1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LV nâng cao chât lượng đời sống kinh tế vật chat người có công

94 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 421 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát, kế thừa và nghiên cứu các công trình, các tài liệu có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn. Làm rõ lý luận chung về công bằng xã hội và nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công. Phân tích thực trạng đối tượng người có công và đời sống của người có công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ 1997 đến nay. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công trên địa bàn tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động sống của con người gắn liền với quá trình không ngừng nângcao chất lượng cuộc sống Trong đó, đời sống kinh tế là vấn đề cốt lõi, là điềukiện tất yếu khách quan đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân

và toàn xã hội, không phân biệt quốc gia, dân tộc, giai cấp Xét đến cùng, mọicuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề kinh tế, là không ngừng thoảmãn nhu cầu ngày càng cao của con người, của xã hội loài người, hay nói mộtcách khác là không ngừng nâng cao đời sống kinh tế

Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hìnhthái kinh tế xã hội, hình thái kinh tế xã hội sau bao giờ cũng tiến bộ và pháttriển hơn hình thái kinh tế xã hội trước Trong đó, nền kinh tế xã hội của hìnhthái xã hội sau bao giờ cũng phát triển hơn xã hội trước

Dưới góc độ kinh tế - chính trị, mục tiêu phát triển kinh tế là những điềukiện, động lực mạnh mẽ thúc đẩy và đảm bảo để nâng cao đời sống của conngười, xã hội Ngược lại, nền kinh tế kém phát triển sẽ kìm hãm sự phát triểncủa quốc gia, dân tộc Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các chính sách đảmbảo phát triển kinh tế bền vững để tạo tiền đề nâng cao đời sống kinh tế chocộng đồng xã hội và có như thế mới thực hiện được mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Tuy nhiên, phát triển kinh tế,nâng cao đời sống kinh tế phải xuất phát từ thực tế khách quan, phù hợp vớiquy luật kinh tế khách quan, gắn với thực hiện công bằng xã hội mới mongđạt được những hiệu quả tốt nhất

Người có công là bộ phận hết sức đặc thù của xã hội Việt Nam Bởi vìkhông đâu như ở Việt Nam, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập

tự do cho đất nước diễn ra trong một thời gian rất dài và vô cùng ác liệt đã đểlại hậu quả vô cùng nặng nề về sức người và sức của Trong đó, người có

Trang 2

công là lực lượng chủ yếu chịu nhiều hy sinh mất mát Đó là những người

như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó như trận lụt to Nó đe doạ cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố

mẹ, vợ con nhân dân ta Trước cơ nguy biến ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra trận Họ quyết tâm đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc làm hại đồng bào Họ quyết hy sinh tính mệnh để giữ tính mệnh đồng bào

Họ quyết hy sinh gia đình, tài sản của họ để bảo vệ gia đình và tài sản đồng bào Họ quyết liều chết chống địch để cho Tổ quốc và đồng bào sống.

Họ là những chiến sỹ anh dũng của chúng ta Trong đó có người đã bỏ lại một phần thân thể ở mặt trận, có người đã bỏ mình ở chiến trường Đó là

thương binh liệt sỹ" Nhận rõ sự hy sinh to lớn đó người từng dạy: "Những

người con trung hiếu ấy Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng", "Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, giúp đỡ cho những người con anh dũng ấy, mọi người phải luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sỹ để vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ hoàn thành sự nghiệp cách mạng

mà các liệt sỹ đã để lại" [ 1, tr.16-17].

Người có công đa phần những người yếu thế, khó khăn về kinh tế, lànhững người cần được Nhà nước xã hội chăm lo một cách đặc biệt Vì vậy,chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với người có công không chỉ là sựđền ơn đáp nghĩa và không chỉ là trách nhiệm của Đảng, nhà nước, mà còn làtrách nhiệm của cộng đồng và của toàn xã hội

Thực hiện đạo lý truyền thống của dân tộc ”Uống nước nhớ nguồn” “Đền

ơn đáp nghĩa” những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chínhsách, chế độ và tổ chức vận động toàn dân, toàn quân chăm sóc đời sống vậtchất, tinh thần đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công, giảiquyết có hiệu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, góp phần

Trang 3

giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tăng thêm lòng tin đối vớiĐảng, nhà nước Đặc biệt, trong lĩnh vực đời sống kinh tế của người có côngngày càng được quan tâm và có cải thiện đáng kể, hệ thống chính sách với cácchế độ trợ cấp, đãi ngộ từng bước được điều chỉnh, việc tổ chức sản xuất -việc làm được quan tâm thích đáng, việc cải thiện nhà ở được đầu tư triểnkhai ở nhiều cấp, các chương trình chăm sóc người có công được xã hội vàcộng đồng quan tâm và đã có những kết quả to lớn góp phần cải thiện cuộcsống đối với người có công Đến nay, đa số gia đình chính sách có cuộc sốngbằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đời sống của một bộ phậnkhông nhỏ thương bệnh binh, thân nhân liệt sỹ còn nhiều khó khăn, nhất làđối tượng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây.Tình hình đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước và nhân dân ta phải tiếp tục làm tốthơn công tác chăm sóc, tiếp tục nâng cao mức sống, đảm bảo đời sống của họngày một tốt hơn.

Xuất phát từ thực trạng đời sống kinh tế người có công thời gian qua ởQuảng Nam, để tổ chức khảo sát một cách cơ bản, đề ra các giải pháp hiệuquả, góp phần nâng cao đời sống của người có công trên phạm vi của tỉnh

Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung Do đó tôi chọn đề tài: Nâng cao đời sống kinh tế người có công ở tỉnh Quảng Nam, làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trong nhiều thập niênqua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm có nhiều chủ trương chính sách vàtăng cường công tác quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm từng bước nângcao đời sống người có công Các ngành các cấp, luôn xem đây là nhiệm vụchính trị quan trọng thường xuyên trong việc xây dựng triển khai các chiếnlược trung hạn, dài hạn và các giải pháp có tính lâu dài cũng như trước mắt

Trang 4

Trên cấp độ quốc gia, sau hàng loạt các Nghị định đã ban hành, năm

1995 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh ưu dãi đối với Thương bệnh binh, giađình liệt sỹ, người có công Đây là lần đầu tiên có một Pháp lệnh được xâydựng có cơ sở khoa học, có hệ thống về đối tượng và tiêu chuẩn, về chế độchính sách, định tính và định lượng hợp lý đã thể hiện sự quan tâm củaĐảng, nhà nước đối với người có công, qua đó đảm bảo được một bước lợiích, công bằng xã hội và góp phần nâng cao đời sống kinh tế của họ, góp phần

ổn định chính trị xã hội trong thời gian qua Tuy nhiên, dưới sự tác động củanền kinh tế thị trường trong quá trình đổi mới, nhiều chính sách, chế độ khôngcòn phù hợp, nhà nước đã nghiên cứu, ban hành nhiều Nghị định kịp thời điềuchỉnh chế độ chính sách đối với người có công, để phù hợp với giai đoạnphát` triển mới, ngày 29/6/2005 Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số26/2005/PL-UBTVQH11, đây là một văn bản được xây dựng trên cơ sở khoahọc nghiên cứu một cách hệ thống, phù hợp với tình hình hiện nay, địnhhướng cho việc thực hiện chính sách ưu đãi, góp phần cải thiện nâng cao đờisống kinh tế đối với người có công ở giai đoạn hiện nay và trong những nămtới

Riêng đối với tỉnh Quảng Nam, việc nghiên cứu, ban hành các cơ chếchính sách mặc dù đã có nhiều người đề cập nhưng còn phân tán, thiếu tính hệthống và không cơ bản Các công trình nghiên cứu tổng kết việc thực hiện cácchương trình hỗ trợ, góp phần nâng cao đời sống kinh tế đối với người cócông như việc tổng kết thực hiện 5 năm, 10 năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãingười có công năm 1995, Đề án hỗ trợ cải thiện nhà ở đối với người có cônggiai đoạn 1995-2000 và 2001-2005; Tổng kết thực hiện chương trình giảiquyết việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT, ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) đã bước đầu đã xác định rõ việc thực hiện chínhsách đối với người có công, đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống vật chất

và tinh thần đối với người có công và góp phần vào sự tăng trưởng phát triển

Trang 5

kinh tế, ổn định trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đồng thời qua cáccông trình trên cũng đã khái quát được tình hình thực hiện chính sách, đảmbảo công bằng xã hội, trách nhiệm của nhà nước, xã hội đối với người cócông của nhà nước nói chung và của tỉnh Quảng Nam nói riêng trong thờigian qua Song những công trình đó mới chỉ nêu những vấn đề có tính hiệntượng, bề ngoài, kết quả tổ chức thực hiện, hạn chế ở việc giới thiệu một sốkết quả nhất định chưa phân tích những căn nguyên, những nhân tố có tínhcốt lõi tác động đến việc thực hiện chính sách, đảm bảo nâng cao đời sống nóichung và đời sống kinh tế của người có công trong thời gian qua và vì vậyviệc đề ra giải pháp chưa mang tính cơ bản khái quát, phù hợp với yêu cầucủa thực tiễn hiện nay trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, về giới khoa học, tuy trong thời gian qua đã có một số đề

án nghiên cứu ở cấp quốc gia nhằm phục vụ cho việc xây dựng các chính sáchđối với người có công ở tầm vĩ mô, nhưng ở trên địa bàn tỉnh Quảng Namngoài việc tổ chức một số cuộc toạ đàm mang tính lĩnh vực (toạ đàm về hỗ trợcải thiện nhà ở đối với người có công), các cuộc khảo sát nhỏ (nhóm đốitượng như: Khảo sát thực trạng chăm sóc Thương bệnh binh nặng; thực trạngchăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng) việc nghiên cứu khoahọc về những vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của người có công còn rấtnhiều hạn chế, chưa có công trình nào trùng tên với đề tài nghiên cứu Vì vậy,việc cần có một công trình nghiên cứu một cách độc lập và sâu sắc dưới góc

độ kinh tế chính trị để tìm ra những vấn đề mang tính quy luật, khách quantrong sự vận động của đời sống kinh tế của người có công trên địa bàn tỉnhđến nay vẫn còn bỏ ngõ Và đó cũng là những nguyên nhân chưa tạo ra đượccác giải pháp mang tính cơ bản lâu dài để giúp cho người có công đảm bảocuộc sống cá nhân, gia đình họ và qua đó đóng góp cho sự phát triển chungcủa xã hội thúc đẩy sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá củatỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Xuất phát từ tính chất vấn đề cần nghiên cứu và khả năng của bản thân,luận văn đặt ra các mục đích và nhiệm vụ sau đây:

3.1 Mục đích của luận văn

- Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng ta cũng như các nhà khoa học khác về vấn đề côngbằng xã hội, nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công

- Khái quát bức tranh về thực trạng người có công, tình hình thực hiệncác chính sách, đảm bảo lợi ích, công bằng xã hội, nâng cao đời sống kinh tếcủa người có công, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp mang tính khả thi choviệc tìm kiếm các cách thức nhằm góp phần nâng cao đời sống nói chung vàđời sống kinh tế cho đối tượng người có công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

trong thời gian tới.

