Vốn của doanh nghiệp không thể bị mất đi, vì đồng nghĩa với mất vốn là nguy cơ phá sản Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mọi hoạt động từ việc xác địnhmục tiêu cho đầu tư dài hạn, tìm ng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được chuyên đề thực tập này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô giáo trường đại học kinh tế quốc dân và viện Ngân hàng Tài chính đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản để lựa chọn và hoàn thành tốt chuyên đề thực tập này.
Ngoài ra, em cũng chân thành cảm ơn các anh chị trong công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông quốc tế VietlinkVN đã nhiệt tình chỉ bảo giúp đỡ em tiếp xúc
và tìm hiểu thực tế về nghiệp vụ trong suốt thời gian thực tập tại công ty.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Giáo viên hướng dẫn
TS.Nguyễn Thị Minh Huệ đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề thực
tập này.
Hà Nội ngày 17 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Anh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong báo cáo này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực
tiếp của cơ TS.Nguyễn Thị Minh Huệ , giảng viên Viện Ngân hàng Tài chính
Mọi tài liệu tham khảo dung trong chuyên đề này đều được trích dẫn rõ ràng Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội ngày 17 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Đỗ Thị Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 3
1.1 Vốn của doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm về vốn của doanh nghiệp 3
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp 4
1.2 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp 7
1.2.1 Hình thức huy động vốn chủ sở hữu 7
1.2.2 Các hình thức huy động vốn nợ 10
1.3 Hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp 20
1.3.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn 20
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp .21
1.4 Những nhân tố tác động tới huy động vốn của doanh nghiệp 23
1.4.1 Nhân tố chủ quan 23
1.4.2 Nhân tố khách quan 30
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VIETLINKVN 36
2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 36
2.1.1 Quá trình hình thành công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 36
2.1.2 Hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty Cổ phần Truyền thông và Du lịch Quốc tế Vietlinkvn 37
Trang 42.1.3 Một số chỉ số tài chính của công ty Cổ phần Du lịch và Truyền
thông Quốc tế Vietlinkvn 39
2.2 Thực trạng huy động vốn tại công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 40
2.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu 40
2.2.2 Huy động vốn nợ 40
2.3 Đánh giá huy động vốn ở Công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 42
2.3.1 Kết quả đạt được 42
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 45
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VÀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VIETLINKVN 49
3.1 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 49
3.1.1 Đánh giá các điều kiện đối với hoạt động của công ty trong thời gian tới 49
3.1.2 Chiến lược huy động vốn của công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn trong thời gian tới 50
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 51
3.2.1 Các giải pháp tăng nguồn vốn vay 52
3.2.2 Giải pháp huy động vốn chủ sở hữu 52
3.2.3 Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả 53
3.3 Một số kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả các giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn 54
Trang 53.3.1 Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn thông
qua tín dụng ngân hàng 543.3.2 Nhà nước đảm bảo các khoản tín dung cho công ty 563.3.3 Nhà nước có các biện pháp nghiên cứu thị trường để tăng khả
năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp 573.3.4 Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể cho thực hiện hình thức tín
dụng thuê mua 60
KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế của các Công ty Cổ phần ,chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã được nhìn nhận như động lực tăngtrưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam Số lượng các doanh nghiệp Cổphần hiện nay của Việt Nam lên tới hàng trăm nghìn, đóng góp lớn vàoGDP cũng như giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Tuy nhiên,theo nhận định của nhiều nhà kinh tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện naychưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn.Nguyên nhân một phần do bản thân doanh nghiệp chưa có nhiều kinhnghiệm nhất định trong nền kinh tế thị trường, chưa đủ năng động sáng tạotrong kinh doanh Một phần khác là do khả năng tài chính của doanhnghiệp đó còn yếu hay nói cách khác đó là nguồn vốn của doanh nghiệp đó.Khả năng tự chủ về tài chính cao đồng nghĩa với việc cơ hội kinh doanhcủa doanh nghiệp cũng lớn hơn
Khi muốn khởi tạo doanh nghiệp, điều kiện cần đầu tiên là phải cóvốn Trong quá trình hoạt động, sự biến động của vốn cũng là cơ sở và dấuhiệu cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để tiếp tục phát triển vàđứng vững doanh nghiệp không những phải duy trì số vốn bỏ ra ban đầu
mà còn phải tìm kiếm đến những khoản vốn bổ sung từ nhiều nguồn khácnhau Chính vỡ lẽ đóhuy động vốn trong doanh nghiệp luôn được coi làmột trong những ưu tiên hàng đầu Thực hiện tốt huy động vốn cũng làđồng nghĩa với thành công trong xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chiphí thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh với các chủthể kinh tế khác trên thương trường
Chính vì vậy, việc tăng cường huy động vốn ở các doanh nghiệp làmột vấn đề cần được quan tâm hàng đầu Để làm được điều này, phải xem
Trang 7xét tới rất nhiều yếu tố Mỗi một yếu tố có vai trò và mức độ ảnh hưởngkhác nhau tới doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục tiêu khi thành lập, Qua quá trình học tập ở trường và thời gian thực tập tại công ty Cổphần Quốc tế Truyền thông và Du lịch Vietlinkvn em đã chọn đề tài nghiêncứu : “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty Cổ phầnQuốc tế Truyền thông và Du lịch Vietlinkvn” để làm báo cáo chuyên đềthực tập.
Kết cấu của báo cáo gồm 3 chương cơ bản:
Chương 1: : Vốn và huy động vốn của trong doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của Công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Công ty Cổ phần Du lịch và Truyền thông Quốc tế Vietlinkvn
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn TS: NguyễnThị Minh Huệ đã hướng dẫn em và giúp em hoàn thành báo cáo chuyên đềthực tập này
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2012
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Anh
Trang 8CHƯƠNG I VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Vốn của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về vốn của doanh nghiệp
Có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn Theo Samuelson, vốn là hànghoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vàocho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Trong cuốn "Kinh tế học" củaD.Begg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa: vốn hiện vật và vốn tài chính củadoanh nghiệp Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sảnxuất các hàng hoá khác; vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá củadoanh nghiệp Như vậy, D.Begg đã bổ sung vào định nghĩa vốn củaSamuelson
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, việc huy động vốn,quyết định đầu tư là theo định hướng và theo kế hoạch của nhà nước Cácdoanh nghiệp không được quyền tự chủ huy động vốn và ra các quyết địnhđầu tư Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách Nhà nước cấphoặc vay ngân hàng với lãi suất rất thấp
Với chế độ cấp phát vốn và giao nộp sản phẩm, các doanh nghiệp luôn
ỷ lại cho trung ương về các nguồn tài trợ, luôn đòi hỏi rút vốn, tăng đầu tưnhư một điều kiện bảo đảm thực hiện kế hoạch, pháp lệnh Các doanhnghiệp tìm cách xin thêm vốn càng nhiều càng tốt, còn hiệu quả sử dụngkhông được chú ý đến Nhu cầu vốn của các doanh nghiệp rất lớn trong khinguồn vốn của Nhà nước có giới hạn Chính vì vậy, có nhiều người có vốnnhàn rỗi, dư thừa lại không có thị trường để lưu thông
Trang 9Cơ chế bao cấp đã làm cho vốn không được lưu thông và sử dụng cóhiệu quả vì không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường đồng thời làmmất đi vai trò và tác dụng khách quan, đặc biệt là một đặc trư ng của vốn
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học tư bản thì không những khuvực sản xuất vật chất tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế mà còn phải kểđến cả khu vực dịch vụ
Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm khái quát về vốn của doanhnghiệp như sau:
"Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dựngvào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Vốn thực chất là một số tiền màcác doanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải đượcthu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh."
