Đề án tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường rất phù hợp với các đối tượng được giao nhiệm vụ làm công tác tham mưu trong các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là các cán bộ làm trong ngành quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHủ LÝ
Trang 2PHẦN I
MỞ ĐẦU
Phủ Lý là trung tõm của Tỉnh Hà Nam thuộc vựng đồng bằng sụng Hồng,
cú vị trớ địa lý nằm trong tọa độ 21015’ - 21022’ độ Vĩ Bắc, 105033’ - 105038 độKinh Đụng Phớa Đụng giỏp với huyện Bỡnh Xuyờn; phớa Tõy giỏp với huyệnYờn Lạc, Tam Dương; phớa Bắc giỏp với huyện Tam Đảo, Tam Dương; phớaNam giỏp với huyện Yờn Lạc, Bỡnh Xuyờn
Thành phố Vĩnh Yên ngày nay nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, giữachùm các đô thị đang phát triển ở vùng trung du (Việt Trì, Bắc Ninh, Bắc Giang …),cách Thủ đô Hà Nội 55 km về phía tây bắc, là giao điểm tập trung các đầu mối và ở vịtrí trung chuyển trên nhiều tuyến giao thông đờng bộ, đờng sắt, đờng không… huyếtmạch nối thủ đô Hà Nội với các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc
Nhìn tổng quan, vị trí địa lý và các điều kiện giao thông thuận tiện và đang
đợc nâng cấp hiện đại là những thuận lợi không phải nơi nào cũng có, khiến thànhphố Vĩnh Yên trở thành điạ điểm có sức thu hút đầu t lớn; giao lu hàng hoá, thơngmại- dịch vụ- du lịch- văn hoá- giáo dục đào tạo phát triển…
Từ khi thành lập thành phố đến nay, với những chủ trương quyết sỏchđỳng đắn trong thu hỳt đầu tư cho phỏt triển kinh tế xó hội, Phủ Lý nhanh chúngtrở thành một trong những thành phố cú sự phỏt triển nhanh, mạnh, kinh tế phỏttriển theo hướng tớch cực, tăng dần tỷ trọng cụng nghiệp, dịch vụ, giảm dần vềnụng nghiệp
Bờn cạnh những kết quả đó đạt được, cụng tỏc quản lý tài nguyờn trờn địabàn thành phố đang đứng trước ỏp lực lớn Đặc biệt là đối với tài nguyờn đất,nước, khoỏng sản Tỡnh trạng khai thỏc, sử dụng tài nguyờn cho nhu cầu phỏttriển ngày một cao dẫn đến cung và cầu khụng tương xứng (đặc biệt là đối vớitài nguyờn đất) Cụng tỏc quản lý, sử dụng tài nguyờn cũn nhiều bất cập, tỡnhtrạng khai thỏc tài nguyờn đất, nước trỏi phộp vẫn cũn ra, tài nguyờn khoỏng sảnchưa được quản lý đỳng mức làm suy giảm nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn của
thành phố Trước thực trạng trờn, thành phố cần quản lý, bảo vệ nguồn tài
nguyờn trờn địa bàn thành phố Phủ Lý để sử dụng một cỏch hiệu quả, bền
vững nguồn tài nguyờn thiờn nhiờn của thành phố, phỏt huy vai trũ là nguồn nộilực quan trọng cho quỏ trỡnh đầu tư và phỏt triển của thành phố gúp phần đưaPhủ Lý trở thành thành phố phỏt triển phồn vinh
Để phự hợp với tỡnh hỡnh thực tiến của thành phố, nội dung Đề ỏn chỉ đặtvấn đề quản lý, bảo vệ đối với ba loại tài nguyờn chớnh là tài nguyờn đất, tàinguyờn nước, tài nguyờn khoỏng sản
PHẦN II
Trang 3CƠ SỞ, CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
A CƠ SỞ PHÁP LÝ
1 Cơ sở pháp lý về Đất đai:
Luật Đất đai năm 2003;
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai;
Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác địnhgiá đất và khung giá các loại đất;
Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất;
Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 về thu tiền thuê đất, thuêmặt nước;
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/5/ 2007 Quy định bổsung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiệnquyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nướcthu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Nghị định 123/2007/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 188/2004/NĐ-CP vềphương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
Nghị định 44/2008/NĐ-CP ngày 09/04/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất;
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổsung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Nghị định 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/11/2009 xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Nghị định 120/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thutiền sử dụng đất;
Nghị định 121/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thutiền thuê đất, mặt nước;
