nghị định số 91/1998/NĐ-CP ngày 09/11/1998 của Chính phủ ban hành kèm theo điều lệ xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Trong những năm qua phong trào này đã được toàn dân tham gia, các cấp ủy, chính quyền, các tổ
Trang 35chức chính trị - xã hội đã tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng quỹ
“Đền ơn đáp nghĩa” nhằm hỗ trợ vốn để sản xuất phát triển kinh tế gia đình; hỗ trợ giúp các gia đình chính sách làm nhà ở, tu sửa nhà ở, hỗ trợ vốn để sản xuất phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ các đối tượng chính sách khi bị thiên tai hỏa hoạn …
Vì vậy, hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với TB, BB và GĐLS được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, vừa bức thiết trước mắt vừa lâu dài, cần có sự đầu tư chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể và của toàn xã hội.Thực hiện phương châm, nhà nước hỗ trợ, cộng đồng giúp đỡ, người có công
và gia đình đóng góp, đến nay toàn huyện đã xây dựng thành một chương trình hành động cụ thể huy động sự đóng góp của các tổ chức kinh tế, các đơn vị trong
và ngoài huyện, con em Cẩm Giàng sinh sống trên mọi miền của đất nước, sự đóng góp của tộc họ gia đình và bản thân đối tượng Bằng nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước, các cơ quan ban ngành và nhân dân đóng góp, trong 05 năm qua (2007 – 2012) với sự nỗ lực của chính quyền địa phương cũng như sự quan tâm của các cấp, Phòng LĐTB&XH huyện đã tham mưu cho UBND huyện đã hỗ trợ cho gần 1 ngàn hộ người có công cải thiện nhà ở; tổ chức xây dựng mới 4 ngôi nhà tình nghĩa, tu sửa nâng cấp 20 nhà Riêng năm 2012 huyện đã phối hợp với các ngành vận động, quyên góp hỗ trợ cho 7 đối tượng làm nhà ở, trong đó: 01 đối tượng gia đình liệt sĩ, 06 đối tượng thương binh với tổng số tiền gần 170 triệu đồng [31, tr.3] Đến nay, phần lớn các gia đình chính sách đã có nhà ở kiên cố và khắc phục được nhà ở tạm bợ Nhìn chung chính sách ưu đãi về nhà ở của huyện được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân rất quan tâm đến TB, BB và GĐLS, sử dụng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đúng mục đích, gây được những tình cảm đặc biệt của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
Ba là, chính sách ưu đãi về y tế, chăm sóc sức khỏe cho TB, BB, GĐLS được thực hiện đầy đủ, đúng quy định, chu đáo
Về công tác chăm sóc sức khoẻ cho TB, BB và GĐLS những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi Theo quy định TB, BB
Trang 36những người được hưởng chính sách như TB, BB mất sức lao động từ 21% trở lên được cấp sổ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh định kỳ Những năm qua phòng LĐTB&XH huyện cũng đã làm tốt những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các TB, BB và GĐLS, thể hiện sự quan tâm chăm sóc của các cấp ngành lãnh đạo ở địa phương đối với các đối tượng này Theo số liệu của Phòng LĐTB &XH
về tình trạng sức khoẻ của cácTB, BB cho thấy số TB, BB và GĐLS thường
xuyên ốm đau chiếm 64,73% (chủ yếu là TB, BB hạng 1, hạng 2 và những TB,
BB tuổi đã cao ) 30,38% số TB, BB và GĐLS thỉnh thoảng mới ốm, còn số TB,
BB ít khi ốm chiếm 4,9% trong tổng số 100% [phụ lục 2] Đến nay 100% số TB,
BB và GĐLS của huyện đều được cầp thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh phát thuốc định kỳ 2 lần/ năm Phòng LĐTB &XH huyện đã phối hợp với các trung tâm y tế huyện, xã và các cơ sở tổ chức khám và cấp thuốc cho đối tượng một cách tốt nhất Hàng năm huyện tổ chức đưa đón các đối tượng đi điều dưỡng tập trung, năm 2012 đưa 724 người, trong đó: Điều dưỡng tập trung ở Quảng Ninh 31 đối tượng, tại Sầm Sơn – Thanh Hóa cho 19 đối tượng Chi trả tiền điều dưỡng tại nhà cho 674 đối tượng [31, tr.2]
Cùng với việc thực hiện các chế độ ưu đãi của nhà nước, các chương trình chăm sóc TB, BB và GĐLS được quan tâm thích đáng và từng bước được xã hội hoá với nhiều phong trào sâu rộng, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, như “Áo lụa tặng bà” “Đi tìm địa chỉ đỏ”, “Áo ấm tặng bà”v.v , Cùng với phong trào phụng dưỡng
Bà mẹ Việt Nam anh hùng, việc chăm sóc bố mẹ liệt sỹ, đỡ đầu con TB, BB cũng được các địa phương, các ngành, đoàn thể quan tâm; có hàng ngàn hội viên Hội liên hiệp phụ nữ, đoàn viên thanh niên đã nhận phụ giúp công việc hàng ngày cho các mẹ; nhiều tổ chức, doanh nghiệp nhận đỡ đầu, cấp học bổng cho con TB, BB theo học tại các trường đại học, các cơ sở dạy nghề đã có những tác động sâu sắc đến tâm tư tình cảm TB, BB và GĐLS, góp phần cùng với nhà nước chăm sóc người có công thể hiện sâu sắc đạo lý truyền thống của dân tộc “Uống ước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”
Trang 37Chỉ tính riêng trong 5 năm trở lại đây (2007 đến 2012) toàn huyện đã vận động sự đóng góp tự nguyện theo trách nhiệm và tình cảm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” thăm hỏi, hỗ trợ người có công, hoặc thân nhân của họ khi khó khăn, ốm đau được gần 15 tỷ đồng để góp phần tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chính sách đối với người có công Đồng thời với việc vận động xây dựng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, việc vận động tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cũng được các ngành, địa phương hưởng ứng và thu được nhiều kết quả, đến nay toàn huyện đã huy động và tặng trên 5 ngàn sổ tiết kiệm tình nghĩa, bình quân mỗi sổ trị giá 500 ngàn đồng với số tiền trên 2,5 tỷ đồng, tặng những gia đình chính sách tiêu biểu hoặc khó khăn trong cuộc sống [30, tr.2].