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Hoạt động của công ty đòi hỏi phải có vốn, đầu tiên là nó giúp chohoạt động kinh doanh được thực hiện (xảy ra hoạt động), sau đó là duy trì
Trang 10hoạt động và xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn Khi vốnphát triển, nó sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được sản xuất về cả chiềurộng và chiều sâu, qua đó lại tác động ngược lại làm tăng lượng vốn sẵn cócủa doanh nghiệp Trong kinh doanh vốn là công cụ cần thiết hàng đầu đểdoanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình Rất nhiều người đãkhông thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn Nói cách khác nó là
"chiếc rìu" của ông tiều phu Do đó doanh nghiệp phải tổ chức huy động,
sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất, muốn vậy phải xem xét, cânnhắc phương thức huy động vốn, cơ cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụngvốn vay thấp nhất và làm gia tăng lợi ích của vốn chủ sở hữu Nền kinh tếthị trường với chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhànước khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ vốn đầu tư Vốn trở thànhyếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu t -
ư sản xuất, kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệhoá, do vậy, bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào, dự ở bất cứ cấp
độ nào doanh nghiệp hay quốc gia luôn luôn cần có một lượng vốn nhấtđịnh Đối với doanh nghiệp, vốn là điều kiện đầu tiên, là điểm xuất phát đểchuyển hoá thành các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh Vốn phải
có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh, sau đó được sử dụngvào kinh doanh, và sau một chu kỳ hoạt động, nó phải được thu về để tiếpứng cho chu kỳ hoạt động sau Vốn của doanh nghiệp không thể bị mất đi,
vì đồng nghĩa với mất vốn là nguy cơ phá sản
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, mọi hoạt động từ việc xác địnhmục tiêu cho đầu tư dài hạn, tìm nguồn tài trợ cho đến việc đưa ra cácquyết định tài chính ngắn hạn - tức là ba vấn đề quan trọng đầu tiên củadoanh nghiệp, đều gắn liền tới các hoạt động có liên quan đến vốn Như
Trang 11vậy rõ ràng, vốn là bộ phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp và do đó việc huy động, đảm bảo đầy đủ kịp thờivốn cho nhu cầu sản xuất có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp.
Việc huy động đủ vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanhđược diễn ra liên tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất, cho đến tiêu thụ sảnphẩm Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanhnghiệp muốn tồn tại phải có được các bí quyết, các công nghệ tiên tiến đểnâng cao năng suất lao động, sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao,
hạ giá thành sản phẩm Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp cần phải
có vốn để hoạt động và đầu tư
Huy động vốn có ý nghĩa quyết định đến quy mô hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh nhất là trong thời đại bùng nổ khoa học và công nghệ như ngàynay thì nhu cầu vốn lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và có xuthế tăng không ngừng Nó giúp doanh nghiệp có thể chớp được thời cơkinh doanh và tạo lợi thế trong cạnh tranh
Huy động vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động hay việc đa dạnghoá ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Thông thường, khi muốn thamgia kinh doanh vào một lĩnh vực mới nào, doanh nghiệp cũng phải có mộtlượng tiền lớn cho việc đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xâydựng hệ thống phân phối sản phẩm Nếu không có khả năng tài chính mạnhdoanh nghiệp khó có thể thực hiện được hoạt động này dù là ngay ở nhữngbước đầu tiên như phân tích thị trường, xây dựng phương án kinh doanh Cuối cùng, việc đảm bảo nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanhnghiệp chống đỡ được những tổn thất, rủi ro trong quá trình hoạt động, đặcbiệt là những lĩnh vực kinh doanh nhiều rủi ro như ngân hàng
Trang 12Như vậy, có thể thấy, huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thực tiễn nền kinh tếtrong những năm qua cũng cho thấy doanh nghiệp nào có lượng vốn cànglớn thì càng có thế chủ động trong kinh doanh và có thể thắng được trongcạnh tranh Ngược lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh, không cóchiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất vai trò củamình trên thị trường, mất bạn hàng thường xuyên ổn định, không tạo ra sứcmạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh
Tuy nhiên, đối với mỗi doanh nghiệp, để có được lượng vốn mongmuốn không phải là điều đơn giản và trong quá trình xây dựng kế hoạch tàitrợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải cânnhắc xem sẽ huy động vốn từ những nguồn nào, với chi phí tương ứng làbao nhiêu, để có được cơ cấu hợp lý đó công ty cần phải có một đội ngũnhân viên thật sự nhanh nhạy và nắm bắt được xu thế của nền kinh tế thitrường như hiện nay
1.2 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
Việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố Về cơ bản như đã xem xét ở trên thìvốn của doanh nghiệp khi xem xét theo tính chất sở hữu thì có thể chia làm
2 và tương ứng như vậy là có 2 nhóm hình thức huy động vốn cho doanhnghiệp theo tiêu chí này Trên cơ sở các nguồn vốn trên, công ty đã sửdụng các phương thức huy động vốn chủ yếu sau:
1.2.1 Hình thức huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu ban đầu, như đã nói ở trên được hình thành từ việcđóng góp của các nhà đầu tư Tuy nhiên, khi chạm tới ngưỡng tăng trưởng chínmuồi thì vốn chủ sở hữu ban đầu không đủ đáp ứng cho các hoạt động tàichính, để tiếp tục phát triển, doanh nghiệp thường tiến hành các hoạt động đầu
Trang 13tư chiến lược mở rộng đáng kể năng lực sản xuất hoặc bước sang lĩnh vực hoạtđộng mới và đi cùng với nó là việc huy động thêm vốn chủ sở hữu
Bất kỳ một doanh nghiệp nào từ khi đuợc pháp luật cho phép hoạtđông đều phải có trong tay một lượng vốn nhất định để đảm bảo cho viêckinh doanh của mình không bị găp rủi ro Đây là nguồn vốn có độ an toàncao nhất đối với hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Đồng thời nócũng là tiêu thức để các chủ nợ thể hiện mức độ tin tưởng và sự đảm bảo antoàn cho các món nợ Nếu nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ đónggóp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanhchủ yếu sẽ do các chủ nợ gánh chịu Như vậy, nguồn vốn chủ sở hữu cũng
là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn từ nợ vay của công ty.Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn chủ sở hữu có nguồngốc khác nhau:
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư ban đầu là vốn đầu