2 Cơ sở pháp lý về Tài nguyên nước.
Trang 4Luật Tài nguyên nước năm 2005;
Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;Nghị định số 149/2004/NĐ-CP về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tàinguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước;
Nghị định số 34/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực tài nguyên nước;
Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 về thoát nước đô thị và Khu CN;Nghị định số 112/2008/NĐ-CP về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tàinguyên và môi trường các hồ chứa, thuỷ điện;
Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý lưu vực sông;
Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT về việc ban hành quy định bảo vệ tàinguyên nước dưới đất;
Nghị định số 117/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2009 về xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/3/2009 quy định đánh giá khảnăng tiếp nhận nước thải của nguồn nước
3 Cơ sở pháp lý về Tài nguyên khoáng sản.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
Luật Khoáng sản năm 2010;
Nghị định 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012 quy định chi tiết một số điềucủa Luật khoáng sản
4 Văn bản chỉ đạo của Chính phủ, ngành, tỉnh và thành phố:
Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững
ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam);
Nghị Quyết số 27/2009/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp cấpbách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường;
Nghị quyết số 27-NQ/BCSĐTNMT của Ban cán sự đảng Bộ Tài nguyên
và Môi trường về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường;
Chỉ thị số 25/2009/CT-UBND ngày 28/4/2009 của UBND tỉnh Hà Nam
về việc tăng cường công tác quản lý, khai thác tài nguyên khoáng sản trên địabàn tỉnh Hà Nam;
Trang 5Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23/4/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ vềtăng cường công tác quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh đến năm 2015,định hướng đến năm 2020;
Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/9/2011 của Ban Thường vụ Thành uỷ
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ trong công tác quản lý đất đai và xâydựng trên địa bàn thành phố Phủ Lý;
Nghị quyết số NQ/TU ngày / /2012 của Ban Thường vụ Thành uỷ vềtăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên trên địa bàn thành phố Phủ Lýđến năm 2015, định hướng đến năm 2020
B CƠ SỞ THỰC TIỄN
I Thực trạng và những kết quả đạt được:
1 Công tác quản lý đất đai:
1 1 Ban hành chủ trương, chính sách cụ thể hóa trên địa bàn thành phố.
Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đã quan tâm chỉ đạo ban hành nhiềuChương trình, kế hoạch, Nghị quyết, Quyết định về lĩnh vực quản lý sử dụng đấtđai nhằm cụ thể hóa các chính sách quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn Đặcbiệt là Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/9/2011 của Ban Thường vụ Thành uỷ
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ trong công tác quản lý đất đai và xâydựng trên địa bàn thành phố Phủ Lý, Nghị quyết số 09/2008/NQ-HĐND ngày29/7/2008 của HĐND thành phố thông qua Đề án Bảo vệ môi trường thành phố
và Kết luận 110a/KL-TU ngày 12/7/2007 của Ban thường vụ Thành uỷ về tìnhhình vi phạm luật đất đai, quy hoạch xây dựng trái phép trên địa bàn thành phố,Kết luận số 159b/KL-TU ngày 22/7/2008 của Ban thường vụ Thành uỷ về kếtquả kiểm tra việc thực hiện Kết luận 110a/KL-TU Bên cạnh đó, hàng nămUBND thành phố cũng đã ban hành nhiều Kế hoạch, quyết định nhằm cụ thểhoá các Nghị quyết, Kết luận của Ban thường vụ Thành uỷ, HĐND thành phố
Có thể nói, việc ban hành chủ trương, chính sách và các Nghị quyết,Quyết định trong lĩnh vực tài nguyên môi trường đã góp phần tích cực nâng caonăng lực quản lý nhà nước, từ đó hạn chế, khắc phục những tồn tại, yếu kém,góp phần ngăn chặn, đẩy lùi và hạn chế những vi phạm trong công tác quản lýđất đai, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường từ đó thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, phát triển an sinh xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội
1.2 Thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Trang 6a Cụng tỏc lập bản đồ địa chớnh, địa hỡnh.
Sau khi tỏi lập tỉnh, từ một địa phương khụng cú bản đồ địa chớnh, thànhphố Phủ Lý đó được đo đạc bản đồ địa chớnh (9/9 đơn vị xó, phường), là mộttrong số ớt địa phương cú cơ sở dữ liệu bản đồ địa chớnh tỷ lệ 1/1000, 1/500 vàbản đồ địa hỡnh tỷ lệ 1/2000 phủ trựm trờn toàn thành phố
Đi đụi với việc thiết lập bản đồ địa chớnh, thành phố đó xõy dựng, hoànthiện bản đồ hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất đai, bản đồ hồ sơ địa giới 364,cỏc loại bản đồ quy hoạch xõy dựng ngành, lónh thổ từng bước đỏp ứng nhucầu quản lý nguồn tài nguyờn đất đai trờn địa bàn
Tuy nhiờn, hiện thành phố vẫn chưa thực hiện được cụng tỏc cập nhật,chỉnh lý bản đồ địa chớnh cũng như cụng tỏc xõy dựng cơ sở dữ liệu cho cỏcthửa đất, hầu hết cỏc dữ liệu về cỏc thửa đất đó biến động so với trong bản đồđịa chớnh và cỏc hồ sơ quản lý đất đai nhưng vẫn chưa được cập nhật, chỉnh lý
b Cụng tỏc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất:
Thành phố Phủ Lý luụn xỏc định cụng tỏc lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất là cụng cụ quan trọng để quản lý tài nguyờn đất đai Do vậy, trongnhững năm qua Thành uỷ, HĐND, UBND thành phố đó chỉ đạo đẩy mạnh cụngtỏc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất từ thành phố cho đến cỏc xó, phường.Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 của thành phố được UBND tỉnhphờ duyệt và đưa vào sử dụng gúp phần làm tốt cụng tỏc quản lý đất đai, chỉ tiờuquy hoạch của nhiều loại đất đạt kết quả cao, cụ thể:
QH(ha)
Kết quả
thực hiện
Đạt % Ghi chú
1 Nhóm đất nông nghiệp theo quy hoạch
chuyển sang diện tích đất phi nông nghiệp
Trang 79 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm 35,84 34,73 96,90
10 Đất sản xuất vào mục đích công cộng 353,08 119,89 33,96
Hiện nay, thành phố đang chỉ đạo việc lập quy hoạch sử dụng đất giaiđoạn 2011-2020 làm căn cứ để quản lý tốt nguồn tài nguyờn đất đai của thànhphố trong những năm tiếp theo
(Hiện trạng sử dụng đất thành phố Phủ Lý, số liệu kiểm kờ năm 2010)
c Cụng tỏc thu hồi đất, giao đất, cho thuờ đất, chuyển mục đớch sử dụng đất:
Đỏp ứng yờu cầu phỏt triển kinh tế xó hội trờn địa bàn của một thành phốtrẻ đang phỏt triển, từ khi tỏi lập tỉnh đến nay, thành phố đó thực hiện việc thuhồi, giao đất, cho thuờ đất, chuyển mục đớch sử dụng đất cho 436 cụng trỡnh, dự
ỏn để phục vụ cho cỏc mục đớch phỏt triển kinh tế xó hội, an ninh quốc phũng,xõy dựng cơ sở hạ tầng cụng cộng và cỏc nhu cầu phỏt triển khỏc trờn địa bànthành phố Chuyển mục đớch sử dụng đất cho 316 hộ gia đỡnh, cỏ nhõn từ đất
Trang 8vườn sang đất ở để xây dựng nhà ở Nhìn chung việc thu hồi, giao đất đảm bảođúng trình tự và các quy định của pháp luật.