Bốn là, chính sách ưu đãi về giáo dục, đào tạo đối với con em TB, BB và GĐLS đúng quy định, kịp thời, sát thực tế.
Chính sách ưu đãi về giáo dục là một trong những chính sách quan trọng đối với con em của TB, BB và GĐLS Các chế độ ưu đãi giáo dục - đào tạo đối với con TB, BB và GĐLS luôn được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát
triển chung của đất nước Những năm qua toàn huyện Cẩm Giàng đã thực hiện tốt
các chính sách ưu đãi giáo dục cho con em TB, BB như: cấp giấy chứng nhận cho học sinh phổ thông để được miễn giảm học phí, ưu tiên trong xét tuyển; huyện cũng hoàn chỉnh những hồ sơ về ưu đãi giáo dục, chi trả trợ cấp giáo dục theo đúng quy định của Nhà nước tạo điều kiện giảm bớt những khó khăn trong gia đình các em để các em có thể tiếp tục học tiếp Ngoài ra, chính quyền huyện cũng như địa phương xã, thôn đã quan tâm kịp thời tới công tác giáo dục, đã thành lập được nhiều quỹ khuyến học, khuyến khích động viên cho các em thi vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Hàng năm đến dịp tổng kết năm học chính quyền địa phương lại tổ chức gặp mặt các học sinh, sinh viên là con em TB, BB
để động viên, biểu dương, khích lệ, tặng quà tinh thần học tập của các em (Cấp xã
có quỹ hỗ trợ cho các em là học sinh nghèo vựơt khó để các em tích cực hơn nữa)
Trang 38Năm 2012 huyện đã duyệt và chi trợ cấp ưu đãi trong giáo dục – đào tạo cho 1.634 học sinh, sinh viên là con Người có công với tổng số tiền là: 2,6 tỉ đồng Xác nhận cho 286 lượt học sinh, sinh viên là con người có công đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng, các trường trung cấp, trường dạy nghề [31, tr.3] Với những chính sách ưu đãi, khuyến khích về giáo dục như thế đã mang lại điều đáng mừng, năm học 2011 - 2012 vừa qua 100% con em TB, BB đều được phổ cập giáo dục THCS (Theo báo cáo của phòng NV – LĐTB &XH huyện) Trước đây, số con em TB, BB và GĐLS thi đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng là rất ít, nhưng những năm gần đây do việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi trong giáo dục và do mức thu nhập cũng như nhận thức của người dân ngày càng cao lên số lượng con em TB, BB và GĐLS theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng Số liệu thống kê năm 2012 cho thấy
số con em TB, BB và GĐLS đi học Đại học 24 em chiếm 8,4%; Cao đẳng 42 em chiếm 14,68%; THCN 86 em chiếm 30,07% và số con TB, BB và GĐLS đi học trong các trường dạy nghề chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 46,85% trong tổng số con
em TB, BB và GĐLS đi học, đây là một con số chưa nhiều nhưng cũng đáng hoan nghênh [phụ lục 4] Qua đó có thể thấy chính sách ưu đãi giáo dục có vai trò rất lớn, không những tạo điều kiện cho con em TB, BB và GĐLS có thể theo học tại các trường, mà còn có ý nghĩa giáo dục tinh thần khích lệ, động viên ý thức tự giác chăm chỉ học hành nâng cao kiến thức, làm chủ tri thức, làm chủ khoa học, khi ra trường các em có nhiều cơ hội tìm được những việc làm tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội góp phần đảm bảo cuộc sống được tốt hơn
Năm là, chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất cho TB, BB, GĐLS đúng quy định, phù hợp với điều kiện của địa phương
Theo quy định, những thân nhân là bố, mẹ liệt sỹ, người có công nuôi liệt sỹ,
vợ hoặc chồng của liệt sỹ được miễn 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp TB hạng 1 và hạng 2 được miễn 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp, TB hạng 3 và
hạng 4 được giảm 50% thuế sử dụng đất nông nghiệp Trong những năm qua toàn
Trang 39huyện đã thực hiện tốt chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho
TB, BB và GĐLS Trong 3 năm (2009 - 2012), toàn huyện đã phối hợp với các ban, ngành thực hiện xét miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho đối tượng thuộc diện chính sách với tổng số 540 hộ và số thuế đề nghị miễn giảm là 8.947 tấn thóc, đó là sự ưu đãi lớn của địa phương đối với TB, BB và GĐLS Làm tốt công tác kiểm tra, xác nhận miễn thuế cho các đối tượng người có công với 1.040