tư của ngân sách Nhà nước, nên Nhà nước là người nắm quyền lãnh đạo Trong doanh nghiệp tư nhân, vốn đầu tư ban đầu là vốn của chủ sởhữu duy nhất của doanh nghiệp bắt buộc phải có khi thành lập doanhnghiệp, gọi là vốn pháp định Tùy từng ngành nghề kinh doanh mà Nhànước quy định một mức vốn riêng Chẳng hạn, theo điều 9 khoản 2 Luậtdoanh nghiệp Tư nhân (1994) quy định: “ Có đủ vốn đầu tư ban đầu phùhợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh Vốn đầu tư ban đầu khôngđược thấp hơn vốn pháp định do Chính phủ quy định ”
Đối với Công ty cổ phần, nguồn vốn này được biểu hiện dưới hìnhthức vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty cổ phần pháthành cổ phiếu để huy động thông qua việc bán những cổ phiếu đó
Đối với doanh nghiệp liên doanh: vốn đầu tư ban đầu được biểu hiệndưới hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữacác chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành một doanh nghiệp mới
Trang 14Bên cạnh nguồn vốn đầu tư ban đầu, công ty có thể bổ sung nguồn vốncủa mình bằng một số phương thức sau:
- Huy động nội bộ: Theo phương thức này công ty sẽ tăng nguồn vốncủa mình bằng cách trích một phần lợi nhuận thu được trong năm vào quỹđầu tư phát triển Để làm được điều này, trước tiên công ty phải làm ăn cólãi Sau đó, công ty có thể giảm tỷ lệ trích lập các quỹ dự phòng, quỹ khenthưởng, quỹ phúc lợi hoặc thay đổi chính sách phân chia lợi nhuận cho các
cổ đông Đây là một phương thức huy động vốn quan trọng đối với doanhnghiệp cũng như đối với công ty cổ phần phát triển thương mại và du lịchquốc tế ngôi sao Tuy nhiên, việc thực hiện có đạt hiệu quả hay không cònphụ thuộc vào lợi nhuận thu được và hiệu qủa của việc tái đầu tư
- Phát hành thêm cổ phiếu mới (đối với công ty cổ phần): là mộtphương thức huy động có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh
tế nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh của công ty cổ phần Cổphiếu là chứng khoán vốn và người nắm giữ cổ phiếu chính là người sởhữu công ty Tuỳ theo đặc điểm riêng mà các công ty có thể lựa chọn pháthành một trong hai hoặc cả hai loại cổ phiếu cơ bản sau:
+ Cổ phiếu thường( còn gọi là cổ phiếu thông thường): Là loại cổphiếu thông dụng nhất vì đặc điểm của nó đáp ứng được cả hai phía làngười đầu tư và phía công ty phát hành Phần lợi tức mà cổ đông nhậnđược từ việc sở hữu loại cổ phiếu này phụ thuộc vào kết quả kinh doanhcủa công ty trong từng năm Các cổ đông có quyền tham gia vào kiểm soát
và điều khiển mọi hoạt động của công ty thông qua việc bỏ phiếu hoặc chỉđịnh thành viên ban quản trị Tuy nhiên, huy động vốn theo phương thứcnày phải xét đến nguy cơ bị thôn tính Do đó, phải xét đến tỷ lệ cố phần tốithiểu mà mỗi cổ đông được phép nắm giữ để duy trì tỷ lệ cân đối về sở hữucông ty
Trang 15+ Cổ phiếu ưu tiên: là loại cổ phiếu thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏtrong tổng số cổ phiếu được phát hành Cổ phiếu ưu tiên khác với cổ phiếuthường ở chỗ người chủ cổ phiếu này được hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định vàđược thanh toán lãi trước các cổ đông thường Tuy nhiên, những cổ đông nàylại không có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty.
Số lượng cổ phiếu phát hành thêm được xác định không chỉ dựa trênnhu cầu vốn bổ sung của công ty mà còn phụ thuộc vào số cổ phiếu tối đacông ty được phép phát hành và số cổ phiếu đã phát hành trên thị trường.Bên cạnh đó còn phải xem xét các nhân tố khác đặc biệt là “nhiệt độ” trênthị trường chứng khoán
1.2.2 Các hình thức huy động vốn nợ
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Trong nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp haymột công ty nào có thể hoạt động được mà không vay vốn ngân hàng Việchuy động vốn bằng hình thức này giúp doanh nghiệp, công ty tăng khảnăng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuấtkinh doanh, đồng thời tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy môkinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ khi đến hạn và giảm số lượngvốn vay
Công ty có thể vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp ứngcho nhu cầu vốn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, song phải đápứng được những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụngkhác như phải có phương án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toánđộc lập… và các yêu cầu về tài sản thế chấp, cầm cố Trên cơ sở các điềukiện xin vay được thực hiện đầy đủ, ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanhnghiệp dưới các hình thức chủ yếu sau:
Trang 16- Tín dụng hạn mức là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ
sở hợp đồng tín dụng, trong đó công ty được phép sử dụng dư nợ trong mộtgiới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai Chỉ khi nào doanhnghiệp hay công ty sử dụng mới được coi là tín dụng cấp phát và mới đượctính lãi
- Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng ngắn hạn, trong đócông ty chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngânhàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu
và hoa hồng phí Doanh nghiệp sử dụng hình thức vay vốn này khi có nhucầu tiền ngay mà không phải đợi đến ngày đáo hạn của thương phiếu Tuynhiên việc vay được có thuận lợi hay không còn phụ thuộc vào chất lượngcủa thương phiếu nên phương thức này không phải lúc nào cũng hiệu quả
- Bao thuê là một dịch vụ do các công ty con của ngân hàng thựchiện, là nghiệp vụ đi mua lại các yêu cầu chi trả của doanh nghiệp để rồisau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó Thông thường các yêu cầuchi trả ở đây là ngắn hạn Các công ty mua nợ sẽ chịu trách nhiệm quản lý,theo dõi, thu hồi và chịu rủi ro về các khoản chi trả của các yêu cầu chi trả
đó
Ngoài các hình thức trên, ngân hàng còn cấp vốn cho doanh nghiệptheo các hình thức khác như: tín dụng ứng trước, tín dụng bằng chữ ký Riêng trên lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch, ngân hàng thực hiệntài trợ cho các doanh nghiệp thông qua các hình thức tín dụng như sau:
- Tài trợ vốn lưu động để cho các công ty cổ phần hoạt động trên lĩnhvưc du lịch cũng trên các lĩnh vực khác co liên quan đến thương mại, theođúng L/C quy định, hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn đặt hàng Hìnhthức này được tiến hành trước khi giao hàng, thông thường được áp dụngtrong trường hợp Ngân hàng tài trợ vừa là Ngân hàng thanh toán cho L/C
Trang 17Để đảm bảo cho việc giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay đúng
có mục đích hay không, thông thường Ngân hàng yêu cầu nhà các công tycũng như các doanh nghiệp phải có một số vốn nhất định cộng thêm với sốtiền vay ngân hàng để phục vụ cho việc hoạtđộng của mình Các dịch vụ
mà công ty đưa ra sử dụng rộng rãi trên thi trường sẽ làm tài sản đảm bảocho công ty được tiếp tục vay và được kinh doanh trên lĩnh vực du lich này
- Ngân hàng sẽ là người đứng ra bảo lãnh cho công ty hoạt động, sau
đó công ty sẽ đứng ra chịu trách nhiệm trước ngân hàng khi công ty khônghoàn lại được số yiền mà ngân hàng đã bảo lãnh cho công ty hoạt độngkinh doanh Công ty phải nộp bộ chứng từ vào ngân hàng thông báo L/Ccho đến khi được ghi có trên tài khoản phải trải qua một khoảng thời giannhất định để xử lý và luân chuyển chứng từ Công ty cần tiền có thể thươnglượng bộ chứng từ để chiết khấu hoặc ứng trước tiền tại ngân hàng đã đượcchỉ định rõ trong L/C hoặc ở bất kỳ ngân hàng nào