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Khảo sát, kế thừa và nghiên cứu các công trình, các tài liệu có liên quanđến hướng nghiên cứu của luận văn

- Làm rõ lý luận chung về công bằng xã hội và nâng cao đời sống kinh tếđối với người có công

- Phân tích thực trạng đối tượng người có công và đời sống của người cócông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ 1997 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao đời sống kinh

tế đối với người có công trên địa bàn tỉnh, góp phần vào sự nghiệp phát triểnkinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu về thực tiễn đời sống người có công ở địa bàntỉnh Quảng Nam

- Luận văn nghiên cứu các vấn đề về liên quan đến đời sống nói chung

và đời sống kinh tế người có công và các vấn đề có liên quan chủ yếu là trong

Trang 7

những năm 2001-2005 Các vấn đề có liên quan khi nghiên cứu nhằm phục vụcho việc kiến giải các lập luận, các giải pháp, các nhận định được luận văn rút ra.

5 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ luận văn đặt ra, ngoài phương phápluận khoa học Mác - Lênin, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

cụ thể như: khảo sát, điều tra nghiên cứu thực tế, tổng hợp, phân tích và một

số phương pháp khác có liên quan

6 Ý nghiã của luận văn

Có thể cung cấp cho các cấp chính quyền, các nhà khoa học quan tâmđến vấn đề công bằng xã hội và đời sống kinh tế của người có công địa bàntỉnh Quảng Nam những luận cứ khoa học Vấn đề mang tính lý luận về chínhsách đối với người có công trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàntỉnh Quảng Nam nói riêng

Kết quả của luận văn có thể giúp cho các cấp chính quyền trong địa bàntỉnh tham khảo, nghiên cứu ứng dụng trong việc hoạch định các chính sáchkinh tế đối với người có công trên địa bàn địa phương đơn vị mình

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nộidung luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Trang 9

Chương 1

NÂNG CAO ĐỜI SỐNG KINH TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG - MỘT TRONG NHỮNG NHIỆM VỤ

ĐỂ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1 CÔNG BẰNG XÃ HỘI LÀ MỘT TẤT YẾU CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN ĐẠI

1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội

Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử Trong mỗi giai đoạn pháttriển của nhân loại, con người có quan niệm và đánh giá khác nhau về côngbằng xã hội phù hợp với địa vị, lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp khác nhautrong xã hội đó Chính vì vậy khi đề cập đến công bằng xã hội Ph.Ăng-ghenviết: “Công bằng của của những người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng củachế độ nô lệ Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phảixoá bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công” [12, tr.273]

Từ điển Bách khoa Việt Nam viết về công bằng xã hội: Công bằng xãhội là phương thức đúng đắn nhất để thỏa mãn một cách hợp lý những nhucầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ nhữngkhả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Về nguyêntắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt đối trong chừng mực màmâu thuẩn giữa nhu cầu của con người và khả năng hiện thực của xã hội cònchưa được giải quyết Bởi vậy, mỗi thời đại lại có những đòi hỏi riêng vềcông bằng xã hội

Tư tưởng về công bằng xã hội được đặt ra rất sớm trong lịch sử nhânloại Khi tư duy đạt đến trình độ nhất định, con người đã biết đặt mình trongmối quan hệ với tự nhiên, với người khác và với xã hội Có so sánh mới thấy

sự hơn thua, cao thấp, được mất giữa người này với người khác, giữa cá nhânvới xã hội Có thể nói so sánh là khởi điểm của tư tưởng công bằng Xã hộicàng phát triển thì tư tưởng về công bằng càng phát triển

Trang 10

Ở xã hội cộng sản nguyên thuỷ, con người sinh hoạt và lao động mangtính cộng đồng nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Xã hội này tồn tại trênnguyên tắc cùng làm cùng hưởng Do sản xuất hết sức thấp kém làm cho sảnphẩm lao động quá ít ỏi chỉ đảm bảo cho sự tồn tại của cộng đồng ở mức tốithiểu, do vậy sản phẩm đó phải được chia đều cho mọi thành viên trong cộngđồng Như vậy ở thời kỳ này công bằng xã hội là phương thức để đảm bảocho sự tồn tại của cộng đồng nguyên thuỷ- phương thức tối ưu và duy nhất.

Sự công bằng ở thời kỳ này đồng nhất với chủ nghĩa bình quân Ở cuối thời

kỳ cộng sản nguyên thuỷ, do lực lượng sản xuất phát triển của cải làm rakhông những đủ nuôi sống cộng đồng mà còn có tích luỹ Chính phần của cải

dư thừa nầy đủ kích thích cho sự nẩy sinh xung đột về lợi ích của nhữngngười trong cộng đồng Tư hữu, giai cấp và nhà nước ra đời làm cho côngbằng xã hội bị vi phạm ở mức độ “văn minh hơn” Cuộc đấu tranh giai cấpdiễn ra ngày càng gay gắt và công bằng xã hội trở thành một trong những nộidung chính trị của cuộc đấu tranh đó

Trong các thời đại khác nhau, con người đều quan tâm đến vấn đề côngbằng xã hội và đã có nhiều nhận thức đánh giá giải quyết khác nhau:

Pla-tôn (427-437, trước Công nguyên) là một trong những nhà triết họckiệt xuất thời cổ đại Trong học thuyết triết học của mình, Pla- tôn cho rằng:

xã hội được chia làm ba hạng người tương ứng với ba phần của linh hồn conngười Nhà nước xuất hiện từ sự đa dạng của nhu cầu con người và từ đó xuấthiện các dạng phân công lao động để thoả mãn nhu cầu ấy Vì vậy trong xãhội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, và do đó không thể có sự hoàntoàn bình đẳng giữa mọi người được Công lý là ở chỗ mỗi hạng người làmhết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình, nói một cáchkhác là phải biết phận mình

A-rixtốt (384-322 trước công nguyên) bộ óc bách khoa toàn thư của triếthọc Hy Lạp cổ đại Ông cho rằng, việc phân chia giai cấp và địa vị giai cấp là

Trang 11

một trật tự tự nhiên Công bằng là sự đối xử ngang nhau, bình đẳng chỉ vớinhững người trong cùng một giai cấp Còn những người ở các giai cấp khácnhau thì không thể có chung một sự công bằng Đó chính là lẽ đương nhiên,

là sự công bằng của tự nhiên

T Hốp-xơ (1588-1679) là nhà triết học đại biểu cho chủ nghĩa duy vậtAnh thế kỷ XVII Vấn đề trung tâm trong học thuyết của ông là lạm bàn về xãhội và nhà nước, Hốp-xơ cho rằng: con người là giống nhau, nghĩa là theo tạohóa, con người phải bình đẳng, phải được hưởng sự công bằng Nhưng dolòng tham lam ích kỷ và dục vọng của bản thân nên không thể có sự bìnhđẳng và công bằng với nhau được Từ sự phân tích đó ông chỉ ra: để đi đến sựhoà hợp, công bằng giữa con người với con người thì phải có một lực lượngđứng lên trên dàn xếp các lợi ích cá nhân, đó là Nhà nước Như vậy Hốp-xơ

đã có tư tưởng duy vật về các hiện tượng xã hội Tuy nhiên ông không thấyđược nhà nước cũng mang bản chất giai cấp cuả nó, trong xã hội có đối khánggiai cấp, nhà nước không thể nào thiết lập được sự công bằng chung cho toàn

xã hội

Xpi-nô-za (1632-1677), nhà triết học duy vật lỗi lạc Hà Lan, là người kếtục Hốp - xơ trong học thuyết về xã hội Ông đưa ra quan điểm hạn chế quyềnlực vô hạn của nhà nước bằng những đòi hỏi về tự do Xpi-nô-za đã đề ra tưtưởng giải phóng con người và chìa khoá để giải phóng chính là nhận thức.Nhận thức và không ngừng nâng cao nhận thức là biện pháp để con ngườitránh khỏi mọi tệ nạn xã hội, giải phóng mọi áp bức bất công Theo ông,những tệ nạn xã hội, áp bức và bất công có nguyên nhân từ sự dốt nát, khôngnhận thức được hiện thực, không chế ngự được lòng tham của mình Tuynhiên, ở đây ông đã bộc lộ quan điểm không triệt để về xã hội

J.J Rút-xô (1712-1778) nhà triết học khai sáng vĩ đại người Pháp, đã phêphán các quan hệ đẳng cấp và chế độ chuyên chế Theo ông, xã hội công dân

đã tạo ra một xiềng xích mới để trói buột kẻ yếu, trao vũ khí và sinh lực cho

kẻ mạnh, tiêu diệt không thương tiếc bình đẳng cá nhân, duy trì quan hệ bất

Trang 12

bình đẳng Muốn xoá bỏ bất công cần phải có một nhà nước kiểu mới trong

đó nhân dân phải có vai trò thật sự trong chính quyền Rút-xô đã phê phán sâusắc tính hai mặt của sở hữu tư nhân và chính sở hữu tư nhân làm cho xã hộiphân hoá thành kẻ giàu người nghèo Các cơ sở pháp lý về sở hữu là xiềngxích trói buộc người nghèo và là đôi cánh cho những người giàu có Như vậy,mặt trái của sở hữu đã làm cho xã hội bất công hơn Để xoá bỏ được tìnhtrạng đó, con người cần phải lập “khế ước xã hội” để cải biến chính mình, loại

bỏ tính xấu xa đặc biệt là lòng tham và tính ích kỷ thì sẽ đạt được công bằng

và bình đẳng Những giải pháp của ông mang ý tưởng nhân đạo nhất định, tuynhiên vẫn chưa thoát khỏi hạn chế của lịch sử