họ được miễn giảm thuế nhà đất [30, tr.4] Theo số liệu của phòng LĐTB&XH cho thấy: Trong tổng số 50 hộ được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp thì
có 14 hộ TB, BB và GĐLS được miễn, 36 hộ chỉ được giảm một phần và không
có hộ nào là không được giảm cả [phụ lục 5] Như vậy là 100% các hộ TB, BB và GĐLS đều được miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp Chính sách miễn giảm này đã góp phần tạo điều kiện cho các hộ chính sách vươn lên làm giàu, tạo cho
họ có điều kiện mượn đất, để nâng cao và đảm bảo về đời sống cho bản thân, gia đình họ
* Tác động tích cực của việc thực hiện chính sách thương, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ở huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương hiện nay.
Một là, kết quả của việc thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS đã có tác động tích cực đến việc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo và cải thiện chất lượng cuộc sống cho TB, BB và GĐLS
Trong những năm qua nhờ sự quan tâm ưu đãi của Đảng và Nhà nước, cùng các chính sách xã hội đúng đắn ngày càng có tác động tích cực đến đời sống của người dân, đặc biệt là chính sách ưu đãi đối với TB, BB và GĐLS đã góp phần to lớn vào việc đảm bảo và ổn định cuộc sống, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của các gia đình chính sách Trong những năm gần đây, nhờ chính sách
ưu đãi nhà ở của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách nên nhà ở của TB,
BB và GĐLS ngày càng được cải thiện Qua số liệu báo cáo của Phòng LĐTB&XH cho thấy, số nhà kiên cố của huyện chiếm 12,5%; nhà bán kiên cố (nhà mái ngói) chiếm 80,5%; nhà cần sửa chữa chiếm 7,5%[phụ lục 10]
Trang 40Tiện nghi sinh hoạt cũng phản ánh đời sống của từng gia đình Đó là nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Tiện nghi sinh hoạt trong gia đình gồm: bàn ghế, giường tủ, đài, ti vi, quạt điện, xe máy, xe đạp… Ở đây, ta xét đến những tiện nghi sinh hoạt chủ yếu đáp ứng nhu cầu cần thiết cho con người và qua đó đánh giá được sát thực nhất mức sống của gia đình
TB, BB và GĐLS Tiện nghi sinh hoạt không những phục vụ thoả mãn nhu cầu tinh thần mà còn giúp con người nắm bắt được thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất, những kinh nghiệm làm ăn…Qua khảo sát thực tế cho thấy số hộ có ti vi chiếm 80,5% tổng số hộ gia đình TB, BB và GĐLS, số hộ sử dụng đài là 83,0% đây là 2 tiện nghi thông dụng và cũng chiếm số lớn những hộ gia đình sử dụng Đầu video được coi là có giá trị hơn cả, những gia đình sử dụng phương tiện này đều có mức thu nhập tương đối khá, chiếm 29,7%, vì vậy đối với những hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn chưa có điều kiện để sử dụng phương tiện này Quạt điện và xe đạp là những đồ dùng thông dụng, là phương tiện thiết yếu nên có tới 90,1%; 100% số hộ gia đình sử dụng xe Xe máy là phương tiện đi lại có giá trị
sử dụng cao và cũng là tài sản khá lớn của gia đình Vì vậy, nhu cầu sử dụng của
nó phù hợp với những gia đình có đời sống cao, phục vụ cho công việc hàng ngày của họ một cách tốt nhất Số hộ sử dụng xe máy chiếm ít hơn là 35,2%[phụ lục 6] Ngoài ra nhờ các chính sách ưu đãi đúng đắn kịp thời, năm 2012 số hộ nghèo toàn huyện giảm đi đáng kể, từ 2.457 hộ nghèo xuống còn 2.387 hộ giảm 2,84% so với năm 2010 Đó là những tiêu chí cần thiết để đánh giá sự tác động tích cực của chính sách đến đời sống của các TB, BB và GĐLS Các tiêu chí này cho thấy đời sống vật chất của TB, BB và GĐLS của huyện những năm gần đây đã được nâng
cao và ổn định
Hai là, kết quả của việc thực hiện chính sách TB, BB và GĐLS đã có tác động tích cực đến việc củng cố niềm tin của các đối tượng chính sách và quần chúng nhân dân vào chế độ XHCN và sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới