Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của bài báo cáo gồm có 3 phần chính: Chương 1: Hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vau vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
CHỈ TIÊU 8
NĂM TRƯỚC 8
NĂM SAU 8
LNTT và lãi vay 14
Hệ số thanh toán lãi vay = - 14
Lói vay phải trả 14
Giá vốn hàng bán 15
Số vòng quay HTK = - 15
HTK bình quân 15
Doanh thu thuần 16
Vòng quay TSNH = - 16
TSNH BQ 16
360 17
Công thức số ngày 1 vòng quay TSNH = - 17
Số vòng quay TSNH 17
DOANH SỐ CHO VAY TRONG KỲ 19
VÒNG QUAY VỐN TÍN DỤNG = - 19
DƯ NỢ TRONG KỲ 19
Trang 2DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
CHỈ TIÊU 8
NĂM TRƯỚC 8
NĂM SAU 8
LNTT và lãi vay 14
Hệ số thanh toán lãi vay = - 14
Lói vay phải trả 14
Giá vốn hàng bán 15
Số vòng quay HTK = - 15
HTK bình quân 15
Doanh thu thuần 16
Vòng quay TSNH = - 16
TSNH BQ 16
360 17
Công thức số ngày 1 vòng quay TSNH = - 17
Số vòng quay TSNH 17
DOANH SỐ CHO VAY TRONG KỲ 19
VÒNG QUAY VỐN TÍN DỤNG = - 19
DƯ NỢ TRONG KỲ 19
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời của NHTM là một trong những phát minh kì diệu nhất của lịch
sử thế giới và nó đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để phù hợp với nền kinh
tế xã hội từng thời kỳ Đặc biệt là trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một
bộ phận không thể thiếu và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Là một bộ phận trong hệ thống NHTM Việt Nam, chi nhánhNHNo&PTNT huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh đã và đang có những đóng góp tíchcực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương , góp phần kiềmchế lạm phát, nâng cao đời sống của nhân dân thông qua các chương trình, chínhsách của Chính phủ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu và học hỏi tại NHNo&PTNT chinhánh huyện Tiên Du em đã được tiếp cận khá đầy đủ các nghiệp vụ của ngânhàng.Với mục tiêu gắn liền khoa học và thực tiễn, qua quá trình thực tập, được sựgiúp đỡ của ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên phòng kinh doanh, phòng kế toán và sựhướng dẫn tận tình của giảng viên đó giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệpnày Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của bài báo cáo gồm có 3 phần chính:
Chương 1: Hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vau vốn của ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp tài chính
doanh nghiệ p vay vốn tại NHNo&PTNT Tiên Du, Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
vay vốn tại NHNo&PTNT Tiên Du, Bắc Ninh
Trang 4
CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâudài Ngay nửa đầu thế kỷ XI, ở châu Âu đã ra đời một số Ngân hàng đầu tiên màtiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi Vào thời điểm này Ngân hàng pháttriển ở trình độ thấp, hoạt động của Ngân hàng chỉ gói gọn trong lĩnh vực giữ hộtiền và cho vay Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt độngcủa NHTM cũng từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hóa dần theohướng đa năng Tuy nhiên đến nay chưa có khái niệm thống nhất về NHTM docác nhà kinh tế nhận thấy có những khó khăn trong việc định nghĩa “Ngânhàng”, bởi quan niệm Ngân hàng thay đổi theo không gian (tập quán và phongtục của mỗi nước) và trong thời gian (theo đà tiến triển kinh tế-xã hội) Theomột số chuyên gia về Ngân hàng trên thế giới thì Ngân hàng trong nền kinh tếthị trường được quan niệm như sau: “Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệthoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tuân thủ theo pháp luật theo đuổi mụctiêu lợi nhuận” Theo luật các tổ chức tín dụng (LUẬT SỐ: 47/2010/QH12
: Ngân hàn là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, cácloại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách,ngân hàng hợp tác x
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHT
Cùng với sự phát triển của NHTM, hoạt động và các dịch vụ của NHTMngày càng được mở rộng Nhưng nhìn chung thì có ba hoạt động chính màNHTM thường làm đó là
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác của NHTM NHTM bản chất
là một tổ chức trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu không phải
Trang 5bằng nguồn vốn chủ sở hữu vì vậy để có nguồn vốn hoạt động, cung cấp vốncho nền kinh tế thì NHTM phải huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu, đi vay từ các tổ chức tín dụng khác hay từ NHTW
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vố
Sau khi huy động vốn, để bù đắp được chi phí huy động vốn và có lợinhuận thì NHTM phải tìm cách sử dụng hiệu quả các nguồn vốn này để thu lãi.Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại tỷ trọng thu nhập lớn nhất cho NHTM.NHTM sử dụng vốn theo các hướng cơ bản là hoạt động tín dụng, đầu tư chứngkhoán, đầu tư mua sắm tài sản cố định và trang thiết bị, hoạt động ngân quỹtrong đó hoạt động tín dụng là quan trọng nhất bởi vì nó đem lại phần lớn thunhập cho Ngân hàn
1.1.2.3 Các hoạt động trung gian của NHTM
Bao gồm hoạt động thanh toán, hoạt động quản lý tài sản cho khách hàng,hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt động mua bán và bảo quản chứngkhoán, hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn kinh doanh và quản trị doanhnghiệp…Các hoạt động này không phải đem lại nguồn thu nhập chủ yếu choNHTM nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạt động huy động và
sử dụng nguồn vốn, đồng thời đa dạng hóa hoạt động, giảm bớt rủi ro và tăngthu nhập cho Ngân hàng
Tuy ba nhóm hoạt động có những đặc điểm khác nhau song có quan hệmật thiết, gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau Vì vậy đối với các nhà quản trịNgân hàng không được coi nhẹ hoạt động nào mà phải luôn đặt mối quan hệgiữa chúng trong khi đề ra chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạtđược hiệu quả cao nhất trong hoạt động
1.1.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
Trong thời gian gần đây, tình hình diễn biến lãi suất, tín dụng, giá vàng,ngoại hối và đặc biệt là hoạt động của các ngân hàng thương mại đang thu hút
sự quan tâm lớn của dư luận và giới kinh doanh Chính vì điều đó, ngân hàngthương mại thông qua việc thực hiện chức năng, vai trò của mình nhất là chứcnăng trung gian tín dụng đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế pháttriển Sự đóng góp này thể hiện như sau
Thứ nhất, ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để
đầu tư vào sản xuất kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu khác
Hiện nay, với vai trò cầu nối, ngân hàng thương mại đứng ra huy độngcác nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế
Trang 6bằng cơ chế tiền gửi có kỳ hạn và không có kì hạn, rồi tái phân phối cho nềnkinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho quá trình tái sản xuất.
Thứ hai, ngân hàng thương mại hỗ trợ Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền
kinh tế
Các ngân hàng thương mại thực hiện đúng chức năng của mình để hướngtới mục tiêu lợi nhuận cho chính ngân hàng đồng thời đã góp phần thực hiện cácmục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát,tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế Ngân hàng thương mại ngày càng phát huyđược vai trò công cụ đòn bẩy của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tíndụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo như những mục tiêu đãhoạch định Chẳng hạn, việc xoá bỏ cơ chế lãi suất “trần”, “sàn” , thực hiện cơchế lãi suất cơ bản, rồi chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận đã giúp cho các tổchức tín dụng linh hoạt hơn trong điều hành lãi suất, ưu đãi cho vay lãi suất thấphơn, khuyến khích xuất khẩu, góp phần thực hiện mục tiêu hướng mạnh về xuấtkhẩu như chính sách đã đề ra
Thứ ba, ngân hàng thương mại góp phần phân bổ, điều hồ vốn giữa các
ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh,các vùng trong một nước
Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế,ngân hàng thương mại sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốnthừa ở các ngành, vùng có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành,vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn
Thứ tư, ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắnhạn) cho các tổ chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinhdoanh và hoạt động ngân hàng đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất,kinh doanh, dịch vụ của các chủ thể kinh tế theo hương tối ưu, nhất là đảm bảocác yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” qua một hệ thống đồng bộ về vốn
1.1.3.2 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường
Thị trường ở đây bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra Để tiếnhành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào doanh nghiệp cần phải tham gia vàothị trường đầu vào, nơi cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho việc sản xuấtkinh doanh nhằm thực hiện thành công chiến lược
Từ đó tiếp cận mạnh mẽ thị trường đầu ra, đó là nơi tiêu thụ sản phẩm đểtìm kiếm lợi nhuận Để quá trình trên diễn ra liên tục và bình thường thì doanhnghiệp cần có “vốn”, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng
về tài chính và NHTM là nơi cần thiết giúp doanh nghiệp cải thiện tình hình đó
Trang 71.1.3.3 NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia và nền tài chính thế giới
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay thì vai trò này củaNHTM ngày một thể hiện rõ rệt hơn Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗiquốc gia khi mở cửa hội nhập với bên ngoài phải có tiềm lực lớn mạnh về mọimặt đặc biệt là tiềm lực về tài chính Để có thể hòa nhập với các quốc gia kháctrên thế giới, hệ thống NHTM trong nước có khả năng cung cấp nhiều loại hìnhdịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tư từ nước ngoài vào trong nước như:thanh toán quốc tế, cho vay ủy thác đầu tư,…giúp cho luồng vốn ra, vào mộtcách hợp lý Đây là điều kiện tiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở cácquốc gia trên thế giới
1.1.3.4 NHTM là công cụ để Nhà Nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phátqua con đường tín dụng và hoạt động của Ngân hàng góp phần chống lạm phát:NHTM sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng và bảo lãnh cònNHTW sẽ tác động vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc thamgia vào thị trường mở để thông qua các NHTM thay đổi lượng tiền trong lưuthông Từ đó Ngân hàng sẽ đưa ra các biện pháp để ổn định sức mua của đồngtiền, kiềm chế lạm phát
1.2. Hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng
thương mại
1.2.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
vay vốn
1.2.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thôngtin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính khả năng và tiềm lực của doanhnghiệp giúp Ngân hàng đưa ra quyết định tài trợ
1.2.1.2. Vai trò của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn
Trong hoạt động tín dụng hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vayvốn đóng vai trị quan trọng trong việc ra quyết định cho vay của cán bộ tíndụng
Trang 8Việc phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn giúp ngân hàng có thể biếtđươc một phần tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính khả quan haykhông khả quan, định hướng phát triển của đơn vị để từ đó đưa ra quyết địnhcho vay đúng, đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, đầy đủ gốc và lãi.
Tuy nhiên, việc phân tích tài chính doanh nghiệp chỉ hữu ích khi các sốliệu báo cáo được đảm bảo tính chính xác Trong điều kiện của nhà nước ta hiệnnay, khi mà thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê chưa được chấp hành nghiêmchỉnh thì đòi hỏi cán bộ tín dụng phải thẩm định tính chính xác của các số liệubáo cáo và cần phải biết kết hợp chặt chẽ giữa phân tích tình hình tài chính vớicác thông số phi tài chính để đưa ra các kết luận xác đáng về khách hàng màngân hàng đã quan hệ làm ăn
1.2.2.Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng
thương mại
1.2.2.1. Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để phân tích khái quát tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, phảidựa vào hệ thống báo cáo tài chính, trong đó chủ yếu dựa vào bảng cân đối kếtoán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, được soạn thảo vào cuối kỳ thựchiện ngoài ra còn dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( nếu có)
- Bảng cân đối kế toán: là tài liệu quan trọng để nghiên cứu, đánh giá mộtcách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và nhữngtriển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Kết cấu của bảng được chia thành hai phần luôn bằng nhau.Là tài sản vànguồn hình thành tài sản ( nguồn vốn ) tại thời điểm lập báo cáo
Trang 9Dưới đây là mẫu bảng cân đối kế toán:
II Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
III Chi phí xây dựng cơ bản dở dang.
IV Các khoản kí quỹ, kí cược
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổnghợp phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh theo từng loại hoạt động củadoanh nghiệp Số liệu trên báo cáo cung cấp những thông tin tổng hợp vềphương thức kinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao động, kỹ thuật,kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp, và chỉ ra rằng hoạt động kinh doanh đóđem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn
Nội dung của báo cáo kết quả kinh doanh có thể thay đổi theo từng thời kỳtuỳ theo yêu cầu quản lý, nhưng phải phản ánh được 4 nội dung cơ bản sau đây:
Trang 10Doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp,lợi nhuận và được xác định qua đẳng thức đưới đây.
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh = Doanh thu thuần – giá vốn hàng bán – chi phí bán hàng – chi phí quản lý doanh nghiệp
Mẫu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh :
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
6 Doanh thu hoạt động tài chính
7 Chi phí hoạt động tài chính
8 Chi phí bán hàng
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
11 Thu nhập khác
12 Chi phí khác
13 Lợi nhuận khác
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
15 Chi phí thuế thu nhập hiện hành
16 Chi phí thuế thu nhập hoãn lại
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
18 Lãi cơ bản trên một cổ phiếu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 11Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện lưu lượng tiền vào, ra của doanh nghiệptrong một chu kỳ kinh doanh Kết quả phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ chobiết được sự vận động sản xuất kinh doanh, lượng tiền bình quân trong kỳ Bảnchất của sự vận động như sau:
+ Nguồn thu tăng do giảm tài sản này hay tăng nợ phải trả và vốn chủ sởhữu
+ Nguồn chi tăng do tăng tài sản, trả các khoản nợ đến hạn hay trả chođồng sở rút vốn
Tiền mặt đầu kỳ + tiền phát sinh trong kỳ = tiền mặt cuối kỳ
Sự vận động của dòng tiền thể hiện qua 3 hoạt động
Dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là hoạt động chủ yếu củadoanh nghiệp Dòng tiền này tăng lớn hơn hoặc bằng 0 do Doanh thu tăng, bánchịu ít, tốc độ tăng doanh thu bằng tiền lớn hơn tốc độ tăng sản phẩm sản xuất
ra, tăng phải thu kỳ trước Đây là dấu hiệu sản xuất kinh doanh ổn định, pháttriển Dòng tiền nhỏ hơn 0 do nguyên nhân ngược lại
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Dòng tiền này nhỏ hơn 0 do Thu lãi đầu tư,thu tiền bán tài sản cố định, thu hồi đầu tư không có hiệu quả, tăng vốn chủ sởhữu, tìm nguồn hoạt động từ bên ngoài, dòng tiền này nhỏ hơn 0 do: Doanhnghiệp mới đầu từ vào tài sản hay đầu tư ưa ngoài doanh nghiệp, cán bộ tín dụngphải xem xét nguồn đầu tư, nếu không phải vốn chủ sở hữu hau vốn dài hạn thìchứng tỏ doanh nghiệp đã đầu tư bằng vốn ngắn hạn như vậy tiềm ẩn rủi ro tíndụng
Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Dòng tiền này liên quan tới vốn chủ sởhữu, vốn vay, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu Dòng tiền này < or = 0
do trả lãi, chủ sở hữu rút vốn Trường hợp lớn hơn 0 tăng vay vốn, góp thêm
- Thuyết minh báo cáo tài chính:
Trang 12Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáotài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tìnhhình hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thề trình bày rõ ràng và chi tiếtđược
Nội dung của báo cáo:
+) Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
+) Nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng.+) Tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốnđối tượng quan trọng
+) Phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và kiến nghị của doanh nghiệp
1.2.2.2 Phân tích cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu hướng hợp lý(kết cấu tối ưu) Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư Vì vậynghiên cứu cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư sẽ có được một cách nhìn tổngquát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu phân tích là: Hệ số nợ, tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn, tỷsuất tự tài trợ dài hạn
Nợ phải trả
Hệ số nợ = - = 1 - hệ số vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn Vốn CSH
Trang 13vậy hệ số VCSH còn gọi là hệ số tự tài trợ
Qua nghiên cứu hai chỉ tiêu tài chính này ta thấy được mức độ độc lập hayphụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ, hoặc mức độ tự tài trợ của doanhnghiệp đối với vốn kinh doanh của mình.Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏdoanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tính độc lập cao với các chủ nợ, do đókhông bị ràng buộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay Nhưng khi hệ số nợcao thì doanh nghiệp lại có lợi vì được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu
tư một lượng nhỏ
Dưới góc độ nhà cho vay Nếu doanh nghiệp có hệ số nợ cao thì đầu tư cuảcác nhà đầu tư sẽ rất rủi ro Thực tế nhà Ngân hàng không muốn cho doanhnghiệp duy trì hệ số nợ thấp và không đầu tư vào doanh nghiệp có hệ số nợ cao
mà Ngân hàng muốn duy trì ở hệ số hợp lý và còn phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư độ thâm niên, tuổi đời hoạt động của doanh nghiệp, cơ cấu tài sản, chấtlượng tài sản, tính ổn định về tình hình tài chính của doanh nghiệp, tốc độ tăngdoanh thu, lợi nhuận, thái độ của doanh nghiệp , thái độ của nhà cho vay trướcrủi ro
Tài sản dài hạn
Tỷ suất đầu tư vào TSDH =
-Tổng tài sản = 1- tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Trang 14này là tốt hay xấu còn tuỳ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của từng doanhnghiệp trong từng thời kỳ cụ thể khác nhau.
1.2.2.3 Phân tích khả năng thanh toán
Đây là chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm như người đầu tư, người chovay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt ra câu hỏi: Hiện doanhnghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn không?
Tổng tài sản
Khả năng thanh toán hiện hành =
Tổng nợ
Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ
sở hữu mất toàn bộ, tổng tài sản hiện có ( tài sản lưu động, tài sản cố định)không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
- Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với nợngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanhnghiệp phải dựng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đồimột số tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng chỉ có TSLĐ làtrong kỳ có khả năng dễ dàng hơn khi chuyển đổi thành tiền Do đó
Trang 15- Khả năng thanh toán nhanh Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đơkhả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựavào việc phải bán các loại vật tư hang hoá Tuỳ theo mức độ kịp thời của việc thanhtoán nợ hệ số khả năng thanh toán nhanh có thể định theo 2 công thức:
tiền + tương đương tiền + ĐTTCNH+phải thu Khả năng thanh toán nhanh = -
Trang 16Thông thường hệ số này = 1 là lý tưởng nhất.
- Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lợinhuận gộp sau khi đã trừ đi chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng Sosánh giữa nguồn để trả lãi vay với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biết doanhnghiệp đã sẵn sàng trả tiền đi vay tới mức độ nào
LNTT và lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay = -
Lói vay phải trả
Hệ số này dựng đêt đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn đểđảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng tabiết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một khoản lợinhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không…
Yêu cầu hệ số này lớn hơn 1 cho biết giới hạn an toàn trong việc sử dụngvốn vay
1.2.2.4 Phân tích năng lực hoạt động của tài sản
Các chỉ số này dựng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của mộtdoanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dướicác tài sản khác nhau
- Số vòng quay hàng tồn kho ( HTK)
Là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân chuyển trong kỳ Số vòng quayHTK càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệpchỉ đầu tư cho HTK thấp nhưng cần đạt được doanh số cao Số vòng quay HTKđược xác định theo công thức:
Trang 17- Vòng quay các khoản phải thu:
Phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanhnghiệp và được xác định theo công thức:
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Số dư bq các khoản phải thu
Doanh thu thuần được tính ở đây là tổng doanh thu ( thuần) của ba loại hoạtđộng ( hoạt động SXKD, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường)
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình quânkhoản phải thu trên bảng cân đối kế toán
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản thu nhanh là tốt, vìdoanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu( không phải cấptín dụng cho khách)
Trang 18- Kỳ thu tiền trung bình.
Phản ánh trung bình số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu ( sốngày của một vòng quay các khoản phải thu)
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhở,
và ngược lại, kỳ thu tiền trung bình được xác định theo công thức sau:
360
Kỳ thu tiền trung bình =
Vòng quay các khoản phải thu
Số dư bq các khoản phải thu * 360
=
Doanh thu thuần
Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưathể có kết luận chắc chắn, mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sáchcủa doanh nghiệp như: mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng củadoanh nghiệp Mặt khác, dự chỉ tiêu này có thể đánh giá là khả quan, nhưngdoanh nghiệp cũng cần phải phân tích kỹ hơn vì tầm quan trọng của nó và kỹthuật tính toán đã che dấu đi các khuyết tật trong việc quản trị các khoản phảithu
Trang 19bình một vòng quay hết bao nhiêu ngày
Doanh thu thuần
= - (2)
Giá trị còn lại bq của TSCĐ
Công thức (2) sử dụng phổ biến hơn vì phản ánh giá trị chúng ta đầu tư vàoTSCĐ
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh tài sản của doanh nghiệp trong một kỳ quay đượcbao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tàisản của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanhnghiệp đã đầu tư
DTT + DT hoạt động TC + TN khác
Trang 20Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân
-Nói chung vòng quay càng lớn hiệu quả càng cao
1.2.2.5 Phân tích khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu sinh lời luôn luôn là mối quan tâm của doanh nghiệp và nhàđầu tư Chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh trong một kỳ nhất định
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Phản ánh trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ cómấy đồng lợi nhuận
Công thức: LN trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên DT =
DTT
LN sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên DT =
DTT
- Tỷ suất sinh lời của tài sản
Phản ánh một đồng tài sản mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinhdoanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh là chỉ tiêu đo lường mức sinh lợi củađồng vốn
Lợi nhuận sau thuế
Trang 21Tỷ suất lợi nhuận trước thuế vốn KD =
Vốn kinh doanh bình quân
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn KD =
Vốn kinh doanh bình quân
- Vòng quay toàn bộ vốn ( Phương trình hoàn vốn)
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu =
Vốn CSH bq
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận vòng cho các chủnhân của doanh nghiệp đó Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức
độ thực hiện của mục tiêu này
Doanh số cho vay trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lý vốn tín dụng, đồng thời thểhiện chất lượng tín dụng của Ngân hang trong việc sử dụng hiệu quả ngồn vốntín dụng và đáp ứng nhu cầu khách hang Để có thể đánh giá chính xác chấtlượng tin dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụngđối với từng loại cho vay cụ thể
Trang 22- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đếnhạn thanh toán nhưng khách hang chưa trả được Ngân hang có chỉ tiêu nợ quáhạn trên tổng dơ nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lượng tín dụngcàng cao Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn.
1.2.3.Đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của
ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Khái niệm hoàn thiện
Hoàn thiện là việc thay đổi những quy trình cũ, lạc hậu, không theo kịp với xu hướng để có một kết quả tốt hơn, hoàn hảo hơn, có thể theo kip với xu hướng hiện đại
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
vay vốn của ngân hàng thương mại
1.2.3.2.1. Đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của
ngân hàng thương mại qua chất lượng và hiệu quả hoạt động cho vay
Trang 23Chất lượng cho vay tại ngân hàng thương mại là chất lượng của các khoảncho vay của ngân hàng thương mại Các khoản cho vay có chất lượng khi vốnvay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tìên lớn hơn,thông qua đó ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trảđược nợ, bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận Điều này có nghĩa là ngân hàngvừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội.
Hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại là kết quả của quátrình cho vay khách hàng
Việc phân tích tài chính doanh nghiệp càng hoàn thiện, nắm bắt được tìnhhình tài chính, kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp thì chất lượng cho vay càng cao.Hiệu quả hoạt động cho vay càng tốt Ngược lại, nếu việc phân tích tài chính doanhnghiệp không hoàn chỉnh, ngân hàng sẽ không nắm bắt được tình hình tài chính củadoanh nghiệp, dẫn đến những quyết định cho vay sai lầm, ảnh hưởng xấu đến tìnhhình kinh doanh của ngân hàng Ngân hàng sẽ gặp rủi ro nợ xấu
1.2.3.2.2. Đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp vay vốn của
ngân hàng thương mại qua thời gian phân tích và chi phí phân tíchThời gian phân tích tài chính doanh nghiệp càng ngắn thì chi phí mà ngânhàng phải bỏ ra càng nhỏ Nhưng không có nghĩa là việc rút ngắn thời gian vàchi phí cho việc phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến kết quả củahoạt động cho vay Việc cân đối giữa thời gian và chi phí của hoạt động phântích tài chính doanh nghiệp là việc rất cần thiết Việc kéo dài thời gian phân tíchtài chinh doanh nghiệp vay vốn còn ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiêp vay vốn
1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp
vay vốn của ngân hàng thương mại
Chất lượng phân tích tài chính khách hàng được hiểu là tính chính xác củanhững đánh giá về tình hình tài chính một khách hàng, về rủi ro, mức độ, chấtlượng hiệu quả hoạt động của khách hàng và sự sát sao của các báo cáo tài
Trang 24chính Vì vậy, có rất nhiều các nhân tố khác nhau gây những ảnh hưởng trựctiếp cũng như gián tiếp tới chất lượng phân tích tài chính của khách hang, ở đâyxin được phân chia theo hai nhóm nhân tố chính: Nhân tố chủ quan và nhân tốkhách quan Mỗi nhân tố có mức độ mạnh yếu khác nhau theo những chiềuhướng khác nhau nhưng tồng hợp lại thì có tác động lớn tới chất lượng phân tíchtài chính khách hang.
1.3.1 Nhân tố chủ quan
- Nhân tố con người:
Đó là trình độ nghiệp vụ, nhận thức, đạo đức, kinh nghiệm của cán bộ tíndụng trong suốt quá trình đánh giá tài chính khách hàng Mỗi người cán bộ tíndụng đều có kinh nghiệm thực tế, trình độ nghiệp vụ, nhận thức và hiểu biếtkhác nhau do đó ngoài việc đánh giá phân tích khách hàng theo quy định chungcủa luật thì có độ nhạy bén, sắc sảo khác nhau Những thế hệ đi trước có kinhnghiệm thực tế rất nhiều nhưng trì trệ, bảo thủ, trình độ chuyên môn không được
bổ xung, cập nhật thường xuyên thì sẽ không theo kịp tốc độ phát triển, cáchthức hiện đại Thế hệ trẻ mặc dù kiến thức, trình độ được cập nhật mới nhưngnóng vội, thiếu kinh nghiệm thực tế Chưa kể tới đạo đức nghề nghiệp, tính cáchcủa mỗi người, tất cả những vấn đề trên đều ảnh hưởng tới lượng phân tíchkhách hàng
1.3.2 Nhân tố khách quan
Trang 25- Bản thân khách hàng vay vốn
Khách hàng vay vốn là rất đa dạng và nhiều lĩnh vực, ngành nghề khácnhau, quy mô hoạt động khác nhau… đều ảnh hưởng lớn đến chất lượng phântích của Ngân hàng
- Lĩnh vực kinh doanh: Với những ngành nghề khác nhau thì đặc trưng của từngngành đó là khác nhau, cho nên đối với các chỉ tiêu tài chính của mỗi ngành mỗinhóm khách hàng là khác nhau cũng có mức chuẩn khác nhau do đó không thể
áp dụng chuẩn của ngành này cho ngành khác để phân tích hoạt động sản xuấtkinh doanh
- Nhóm khách hàng khác nhau do đó cũng gây khó khăn cho Ngân hàng, vìnhững nhóm khách hàng khác nhau thì mức độ phức tạp của các báo cáo tàichính là khác nhau, ví dụ như: Doanh nghiệp nhà nước so với công ty tư nhân,góc độ phân tích là khác nhau, các chỉ tiêu quan tâm được chú trọng cùng nhau.Mặt khác đối với mỗi nhóm khách hàng như khách hàng là các doanh nghiệp,khách hàng là hộ kinh doanh… thì sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng Với nhữngnhóm khách hàng có số liệu phức tạp, cán bộ tín dụng càng cần thiết phải sửdụng hêt số liệu, tìm mối lien quan và lời giải thích giữa các chỉ tiêu Với nhữngnhóm khách hàng có báo cáo tài chính nhiều thông số phức tạp thì điều quantrọng hơn là bóc tách những chỉ tiêu quan trọng, tìm được mối liên quan giữachúng và từ đó nêu bật được tình hình tài chính hiện tại của khách hàng
- Thời hạn của khoản vay mà Ngân hàng sẽ chú trọng đến các khía cạnh khácnhau của tình hình tài chính khách hàng Chẳng hạn, với các khoản vay ngắnhạn, các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, cơ cấu vốn cũng như các nguồn có thểđáp ứng cho việc trả nợ trong ngắn hạn sẽ được Ngân hàng quan tâm hơn, vì nóảnh hưởng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp Trong khi đó, với các khoảncho vay trung và dài hạn, thì Ngân hàng lại đề cao các chỉ tiêu về khả năng sinhlời và hiệu quả hoạt động của khách hàng vì trong dài hạn chính lợi nhuận và sự
Trang 26vững mạnh về tài chính mới là yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả
nợ của khách hàng
- Độ chính xác của các báo cáo tài chính: Đây là một nhân tố đóng vai trị quyếtđịnh độ chính xác của nội dung phân tích tài chính vì toàn bộ việc phân tích tàichính được thực hiện căn cứ vào số liệu trong báo cáo này Các báo cáo màkhông sát thực thì dẫn đến những quyết định sai lầm Vì thế, việc kiểm tra lại độchính xác, phù hợp của báo cáo tài chính là hết sức cần thiết, công sức của ngườicán bộ không lãng phí
- Ngoài các nhân tố khác như công nghệ tin học, môi trường kinh tế, xã hội vàpháp luật cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng phân tích tàichính khách hàng Việc ứng dụng công nghệ tin học sẽ giúp cho việc tính toánđược chính xác hơn, không phức tạp, gây lộn xộn không đáng có, tiết kiệm thờigian sức lực Thông qua hệ thống máy tính, Ngân hàng có thể lưu giữ, cập nhậtnhững thông tin mới nhất và cần thiễt một cách nhanh chóng
- Các văn bản pháp luật, quy định cũng buộc công tác phân tích, đánh gía phảituân thủ các bước, các chuần mực của toàn ngành và từng ngành, của Ngânhàng, chính những yếu tố này đã tạo ra những thông tin phản hồi của kháchhàng
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH TIÊN DU, BẮC NINH
2.1 Giới thiệu chung về NHNo&PTNT chi nhánh Tiên Du, Băc Ninh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo&PTNT huyện Tiên Du
Tiên Du là một huyện đồng bằng của tỉnh Bắc Ninh, nằm trên quốc lộ 1A,tiến giáp là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội Ngoài đường quốc lộ, đường sắt 1Achạy qua còn có giao thông thuỷ là con sông Đuống bao bọc chảy qua về phíaĐông Nam tạo ra một mối giao lưu kinh tế văn hóa xã hội khá phát triển Trênđịa bàn có các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các ngành nghề côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là các ngành nghề truyền thốngnhư cây cảnh, đồ gỗ, sản xuất giấy ngày một phát triển
NHNo & PTNT huyện Tiên Du tiền thân là Chi nhánh Ngân hàng Nhànước huyện Tiên Sơn trực thuộc Ngân hàng Nhà Nước tỉnh Hà Bắc (cũ) KhiChính Phủ ban hành nghị định 53/ HĐBT ngày 26 tháng 3 năm 1988 Chi nhánhNgân hàng Nhà Nước huyện Tiên Sơn được chuyển thành chi nhánh NHNo &PTNT huyện Tiên Sơn ( hoạt động từ tháng 7 năm 1998)
Thực hiện quyết định số 68/TTG ngày 25/08/1999 của Thủ tướng Chínhphủ về việc chia tách huyện Tiên Sơn thành hai huyện là Từ Sơn và Tiên Du,tổng giám đốc NHNo & PTNT Việt nam đã ra quyết định thành lập NHNo &PTNT huyện Tiên Du trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Bắc Ninh, được phép hoạtđộng và thực hiện các chức năng nhiệm vụ chủ yếu của một NHTM như : kinhdoanh tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đến nay NHNo&PTNT Tiên Du
đã trở thành một ngân hàng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàngvới tổng số 80 cán bộ nhân viên trong đó hơn 80% có trình độ đại học và gần
Trang 2820% trình độ cao đẳng Văn phòng giao dịch của chi nhánh được đặt tại thị trấnLim – Tiên Du – Bắc Ninh
Về hạch toán: chi nhánh là đơn vị hạch toán độc lập, không phụ thuộcNHNo&PTNT Bắc Ninh, chi nhánh được phép quản lý vốn tự có
Về vốn để hoạt động: Do làm tốt công tác huy động vốn nên ngân hàng nôngnghiệp Tiên Du luôn đáp ứng tốt mọi yêu cầu của hoạt động kinh doanh, giúpcho tình hình kinh doanh của ngân hàng luôn ổn định
Về chức năng, nhiệm vụ: chi nhánh làm đầy đủ chức năng của một ngânhàng thương mại từ huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đến cho vayvốn đối với các thành phần kinh tế
Về nghiệp vụ huy động vốn: Mở tài khoản tiền gửi cho các doanh nghiệp, cánhân; huy động bằng trái phiếu, kì phiếu…
Về nghiệp vụ sử dụng vốn : thực hiện đầy đủ các loại yêu cầu tín dụng ngắn,trung, dài hạn, có quỹ tiền mặt riêng để phục vụ khách hàng
2.1.2 Mô hình tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban
2.1.2.1 Tổ chức bộ máy chi nhánh NHNo&PTNT Tiên Du
NHNo&PTNT chi nhánh Tiên Du có bộ máy tổ chức bao gồm :
Ban Giám đốc gồm:
- Một giám đốc phụ trách chung
- Một phó giám đốc phụ trách kinh doanh
- Một phó giám đốc phụ trách kế toán – ngân quỹ
Các phòng ban:
- Phòng hành chính nhân sự gồm 2 cán bộ trong đó có một trưởng phòng
- Phòng kế hoạch và kinh doanh gồm 19 cán bộ trong đó có một trưởng phòng và một phó phòng
- Phòng kế toán – ngân quỹ gồm 21 cán bộ trong đó có một trưởng phòng và ba phó phòng
Trang 29- Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ gồm 2 cán bộ.
Ngoài ra, chi nhánh còn quản lý các phòng giao dịch trực thuộc Ban giám đốc còn có 3 đồng chí là giám đốc của 3 phòng giao dịch
- Phòng giao dịch Hoàn Sơn