d Công tác lập hồ sơ địa chính, cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:
Công tác lập hồ sơ địa chính trên địa bàn thành phố hiện vẫn chưa đượchoàn thành Tất cả các xã, phường và thành phố đều không có hệ thống hồ sơđịa chính đầy đủ Hiện nay, thành phố đang chỉ đạo triển khai tích cực làm điểmchương trình công tác lập hồ sơ địa chính và cấp đổi GCN QSD đất theo bản đồđịa chính tại các xã, phường: Đống Đa, Ngô Quyền, Liên Bảo Tuy nhiên việctriển khai thực hiện mới ở giai đoạn đầu của chương trình
Công tác cấp GCN QSD đất, quyền sở hữu nhà đã đạt được những kết quảquan trọng, tính đến nay toàn thành phố đã cấp được 20.835 GCN lần đầu trên21.735 hộ sử dụng đất thổ cư cũ (đạt 96.0%)
đ Công tác quản lý giá đất, thị trường bất động sản và thu tiền sử dụng đất:
Công tác quản lý giá đất trên địa bàn thành phố cũng như thị trường bấtđộng sản trong những năm qua luôn được quan tâm chỉ đạo với phương châmtừng bước xây dựng giá đất phù hợp với thị trường để phục vụ tốt cho công tácbồi thường giải phóng mặt bằng, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhờ có sự chỉđạo quyết liệt trong những năm qua, việc quản lý nguồn thu từ đất được tăngcường thông qua các hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, phát triển đô thị hóa,quản lý chặt thị trường bất động sản do vậy nguồn thu từ đất tăng trưởng khoảng
từ 20-30% năm Năm 2001 tổng thu từ đất đạt 1,864 tỷ đồng đến năm 2011 đạt277,2 tỷ đồng Bên cạnh đó việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong sản xuấtnông nghiệp đã góp phần hình thành nhiều mô hình sản xuất hiệu quả Đặc biệt
là hình thành những vùng chuyên canh hàng hóa mang lại nguồn thu từ sản xuấtnông nghiệp trên một đơn vị diện tích ngày càng cao
e Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai:
Hiện nay, số lượng đơn thư, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý đấtđai chiếm tỷ lệ cao (từ 70-85%) so với tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo trên địabàn thành phố nên công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đailuôn được các cấp, ngành của thành phố quan tâm chỉ đạo giải quyết
Trong những năm qua, Thành phố đã phối hợp với tỉnh tổ chức nhiềucuộc thanh kiểm tra việc sử dụng đất của các doanh nghiệp, tổ chức đồng thờithành lập nhiều đoàn thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất của các hộ gia đình, cánhân trên địa bàn (phối hợp với tỉnh kiểm tra việc sử dụng đất của tổng số 85
Trang 9đơn vị, tổ chức trên địa bàn; thành lập các đoàn kiểm tra việc sử dụng đất củagần 1500 hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn).
Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và xử lý 556 trường hợp lấn, chiếmđất, sử dụng đất sai mục đích trên địa bàn Việc thu, nộp các khoản thu từ quỹđất công ích chưa đúng với quy định là hơn 510.000.000đ, các dự án chậm triểnkhai 31dự án với diện tích 131.3 ha Đi đôi với công tác thanh tra, kiểm trathành phố đã chủ động tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai Toànthành phố đã nhận 1609 đơn, trong đó giải quyết khiếu nại đạt bình quân 98%,
tố cáo đạt bình quân 96%; tiếp 2390 lượt người, 73 đoàn đông người (từ 03người trở lên, trong đó đoàn đông nhất lên đến gần 300 người)
2 Công tác quản lý tài nguyên nước
2.1 Điều tra cơ bản về tài nguyên nước:
Tài nguyên nước của Thành phố gồm nguồn nước mặt và nước ngầm
- Nước mặt chủ yếu của thành phố là lưu vực sông Cà Lồ và Đầm Vạc.Đây là các thủy vực quan trọng cung cấp nước cho sản xuất, nuôi trồng thủy sản,đồng thời cũng là nơi thu nhận nước thải từ các hoạt động sản xuất kinh doanh,thương mại và sinh hoạt
Nguồn nước mặt chủ yếu được khai thác, sử dụng từ các sông, đầm, ao,
hồ có trên địa bàn và nước mưa Trữ lượng nước mặt của Thành phố khá dồidào, chất lượng nước nhìn chung còn tốt, đang được khai thác cho sinh hoạt củanhân dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ở một số khu vực, nhất là khu