Can- tơ (1724-104), người thiết lập nền triết học cổ điển Đức, ông cónhững đóng góp hết sức to lớn vào tư tưởng công bằng xã hội Theo ông,công bằng xã hội bao gồm công bằng về bảo hộ, công bằng trong trao đổi vàtrong phân phối Trong đó công bằng trong phân phối là quan trọng nhất.Theo ông, trạng thái không pháp luật là một xã hội không công bằng về phânphối, thông thường gọi nó là trạng thái tự nhiên Đối lập với trạng thái tự nhiên

là trạng thái văn minh, bởi vì xã hội này xây dựng trên sự công bằng về phânphối Tư tưởng của Can-tơ về công bằng sau này được nhiều người chấp nhận vàvận dụng

Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng như Xanh- xi-mông người(Pháp), Pu-riê (người Pháp) và Owen (người Anh) đã phê phán xã hội đươngthời được xây dựng trên nền tảng tư hữu- nguyên nhân của mọi bất công xãhội Đồng thời, đề ra việc xây dựng một xã hội mới mà trong đó nguyên tắctối cao là mọi người đều phải lao động, mọi người đều được hưởng thụ nhưnhau, xoá bỏ hết mọi đặc quyền, đặc lợi, xây dựng một xã hội công bằng Xãhội công bằng là điều kiện để đem đến sự công bằng cho tất cả các thành viên.Tuy nhiên, mô hình xã hội mà các ông xây dựng ngay từ đầu đã biến thànhnhững điều không tưởng (cả lý luận và thực tiễn)

Trang 13

Như vậy, vấn đề công bằng xã hội được đề cập trong suốt quá trìnhlịch sử của nhân loại, nó phản ánh sự đấu tranh của các giai cấp về quyền

sỡ hữu về tư liệu sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất, xã hội, phân phối

và sử dụng sản phẩm lao động Các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại đãtrình bày những quan niệm khác nhau về công bằng xã hội mặc dù chưađầy đủ và chưa hệ thống Song những quan niệm đó là tiền đề lý luận quantrọng làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề công bằng xã hội cho các nhà tưtưởng sau này

* Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lê-nin về công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội.

Bằng việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của các nhà triết họctrước đó, trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng, Các Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin đã giải quyết một cách triệt để các vấn đề về tự nhiên, xãhội và tư duy Trong học thuyết của mình các ông đã bàn nhiều về công bằng

xã hội

Khi phân tích chủ nghĩa tư bản, Các Mác đã chỉ ra rằng: sự tăng trưởngkinh tế trong chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với quá trình tăng cường bóc lộtgiai cấp công nhân, do vậy sự tăng trưởng đó, về bản chất không dẫn đếncông bằng xã hội được Phương thức phân phối trong chủ nghĩa tư bản là bấthợp lý, bởi nó không dựa vào sức lao động, mà căn cứ vào tài sản, vào lượngvốn Và kết quả của những phương thức này là: nhà tư bản ngày càng giàu lêntrên sự đau khổ và nghèo đói của những người lao động, người công nhân Từ

sự phân phối không công bằng đó đã làm cho những mâu thuẫn xã hội nẩysinh và ngày càng trở nên gay gắt Các Mác đã chỉ ra rằng phương thức phânphối tư bản chủ nghĩa đó sẽ mất đi khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuấtmang tính chất xã hội hoá ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ

sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất trong phương thức tư bảnchủ nghĩa trở nên gay gắt đến mức bùng nổ cách mạng xã hội xã hội chủ

Trang 14

nghĩa, để mở ra một thời đại mới Trong thời đại mới đó tư liệu sản xuất sẽđược công hữu hoá và phương thức phân phối sản phẩm sẽ hợp lý hơn, côngbằng xã hội sẽ được đảm bảo Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”Các Mác đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội “Cái xã hội

mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội cộng sản chủ nghĩa đã pháttriển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội cộng sản chủnghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó một xã hội về mọiphương diện: kinh tế, đạo đức, tinh thần, còn mang dấu vết của xã hội cũ mà

nó đã lọt lòng ra”[13,tr.33] Do đó, theo Các Mác, dưới chế độ xã hội chủnghĩa người lao động làm việc theo năng lực của bản thân và được nhận lạiphần vừa đúng cái mà anh ta đã đóng góp cho xã hội sau khi đã trừ đi số laođộng cần thiết để duy trì phát triển sản xuất và quỹ phúc lợi xã hội Đây làmột nguyên tắc mang tính công bằng trong chủ nghĩa xã hội Bởi vì, theonguyên tắc này tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau trongviệc tham gia vào quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngangnhau Nguyên tắc phân phối trên đây được coi là công bằng Tuy nhiên CácMác cũng chỉ rõ rằng trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, sự phân phối côngbằng đó chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn còn hàm chứa trong nó sựchấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xãhội và với một công việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự nhưnhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế người này vẫn lĩnh hơnngười kia, người nầy vẫn giàu hơn người kia” [12, tr.35], do vậy, “Muốntránh tất cả những thiếu sót ấy thì quyền phải không bình đẳng, chứ khôngphải là bình đẳng” [13, tr.35] Đây vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của phânphối theo lao động, một thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầucủa xã hội cộng sản chủ nghĩa V.I Lênin trong một số tác phẩm của mìnhcũng đã đề cập đến vấn đề công bằng xã hội trong chủ nghiã xã hội, ông chorằng “Như thế là trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà

Trang 15

người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội), “pháp quyền tư sản” chưa bịxoá bỏ hoàn toàn, mà chỉ bị xoá bỏ một phần, chỉ bị xoá bỏ với mức độ phùhợp với cuộc cách mạng kinh tế đã được hoàn thành, nghĩa là chỉ trong phạm

vi tư liệu sản xuất thôi “Pháp quyền tư sản” thừa nhận tư liệu sản xuất là sởhữu riêng của cá nhân Chủ nghĩa xã hội biến tư liệu sản xuất thành tài sảnchung” [11, tr.116] Đặc biệt V.I Lênin chú ý đến công bằng trong phân phốilao động “Người nào không làm thì không có ăn”: nguyên tắc xã hội chủnghĩa ấy được thực hiện: “Số lượng lao động ngang nhau, thì hưởng số lượngsản phẩm ngang nhau”, nguyên tắc xã hội chủ nghĩa naỳ cũng đã được thựchiện” [11, tr.116]

Như vậy, theo Các Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin thì trong chủ nghĩa

xã hội, công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế đóng vai trò là cơ sở và quyếtđịnh các lĩnh vực khác như văn hoá, xã hội cụ thể là về phương diện quan

hệ giữa cống hiến (thực hiện nghiã vụ) và hưởng thụ (được hưởng quyền lợi).Trong chủ nghĩa xã hội công bằng cơ bản là làm nhiều hưởng nhiều, làm íthưởng ít, sản phẩm được phân phối theo nguyên tắc “làm theo năng lựchưởng theo lao động” Công bằng xã hội mà các nhà kinh điển chỉ ra ở đây làcông bằng xã hội mang tính tương đối, còn nhiều hạn chế, nó chỉ tồn tại ở mộtgiai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa Bởi vì, xã hội mới này chỉ làgiai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản- một xã hội bất công bằng, bất bình đẳngsang xã hội cộng sản chủ nghĩa- một xã hội có một sự công bằng tuyệt đối

Do vậy, công bằng xã hội trong chủ nghĩa xã hội còn nhiều khiếm khuyết

“Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xãhội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa lọt lòng từ xã hội tư bản chủ nghĩa ra, saunhững cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao giờ có thể cao hơn chế độ kinh

tế và sự phát triển của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định” [13, tr.35-36].Quan niệm về công bằng trong chủ nghĩa xã hội sẽ bị thay đổi cùng với sự tựmất đi của chủ nghĩa xã hội để ra đời một xã hội cao hơn- xã hội cộng sản chủ

Trang 16

nghĩa Sự mất đi sớm hay muộn tuỳ thuộc vào sự phát triển của sản xuất, sựphát triển của xã hội Do vậy công bằng xã hội là một khái niệm mang tínhlịch sử, nó có thể biến đổi, ra đời và mất đi Theo các ông, để xã hội đạt đượccông bằng thực sự, một cách tuyệt đối chỉ khi con người không còn lệ thuộcvào phân công lao động nữa, lúc đó khoảng cách giữa lao động trí óc và laođộng chân tay được rút ngắn tối đa, lao động không còn là phương tiện đểsinh sống nữa mà là một nhu cầu hoạt động và phát triển Khi đó cá nhânđược phát triển một cách toàn diện, sản xuất xã hội sẽ có sự tiến bộ vượt bậcchưa từng có trong lịch sử, của cải trở nên dư thừa “chỉ khi đó người ta mới

có thể vượt hẳn khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới

có thể ghi trên lá cờ của mình: “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” [13,tr.36] Như vậy, theo chủ nghĩa Mác: Trong giai đoạn thấp của chủ nghĩacộng sản, mặc dù chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã được thiết lập, songphương thức phân phối tương ứng đó vẫn chưa đạt tới sự công bằng thật sự

Đó mới chỉ là một bước tiến bộ nhất định bước đầu về công bằng xã hội Điềuquan trọng là cùng với chế độ công hữu thì sản xuất càng phát triển, mọi cánhân phải có cơ hội phát huy mọi tiềm năng để vươn tới sự ngang nhau vềnăng lực, điều kiện, cơ hội, khi đó mới có thể đạt được sự công bằng tuyệtđối

* Một số quan niệm về công bằng xã hội ở nước ta

Trong thời kỳ trước đổi mới.

Giai đoạn trước 1975, ở miền Bắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thốngnhất đất nước được đặt lên trên hết, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến; tất

cả vì miền Nam ruột thịt” Thời gian này nền kinh tế mang nặng “tính chấtthời chiến” cùng với sự viện trợ lớn từ các nước bên ngoài nhằm tập trungphục vụ cho sự nghiệp thống nhất nước nhà Vì vậy, vấn đề phát triển kinh tếtrở thành thứ yếu sau nhiệm vụ cấp bách là đánh đuổi giặc ngoại xâm, thốngnhất đất nước Công bằng xã hội là thực hiện phân phối theo nguyên tắc

Trang 17

“Cộng sản thời chiến” Các chính sách xã hội phải chú ý thoả đáng đến lợi íchcủa các đối tượng, gia đình có chồng, con đi làm nhiệm vụ chiến đấu.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, cảnước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ hàng loạt khó khăn và

bề bộn sau chiến tranh, với tinh thần “lạc quan” của người chiến thắng chúng

ta bắt tay vào kiến thiết đất nước Cùng với việc “giữ vững” cơ chế kế hoạchhoá tập trung quan liêu bao cấp chúng ta tiếp tục duy trì chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu quốc doanh và hợp tác xã Tronggiai đoạn này kinh tế tăng trưởng chậm, hàng hoá thiếu về số lượng, kém vềchất lượng và chính từ những bất cập đó mà dẫn đến quan niệm về phân phốikhông dựa theo nguyên tắc mức độ đóng góp lao động mà vẫn duy trì phươngthức phân phối bình quân kiểu bao cấp Quan niệm này đã được triển khaitrong việc thực hiện chế độ tiền lương của khu vực nhà nước, chế độ phânphối sản phẩm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chế độ học phí, viện phítrong lĩnh vực giáo dục và y tế

Công bằng của cơ chế hành chính, bao cấp trong giai đoạn nầy được hiểu

và thực hiện theo chủ nghĩa bình quân, nhưng đó là sự bình quân trong nghèokhó Nhưng chính vì biết “chia đều sự nghèo khó” nên số đông là người laođộng vẫn chấp nhận được trong một thời gian dài

Đánh giá về thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấpG.S,T.S Lê Hữu Tầng viết: “Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp màchúng ta lầm tưởng là duy nhất đúng, là cái duy nhất đảm bảo xây dựng thànhcông chủ nghĩa xã hội, khái niệm công bằng đồng nhất hoàn toàn với kháiniệm bình đẳng, còn khái niệm bình đẳng được hiểu là sự ngang bằng nhauhoàn toàn giữa người và người về quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Kết quả là khái niệm về công bằng về thực chất bị đem đồng nhất với kháiniệm cào bằng một cách bình quân chủ nghĩa Mọi sự đi lệch khỏi trục bìnhquân đó đều bị coi là biểu hiện của sự không công bằng Chính quan niệm sailầm đã làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu mất động lực của sự phát triển kinh tế

Trang 18

xã hội và việc thực hiện quan điểm đó trong cuộc sống về thực chất là bóc lộtngười có công đối với sản xuất và phát triển xã hội” [26, tr.62] Ở thời kỳ nầyngười ta đã nhầm lẫn giữa công bằng xã hội và bình đẳng xã hội Công bằng

xã hội được quan niệm là sự ngang bằng về mọi phương diện kinh tế, chínhtrị, văn hoá, xã hội giữa mọi thành viên trong xã hội Chính từ chỗ quanniệm sai lầm đó đã làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, xã hội làm chongười lao động thờ ơ với quyền làm chủ của mình

Và điều này chính Ph Ăgghen cũng đã từng cảnh báo: “Nếu cho rằngluận điểm “bình đẳng = công bằng” là một nguyên tắc tối cao và là một chân

lý cuối cùng thì thật là ngu xuẩn Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đốilập với bất bình đẳng, công bằng chỉ tồn tại trong trong khuôn khổ đối lập vớikhông công bằng” [14, tr.840]

Như vậy ở trước thời kỳ đổi mới, chúng ta đã có cách hiểu chưa đầy đủ

về công bằng và bình đẳng xã hội: đã đồng nhất công bằng với bình đẳng, đó

là sự ngang nhau hoàn toàn giữa mọi thành viên trong xã hội về mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội Và thực chất công bằng ở đây là cào bằng, chia đều theochủ nghĩa bình quân; chủ nghĩa bình quân chính là “kẻ tòng phạm” với bấtcông xã hội Với quan niệm như vậy, bên cạnh những mặt tích cực như tậptrung được lực lượng cho các hoạt động mang tính cộng đồng, tập thể thì mặttrái của nó cũng đã nẩy sinh đó là triệt tiêu động lực phát triển cho mọi khảnăng, năng lực của xã hội Chính những yếu tố bất hợp lý của chủ nghĩa bìnhquân đã làm cho người lao động thờ ơ với quyền làm chủ tư liệu sản xuất củamình, không quan tâm đến hiệu quả sản xuất

Thời kỳ đổi mới.

Đánh dấu sự nghiệp đổi mới đất nước được bắt đầu từ Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986), chúng ta đã mạnh dạn chuyển nềnkinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tếvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xãhội chủ nghĩa Việc tiếp nhận nền kinh tế thị trường là một sự lựa chọn hoàn

Trang 19

toàn đúng đắn của Đảng và nhân dân ta Trong những năm qua kinh tế thịtrường đã mang lại sự tăng trưởng kinh tế cao; đời sống các tầng lớp nhân dânđược cải thiện rõ rệt Tuy nhiên, bên cạnh đó, những vấn đề thuộc mặt trái củakinh tế thị trường đang len lỏi và tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống

xã hội Trong các vấn đề nổi lên thì vấn đề công bằng xã hội gây chú ý nhất,

nó trở thành tiêu điểm của mọi vấn đề được bàn bạc, được đề cập sôi nổi trêncác diễn đàn từ các góc độ khác nhau Ở góc độ kinh tế chính trị, chúng tôithống nhất với quan niệm cho rằng: công bằng xã hội và bình đẳng xã hội làhai khái niệm khác nhau Bình đẳng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữangười với người trong xã hội về một, một số hay mọi phương diện nào đấy(về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ) có nghĩa là chưa thể có được sự côngbằng xã hội hoàn toàn khi nền kinh tế còn ở mức thấp Trong khi đó, nói tớicông bằng xã hội là nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người khôngphải về một phương diện nào đấy bất kỳ, mà chính là về một phương diệnhoàn toàn xác định: phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi hay giữacống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc: cống hiến (thực hiện nghĩa vụ)ngang nhau thì hưởng thụ (được hưởng quyền lợi) ngang nhau Công bằng xãhội chính là một dạng, một biểu hiện cụ thể của bình đẳng xã hội và thực hiệncông bằng xã hội chính là thực hiện của một phần bình đẳng xã hội, là thựchiện bình đẳng về một phương diện nhất định - phương diện giữa cống hiến

và hưởng thụ - và là một bước tiến trên con đường lâu dài nhằm dần dần đạttới bình đẳng xã hội một cách hoàn toàn [25, tr.27, 31]

Ở phương diện khác, công bằng được hiểu theo hai góc độ: công bằngtheo chiều ngang nghĩa là đối xử ngang nhau với những người có đóng gópnhư nhau Công bằng theo chiều dọc nghĩa là đối xử khác nhau đối với nhữngngười có những khác biệt bẩm sinh hoặc có những điều kiện xã hội khácnhau Nếu công bằng theo chiều ngang được thực hiện bởi cơ chế thị trườngthì công bằng theo chiều dọc cần có sự điều tiết của nhà nước Việc phân địnhnhư thế sẽ đảm bảo công bằng thực sự Qua đây có thể thấy công bằng xã hội

Trang 20

là một khái niệm rộng, hoàn chỉnh gồm các yếu tố: kinh tế, chính trị, xã hội vàvăn hoá Như vậy: “Công bằng xã hội là một giá trị định hướng để con ngườithoả mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong mốiquan hệ tương đối hợp lý giữa cá nhân và nhóm xã hội, phù hợp với khả nănghiện thực của những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định” [27, tr.9].

Không bao giờ có thể đạt được công bằng tuyệt đối trong khi mâu thuẩngiữa nhu cầu ngày càng cao của con người và khả năng đáp ứng nhất định của

xã hội còn chưa thể giải quyết được Trong khi khẩu hiệu “làm theo năng lực,hưởng theo lao động” còn gặp không ít mâu thuẫn và không phải dễ dàngkhắc phục được ngay thì chắc chắn còn rất lâu chúng ta mới thực hiện đượckhẩu hiệu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”

Công bằng xã hội phải được quan niệm một cách toàn diện bao gồm cảtrong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó công bằng về kinh tế là gốc, làquyết định Công bằng về kinh tế không phải chỉ có công bằng trong hưởng thụ,

mà trước hết và quan trọng phải là sự công bằng trong sự tiếp cận với điều kiệnlàm kinh tế, điều kiện phát huy sức sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng.Ngày nay công bằng xã hội cần phải phân biệt với những loại bất côngkhác nhau:

Loại bất công “tự nhiên”, là loại bất công do sự cấu tạo về thể chất sinhhọc của mỗi người cũng như những khác biệt về trình độ phát triển do lịch sử

để lại (ví dụ sự khác biệt do sinh ra và sống ở đồng bằng hay miền núi; thànhthị hay nông thôn) Đối với loại bất công này hướng lâu dài là dựa trên sựphát triển ngày càng cao của xã hội mà thu hẹp dần bất công, và trước mắtphải cố gắng đến mức tối đa để bù đắp những thiệt thòi do bất công này gây

ra, không thể để trở thành tình huống căng thẳng và xung đột xã hội có hạicho sự phát triển chung của cộng đồng

Loại bất công tạm thời, ở đây hiểu theo nghĩa tương đối, là phải chấpnhận sự bất công nầy nếu muốn đưa đất nước thực hiện mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Chúng ta biết rằng nói

Trang 21

“dân giàu” nhưng không phải mọi người cùng một lúc đều có thể giàu như nhau.Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII ghi rõ: “Coi việc

có một bộ phân dân cư giàu trước là cần thiêt cho sự phát triển” [7, tr.47] Đócũng là quan điểm của Hồ Chí Minh: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người

đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm” [15, tr.65]

Trong một thời gian nhất định, chưa thể loại trừ tình trạng nghèo tuyệtđối và tương đối Sự phân hoá giàu nghèo không thể tránh khỏi, nhưng không

để xảy ra tình trạng khoảng cách giàu, nghèo ngày càng tăng “kẻ ăn không hết,người lần chẳng ra”, “nước chảy chỗ trũng”, người nghèo vô phương kế màkhông có sự giúp đỡ nào có hiệu quả từ phía cộng đồng, xã hội và chính phủ.Nói một cách khác, chúng ta chấp nhận sự làm giàu chính đáng, hợppháp và có lợi cho sự phát triển của đất nước Đó là sự làm giàu dựa trênnhững năng lực và nguồn lực chính đáng, sự làm giàu này không vấp phảimột hạn chế nào Tài kinh doanh, óc tổ chức quản lý, sáng kiến đều có điềukiện phát huy đến mức cao nhất qua cạnh tranh lành mạnh

Loại bất công phi lý và phi pháp, đó là tất cả những bất công đi ngược lạilợi ích của sự phát triển của xã hội, làm cho đời sống xã hội biến dạng và đạođức xã hội suy đồi Những bất công phi lý, phi pháp này phải bị xoá bỏ càngsớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu

Việc xoá bỏ những bất công phi lý, phi pháp, điều tiết những bất công tựnhiên và chấp nhận những bất công tạm thời tuy là việc làm quan trọng,nhưng dù sao vẫn là mặt thụ động của việc thực hiện công bằng xã hội Theochúng tôi mặt quan trọng, tích cực, chủ động hơn của nhiệm vụ quản lý sựphát triển xã hội là phải dần dần tạo ra các điều kiện thuận lợi, điều kiệnngang nhau cho mọi thành viên đều có thể phát triển

Trong cơ chế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo là một hiện tượng phổbiến có tính khách quan, nó mang tính hai mặt: tiêu cực gắn với bất bình đẳng

xã hội và mặt tích cực gắn với phân công lao động xã hội Khi có sự phântầng xã hội tính năng động của cá nhân được phát huy là cơ sở tất yếu kéo

Trang 22

theo tính năng động của xã hội, tạo động lực cho sự phát triển Chấp nhận sựphân hoá giàu nghèo đang diễn ra được hiểu theo nghĩa cống hiến ngang nhauthì hưởng thụ ngang nhau, đó là cách hiểu mới về công bằng xã hội Nếu sựphân hoá giàu nghèo là do tài năng, trí tuệ và những điều kiện khách quankhác quy định thì việc thu nhập không ngang nhau là công bằng Song, có thểcoi là bất công nếu có sự cách biệt giữa người lao động chân chính đang sốngnghèo khó với những kẻ làm giàu phi pháp bằng các hành vi tham nhũng,buôn lậu, lừa đảo, trốn thuế Sự bất công còn xảy ra ngay trong lực lượng laođộng, đó là sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa những người trong nhữngngành nghề có lợi thế nghề nghiệp, hoặc những ngành nghề ít nhiều có tínhchất độc quyền với những người lao động ở các ngành khác.

Như vậy, hiện nay ở chúng ta người lao động sẵn sàng chấp nhận tạmthời sự chưa bình đẳng, nhưng không chấp nhận sự không công bằng; côngbằng phải được xây dựng trên cơ sở cống hiến và hưởng thụ ngang nhau Mỗi

cá nhân muốn cống hiến được cho xã hội thì cá nhân tối thiểu phải có hai điều

kiện: Thứ nhất, phải có môi trường thuận lợi nhằm vừa tạo điều kiện cho cá

nhân có khả năng cống hiến, vừa là thước đo để đánh giá khách quan sự cốnghiến của mỗi cá nhân, đó có thể gọi là “cơ hội xã hội” Cơ hội xã hội là điềukiện rất quan trọng mà không có nó thì cá nhân dù có nhiệt tình cống hiến đến

mấy cùng với tài năng thực sự đôi khi cũng trở thành bất lực Thứ hai, muốn

cống hiến thì phải có năng lực nhất định; năng lực càng cao thì khả năng cốnghiến càng lớn

Trên cơ sơ những quan niệm về công bằng xã hội đã trình bày, có thể

hiểu về công bằng xã hội như sau: Công bằng xã hội là một giá trị định hướng để thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong quan hệ phân phối sản phẩm xã hội và khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển giữa các cá nhân, nhóm xã hội dựa trên sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, xuất phát từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định.

Trang 23

1.1.2 Công bằng xã hội là vấn đề quan trọng của vấn đề phân phối trong nền kinh tế thị trường hiện đại

Trong các tác phẩm của mình, khi nói đến công bằng xã hội, bao giờ CácMác cũng đề cập tới những lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội theo laođộng Đây là lĩnh vực đặc biệt có ý nghĩa để xem xét vấn đề công bằng.Nhưng theo Các Mác, phân phối sản phẩm, đến lượt nó, lại bị phụ thuộc vàoquan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Ai nắm quyền sở hữu những tư liệu sảnxuất chủ yếu của xã hội đồng thời là giai cấp thống trị xã hội Quan niệm duyvật lịch sử của Các Mác bắt nguồn từ luận điểm cho rằng sản xuất vật chất vàphân phối sản phẩm là cơ sở, là nền tảng tồn tại của mọi xã hội Do đó muốncắt nghĩa đúng đắn mọi hiện tượng xã hội thì phải tìm vào gốc rễ của nó làsản xuất vật chất và các quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ sở hữu là quan hệđóng vai trò trung tâm

Trong tác phẩm: “Phê phán cương lĩnh Gô-Ta”, công bằng xã hội đượcthể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động Các Mác đã chỉ rõ rằngtrong xã hội xã hội chủ nghĩa, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết đểtái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm

của xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ được nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với

số lượng lao động mà anh ta cung cấp cho xã hội sau khi đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội [ 13, tr.30-34] Đó là một nguyên tắc

phân phối công bằng vì nó đảm bảo cho tất cả những người sản xuất đều cóquyền hưởng thụ ngang nhau khi làm một công việc ngang nhau trong xã hội.Tuy nhiên, trong xã hội không phải mọi người đều bình đẳng với nhau

về cơ hội phát triển mà còn tồn tại nhiều khác biệt, như về nguồn gốc xuấtthân, về địa vị xã hội, về năng khiếu cá nhân, về năng lực lao động Do vậytrên thực tế, với một công việc ngang nhau nhưng vẫn có tình trạng người nàylĩnh hơn người kia và do đó, người nầy giàu hơn người kia Vì vậy, Các Mác

Trang 24

cho rằng, sự phân phối công bằng vẫn phải chấp nhận một tình trạng bất bìnhđẳng nhất định giữa các thành viên trong xã hội.

Theo Mác, mỗi thời đại kinh tế có một phương thức phân phối riêng đặctrưng cho nó Phương thức ấy do những quan hệ sản xuất quyết định Không

có phương thức phân phối chung cho mọi thời đại thì điều đó cũng có ý nghĩarằng, không có một khái niệm công bằng chung chung Mặc dù tiêu chí chungcủa công bằng nằm trong quan hệ phân phối Trong chủ nghĩa tư bản, cũnggiống như các phương thức phân phối trước đây, phương thức phân phối tưbản chủ nghĩa không phải là vĩnh cửu Nó cũng mang tính lịch sử Trong quátrình sản xuất tư bản chủ nghĩa, phân phối căn cứ vào tài sản, vào vốn và theophương thức nầy thì kết quả nhà tư bản ngày càng giàu thêm, lao động ngàycàng bị tha hoá, bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn Đó là sự công bằng xãhội đối với giai cấp tư sản “Bọn tư sản há chẳng khẳng định rằng sự phânphối hiện nay là “công bằng” đó sao? Và quả vậy, trên cơ sở phương thức sảnxuất hiện nay thì đó há chẳng là sự phân phối duy nhất “công bằng” haysao?”

Việc phân phối không công bằng đó đã làm cho những mâu thuẫn xã hộicàng trở nên gay gắt Phương thức phân phối tư bản chủ nghĩa sẽ mất đi khimâu thuẫn cơ bản giữa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sảnxuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa gay gắt đến mức bùng nổ cách mạng xãhội Một thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sảnxuất hiện

Trong thời đại mới, tư liệu sản xuất sẽ được công hữu hoá và phân phốisản phẩm sẽ dựa trên một cơ sở pháp lý hơn Đó là phân phối theo lao động.Theo tư tưởng của Mác, công bằng xã hội không phải là một ý tưởng, mộtmong muốn mà là kết quả tất yếu của sự vận động trong bản thân phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa Phân phối theo lao động, trên thực tế, là một

Trang 25

phương thức mới để xác lập công bằng xã hội, và hơn nữa, còn là để giảiphóng con người ra khỏi sự bất công và bất bình đẳng xã hội nói chung.

Các Mác chia hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa thành hai giaiđọan: Giai đoạn thấp là chủ nghiã xã hội; và giai đoạn cao là chủ nghiã cộngsản Trong chủ nghĩa xã hội, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động,đây là nguyên tăc phân phối công bằng nhất Mặt khác, Mác cũng chỉ rõ,trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, sự phân phối theo lao động còn hàm chứatrong nó sự chấp nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thànhviên trong xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, người lao động không phải đãđược thừa hưởng trọn vẹn giá trị do lao động của mình tạo ra Lao động đóphải được khấu trừ những khoản sau đây: Một là thay thế những tư liệu sảnxuất đã tiêu dùng; Hai là, một phần phụ thêm để mở rộng sản xuất; Ba là, dựtrữ hoặc dành cho quỹ bảo hiểm; Bốn là, chi phí cho quản lý chung; Năm là,tạo quỹ dùng cho quỹ phúc lợi xã hội; Sáu là, tạo quỹ cần thiết để nuôi dưỡngnhững người không có hoặc có rất ít khả năng lao động

Như vậy, ngay với chủ nghĩa xã hội, tức là một xã hội đã được tổ chứctheo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất chủ yếu thì sự công bằng đó vẫn chưa phải là công bằng lý tưởng, côngbằng tuyệt đối theo đúng nghĩa Trong những điều kiện như nhau thì vẫn có

sự khác nhau, thậm chí khác nhau rất xa về năng lực, điều kiện, hoàn cảnh và

ở đó, cái quyền ngang nhau đó, tức là sự bình đẳng vẫn “bị giới hạn trongkhuôn khổ tư sản” nếu mà chúng ta dùng một thước đo như nhau tức là “giátrị lao động” Cho nên “với một công việc ngang nhau và do đó với một phầntham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực tế, người nầyvẫn lĩnh hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người kia.v.v [13, tr.35].Bởi vậy, C Mác kết luận về những hạn chế tất yếu của công bằng trongchế độ xã hội chủ nghĩa như sau: “Đó là những thiếu sót không thể tránh khỏitrong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ

xã hội tư bản chủ nghĩa ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài Quyền không bao

Trang 26

giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xãhội do chế độ kinh tế đó quyết định” [13, tr.34-36] Đó vừa là ưu việt, vừa làthiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao động- một thiếu sót theo Mác, làkhông thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Theo Mác, sự công bằng thật sự sẽ đạt được khi xã hội bước vào giaiđoạn cao - giai đoạn cộng sản chủ nghiã, khi con người không còn phụ thuộcvào sự phân công lao động Lúc đó, khoảng cách giữa lao động trí óc và laođộng chân tay được rút ngắn tối đa; lao động không còn là phương tiện đểsinh sống mà là một nhu cầu hoạt động và phát triển, khi cùng với sự pháttriển toàn diện của cá nhân thì sức sản xuất xã hội sẽ tiến bộ vượt bậc chưatừng có trong lịch sử, của cải trở nên dư thừa, và cho đến khi đó người ta

“mới có thể vượt ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hộimới có thể ghi trên lá cờ của mình: làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”[13, tr.36]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩaMác- Lênin về công bằng xã hội vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam,Người đã đưa ra một quan niệm khái quát về công bằng xã hội trong chủnghĩa xã hội: “chủ nghĩa xã hội là gì ? là mọi người được ăn no, mặc ấm, sungsướng, tự do Nhưng, nếu muốn tách riêng ra một mình mà ngồi ăn no, mặc

ấm người khác mặc kệ, thế là không tốt Mình muốn ăn no, mặc ấm, cũng cầnlàm sao cho tất cả mọi người được ăn no, mặc ấm” [ 15, tr.682]

Năm 1966, khi cuộc kháng chiến cống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạnquyết liệt, nhân dân miền Bắc phải chịu nhiều thiếu thốn, khó khăn trong cuộcsống để dồn sức người sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, Người luôn chú

ý đến vấn đề thực hiện công bằng xã hội cho mọi người dân Việt Nam

“Không sợ thiếu chỉ sợ không công bằng”

Trên lập trường của Chủ nghiã Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu xây dựng đất nước ta trong

Trang 27

giai đoạn hiện nay là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh”, vững bước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Mục tiêu đó chứa đựngnội dung vừa phát triển kinh tế-xã hội, vừa thực hiện công bằng và tiến bộ xãhội cho nhân dân lao động.

Công bằng xã hội luôn luôn biến đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụthể Trong hoàn cảnh của chúng ta hiện nay cần khẳng định rằng phân phốitheo lao động trước sau vẫn là tiêu chí quan trọng bậc nhất của công bằng.Tiêu chí này xuyên suốt cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là hình thứcphân phối chủ yếu trong điều kiện hiện nay của nước ta Lao động không chỉ

là lao động hiện tại mà còn là những lao động quá khứ đã tích luỹ vào trongvốn, tài sản, tư liệu sản xuất thực hiện phân phối theo hình thức này sẽ gắnkết được kết quả lao động với lợi ích của người lao động, nhờ vậy người laođộng sẽ có động lực trong quá trình sản xuất, giúp họ có thu nhập cao Quanđiểm này được Đảng ta khẳng định: “Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”[9, tr.88] Để thực hiện được tốt hình thức phân phối nầy đòi hỏi người laođộng phải có sức khoẻ và tri thức Do đó nhà nước phải tạo mọi điều kiện chongười lao động có điều kiện chăm lo sức khoẻ và học tập thông qua hệ thống

y tế và giáo dục đào tạo, có nghĩa là: tăng cường đầu tư cho y tế và giáo dục,

để nâng cao sức khoẻ và trí tuệ cho người lao động là điều kiện cần thiết đểthực hiện triệt để phân phối theo lao động Nếu trước đây chúng ta coi phânphối theo lao động là tiêu chí duy nhất của sự công bằng thì ngày nay trongđiều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, trước nhu cầu bức bách phải thu hútvốn đầu tư để có điều kiện mở rộng và đẩy mạnh sản xuất thì ngoài phân phốitheo lao động chúng ta còn phải coi trọng hình thức: “ phân phối theo mứcđóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh ” [9, tr.88].Các nguồn lực khác ở đây được hiểu là vốn, tài sản, công cụ sản xuất đượcgọi chung là tài sản đóng góp vào quá trình sản xuất Tuỳ theo mức đóng góp

mà được hưởng phần thu nhập tương ứng Hình thức phân phối này cho phép

Trang 28

thu hút, huy động moị nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia vào quátrình sản xuất.

Ngoài phân phối theo lao động và theo nguồn vốn, để đảm bảo côngbằng xã hội trong quá trình phân phối còn phải tính đến nhiều cống hiến kháccho xã hội Đó là những đóng góp về tài năng, sức lực, xương máu cho lợi íchchung của cộng đồng xã hội Trong đó, đặc biệt là sự cống hiến của người cócông trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước

Một trong những đặc thù lớn nhất của nước ta là chiến tranh kéo dài: chốngthực dân Pháp, đế quốc Mỹ, kẻ thù biên giới phía Bắc và Tây Nam Bên cạnh đócòn có lực lượng tham gia quân tình nguyện giúp các nước bạn Lào, Cămpuchiatrong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Chính vì vậy đã có nhiều gia đình,nhiều đồng bào chiến sỹ, nhiều vùng đất đã không tiếc công sức, tiền của, máuxương cống hiến cho sự nghiệp cách mạng góp phần thực hiện nhiệm vụ cao cả.Ngày nay, bước vào guồng quay của kinh tế thị trường thì chính họ là nhữngngười bị thiệt thòi nhất bởi họ không còn sức lao động do neo đơn, thương tật,già yếu, khó khăn về vốn, họ rơi vào nhóm nghèo của xã hội, Bởi vậy, thực hiệncông bằng xã hội trong điều kiện hiện nay không thể không tính đến sự cốnghiến trong quá khứ của những thế hệ người đã kinh qua chiến tranh Việc thựchiện chính sách nhân đạo, phong trào làm việc thiện, phong trào đền ơn đápnghĩa, thành lập quỹ xoá đói giảm nghèo là trách nhiệm của toàn xã hội, là sựđền ơn đáp nghĩa chứ tuyệt nhiên không phải là sự ban ơn Trong điều kiện hiệnnay còn có sự bất bình đẳng trong thu nhập, việc thực hiện phân phối thông quaphúc lợi xã hội có tác dụng giảm bớt sự bất bình đẳng đó

Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đặt mụctiêu tiến bộ và công bằng xã hội lên trên hết, coi đó là mục tiêu của mọi chínhsách phát triển kinh tế xã hội, ngược lại phát triển kinh tế xã hội là vì mục tiêuđảm bảo thực hiện công bằng xã hội, vì tự do, hạnh phúc của con người Vì vậy,Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII) đã khẳng định

“Tăng tưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong

Trang 29

từng bước phát triển Công bằng xã hội thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tưliệu sản suất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện pháttriển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng” [7, tr.47].

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, tư tưởng vềcông bằng xã hội tiếp tục được Đảng ta quán triệt và làm rõ trong điều kiệnmới: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội ngay trong từngbước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ởtất cả các khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kếtquả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội và pháttriển và sử dụng tốt năng lực của mình” [8, tr.113] Tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “ tăng trưởng kinh

tế với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiệnmôi trường” [9,tr.24]

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng lại tiếp tục khẳng định:

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trongphạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện công bằng

xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiệntốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi vànghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bềnvững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội Tập trung giải quyết nhữngvấn đề xã hội bức xúc” [10, tr.32]

1.2 NÂNG CAO ĐỜI SỐNG KINH TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG

LÀ MỘT TRONG NHỮNG NHIỆM VỤ QUAN TRỌNG ĐỂ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.2.1 Nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công cách mạng là trách nhiệm của nhà nước và toàn xã hội trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 30

Mặc dù chính sách ưu đãi người có công đã được thực hiện gần 6 thập

kỷ qua, nhưng cho đến ngày nay cũng chưa có một văn bản nào nêu rõ kháiniệm người có công Tuy nhiên, qua các quy định tiêu chuẩn đối với từng đốitượng là người có công, chúng tôi nêu ra khái niệm người có công như sau:Theo nghĩa rộng: người có công là những người thuộc một dân tộc nào

đó, tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho đại nghĩa, cho sự nghiệp của đấtnước Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi íchcủa đất nước, của dân tộc Người có công gồm những người không phân biệttôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, miễn là họ có những hànhđộng xuất sắc có lợi cho dân tộc Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bảncủa người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi íchdân tộc Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranhgiành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng

và phát triển của đất nước

Như đã nêu trên, phạm trù người có công rất rộng, trong phạm vi củaluận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào những đối tượng là người có côngtrước cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến cứu nước vàtrong bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Như vậy, khái niệm người có công ở đâyđược hiểu theo nghĩa hẹp Người có công hiểu theo nghiã hẹp này như sau:Người có công là những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dântộc, nam nữ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳtrước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giảiphóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền côngnhận Như vậy, ở khái niệm này, người có công là những người tham gia hoặcgiúp đỡ cách mạng mà hy sinh xương máu hoặc một phần thân thể của mìnhhoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các cơquan có thẩm quyền công nhận

Các loại đối tượng người có công:

Trang 31

Theo quy định hiện hành, các đối tượng có công có nhiều loại, trongphạm vi của luận văn, chỉ nêu những đối tượng có công theo nghĩa hẹp đãtrình bày trên Những đối tượng có công này được quy định trong Pháp lệnh

ưu đãi người có công số 26/2005/PLUBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Uỷ banThường vụ Quốc hội và Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 củaChính phủ, bao gồm:

+ Thương binh: Là những quân nhân, công an nhân dân vì chiến đấu,

hoặc trực tiếp chiến đấu; bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiênquyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranhchống tội phạm hoặc dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục

vụ quốc phòng, an ninh, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của nhà nước, nhândân, làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hộiđặc biệt khó khăn mà bị thương tật, mất sức lao động từ 21% trở lên

Những người không thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (công an nhândân, quân đội nhân dân), trong khi làm những nhiệm vụ trên đây mà bịthương suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên thì được hưởng chính sáchnhư thương binh

+ Bệnh binh: Là những quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy

giảm khả năng lao động từ 41% trở lên do chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụchiến đấu; hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; làmnghĩa vụ quốc tế; dũng cảm làm công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốcphòng an ninh khi xuất ngũ về với gia đình

+ Liệt sỹ: Là những người đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc,

bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của nhà nước, củanhân dân được Nhà nước tặng bằng “Tổ quốc ghi công” trong khi: Chiến đấuhoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, binh vận vớiđịch có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bịđịch bắt tù đày tra tấn nhưng không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh

Trang 32

hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục hy sinh; làm nghĩa vụ quốc tế;đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểmhoặc phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sảncủa nhà nước của nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốcphòng an ninh ở địa bàn kinh tế có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khókhăn; Thương binh chết vì vết thương tái phát.

+ Thân nhân liệt sỹ: Là những người thân thiết, ruột thịt hoặc có công

nuôi dưỡng liệt sỹ trước khi hy sinh, như:

- Vợ (hoặc chồng) của liệt sỹ Chỉ xác định là những người kết hôn hợppháp với liệt sỹ trước khi liệt sỹ hy sinh và quan hệ hôn nhân còn tới thờiđiểm liệt sỹ hy sinh và được báo tử (hợp pháp ở đây được hiểu là có đăng kýkết hôn hoặc được tổ chức, đoàn thể có thẩm quyền công nhận).Trong trườnghợp liệt sỹ có nhiều vợ (trước khi có luật hôn nhân gia đình) mà thực tế đãđược thừa nhận thì những người vợ đó cũng được công nhận là thân nhân liệtsỹ

- Con liệt sỹ: là những người như: con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú,được pháp luật thừa nhận

- Cha mẹ đẻ của liệt sỹ: là những người thực sự nuôi dưỡng liệt sỹ nhưcon khi liệt sỹ còn nhỏ tuổi trong một khoảng thời gian nhất định nào đó (theoquy định hiện hành của nước ta, thì thời gian nuôi dưỡng tối thiểu là 10 nămkhi liệt sỹ còn dưới 16 tuổi hoặc tối thiểu là 5 năm trong điều kiện hết sức đặcbiệt)

Qua cách phân loại này có thể thấy thân nhân liệt sỹ có thể là người cóquan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng được phápluật thừa nhận Những người nầy tuy không phải trực tiếp là người có công,nhưng có quan hệ trực tiếp với người có công nên cũng là đối tượng chính củaPháp lệnh ưu đãi

Trang 33

+ Những người tham gia hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến.

Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử, qua các thời kỳ cách mạng có những ngườitham gia hoat động cách mạng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau và họ cốnghiến khả năng, công sức cho sự nghiệp cách mạng trong các thời kỳ đó.Những người này là những người có công với đất nước, bao gồm:

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Ngườihoạt đông cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước ngày 18 tháng

8 năm 1945; Anh hùng lực lượng vũ trang; Anh hùng lao động, là người đượcnhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiếnđấu, phục vụ chiến đấu hoặc trong lao động sản xuất phục vụ chiến đấu

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có chồng, con hoặc bản thân

đã cống hiến hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làmnghĩa vụ quốc tế

- Người hoạt động trong thời kỳ kháng chiến là người tham gia khángchiến được nhà nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương tổng kết thànhtích kháng chiến

- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tùđày, mà trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho khángchiến, không làm tay sai cho địch

- Người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoáhọc do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam

+ Người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng: Cuộc cách mạng ở Việt

Nam là cuộc cách mạng toàn dân, toàn diện Trong cuộc cách mạng này, cónhiều người, nhiều gia đình dưới các góc độ và mức độ khác nhau, trực tiếphoặc gián tiếp giúp đỡ sự nghiệp cách mạng nói chung hoặc giúp đỡ nhữngngười hoạt động cách mạng nói riêng (lãnh tụ, cán bộ cách mạng ) trong lúckhó khăn nguy hiểm được nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghicông” hoặc Bằng “Có công với Nước” hoặc Huân chương kháng chiến.Những sự giúp đỡ này có thể là:

Trang 34

- Cho mượn hoặc hiến nhà cho cách mạng để làm kho tàng, địa điểm họphoặc làm trụ sở cách mạng v v

- Nuôi dấu cán bộ cách mạng; sản xuất cung cấp vũ khí, lương thực chocách mạng v.v

Như vậy, người có công là những người đã hy sinh xương máu hoặccống hiến lớn lao cho sự nghiệp của dân tộc Vì vậy, toàn Đảng, toàn dânphải có trách nhiệm chăm lo đời sống cho người có công, nhưng trước hếttrách nhiệm đó thuộc về nhà nước Nhà nước là người đại diện cho giaicấp, cho dân tộc, nên nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi đốivới người có công

Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước có vai trò đặc biệt quantrọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách ưu đãi đối với ngươì cócông Chính sách đối với người có công là chính sách đặc biệt, thực hiệnchính sách người có công sẽ góp phần nâng cao đời sống kinh tế người cócông Nhất là khi nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thịtrường nếu chúng ta không có một thể chế chính trị vững vàng, một cơ chếchính sách đúng đắn, một hệ thống chính sách phù hợp thì người có côngnhững người chịu đựng hy sinh mất mác lại là những người phải chịu nhiềuthiệt thòi nhất Một mặt, nhà nước thông qua tổ chức chức năng của mình (mà

ở đây là Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội) hoạch định các chính sách ưuđãi đối với người có công trình lên các cơ quan thẩm quyền (Quốc hội,Chính phủ) thông qua bằng các văn bản pháp luật, tạo cơ sở để hỗ trợ, cảithiện, nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công Mặt khác, nhà nướcbằng các bộ máy của mình, các bộ ngành, địa phương triển khai thực hiệncác chính sách đối với người có công đưa chính sách vào cuộc sống Ngoài

ra nhà nước còn động viên, khuyến khích ủng hộ, và tham gia phát độngcác phong trào tạo ra sức mạnh tổng hợp về nguồn lực ở cộng đồng dân cư,các tổ chức kinh tế xã hội trong việc thực hiện chính sách, nâng cao đờisống kinh tế đối với người có công

Trang 35

Song, để nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công không chỉ làtrách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của công đồng xã hội Cộngđồng xã hội với tư cách là người hưởng thụ những thành quả của sự nghiệpcủa dân tộc, trong đó có sự đóng góp công lao, sức lực, cả sự hy sinh thân thể

và xương máu của bao thế hệ người tham gia để làm cho sự nghiệp của dântộc đơm hoa thơm, kết quả ngọt, để đất nước được độc lập tự do Vì lẽ đó,cộng đồng xã hội quan tâm đến lợi ích vật chất tinh thần đối với người cócông, góp phần nâng cao đời sống kinh tế người có công ngang bằng với mứcsống xã hội là vừa là trách nhiệm vừa là sự đền ơn đáp nghĩa của thế hệ hômnay đối với các thế hệ cha anh, những người đã cống hiến cho sự nghiệp giảiphóng dân tộc, vì nền độc lập tự do của Tổ quốc

1.2.2 Nâng cao đời sống người có công là cơ sở, điều kiện góp phần giải quyết tốt các vấn đề kinh tế- xã hội và các vấn đề phát triển của tỉnh Quảng Nam

Như phần trên đã đề cập, người có công là một bộ phận yếu thế trong xãhội, bởi họ đã cống hiến sức lực, một phần thân thể, tuổi thanh xuân của mìnhcho đất nước, vì vậy hoàn cảnh, đời sống vật chất và tinh thần của họ đa phầnrất khó khăn, nhất là trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sangvận hành theo quy luật của nền kinh tế thị trường, nẩy sinh nhiều khó khănmới, nhất là trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu nhập, nhà ở Tỉnh QuảngNam là một tỉnh có số lượng đối tượng rất đông chiếm trên 16% dân số,chiếm 30% tổng số hộ trên toàn tỉnh Việc giải quyết tốt các chính sách xã hộiđối với người có công có một ý nghĩa hết sức quan trọng không những vềchính trị mà còn tạo ra môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, góp phần ổnđịnh chính trị, an ninh trậ tự xã hội

Xét về ý nghĩa chính trị, người có công phải được nhà nước và xã hội ghinhận công lao và có chính sách đãi ngộ, đó là đạo lý truyền thống của dân tộc,uống nước phải nhớ nguồn, không những thế hệ hôm nay mà con cháu mai

Trang 36

sau ghi nhớ công ơn của những anh hùng liệt sỹ, thương bệnh binh, đã hy sinh

vì sự nghiệp giải phóng dân tộc vì nền độc lập tự do của đất nước

Xét dưới góc độ kinh tế xã hội, chăm lo đời sống vật chất tinh thầncủa người có công, là nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc trong sựnghiệp phát triển kinh tế xã hội trong sự nghiệp phát triển toàn diện củatỉnh Quảng Nam thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá; thựchiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế bền vững trongnhững năm tới

Tóm lại, công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử nhưng công bằng xã

hội là một tất yếu, là vấn đề quan trọng của vấn đề phân phối trong nền kinh

tế thị trường hiện đại Nâng cao đời sống kinh tế đối với người có công là mộttrong những nhiệm vụ để thực hiện công bằng xã hội Việc nâng cao đời sốngkinh tế đối với người có công cách mạng là trách nhiệm của nhà nước và toàn

xã hội; là cơ sở, điều kiện góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội vàcác vấn đề phát triển của tỉnh Quảng Nam nói riêng và toàn xã hội nói chungtrong thời gian tới

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG NÂNG CAO ĐỜI SỐNG KINH TẾ NGƯỜI CÓ CÔNG

Ở TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA

2.1 TÌNH HÌNH NGƯỜI CÓ CÔNG Ở TỈNH QUẢNG NAM

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội và con người Quảng Nam

2.1.1.1 Về điều kiện tự nhiên

Quảng Nam là một tỉnh nằm giữa Trung Bộ, cũng là trung độ của cảnước, có hình như một hình bình hành, hơi khuyết ở góc Tây Nam, có diệntích tự nhiên 11.989 Km2, thuộc tỉnh có diên tích lớn của miền Trung TỉnhQuảng Nam cách thủ đô Hà Nội 759Km về phía Nam, cách Thành phố HồChí Minh 791Km về phía Bắc, trên vĩ độ 15o13’ - 16o12’ Bắc, kinh độ

107o13’ - 108o44’ Đông Đây là nơi kết thúc đoạn eo nhất của dải Bình TrịThiên và bắt đầu mở rộng ra về phía Nam theo hình thể địa lý Việt Nam PhíaBắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum,phía Tây giáp Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (đây cũng là tỉnh trong số ítcác tỉnh duyên hải miền Trung có biên giới chung với Lào), phía Đông giápbiển Thái Bình Dương Chiều ngang theo đường chim bay từ biển đến biêngiới Lào chỗ rộng nhất 125km, chỗ hẹp nhất 72km [17] Tỉnh Quảng Nam có

17 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có hai thị xã: Hội An, Tam Kỳ (thị

xã Tỉnh lỵ), các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, QuếSơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Núi Thành, Phú Ninh, Nam Trà My, Bắc Trà

My, Phước Sơn, Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang) Trong 17 huyện, thị

xã có 7 huyện miền núi (có 2 huyện miền núi cao) Ngoài khơi, cách thị xãHội An 40km có Cù lao Chàm, gồm có 6 hòn đảo lớn nhỏ, nay là xã TânHiệp, thuộc thị xã Hội An Toàn tỉnh có 233 xã, phường, thị trấn., trong đó có

53 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn; 13 xã đặc biệt khó khăn, bãi ngang venbiển Dân số Quảng Nam hiện nay khoảng hơn 1,4 triệu người

Trang 38

Về tên gọi Quảng Nam ra đời và tồn tại cho đến cuối thiên niên kỷ thứhai là 528 năm (1742-2000) và đến nay là 534 năm, người khai sáng danhxưng này là vị vua thông minh và yêu nước, được xếp vào hàng bậc nhấttrong các triều đại vua chúa Việt Nam: Lê Thánh Tông Trải qua nhiều thayđổi về tên gọi, đơn vị hành chính và về địa giới, đã diễn ra không ít lần tách

ra, nhập vào, Quảng Nam lúc đầu tên gọi là Thừa tuyên Quảng Nam, sau đổithành Xứ Quảng Nam (1490) rồi Trấn Quảng Nam (1509) lại đổi sang DoanhQuảng Nam (1602), Quảng Nam vaò thời kỳ đó bao gồm đất đai ba phủ:Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn trải dài từ Nam sông Thu Bồn cho đến đèo

Cù Mông (tỉnh Bình Định ngày nay) Dưới thời Nguyễn Hoàng doanh QuảngNam lại thêm phủ Điện Bàn phía Bắc và phủ Phú Yên phía Nam Từ năm

1997, Quảng Nam trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương,(tách từ tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng cũ) đất Quảng Nam gồm từ Điện Thắng(huyện Điện Bàn) đến Dốc Sõi (huyện Núi Thành)

Quảng Nam có hệ thống bờ biển dài 150km, có ba cửa thông ra biển CửaĐại, Cửa Lở và Cửa An Hoà và một ngư trường rộng 50.000km2 RặngTrường Sơn đâm ngang ra biển được coi là đường phân ranh tự nhiên giữaNam và Bắc, đánh dấu sự biến đổi về nhiều mặt từ địa lý, địa chất, khí hậuthổ nhưỡng, sông ngòi, đến thực vật, động vật

Về mặt địa hình, Quảng Nam có đủ các vùng, thượng du, trung du, đồngbằng, ven biển Ở phía tây, núi đồi chiếm 3/4 diện tích của tỉnh, phù hợp vớitrồng cây lương thực, cây công nghiệp

Vùng đồng bằng Quảng Nam thuộc loại tương đối phì nhiêu ở miềntrung được khai thác sớm Tuy nhiên, do phương thức canh tác lạc hậu, bị tànphá trong suốt nhiều thế kỷ chiến tranh nên đã trở thành bạc màu QuảngNam có một hệ thống sông ngòi khá dày, tạo thành mạng giao thông thuỷnội địa thuận lợi theo cả chiều Đông- Tây và Bắc- Nam và nguồn thuỷ lợi

Trang 39

cho sản xuất nông nghiệp như các con sông Thu Bồn, Sông Yên, VĩnhĐiện, Trường Giang

Lòng đất Quảng Nam chứa nhiều khoáng sản, vàng, than đá, sắt, đồngchì, kẽm nằm rải rác ở nhiều nơi, xưa kia đã được người Chiêm Thành khaithác rồi sau đó người Việt, người Hoa, người Pháp

Hai tiếng Quảng Nam hàm chứa một ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quátrình phát triển lâu dài của đất nước, dân tộc Quảng có nghĩa là mở rộng;Nam có nghĩa là hướng Nam, đi về phương Nam: một sự lựa chọn có tínhchiến lược, quyết định sống còn của quốc gia Đại Việt vốn có vị trí địa lý đặctrưng một bên là núi non hiểm trở, cao ngất, một bên là biển rộng mênhmông, lại luôn chịu áp lực bành trướng mạnh mẽ của một láng giềng khổng lồ

từ phương Bắc

Trong dòng lịch sử phát triển của đất nước, Quảng Nam trong thực tế đã

có vai trò, vị trí rất đáng tự hào trong sự nghiệp mở nước Đó là vai trò “phêndậu” ở chốn đầu sóng ngọn gió, nơi tiếp nhận và nhào nặn lại các luồng sóngvăn hoá để làm giàu thêm vốn văn hoá của dân tộc, là nguồn cung cấp nhântài vật lực, trạm trung chuyển và là bàn đạp vững chắc cho công cuộc Namtiến của dân tộc [17, tr.13]

Bước vào thời cận đại, năm 1858, những phát đại bác đầu tiên của liênquân Pháp - Tây Ban Nha đã nã vào pháo đài phòng hải của ta tại bãi biển ĐàNẵng (trước đây Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam) mở đầu cuộc xâm lược củaphương Tây vào Việt Nam Rồi 106 năm sau (1965) lại đến quân Mỹ đổ bộvào bãi biển Xuân Thiều (Đà Nẵng) mở đầu cuộc xâm lược trực tiếp của đếquốc Mỹ đối với miền Nam kéo dài hơn mười năm (1965-1975)

Với điều kiện tự nhiên của đất Quảng Nam đã tạo nên một tỉnh QuảngNam giàu truyền thống cách mạng, sẵn sàng tiên phong, dũng cảm vì sựnghiệp của dân tộc trong tiến trình giữ nước, bảo vệ nền độc lập tự do

2.1.1.2 Về kinh tế, văn hóa xã hội và con người Quảng Nam

Trang 40

Quảng Nam là một tỉnh có nhiều tiềm năng để có thể phát triển kinh tế,cho đến nay tuy đã có những khởi động bước đầu và có những kết quả nhấtđịnh nhưng nhìn chung còn chưa được khai thác có hiệu quả Cơ cấu kinh tếtuy đã có sự chuyển dịch nhưng còn chậm Sản xuất nông nghiệp còn tậptrung phần lớn vào trồng trọt và chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thốngvới công cụ lao động chủ yếu là thủ công nên năng xuất lao động thấp, tíchluỹ ít Sản xuất công nghiệp bước đầu đã hình thành những khu công nghiệp,cụm Công nghiệp, tuy nhiên quy mô sản xuất, hiệu quả đầu tư chưa cao Côngnghiệp ở Quảng Nam mới chỉ bước đầu tập trung phát triển công nghiệp vậtliệu xây dựng, chế biến nông lâm thuỷ sản và sản xuất hàng tiêu dùng, hàngxuất khẩu Đặc biệt, sự ra đời Khu kinh tế mở Chu Lai, mô hình khu kinh tế

mở đầu tiên trên phạm vi cả nước bước đầu tạo được sự quan tâm của cácDoanh nghiệp trong và ngoài nước, tuy nhiên tiến độ đầu tư, phát triển sảnxuất còn chậm

Kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa được phát huy so với tiềmnăng, rừng bị chặt phá do khai thác trái phép Việc khai thác tiềm năng thuỷsản còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Quảng Nam,năng lực đánh bắt còn hạn chế, thiếu những đội tàu đánh bắt xa bờ, dài ngày,

và hiệu quả Kỹ thuật khai thác, chế biến thuỷ hải sản còn lạc hậu

Nhìn chung kinh tế ở Quảng Nam tuy có những chuyển động ban đầunhưng còn yếu Kinh tế hàng hoá kém phát triển, chưa tạo được mũi nhọnkinh tế Với tình hình kinh tế như vậy thì việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lànhiệm vụ bức thiết đặt ra hàng đầu Bởi vì Quảng Nam hiện nay vẫn là tỉnhnghèo, đời sống nhân dân còn khó khăn

Nhân dân Quảng Nam dũng cảm trong đấu tranh chống thiên tai, địchhoạ để bảo vệ sản xuất, họ là những người cần cù trong lao động, tiết kiệmtrong chi tiêu Nhưng người dân Quảng Nam trong tiến trình đấu tranh giữnước luôn chứng kiến và chịu nhiều hy sinh mất mác nên hơn đâu hết họ

Ngày đăng: 24/10/2014, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội (2002), 55 năm Sự nghiệp Hiếu nghĩa- Bác ái, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 55 năm Sự nghiệp Hiếunghĩa- Bác ái
Tác giả: Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2002
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. V.I Lênin (1976), Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1976
12. C.Mác - Ph.Ăngghen (1961), Toàn tập, Tp 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1961
13. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 19, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
14. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1995
15. Hồ Chí Minh (1995) Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
25. Lê Hữu Tầng (1993), "Tư tưởng của Các Mác về Công bằng và bình đẳng trong Chủ nghĩa xã hội", Tạp chí triết học, (2) tr.27, 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng của Các Mác về Công bằng và bìnhđẳng trong Chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Lê Hữu Tầng
Năm: 1993
26. Lê Hữu Tầng (1997), “Về động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về động lực của sự phát triển kinh tế xã hội
Tác giả: Lê Hữu Tầng
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1997
27. Bùi Đình Thanh (1996), “Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá”, Tạp chí Cộng sản, (18) tr.8, 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Bùi Đình Thanh
Năm: 1996
28. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam (2003), Quảng Nam anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, (Kỷ yếu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Nam anh hùng thời đại HồChí Minh
Tác giả: Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam
Năm: 2003
2. Chính phủ (2005) Nghị định số 147/2005/NĐ-CP, ngày 30/11/2005, quy định về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công cách mạng Khác
3. Chính phủ (2006), Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, ngày 28/6/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công Khác
4. Chính phủ (2006), Nghị định số 45/2006/NĐ-CP ngày 28/4/2006, ban hành điều lệ quản lý và sử dụng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Khác
5. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2005), Văn kiện Đại hội tỉnh Đảng bộ Quảng Nam lần thứ XIX Khác
17. Nguyên Ngọc (chủ biên) (2004), Tìm hiểu con người Quảng Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w