Nói chung, hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp đượccác ngân hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanhnghiệp có đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, nguồnvốn vay ngân hàng có đặc điểm là tương đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tụcphức tạp, điều kiện vay chặt chẽ, nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệpkhi muốn vay vốn Do đó thông thường khi thiếu vốn các doanh nghiệpthường nghĩ đến nguồn vốn tự có trước khi nghĩ đến ngân hàng
- Phát hành trái phiếu công ty:
Như chúng ta đã xét ở trên, nguồn vốn vay ngân hàng mặc dù rất linhhoạt song chỉ đáp ứng nhu cầu kinh doanh trong ngắn hạn của các daonhnghiệp mà thôi, do vậy mà nó có rất nhiều nhược điểm đó là nó không đmrbảo việc chi trả dài hạn cho công ty mà nó có thể đảm bảo sự an toàn chokhách hàng khi khách hàng sử dung dich vụ của các doanh nghiệp Để khắc
Trang 18phục nhược điểm này doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức huy độngvốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp pháthành để huy động vốn của các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằmphục vụ nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó Thời hạncủa trái phiếu công ty được xác định từ ngày phát hành đến ngày thanhtoán lại cho người mua Khi huy động vốn bằng phương thức này, doanhngiệp phải chịu trách nhiệm về số vốn đã được huy động như một khoản nợ
và phải trả lãi vay theo một tỷ lệ nhất định mà ngân hàng đã quy định trongđiều lệ của ngân hàng
Phương thức huy động vốn này chỉ đạt được hiệu quả khi doanhnghiệp lựa chọn được loại hình trái phiếu phù hợp Do đó, trước khi quyếtđịnh phát hành, doanh nghiệp phải căn cứ vào khả năng tài chính của mình,tình hình cụ thể của thị trường tài chính, cũng như cách thức trả lãi, chi phítrả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu đó Nói chung,doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những loại trái phiếu khác nhaudưới đây:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: đây là loại trái phiếu được sử dụngphổ biến nhất trong các loại trái phiếu công ty Lãi suất của trái phiếu đượcxác định ngay khi phát hành trái phiếu và có giá trị thực hiện cho đến khitới hạn thanh toán Việc xác định lãi suất trái phiếu được đặt ra trong mốitương quan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là phải tínhđến sự cạnh tranh với các trái phiếu của các công ty khác
- Trái phiếu có lãi suất thả nổi: loại trái phiếu này có lãi suất biếnđộng theo sự biến động của thị trường vốn Trong điều kiện nền kinh tế cómức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định thì các doanhnghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này Tuy nhiên vệc
Trang 19quản lý loại trái phiếu này gặp một số khó khăn do công ty không thể biếtchắc chắn về chi phí lãi vay và phải tốn thời gian cho việc thông báo cáclần điều chỉnh lãi suất.
- Trái phiếu có thể thu hồi: loại trái phiếu này cho phép công ty có thểđIều chỉnh lượng vốn sử dụng bằng cách mua lại các trái phiếu đã pháthành vào một thời gian nào đó trước ngày đáo hạn của trái phiếu Loại tráiphiếu này phải được quy định công khai ngay khi phát hành để người muatrái phiếu được biết Thời hạn và giá cả khi chuộc lại cũng phải được quyđịnh rõ ngay từ lúc phát hành Thông thường, người ta quy định thời hạntối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi, ví dụ trong thời gian 36 tháng
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu có thể chuyển đổithành một lượng nhất định các cổ phiếu thường Việc huy động vốn bằnghình thức này có ưu điểm là công ty có thể gắn bó người mua trái phiếumột cách lâu dài và đến một thời gian thích hợp họ có thể mua cổ phiếu đểtrở thành cổ đông của công ty Hơn nữa, do hấp dẫn hơn, hình thức này cóthể huy động được nguồn vốn có chi phí thấp hơn các hình thức khác đồngthời đa dạng hoá các công cụ huy động vốn
Ngoài các trái phiếu chủ yếu trên, công ty còn có thể lựa chọn một sốloại khác như trái phiếu có bảo đảm (là trái phiếu được bảo đảm bằng tàisản của công ty) hoặc trái phiếu không có bảo đảm (là loại trái phiếu khôngđược bảo đảm bằng một loại tài sản cụ thể nào)
Nói chung, huy động vốn cách phát hành trái phiếu công ty có ưuđiểm là tiết kiệm được chi phí đầu tư; kiềm chế được lạm phát (do khônglàm tăng lượng tiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quảhơn lượng tiền sẵn có trong lưu thông); chủ động khai thác trực tiếp nguồnvốn có sẵn và tiềm năng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Nếutận dụng được những ưu điểm này thì đây sẽ là phương thức tối ưu và khả
Trang 20thi cho giải pháp về vốn dài hạn của từng doanh nghiệp trong nước, đồngthời có lợi cho tổng thể nền kinh tế nước nhà
- Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể tăng nguồn vốncủa mình bằng cách khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còn gọi
là tín dụng nhà cung cấp Nguồn vốn này được khai thác một cách tự nhiêntrong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp
Tín dụng thương mại xuất hiện trên cơ sở sự cách biệt giữa sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm do đặc điểm thời vụ trong sản xuất và mua hoặc bánsản phẩm, do vậy xảy ra hiện tượng có một số nhà doanh nghiệp có hàngmuốn bán, trong lúc đó có một số nhà doanh nghiệp khác muốn mua nhưngkhông có tiền Trong điều kiện này nhà doanh nghiệp với tư cách là ngườicung cấp dịch vụ, muốn thực hiện được mục đích của mình , họ có thể báncho khách hàng chịu khi sử dụng dịch vụ của mình
Tín dụng thương mại là một hình thức huy động rất được các doanhnghiệp ưa dựng bởi tính tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh Mặc khác
nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâubền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợpđồng mua bán hay hợp đồng kinh tế Chi phí của việc sử dụng hình thức tíndụng này thể hiện qua lãi vay được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch
vụ Trong mua bán hàng hoá trả chậm chi phí này có thể ẩn dưới hình thứcnâng giá cao hơn so với bình thường để bao hàm luôn lãi suất tín dụngtrong đó Qui mô của khoản tín dụng này phụ thuộc vào thời hạn mua chịu,tình trạng tài chính người sử dụng dịch vụ, tình trạng tài chính người cungcấp dịch vụ và giảm giá khi người sử dụng dịch vụ nhiều cho công ty
Có rất nhiều công cụ được sử dụng trong hình thức tín dụng này.Thông thường, khi sử dụng dịch vụ người ta thường sử dụng hoá đơn; hoá
Trang 21đơn sẽ được gửi cùng với hàng chuyên chở cho công ty(dịchvụ chuyển phátnhanh) Khi người sử dụng dịch vụ đã chấp nhận sử dụng dịch vụ của công
ty và ký vào hoá đơn thì lúc này hoá đơn đã có giá trị pháp lý về việc ngườingười sử dụng dịch vụ nợ tiền của công ty và các thủ tục sau đó chỉ còn làviệc chuyển tiền từ tài khoản của người sử dụng dịch vụ sang tài khoản củacông ty để thanh toán tiền
Một công cụ tín dụng thương mại khác được sử dụng rộng rãi trênthương trường là thương phiếu Thương phiếu là sự cam kết tín dụng củangười mua trước khi hàng hoá được chuyển đến Trong thương phiếu,người bán ghi rõ số tiền và hạn trả tiền mà người mua phải thực hiện Sau
đó, thương phiếu được gửi đến ngân hàng của người mua cùng với các hoáđơn chứng từ về việc đó chuyển hàng cho người mua Có hai loại thươngphiếu cơ bản là thương phiếu trả ngay (người bán yêu cầu bên mua trả tiềnngay) và thương phiếu có thời hạn (người bán không yêu cầu người mua trảtiền ngay) Khi thương phiếu đã được người mua hứa trả tiền vào một ngàynào đó trong tương lai thì nó được gọi là chấp nhận thương mại Ngườimua sẽ gửi chấp nhận thương mại lại cho người bán Người bán có thể giữchấp nhận thương mại để đợi đến ngày lấy tiền hoặc cũng có thể bán nócho một người khác hoặc đến chiết khấu ở ngân hàng thương mại trongnhững trường hợp cần thiết
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiệnnhư là một công cụ tín dụng thương mại Hợp đồng này đảm bảo cho doanhnghiệp duy trì quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá của mình cho đến khingười mua trả hết tiền Các hợp đồng bán hàng hoá có điều kiện thườngđược trả làm nhiều lần và mỗi lần đều có một chi phí lãi suất tương ứngtrong mỗi lần chi trả
- Nguồn vốn tín dụng thuê mua:
Trang 22Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được thực hiện thông quaviệc cho thuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác Ngườicho thuê (chủ sỡ hữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sửdụng tài sản) được sử dụng trong một thời gian nhất định và người thuêphải trả cho chủ sở hữu tài sản một khoản tiền thuê tương xứng với quyền
sử dụng Hình thức thuê mua giúp doanh nghiệp tránh được những sai lầmkhi tự đi vay và tự tìm mua sắm thiết bị vì các công ty thuê mua không chỉđơn thuần thay thế tín dụng ngân hàng mà còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợdoanh nghiệp mua sắm và thuê thiết bị như: chuyển giao công nghệ, đàotạo công nhân kỹ thuật và bảo hành, bảo trì, tư vấn hợp lý hóa sản xuất vàhiện đại hóa hệ thông trang thiết bị kỹ thuật Thuê tài chính là một hìnhthức tài trợ tín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị,phương tiện vận chuyển là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tưmong muốn để đổi mới máy móc, thiết bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuấtkinh doanh Đặc trưng của phương thức này là đơn vị cho thuê là chủ sởhữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản cho người thuê, tức là người sử dụng tàisản được quyền sử dụng và hưởng những lợi ích kinh tế mang lại từ các tàisản đó trong một thời gian nhất định Người thuê có nghĩa vụ trả một sốtiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng.Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chínhkhông đòi hỏi sự đảm bảo tài sản có trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cậnhình thức tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản đảm bảo nếuphải vay từ ngân hàng Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính có thể muatài sản của doanh nghiệp và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếuvốn lưu động do đó tập trung vốn để đầu tư mua sắm tài sản cố định Nhưvậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng, vừa có vốn để kinh doanh
Trang 23Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê hoạtđộng và thuê tài chính.
- Thuê hoạt động (Operating Lease)
Thuê hoạt động hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tínhchất thời vụ Hình thức thuê hoạt động được coi là một loại hợp đồng đểchấp hành, tài sản đi thuê không được phản ánh trong sổ sách kế toán củangười thuê, số tiền thuê trả theo hợp đồng được ghi như một chi phí bìnhthường khác
Thuê hoạt động có hai đặc trưng chính:
- Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữuích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong mộtthời gian ngắn
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuêphải chịu mọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm,thuế tài sản cùng với mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản
- Thuê tài chính (Finance Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạntheo hợp đồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản,thiết bị mà người mua cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mualại tài sản từ người cho thuê Trong nhiều trường hợp, một công ty bánngay tài sản của mình cho người thuê rồi thuê lại Trong hợp đồng thuê tàichính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn đời sốnghữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải
đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng.Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính người cho thuê thường ủyquyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản Nếu người thuê quản lý sử
Trang 24tiền còn lại dự kiến trong hợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bánđược giá cao hơn họ sẽ được hưởng phần chênh lệch.
Trong hợp đồng thuê tài chính, các loại chi phí bảo dưỡng, vận hành,phí bảo hiểm, thuế tài sản cũng như những chi phí rủi ro khác đối với tàisản do bên thuê phải chịu cũng như tương tự của công ty mua sắm.Cũng vì
lý do đó các khoản tiền thuê mà người cho thuê nhận được coi là giá trịthừa của tài sản nên hình thức thuê này cũng được gọi là thuê mua thuần
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau
Khi một doanh nghiệp muốn thực hiện một dự án nào đó mà không có
đủ vốn hoặc không muốn bỏ toàn bộ vốn vào đó, doanh nghiệp có thể kêugọi vốn liên doanh từ bên ngoài Đây là hình thức huy động vốn trung vàdài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp có thể chọnmột trong hai hình thức liên doanh sau đây:
- Doanh nghiệp có thể cùng đối tác thành lập một pháp nhân để hoạtđộng kinh doanh mà vốn thành lập là số vốn góp của mỗi bên Các bên gópvốn liên doanh có thể dựng một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản của mình
để góp vốn
- Các bên ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, không hình thành mộtpháp nhân mà trách nhiệm và quyền hạn của các bên chỉ giới hạn trong hợpđồng đã ký kết
Đối với cả hai hình thức trên, các bên tham gia liên doanh được chialãi hoặc chịu lỗ nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp Các bên liêndoanh còn có quyền rút vốn của mình và trong nhiều trường hợp có thể làmliên doanh tan rã
Doanh nghiệp có thể liên doanh với các loại hình doanh nghiệp khácnhau như doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoặc với các công
Trang 25cho hoạt động kinh doanh của mình mà còn thu hút được công nghệ mớihoặc kinh nghiệm của đối tác, đồng thời chia sẻ được rủi ro trong kinhdoanh, song nếu doanh nghiệp quá yếu kém thì rất dễ bị lợi dụng và thiệthại khi dự án đổ vỡ.
Nguồn vốn ODA (Official development assistance)
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với cáchình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF(Official development finance) – Tài trợ phát triển chính thức) nào khác
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khốilượng vốn vay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại(còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xácđịnh dựa vào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lầntrả nợ trong các năm và tỷ suất chiết khấu
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèmcác điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tụcchuyển giao vốn và thị trường ) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn nàyvới thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể.Nếu không, việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dàicho nền kinh tế Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nộidung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn,vừa đảm bảo được các mục tiêu có tính nguyên tắc
1.3.Hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.1.Khái niệm hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Khi sosánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số,
Trang 26hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí /kết quả, mỗi cách so sánh đều cung cấpcác thông tin có ý nghĩa khác nhau.
Vì vậy, hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp được thể hiện ở khảnăng đáp ứng cao nhất nhu cầu cho hoạt động củadoanh nghiệp, khả năng
đú được thể hiện thông qua sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu sử dụngvốn của doanh nghiệp Đây chính là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất đểđánh giá hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp, ngoài ra được thể hiện
ở cơ cấu vốn hợp lý, an toàn và chi phí vốn đảm bảo khả năng sinh lời củadoanh nghiệp
1.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.2.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn
Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp có thể là nhu cầu ngắn hạn như nhucầu thanh toán, hay nhu cầu dài hạn như đầu tư, cho vay vào các dự án dàihạn Đây là một chỉ tiêu khó tính toán cụ thể nên được xác định dựa trên cơ
sở so sánh nhu cầu vốn và tổng lượng vốn huy động được
- Nhu cầu về dự trữ, thanh toán
- Nhu cầu cho hoạt động kinh doanh
- Các nhu cầu khác như nhu cầu mua sắm, nâng cấp tài sản cố định
1.3.2.2 Cơ cấu vốn hợp lý
Nói đến cơ cấu vốn tức là đề cập đến tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữucủa doanh nghiệp Do vậy, muốn đánh giá xem hoạt động huy động vốn làhiệu quả và hợp lý không, cần phải xem xét đến cơ cấu vốn của doanhnghiệp Một trong những mục tiêu quan trọng của việc huy động là nhằmhình thành lên cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời điểm cụthể Giữa sự hợp lý của cơ cấu vốn và việc huy động vốn còn có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau: cơ cấu vốn sẽ góp phần quyết định đến hoạt
Trang 27động huy động vốn và ngược lại hoạt động huy động vốn sẽ hình thành nên
cơ cấu vốn
Để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, nói cách khác là đảm bảo an toànnguồn vốn, trước hết doanh nghiệp cần có một chính sách quản lý điềuhành đúng đắn, phù hợp, thông qua việc chấp hành đầy đủ các tiêu chí về
an toàn vốn như: Hệ số an toàn của vốn tự có (Vốn tự có / Tổng số vốn huyđộng), hệ số giữa vốn chủ sở hữu và các vốn dài hạn (VCSH / Vốn dàihạn ), hệ số thanh toán Một cơ cấu vốn được coi là hợp lý, tối ưu khi chiphí sử dụng vốn trung bình ( WACC ) thấp nhất, và được xác định theocông thức:
WACC = Wd.Kd.(1-t) + Ws.Ks + Wp.KpKd.(1-t) là Chi phí nợ vay sau thuế
t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp,
Kp là chi phí cổ phiếu ưu tiên
Ks là chi phí lợi nhuận giữ lại
Wd, Ws, Wp tương ứng là tỷ trọng của nợ vay, cổ phiếu thường và cổphiếu ưu tiên
1.3.2.3 Chi phí vốn hợp lý
Chi phí vốn nói chung được hiểu là chi phí cơ hội của việc sử dụngvốn, phân chia theo nợ và vốn chủ sở hữu thì bao gồm có chi phí của nợ vàchi phí của vốn chủ sở hữu
Chi phí của vốn chủ sở hữu coi bằng lợi nhuận kỳ vọng của chủ sởhữu trên khoản đầu tư Có ba cách để xác định mức lợi nhuận kỳ vọng này
là phương pháp CAPM, phương pháp luồng tiền chiết khấu và phươngpháp lấy lãi suất trái phiếu cộng phần bù rủi ro Chi phí vốn chủ có thể xácđịnh dễ dàng hơn nếu như có một thị trường tài chính phát triển với đầy đủ
Trang 28phát triển như Việt Nam thì chi phí vốn chủ chưa mấy được quan tâm cũngnhư tìm hiểu cặn kẽ Thông thường, ta dựng chỉ tiêu chi phí huy động vốnbình quân để đánh giá chỉ tiêu này:
CPHĐVBQ = (1 - t) * Chi phí nợ * Tỷ trọng nợ + Chi phí VCSH * Tỷtrọng VCSH
Trong đú: t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, chỉ tiêu chi phí vốn dựng để đánh giá hiệu quả của việc huyđộng vốn là phải có chi phí thấp và hợp lý Việc xác định nguồn vốn có chiphí thấp và hợp lý hết sức quan trọng đối với hoạt động huy động vốn củadoanh nghiệp, chi phí vốn hợp lý phải đảm bảo hoạt động sử dụng vốn đemlại lợi nhuận đủ để bù đắp chi phí, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp,đồng thời đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp
1.3.2.4 Sự ổn định của các hình thức huy động vốn
Một hình thức huy động vốn được đánh giá là tốt ngoài những yếu tố đápứng nhu cầu với chi phí thấp thì cần phải có sự ổn định, tức là không có sự thayđổi đột ngột trong thời gian sử dụng Nếu vốn huy động được thay đổi đột ngột,khó dự đoán sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty
1.4 Những nhân tố tác động tới huy động vốn của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng huy động vốn của doanhnghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố, cả nhân tố chủ quan và nhân tốkhách quan
1.4.1 Nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất Cũng như bất kỳ một nhân tốnào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một chi phí nhất
Trang 29định Chi phí của mỗi nhân tố cấu thành gọi là chi phí nhân tố cấu thànhcủa loại vốn cụ thể đó.
Chi phí vốn là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốncủa doanh nghiệp Đây chính là khoản tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra đểđược sử dụng vốn hay chính là tỷ lệ sinh lợi cần thiết mà người chủ sở hữucủa khoản tiền đó yêu cầu Các nhà đầu tư chỉ chấp nhận cung cấp vốn chodoanh nghiệp khi họ được trả một khoản lãi xứng đáng và thông thườngnhững người này luôn mong muốn một lãi suất cao Tuy nhiên, nhà doanhnghiệp không thể trả lãi suất quá cao cho nhà đầu tư, họ luôn phải cân nhắcsao cho lợi nhuận thu được từ nguồn vốn huy động đó không làm giảm sốlợi nhuận dành cho chủ sở hữu doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệpluôn có xu hướng tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp
nhiên, một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiếm khi chỉ sửdụng một nguồn vốn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mìnhngay cả khi đó là nguồn có chi phí thấp hơn các nguồn khác Thôngthường, trong một doanh nghiệp có hai loại vốn cơ bản là vốn chủ sở hữu
và vốn vay Một doanh nghiệp ít nợ, nhiều vốn tự có sẽ làm cho các bạnhàng tin tưởng bỏ vốn ra cho vay hay góp vốn cùng đầu tư Nhưng nguồnvốn này không nên ở mức quá lớn Chủ doanh nghiệp nên có một phần dựtrữ để đề phòng rủi ro hoặc để phát triển khuyếch trương kinh doanh khi cóthời cơ Mặt khác, với việc tăng vốn thông qua vay nợ, chủ doanh nghiệp
có thể tăng được thu nhập trên vốn chủ sở hữu mà vẵn nắm quyền kiểmsoát và điều hành doanh nghiệp Song, nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh nghiệp
dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Do đó, trong quản trị tàichính, các nhà quản lý phải xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu, đảm bảo một
tỷ lệ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho lợi ích thu được là caonhất Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất và nhờ đótối đa hoá giá trị của doanh nghiệp
Trang 30Trên cơ sở cơ cấu tối ưu (cơ cấu mục tiêu) được thiết lập phù hợp vớitình hình cụ thể của doanh nghiệp, các nhà quản lý mới tiến hành huy độngvốn theo cách giữ cơ cấu vốn thực tế theo cơ cấu vốn tối ưu sao cho lợinhuận thu được là cao nhất Có bốn nhân tố chủ yếu tác động đến nhữngquyết định về cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
- Rủi ro trong kinh doanh được coi là một trong những nhân tố có tácđộng đến việc lựa chọn nguồn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Rủi ro đề cập đến ở đây là rủi ro cố hữu của tài sản của doanhnghiệp nếu doanh nghiệp không sử dụng nợ Như vậy, đối với những doanhnghiệp hoạt động trong những lĩnh vực có rủi ro kinh doanh lớn thì việc sửdụng nợ nhiều không phải là một giải pháp huy động tối ưu
- Nhân tố thứ hai là vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp Trong trườnghợp thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp cao thì việc sử dụng nợnhiều hơn sẽ có lợi vì khi sử dụng nợ, phần lãi vay phải trả được tính vàochi phí hợp lý, hợp lệ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nhờ đó
hạ thấp được chi phí thực tế của nợ
{Chi phí nợ sau thuế = Chi phí nợ trước thuế*(1- thuế suất thuế thunhập doanh nghiệp)}
- Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong điều kiện thị trườngthay đổi hay khả năng linh hoạt tài chính của doanh nghiệp cũng là mộtnhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Một doanh nghiệp cókhả năng đảm bảo một nguồn vốn ổn định để duy trì hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình trong thời gian dài, sẽ dễ dàng hơn trong việc kêu gọinguồn tài trợ từ các nhà đầu tư Thật vậy, khi đánh giá đặc điểm này chúng
ta có thể thấy rõ ràng là những nhà cung cấp vốn muốn tăng cường tài trợcho những doanh nghiệp có thể tự chủ về tài chính hơn là những doanhnghiệp thụ động, và do đó ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Trang 31- Nhân tố thứ tư liên quan đến quan điểm của các nhà quản lý về việc
sử dụng vốn Có những nhà quản lý sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm sử dụngnhiều nợ hơn để tăng lợi nhuận song có những người lại thích sử dụngnhiều vốn chủ sở hữu hơn vì mục tiêu an toàn cho doanh nghiệp
Bốn nhân tố trên quyết định rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn củadoanh nghiệp Trong những thời kỳ khác nhau, tuỳ thuộc vào những điềukiện cụ thể của nền kinh tế và của chính doanh nghiệp, các nhà quản lý sẽđưa ra một cơ cấu vốn tối ưu để trên cơ sở đó doanh nghiệp tìm kiếm cácnguồn tài trợ cho phù hợp
Thông thường, các doanh nghiệp luôn hướng tới cơ cấu vốn có chi phítrung bình của vốn là thấp nhất Việc xác định chi phí vốn trung bình(WACC) của doanh nghiệp dựa trên chi phí nhân tố cấu thành của nguồnvốn đó bao gồm chi phí nợ vay sau thuế (Kd.(1-t), với t là thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp), chi phí cổ phiếu ưu tiên (Kp) và chi phí lợi nhuậngiữ lại (Ks) theo công thức:
WACC = Wd.Kd.(1-t) + Ws.Ks + Wp.Kp
Với Wd, Ws, Wp tương ứng là tỷ trọng của nợ vay, cổ phiếu thường
và cổ phiếu ưu tiên
Do mỗi nguồn vốn huy động có chi phí khác nhau nên với cùng mộtlượng vốn được huy động nhưng tỷ lệ của các nguồn vốn khác nhau thì chiphí trung bình của vốn cũng khác nhau.Vì thế, khi quyết định lựa chọn mộtnguồn vốn nào đó cho kế hoạch tài trợ của mình, doanh nghiệp luôn luônphải cân nhắc chi phí và tỷ trọng của chúng sao cho chi phí trung bình củavốn là thấp nhất Như vậy, rõ ràng là chi phí vốn và cơ cấu vốn có ảnhhưởng mạnh mẽ và trực tiếp tới việc huy động vốn của doanh nghiệp.Doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốn nào, với quy mô là bao nhiêu khôngchỉ phụ thuộc vào chi phí phải trả cho nguồn vốn đó mà còn phụ thuộc vào
cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã đặt ra
Trang 321.4.1.2 Năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp chỉ có nhu cầu huy động thêm vốn khi tình hìnhhoạt động kinh doanh ổn định và phát triển Ngược lại một doanh nghiệp
có tình hình hình tài chính lành mạnh thì khả năng huy động vốn cũng caohơn Điều này là hoàn toàn dễ hiểu bởi vì khi doanh nghiệp ký kết hợpđồng giao dịch với bất cứ đối tác nào (dù là ngân hàng hay một doanhnghiệp khác), doanh nghiệp đều phải nắm bắt được khả năng thanh toán,thu lời cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của đối tác đó Cũng nhưvậy, đối tác cũng phải tìm hiểu về tình hình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Như vậy, rõ ràng là với một tình hình tài chính lành mạnhdoanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư đểtài trợ cho nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh của công ty