đô thị, khu dân cư nông thôn đã bị nhiễm bẩn do chịu ảnh hưởng của chất thảicông nghiệp, chất thải sinh hoạt, sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoá học
- Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, chất lượng không cao, có thểkhai thác lớn hơn khá nhiều mức công suất hiện nay (16.000 m3/ngày đêm), tuynhiên để cung cấp cho sinh hoạt cần có trình độ công nghệ tiên tiến và mức kinhphí lớn do vậy không được khuyến khích khai thác quá lớn so mức hiện tại
- Theo kết quả điều tra tình hình sử dụng nước sạch, vệ sinh môi trườngnăm 2011, hiện trên địa bàn thành phố số người sử dụng nước hợp vệ sinh đạttrên 90% trong đó tỷ lệ người sử dụng nước máy là 62.1%
2.2 Công tác bảo vệ tài nguyên nước:
Để bảo vệ nguồn tài nguyên nước trên địa bàn thành phố, trong những nămqua thành phố đã triển khai xây dựng, thực hiện các chương trình, dự án nhằm bảo
vệ nguồn tài nguyên nước Thành phố đã xây dựng “Báo cáo hiện trạng môi trường
Trang 10thành phố” trong đó đề xuất các giải pháp xử lý đối với các nguồn nước mặt, nướcngầm bị ô nhiễm môi trường của thành phố; Điều tra, đánh giá hiện trạng hệthống thoát nước thải của thành phố và đề xuất xây dựng các điểm xử lý nướcthải cho các cụm dân cư tập trung trên địa bàn thành phố Đồng thời từ năm 2009đến nay, hàng năm Thành phố đều phối hợp với Trung tâm nước sinh hoạt vàVSMT của tỉnh thực hiện chương trình “Điều tra, theo dõi đánh giá tình hình sửdụng nước sạch- vệ sinh môi trường” đối với các cơ quan, tổ chức, các hộ gia đình,
cá nhân sử dụng nước trên địa bàn làm cơ sở dữ liệu để hoạch định các kế hoạchnhằm bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước của thành phố
Bên cạnh đó, thành phố cũng triển khai thực hiện nhiều dự án cải tạo, kècác hồ, đầm nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước mặt Hiện thành phố đang triểnkhai thực hiện 9 dự án cải tạo các hồ, đầm và dự kiến hoàn thành trước năm
2020 với tổng diện tích được cải tạo là 108ha
2.3 Công tác cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước:
Việc cấp phép khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước cho các đơn vị
để cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn được thành phố quan tâm, chủđộng phối hợp với tỉnh trong quá trình điều tra, khảo sát để thẩm định, phêduyệt Bên cạnh đó, đối với công tác cấp giấy phép xả nước thải vào nguồnnước, thành phố chủ động phối hợp với sở Tài nguyên môi trường kiểm tra, kiênquyết không cấp giấy phép cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cónước thải ra không đạt tiêu chuẩn môi trường thuộc đối tượng phải có giấy phép
xả thải Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 5 đơn vị được cấp giấy phép khaithác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, 31 doanh nghiệp được cấp giấy phép xảthải vào nguồn nước
3 Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản trên địa bàn Thành phố Phủ Lý nhìn chung ít về chủng loại,nhỏ về trữ lượng, nghèo về hàm lượng Có trữ lượng lớn hơn cả và chất lượngcao là mỏ Cao lanh ở Định Trung, kéo dài, không liên tục, tạo thành chuỗi, cótrữ lượng khoảng 7 triệu tấn Cao lanh Định Trung gồm hai loại: cao lanh cónguồn gốc đá granit phong hóa và cao lanh do đá mạch kiềm Pecmatit, sierit đư-
ợc phong hoá triệt để từ các đá thuần fenspat Cao lanh Định Trung có thể dùng
để sản xuất gốm sứ và gạch chịu lửa Ngoài cao lanh, ở Phủ Lý còn có mica, mỏđất sét ở khu vực Đầm Vạc có độ mịn cao, dẻo dùng làm nguyên liệu sản xuất
đồ gốm Nhìn chung, tại thời điểm hiện tại để khai thác khoáng sản tại địa bànthành phố phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội là không khả thi
Trang 11Do trữ lượng và chất lượng của các loại khoáng sản trên địa bàn thànhphố không cao nên hiện thành phố không dự định thực hiện việc khai tháckhoáng sản Trên địa bàn thành phố hiện nay không có đơn vị nào được cấpphép khai thác khoáng sản.
Công tác xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, hồ sơ địa chính về quản lý đấtđai chưa đảm bảo Hầu hết tại thành phố và các xã, phường không đủ hồ sơ quản
lý về đất đai, thiếu các loại sổ như sổ mục kê, sổ theo dõi biến động, sổ địachính Công tác cấp mới GCN, cấp đổi GCN chưa được tiến hành đồng thời vớicông tác đo vẽ bản đồ địa chính
Các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý đất đai của các cấp quản lý vẫncòn xảy ra Nhiều trường hợp lấn, chiếm đất, sử dụng đất sai mục đích, chuyểnnhượng đất trái phép diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng Một số chínhquyền cơ sở còn buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm, xử lý không kiên quyếtđối với các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai tại địa phương
Sự vào cuộc của Đảng uỷ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể tại cơ sởtrong công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo không kịp thời, biệnpháp xử lý chưa nghiêm, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, thiếu kiên quyết dẫn đếntình trạng lấn, chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích, chuyển nhượng trái phépdiễn ra ở tất cả các xã, phường nhưng không được ngăn chăn xử lý kịp thời đã làmgiảm sút lòng tin của dân đối với Đảng, Chính quyền làm gia tăng việc khiếu nạivượt cấp ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ngày một gặp nhiều khó khăn,nhiều trường hợp người bị thu hồi đất cố tính không hiểu, coi thường pháp luật,
Trang 12có hành vi chống đối kích động, lôi kéo nhiều người tham gia chống đối, cản trởquá trình thực hiện các dự án làm chậm tiến độ thực hiện các dự án, ảnh hưởnglớn đến môi trường đầu tư của thành phố trở thành nguyên nhân gây lãng phí lớntrong đầu tư xây dựng cơ bản
Hiệu quả sử dụng đất đai chưa cao: Nhiều dự án quá thời hạn bị thu hồiđất do không triển khai hoặc chậm triển khai, thực hiện không có hiệu quả,chuyển nhượng trái phép không được xử lý nghiêm Nguồn thu từ đất mặc dù cótăng nhưng không tương xứng với tiềm năng của thành phố Thất thoát lãng phítrong quản lý sử dụng đất xuất hiện ở nhiều địa phương, chậm được khắc phục
2 Lĩnh vực quản lý tài nguyên nước.
Công tác quản lý tài nguyên nước chưa được được chính quyền cơ sởquan tâm đúng mức, tình trạng khai thác tài nguyên nước, đặc biệt là nước ngầmkhi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền diễn ra tại nhiều địa phương,không được kiểm soát dẫn đến tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và hiệntượng lún, sụt địa chất
Việc điều tra lập quy hoạch khai thác sử dụng nguồn nước chưa được thựchiện, chưa có chiến lược quản lý sử dụng nguồn nước nên chưa có các giải phápmang tính chiến lược để bảo vệ, sử dụng nguồn tài nguyên nước một cách bềnvững, vẫn để xảy ra tình trạng sử dụng nước lãng phí làm suy giảm, cạn kiệtnguồn tài nguyên nước
Hiện tượng lấn chiếm hệ thống các sông, hồ, đầm còn xẩy ra tại nhiều nơilàm cho diện tích mặt nước các sông, hồ, đầm đang bị thu hẹp ảnh hưởng lớnđến quá trình thoát lũ và biến đổi dòng chảy dẫn đến tình trạng úng ngập về mùamưa và hạn hán về mua khô với tần suất ngày một nhiều, có tác động xấu đếnsản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân trên địa bàn thành phố Đặc biệt
là khả năng tự làm sạch môi trường của nước hầu như không còn
Việc xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra các hệthống sông, hồ, đầm tiếp nhận nhìn chung chưa được thực hiện, đặc biệt đối vớinguồn nước thải sinh hoạt của thành phố, làm gia tăng nhanh nồng độ các chất ônhiễm cho nguồn nước mặt của thành phố Công tác trám lấp các giếng không
sử dụng, xử lý vi phạm trong khai thác, sử dụng nước ngầm còn chậm được xửquyết dẫn đến nguy cơ cao đối với ô nhiễm nguồn nước ngầm
3 Lĩnh vực quản lý khoáng sản
Sự buông lỏng quản lý của chính quyền cơ sở tạo điều kiện cho các đốitượng lợi dụng kẽ hở pháp luật để khai thác đất làm nguyên liệu sản xuất gạch,
Trang 13ngói mà không được cấp có thẩm quyền phê duyệt gây bức xúc trong dư luận,làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội.
Chưa khoanh định kịp thời vùng hạn chế và cấm khai thác dẫn đến một số
tổ chức, cá nhân lợi dụng hạ cốt khai thác trái phép, vi phạm các công trìnhphòng thủ quốc phòng cũng như công trình văn hóa nhưng chậm được xử lý dứtđiểm làm ảnh hưởng đến anh ninh phòng thủ và ảnh hưởng cảnh quan các côngtrình văn hoá
III Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
Hệ thống chính sách pháp luật về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyênkhoáng sản có nhiều thay đổi, điều chỉnh, bổ sung (đặc biệt là lĩnh vực đất đai)dẫn đến khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện Bên cạnh đó, công tác tuyêntruyền phổ biến, giáo dục pháp luật của các cấp, các ngành lại chưa được thườngxuyên, liên tục Một số cán bộ làm công tác quản lý về tài nguyên còn thiếu tinhthần, trách nhiệm trong công tác, một bộ phận người dân có nhận thức chưa đầy
đủ trong việc sử dụng tài nguyên, cố tình có các hành vi vi phạm pháp luật
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền,các cơ quan chức năng và tổ chức chính trị xã hội cùng nhân dân chưa thườngxuyên, liên tục nên việc phát hiện các hành vi vi phạm để xử lý chưa kịp thời,thiếu kiên quyết không đủ tính răn đe đối với những hành vi vi phạm Mặt khác,tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, mất dân chủ, thiếu sự công khai minhbạch, không tạo điều kiện để người dân được biết được tham gia, được kiểm tratheo quy chế dân chủ cơ sở đã dẫn đến người dân cũng như dư luận xã hội thiếu
am hiểu, thiếu thông tin là những nguyên nhân gây bức xúc, vi phạm và khiếunại tố cáo đặc biệt là khiếu nại, tố cáo vượt cấp trên địa bàn diễn ra ngày mộtphức tạp, khó lường
Các ngành chức năng của thành phố chưa kịp thời tham mưu, đề xuấtnhững chủ trương, chính sách nhằm cụ thể hóa việc quản lý, sử dụng và bảo vệtài nguyên trên địa bàn thành phố Đối với những quy hoạch, kế hoạch sử dụngtài nguyên đã được phê duyệt trong giai đoạn trước thì tầm nhìn còn hạn chế,tính khả thi chưa cao dẫn đến khó khăn trong khâu thực hiện Bên cạnh đó sựphối hợp giữa các cấp, ngành còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ, tình trạng gây phiên
hà, sách nhiễu, thiếu tinh thành trách nhiệm của một bộ phận cán bộ làm giảmhiệu lực quản lý nhà nước và gây bức xúc trong dư luận xã hội
Việc đầu tư nguồn lực cho công tác quản lý tài nguyên còn rất hạn chế,chưa tương xứng với chức năng nhiệm vụ của ngành, đặc biệt là trong lĩnh vựcđầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước ở cả
Trang 14thành phố và xã, phường.Việc áp dụng các tiến bộ khoa học để thực hiện côngtác quản lý có nhiều hạn chế, không kịp thời.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý trên địa bàn đòi hỏi cần thiết phải xây
dựng “Đề án quản lý và bảo vệ tài nguyên trên địa bàn thành phố Phủ Lý đến
năm 2015, định hướng đến năm 2020” để từng bước đưa công tác quản lý tài
nguyên vào nề nếp, theo hướng hiện đại nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng lãngphí, thất thoát tài nguyên để việc sử dụng tài nguyên một cách bền vững đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố
PHẦN III
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I QUAN ĐIỂM
1 Tài nguyên là một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội, có ảnh hưởng lớn đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội do đócần phải tập trung tăng cường quản lý, sử dụng nhằm phát huy hiệu quả nguồnlực tài nguyên trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững
2 Việc quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng tài nguyên phải đảm bảo tuânthủ nguyên tắc khai thác, sử dụng bền vững phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sửdụng tài nguyên Kiên quyết xử lý những hành vi vi phạm quy hoạch, kế hoạch
sử dụng, đồng thời phương châm chỉ đạo là quy hoạch phải đi trước một bước
để làm cơ sở, tiền đề cho việc quản lý, sử dụng hợp lý hiệu quả đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế xã hội, giữ vững anh ninh trật tự, an toàn xã hội
3 Việc quản lý, sử dụng hợp lý, tránh thất thoát lãng phí tài nguyên vừa lànhiệm vụ cấp bách vừa là nhiệm vụ lâu dài của các cấp ủy Đảng, Chính quyền,các Ngành và mọi Tổ chức chính trị xã hội, đồng thời cũng là lương tâm, tráchnhiệm của cả cộng đồng đối với thế hệ mai sau Do vậy đòi hỏi phải thườngxuyên quan tâm chỉ đạo một cách quyết liệt tránh nể nang, né tránh, đùn đẩytrách nhiệm
4 Quản lý sử dụng tài nguyên một cách bền vững là trách nhiệm của cáccấp ủy Đảng, Chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội, MTTQ và các đoàn thể