1.4.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế,
nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp đểhoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất.Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đồng nghĩa với việc doanhnghiệp làm ăn có lãi, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Trong nền kinh tếthị trường, đây là một nhân tố quyết định khả năng mở rộng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp theo chiều rộng lẫn chiều sâu Hay nói cách khác,khi phân chia vốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảotoàn, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được vốn và tránh được lãng phí, tạođược uy tín tốt với bạn hàng và đương nhiên là làm ăn có hiệu quả hơn, từ
đó nâng cao khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vàonhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: các chế độ, chính sách của nhànước có liên quan, việc nắm vững và sử dụng các nguồn lực của doanh
Trang 33nghiệp, cách thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, năng lực con ngườiđặc biệt là đội ngũ quản lý, việc chọn lựa và thực thi các chiến lược củadoanh nghiệp, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và bảo toàn vốn, cácdoanh nghiệp thường áp dụng một số nguyên tắc sau:
- Nâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp: như đã nói ở trên hiệu quả
sử dụng vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó trình độ quản trịdoanh nghiệp đóng vai trị quyết định Việc thực hiện tốt bốn chức năng cơbản: hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra là điều kiện tiên quyết để đạtđược hiệu quả sử dụng vốn Vì vậy, việc trang bị hay trang bị lại nhữngkiến thức quản trị kinh doanh hiện đại, tạo điều kiện cho cán bộ quản lýtham gia vào các khó đào tạo, bồi dưỡng về quản trị, học hỏi kinh nghiệmquản lý của các nước phát triển là việc làm cần thiết
- Lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả, tránh lãng phí: để làmđược điều này doanh nghiệp phải dự đoán được thị trường hiện tại cũngnhư tương lai để xây dựng những phương án kinh doanh phù hợp Sau đó,trên cơ sở phân tích chi phí lợi ích của dự án một cách cụ thể, doanh nghiệpmới tiến hành tìm kiếm các phương thức tài trợ cho dự án một cách hợp lý:trước hết cần khai thác triệt để nguồn vốn sẵn có trong doanh nghiệp, sau
đó mới tìm đến các nguồn tài trợ từ bên ngoài sao cho chi phí sử dụngnguồn vốn đó là thấp nhất Ngoài ra, khi phân tích dự án, doanh nghiệpphải tính đến các tình huống xấu có thể xảy ra, từ đó đưa ra các phương án
xử lý một cách linh động để tránh những thua lỗ, gây thiệt hại về vốn chodoanh nghiệp
- Tính toán và dự báo về nhu cầu vốn cũng như nguồn tài trợ: trongquá trình sản xuất kinh doanh, không phải bao giờ vốn cũng đủ để doanhnghiệp có thể đầu tư vào bất kỳ lúc nào hoặc có những lúc vốn lại vô cùngnhàn rỗi mà không có nơi để đầu tư Đó là trường hợp khi doanh nghiệp
Trang 34thừa vốn hay thiếu vốn Nếu gặp lúc thừa vốn mà doanh nghiệp vẫn tiếptục đi vay nợ phải trả lãi thì sẽ rất lãng phí, còn nếu thiếu vốn mà doanhnghiệp không tìm được nguồn tài trợ thì lại bỏ mất cơ hội kinh doanh hoặctìm được nguồn tài trợ nhưng chi phí quá cao thì lợi nhuận thu được cũng
sẽ giảm Do đó, tính toán nguồn vốn đầu tư càng sát với thực tế bao nhiêuthì sử dụng vốn càng tiết kiệm, hiệu quả bấy nhiêu
- Quản lý tài sản cố định: để bảo toàn được vốn cố định, doanh nghiệpcần đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định một cách thường xuyên vàchính xác; phải chọn được phương pháp khấu hao thích hợp để thu hồivốn; phải áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định;đồng thời cần kịp thời xử lý những máy móc thiết bị lạc hậu, mất giá hoặckhông cần dựng
- Quản lý tài sản lưu động: doanh nghiệp cần xác định được khốilượng vốn lưu động cần thiết trong kỳ kinh doanh, bảo đảm khả năng thanhtoán của doanh nghiệp, nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu nhằm tránhtình trạng bị chiếm dụng vốn, ứ đọng vốn, đẩy nhanh tốc độ luân chuyểnvốn và thường xuyên thực hiện phân tích tình hình sử dụng vốn lưu độngnhằm điều chỉnh các biện pháp một cách kịp thời
Nói chung, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn các doanh nghiệpthường sử dụng các biện pháp cơ bản trên đây Tuy nhiên, tuỳ thuộc vàođặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và đặc biệt là trình độ và khả nănglinh hoạt của nhà quản lý, mỗi doanh nghiệp có một cách áp dụng khácnhau và hiệu quả đạt được cũng khác nhau
Ngoài một số nhân tố chủ quan trên, khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp còn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viêncủa doanh nghiệp, trình độ kỹ thuật và công nghệ Một doanh nghiệp cóđội ngũ lao động lành nghề, luôn học hỏi, có nỗ lực, có nhiệt tình cao trong
Trang 35công việc là điều kiện đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp đặcbiệt là những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm với
sự biến đổi của công nghệ và thị trường Trình độ khoa học công nghệ cũngđóng góp một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,giảm thiểu chi phí, tạo được những sản phẩm mới có chất lượng được thịtrường chấp nhận, trên cơ sở những thành công đó, doanh nghiệp ngàycàng khẳng định được vị trí của mình, tăng uy tín trên thị trường; từ đó cácbạn hàng sẽ yên tâm khi giao dịch với doanh nghiệp, cũng như các ngânhàng sẽ dễ dàng ủng hộ doanh nghiệp mỗi khi doanh nghiệp cần vốn Đây
là những nhân tố chủ quan có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệptrong xu hướng ngày càng nâng cao vai trò làm chủ thực sự của người laođộng và trình độ khoa học kỹ thuật trong từng doanh nghiệp hiện nay
1.4.2 Nhân tố khách quan
Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào những nhân tốbên trong- những nhân tố của chính bản thân doanh nghiệp Đó là điều hoàntoàn dễ hiểu như đã được trình bày ở trên Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tốmang tính chất chủ quan đó, trong quá trình hoạt động, chính sách huy độngvốn của doanh nghiệp còn chịu tác động của những nhân tố khách quan sau:
1.4.2.1 Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước là một trong những nhân tố
có tác động trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường, và vì thế tất nhiên ảnh hưởng đến hoạtđộng huy động vốn của doanh nghiệp.Trên cơ sở pháp luật kinh tế và cácchính sách kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợicho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng các hoạtđộng đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô