Đến những năm 1970, mạng này đã hoàn thiện bằng việc thực hiện truyền tín hiệu tương tự trong cáp đồng xoắn đôi và ghép kênh phân chia tần số FDM-Frequency Division Multiplexing dùng tro
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
KHOA CÔNG NGHỆ ĐIỆN TỬ VÀ TRUYỀN THÔNG
ThS HOÀNG QUANG TRUNG
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN DẪN SỐ 1.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỆ THỐNG TRUYỀN DẪN
Mạng điện thoại được xây dựng dựa trên cơ chế truyền tiếng nói giữa các máy
điện thoại Đến những năm 1970, mạng này đã hoàn thiện bằng việc thực hiện
truyền tín hiệu tương tự trong cáp đồng xoắn đôi và ghép kênh phân chia tần số
(FDM-Frequency Division Multiplexing) dùng trong các tuyến đường dài để kết
hợp truyền nhiều kênh thoại trong một cáp đồng trục Thiết bị truyền dẫn loại này
rất đắt so với giá của một tổng đài điện thoại, vì vậy, chuyển mạch được xem như
một thiết bị nhằm tiết kiệm sử dụng tài nguyên khan hiếm lúc bấy giờ là băng thông
truyền dẫn bằng cách kết hợp một số kênh PCM và truyền chúng trong một đôi cáp
đồng xoắn mà trước đây chỉ dùng để truyền một tín hiệu tương tự duy nhất Hiện
tượng này được gọi là lợi dây Do giá thành thiết bị điện tử số bắt đầu giảm nên sử
dụng các công nghệ này đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí
Phương thức ghép kênh 64 kbit/s thành môt luồng bit tốc độ cao duy nhất còn
Trang 3được gọi là Ghép kênh phân chia theo thời gian TDM (Time Division
Multiplexing) Một cách đơn giản, mỗi byte của mỗi kênh đầu vào theo thứ tự được
đưa vào kênh tốc độ cao ở đầu ra Quá trình xử lý này còn được gọi là "chèn byte
Trang 4Hệ thống truyền dẫn gồm các thiết bị phát và nhận, và phương tiện truyền cùng bộ
lặp lại giữa chúng như hình 1.1
Hình 1.1: Các thành phần cơ bản của một hệ thống truyền dẫn
Những phương tiện phát sẽ truyền và phát đi những tín hiệu đầu vào (tín hiệu
gốc) để truyền chúng một cách hiệu quả qua phương tiện, thiết bị nhận tách ra
những tín hiệu gốc trong những tín hiệu thu được Đồng thời bộ lặp lại xử lý việc
bù lại trong quá trình truyền Các phương tiện truyền bao gồm dây dẫn kim loại, cáp
đồng trục, radio, ống dẫn sóng và cáp sợi quang
Truyền dẫn bao gồm phần truyền dẫn thuê bao nối liền máy thuê bao với tổng
đài và phần truyền dẫn tổng đài nối tổng đài với tổng đài Truyền dẫn gồm truyền
bằng cáp, truyền radio, liên lạc vệ tinh, truyền TV, liên lạc sợi quang, ống dẫn sóng,
liên lạc dưới đất cùng bộ chuyển tiếp phục hồi sử dụng các phương tiện truyền dẫn,
kết cấu kết hợp và mạng đồng bộ hóa của các thiết bị này, việc bảo dưỡng và phần
quản lý của mạng truyền dẫn v.v
* Truyền dẫn sử dụng sợi quang (fiber)
Môi trường quang sợi có độ rộng băng gần như không giới hạn Đặc điểm của nó là
suy hao không đáng kể, chỉ vào cỡ 0,25 Db/Km Đây chính là ưu điểm vượt trội của
sợi quang so với cáp đồng trục Ngoài ra truyền dẫn trên sợi quang còn có các ưu
điểm khác nữa là: Không bị ảnh hưởng bởi nhiễu điện từ trường, an toàn, kích
thước nhỏ và nhẹ, …
Trang 5Giải tần số được sử dụng trong truyền dẫn sợi quang được mô tả như hình dưới:
H.Q.Trung.ĐTTT
4
Cấu trúc của sợi quang:
1.2.2 Các nguồn ảnh hưởng tới tín hiệu truyền dẫn
1.2.2.1 Méo tín hiệu qua kênh (distortion)
Kênh truyền thực tế là không lý tưởng, do đó tín hiệu đi qua kênh ít hay nhiều
cũng bị ảnh hưởng đến dạng tín hiệu, có nghĩa là bị méo so với tín hiệu gốc
Ngoài ra, sẽ không thể tránh khỏi méo phi tuyến đối với những tín hiệu làm
Trang 6việc tại các tần số cao Điều này xuất phát từ một thực tế rằng với các tần số cao sẽ
bị ảnh hưởng do sự xáo động của các điều kiện khí quyển, bởi vậy gây ra sự thay
đổi về tần số Chẳng hạn với các hệ thống radar doppler sử dụng trong việc giám sát
thời tiết là một trường hợp cụ thể
Méo tuyến tính có thể gây ra các ảnh hưởng trong các hệ thống truyền dẫn
xung Loại méo này được đặc trưng bởi sự phân tán thời gian (làm kéo dài xung),
dẫn tới hiệu ứng đa đường
Trang 8Kênh truyền dẫn được phân loại theo độ rộng băng Có 3 loại kênh phổ biến
là: Kênh băng hẹp (narrow band), băng thoại (voiceband) và băng rộng (wideband)
Các kênh băng hẹp: Đối với những kênh có độ rộng băng lên tới 300 Hz th
kênh băng hẹp không đủ độ tin cậy để sử dụng cho truyền dẫn tín hiệu thoại
Các kênh thoại có độ rộng băng giới hạn trong khoảng từ 300 Hz đến 4 kHz
trong hệ thống điện thoại công công truyền thống sử dụng băng thoại
Các kênh băng rộng có độ rộng băng lớn hơn 4 kHz Các kênh này có th
Trang 9H.Q.Trung.ĐTTT
7
1.2.3 Tham số chất lượng của hệ thống truyền dẫn số
Các tham số chất lượng cơ bản của hệ thống truyền dẫn số được đánh giá
thông qua tỷ lệ lỗi bit (BER) và dung lượng truyền dẫn
Đối với các hệ thống truyền dẫn số hiện tại, các tín hiệu số nhận giá trị trong
một tập hữu hạn các giá trị có thể có và có thời gian tồn tại hữu hạn Khi tập các giá
trị có thể có của tín hiệu gồm hai phần tử 0 và 1 thì hệ thống được gọi là nhị phân
và tín hiệu khi đó được gọi là bit Khi số giá trị có thể có của tín hiệu khác 2, tổng
quát là M thì hệ thống được gọi là hệ thống M mức và tín hiệu được gọi là ký hiệu
(symbol) Gọi giá trị của symbol thứ k là D k và thời gian tồn tại của nó là T k (đối
Trang 10 được gọi là tỷ lệ lỗi
symbol (SER) và có quan hệ chặt chẽ với BER
1.3 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.3.1 Tím hiệu truyền dẫn
a) Tín hiệu tương tự (analog signal)
Tín hiệu tương tự có thể được xem như là một dạng sóng có tính chất liên tục
về thời gian trong phạm vi tín hiệu tồn tại
Trang 11Hình 1.5: Minh họa dạng sóng và phổ tương ứng của tín hiệu tương tự.
b) Các tín hiệu mẫu
Tín hiệu mẫu nhận được từ tín hiệu tương tự bằng cách lấy mẫu tại các thời
điểm nhất định Hàm biểu diễn tín hiệu mẫu có biến thời gian rời rạc
Hình 1.6: Minh họa dạng sóng rời rạc nhận được từ việc lấy mẫu tín hiệu tương tự
c) Tín hiệu số (Digital signal)
Tín hiệu số là một dạng của tín hiệu mẫu hay tín hiệu rời rạc trong đó mỗi một
con số trong chuỗi tín hiệu tương ứng với một giá trị xác định Tín hiệu số có thể có
được từ lối ra của nhiều thiết bị Ví dụ, khi ta quay số máy điện thoại thì sẽ tạo ra
Trang 121.3.2 Các phương pháp truyền thông tin
a) Truyền tin nhị phân
- Truyền tin nhị phân dùng cáp đơn
Tốc độ truyền dẫn phụ thuộc vào tốc độ thay đổi của điện áp (hay các kiểu ký hiệu
khác) trên kênh truyền trước khi thành phần tần số là quá lớn để có thể lọc suy hao
kênh truyền và dẫn đến méo tín hiệu Nói theo cách khác, tốc độ truyền dẫn bị giới
hạn bởi băng thông của tuyến truyền
- Truyền tin nhị phân dùng nhiều cáp song song
Bằng cách sử dụng nhiều cáp, tín hiệu truyền qua kênh có thể sẽ tăng tỷ lệ với số
cáp (kênh) sử dụng Tín hiệu truyền qua có thể duy trì như ở tuyến truyền nhị phân
đơn, cho phép thay thế bởi các tuyến có băng thông nhỏ hơn (dẫn tới chi phí thấp
hơn)
b) Truyền tin đa mức
- Truyền tin đa mức sử dụng cáp đơn
Truyền dẫn dữ liệu không bắt buộc phải giới hạn ở cơ số hai (nhị phân), theo lý
thuyết có thể sử dụng một số mức điện áp hay một số kiểu ký hiệu
H.Q.Trung.ĐTTT
Trang 131 0
Ví dụ: sử dụng 4 mức điện áp, chúng ta có thể mã hóa mỗi tổ hợp hai bit nhị phâ
- Truyền tin đa mức sử dụng nhiều cáp
Việc sử dụng các kênh truyền dẫn song song để truyền dữ liệu cho phép tăng khả
năng (dung lượng) truyền tin trên băng thông bị giới hạn
1048576 trạng thái ký hiệu, khi đó với mỗi ký hiệu mã hóa 20 bits thông tin
Rõ ràng có một giới hạn thực tế trên số trạng thái được sử dụng, phụ thuộc vào khả
năng phân biệt chính xác các trạng thái (các mức điện áp, tần số, …) của thiết bị
thu
Ví dụ: một số modem điện thoại hoạt động ở tốc độ 56 kbps sử dụng 1024 trạng th
ái
Trang 15Ngoài ra tốc độ truyền dẫn còn được xác định thông qua tốc độ ký hiệu Trong
đó thì tốc độ ký hiệu là tốc độ thay đổi trạng thái các ký hiệu mang thông tin nhị
phân qua kênh truyền Chúng ta có thể mã hóa một số bit trong mỗi ký hiệu Tốc độ
ký hiệu không nhất thiết phải bằng tốc độ truyền thông tin Đơn vị đo tốc độ ký hiệu
là ký hiệu/giây hay (baud) Ví dụ: một hệ thống sử dụng 4 tần số mã hóa các tổ hợp
2 bit nhị phân qua một kênh, và tần số (ký hiệu-symbol) được thay đổi sau mỗi 0.5
ms, khi đó tốc độ ký hiệu sẽ là:
R symbol
1
0.5 2000 symbol / s 2000 (baud ).
Tốc độ truyền thông tin bởi vậy sẽ là: 2 x 2000 = 4000 bps
1.4 CÁC TIÊU CHUẨN TRUYỀN DẪN
phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế Theo ISO, các định nghĩa về tiêu chuẩn và
khuyến nghị dành cho truyền thông như sau:
Tiêu chuẩn: Chi tiêu kỹ thuật hay văn bản qui định có khả năng phổ biến rộng rã
i
được xây dựng bởi sự hợp tác và thống nhất hay sự chấp thuận nói chung của tất cả
Trang 16những vấn đề liên quan tới nó dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ
1.4.2 Các tổ chức tiêu chuẩn và khuyến nghị
ISO: International Standardization Organization (OrganizationTổ chức tiêu
chuẩn hóa quốc tế)
ITU: International Telecommunications Union (Hiệp hội Viễn thông quốc tế).IEC: International Electrotechnical Commission ( y ban Điện tử quốc tế)
SatelliteOrganization /International Maritime Satellite Organization
H.Q.Trung.ĐTTT
Trang 171 3
ANSI – Viện Tiêu chuẩn quốc gia Hoa K
CEPT – The European Conference for Posts and Telecommunications
CCIR – Consultative Committee for International Radiocommunication ( y ban Tư
vấn quốc tế về vô tuyến điện)
CCITT – Consultative Committee for International Telephone and
Tele-Graph ( y ban Tư vấn quốc tế về điện thoại và điện báo)
Trang 181 4
ETSI – European Telecommunications Standards Institute (Viện Tiêu chuẩn Viễn
thông Châu Âu)
Trang 191 5
CHƯƠNG 2 TRUYỀN DẪN SỐ CÁC TÍN HIỆU TƯƠNG TỰ
2.1 ĐỊNH LÝ LẤY MẪU VÀ HỆ THÔNG TIN XUNG
2.1.1 Định lý lấy mẫu
Định lý lấy mẫu có một ý nghĩa sâu sắc trong lý thuyết thông tin Định lý này
được phát biểu như sau:
Một tín hiệu có dải tần giới nội là B Hz G 0 khi 2 B có thể đ ược
khôi phục một cách chính xác (mà không bị lỗi) từ các mẫu của nó được lấy đ ều
đặn với tốc độ R 2BB mẫu trên giây Hay nói theo cách khác, tần số lấy mẫu t ối
Trang 201 6
Hình 2.1: Tín hiệu mẫu và phổ của nó
Tốc độ lấy mẫu tối thiểu f s 2B được gọi là tốc độ Nyquist cho tín hi
Trang 21Hình 2.2: Quá trình nội suy tín hiệuMỗi một mẫu g t là một xung, hình thành một xung cửa có độ cao bằng với
độ lớn của mẫu Xung thứ k là xung có độ lớn g kTs xác định tại vị trí t kTs
2.1.3 Ứng dụng của lý thuyết lấy mẫu
H.Q.Trung.ĐTTT
1 7
Lý thuyết lấy mẫu có tầm quan trọng trong phân tích, xử lý, và truyền dẫn tín
hiệu Vì ta có thể chuyển tín hiệu liên tục theo thời gian thành chuỗi rời rạc các số
Xử lý tín hiệu thời gian liên tục bởi vậy được chuyển về xử lý chuỗi rời rạc các số
Và cũng vì thế mà có thể sử dụng các bộ lọc số Trong lĩnh vực truyền thông, truyền
Trang 22dẫn bản tin tương tự được giảm bớt thành truyền dẫn một chuỗi các số Điều này
làm xuất hiệu nhiều kỹ thuật mới cho truyền thông các tín hiệu liên tục Bằng cách
lấy mẫu tín hiệu tương tự và làm thay đổi các thông số về biên độ, độ rộng và vị trí
xung của các mẫu nhận được ta có các kỹ thuật điều chế xung tương tự tương ứng
đó là: điều chế biên độ xung (PAM), điều chế độ rộng xung (PWM), điều chế vị trí
xung (PPM) Trong đó có vai trò quan trọng nhất trong phương thức điều chế xung
ngày nay đó là điều chế mã xung (PCM)
Hình 2.3: Các tín hiệu điều chế xung
Thay vì truyền tín hiệu tương tự g t , chúng ta truyền tín hiệu điều chế xung
Tại bộ thu, chúng ta đọc thông tin của tín hiệu điều chế xung và khôi phục lại tín
hiệu tương tự ban đầu
Trang 23Một trong những ưu điểm của việc sử dụng điều chế xung là cho có thể cho
phép truyền một số tín hiệu dựa trên việc chia sẻ tài nguyên về thời gian bằng cách
H.Q.Trung.ĐTTT
1 8
sủ dụng kỹ thuật ghép kênh phân chia theo thời gian (TDM-Time Division
băng tần của định lý lấy mẫu
- Lấy mẫu: Tín hiệu liên tục sau lọc được rời rạc hóa bằng cách lấy mẫu thôn
g
Trang 24qua chuỗi xung nhịp có tần số f s tuân theo định lý lấy mẫu để có được các tín hiệu
điều biên xung (PAM-Pulse Amplitude Modulation)
- Lượng tử hóa: Số hóa giá trị có thể có của tín hiệu PAM sau lấy mẫu là v
mức lượng tử (có số lượng hữu hạn) và quá trình này được gọi là lượng tử hóa
- Mã hóa: Các giá trị mức lượng tử ứng với các xung PAM được mã hóa bằn
g
các tổ hợp mã nhị phân để truyền đi trên hệ thống truyền dẫn số
Sơ đồ mô tả công đoạn điều chế xung mã được thể hiện như hình dưới đây:
H.Q.Trung.ĐTTT
1 9
Hình 2.5: Hệ thống truyền dẫn PCM
Trang 25Quá trình khôi phục ở phần thu được thực hiện như sau: giải mã để được chuỗi
xung PAM lượng tử hóa rồi cho qua lọc thông thấp có tần số cắt bằng một nửa tần
số lấy mẫu
Sai số trong truyền dẫn PCM:
Như ta đã nói ở trên, trong thực tế, các tín hiệu lối vào điều chế mã xung là
các tín hiệu có phổ trải rộng vô hạn Sau lọc hạn chế phổ tần tín hiệu, tín hiệu có
phổ hạn chế và do vậy thời gian tồn tại trải rộng tới vô hạn, nghĩa là về lý thuyết,
việc lấy mẫu phải được thực hiện với vô hạn mẫu (tuy nhiên sẽ không được như
thế) Từ đó chúng ta có thể thấy rằng tín hiệu liên tục khôi phục lại được ở phần thu,
ngay cả trong trường hợp không tính đến méo và tạp nhiễu trên đường truyền, cũng
chỉ là một phiên bản gần đúng của tín hiệu liên tục cần truyền đi ở phần phát mà
thôi Sai số giữa các tín hiệu phiên bản và nguyên bản gây bởi các nguyên nhân sau:
(a) Việc lấy mẫu không thể tiến hành trong thời gian dài vô hạn được
(b) Sai số do làm tròn (lượng tử hóa)
(c) Các đặc tính lọc không hoàn toàn lý tưởng
(d) Phiên bản là một tín hiệu có phổ hạn chế, không như tín hiệu nguyên bản.Ngoài ra, các sai lệch quá mức về đồng bộ cũng có thể dẫn đến sắp xếp sai các
tổ hợp mã thu được và điều này dẫn đến các sai lệch vô cùng trầm trọng Các
H.Q.Trung.ĐTTT
2 0
chi tiết về các công đoạn trong quy trình PCM và các biện pháp khắc phục sai
Trang 26số sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.
Trang 27đây, tần số lấy mẫu tiêu chuẩn cho tín hiệu thoại được chọn là 8 kHz Quá trình lấy
mẫu tín hiệu điện thoại được mô tả như hình dưới đây:
H.Q.Trung.ĐTTT
2 1
Hình 2.6: Quá trình lấy mẫu tín hiệu liên tục
2.2.4 Lượng tử hóa
Lượng tử hóa được thực hiện đơn giản nhất bằng cách chia dải động tín hiệu
a, a
Trang 29Hình 2.7: Quá trình lượng tử hóa đều
Do không biết được phân bố thực sự của biên độ tín hiệu điện thoại trong
khoảng giữa hai mức lượng tử sát nhau, người ta buộc phải giả thiết rằng tín hiệu
điện thoại nhận các giá trị biên độ trong khoảng giữa hai mức lượng tử sát nhau với
xác suất như nhau Do đó tạp âm lượng tử được xem là biến ngẫu nhiên phân bố
đều, tức là pdf e q Q 2a Thay vào phương trình (2.3), ta có:
Trang 30với số mức tối thiểu (nhằm giảm số bit mã cần dùng) xác định theo độ chính xác đã
cho đối với các mức cao của tín hiệu lại dẫn đến sai số phạm phải lại lớn đối với các
mức thấp Điều này dẫn đến sai số tổng cộng lớn do trong thực tế các mức tín hiệu
thấp của tín hiệu thoại thường xảy ra nhiều hơn so với các mức cao Các mâu thuẫn
nói trên trong thực tế được khắc phục nhờ áp dụng lượng tử hóa không đều, trong
đó khoảng cách giữa các mức lượng tử được chọn lớn đối với các tín hiệu lớn còn
với các mức tín hiệu nhỏ thì khoảng cách giữa các mức lượng tử chọn nhỏ Giải
H.Q.Trung.ĐTTT
2 3
pháp này là khá tự nhiên do đối với mức tín hiệu lớn thì tỷ số tín hiệu trên sai số (tín
hiệu trên tạp âm lượng tử) vẫn khá nhỏ dù sai số lượng tử tuyệt đối có lớn Việc
chia các mức lượng tử không đều như thế tuy vậy lại khá khó thực hiện trong thực
tế và một giải pháp tương đương thường được áp dụng là thực hiện lượng tử hóa
đều các tín hiệu được nén Luật nén được áp dụng trong điều chế mã xung tín hiệu
điện thoại là luật logarit, trong đó tín hiệu lối ra y của mạch nén biến thiên theo luật
logarit của tín hiệu lối vào x Ở phần thu, tín hiệu được giãn trở lại Việc duy trì
nén-giãn chính xác là một yêu cầu rất ngặt nghèo nhằm tránh các méo tín hiệu mang
vào do quá trình nén-giãn
Các luật nén logarit được áp dụng trong hệ Châu Âu và hệ Mỹ khá khác nhau,
Trang 31khuyến nghị G.711 của CCITT, các giá trị của các tham số được chọn là: A=87,6 và
Trang 32 255 Đối với hệ Mỹ, 100 cũng được sử dụng trong một số hệ thống, tuy
nhiên đó không phải là giá trị mà CCITT chọn làm giá trị tiêu chuẩn
Trong thực tế hay sử dụng kỹ thuật lượng tử hóa phi tuyến để đạt được hiệu
quả cao về tỷ số tín trên tạp Đặc biệt trong hệ thống truyền dẫn số còn áp dụng kỹ
thuật giãn số dựa trên các đặc trưng giãn tương tự Thuật toán giãn
nén-được áp dụng cho hai hệ thống Mỹ và Châu Âu dựa trên việc xấp xỉ các đường cong
đặc trưng nén-giãn tương tự tương ứng với hai chuẩn và A Cụ thể với hệ Mỹ,
đường cong đặc trưng nén-giãn tương tự được xấp xỉ bằng 15 đoạn thẳng (bao gồm
7 đoạn dương, 7 đoạn âm và một đoạn qua gốc) Với hệ Châu Âu, được xấp xỉ
thành 13 đoạn thẳng (bao gồm 6 đoạn dương, 6 đoạn âm và một đoạn qua gốc được
chia thành 4 phân đoạn)
Trang 33Hình 2.9: Đặc tuyến xấp xỉ tuyến tính hóa luật A – 13 đoạn
Do được tuyến tính hóa theo số đoạn khác nhau, cách nhận được các mã 8 bits
PCM đối với hệ Mỹ và hệ Châu Âu cũng khác nhau Đối với hệ Châu Âu, trước tiên
việc mã 12 bit được thực hiện, chia dải biên độ tín hiệu vào một cách tuyến tính
H.Q.Trung.ĐTTT
2 5
thành 4096 bước Các mạch logic sau đó được sử dụng để tạo ra các từ mã
Giới hạn trên của đoạn (tính theo bước biên độ vào)
Từ mã PXYZABCD
Độ lớn của mỗi bước lượng tử đều (tính theo số bước biên độ lối vào)
Trang 34Bảng 2.1: Thuật toán mã hóa hóa theo luật A
theo một quy tắc mã được mô tả trong bảng thuật toán dưới đây:
Từ bảng thuật toán trên, chúng ta có thể thấy rằng mỗi một đoạn được chia thàn
Như ta đã biết, PCM được thực hiện bằng cách mã hóa các giá trị mẫu được
lượng tử hóa của tín hiệu liên tục lối vào Số bit mã cần thiết, chẳng hạn cho tín hiệu
điện thoại, như phần trước đã trình bày, đã được CCITT xác định phải là 8 Tốc độ
tín hiệu thoại PCM như vậy là 64 kb/s, chiếm phổ tần khá lớn
Những rung động chuẩn chu k của thanh huyền và các chuyển động hạn chế
Trang 35của các bộ phận thuộc cơ quan phát âm như môi và lưỡi thực tế tạo ra các mẫu âm
thanh rất tương quan trong tín hiệu âm hữu thanh Ngược lại, các âm vô thanh thì có
xu hướng không tương quan Trong đàm thoại, một người đàm thoại tiêu biểu
thường nói trong 40 thời gian và đối với các giai đoạn tiếng nói tích cực (giai
đoạn có nói trong cuộc đàm thoại) thì các âm hữu thanh xảy ra gấp 4 lần so với các
âm vô thanh Sự trội hơn hẳn của các âm hữu thanh có nghĩa là tính tương quan
trong các tín hiệu âm thoại có thể khai thác được một cách có hiệu quả Do tính
tương quan cao của các mẫu tiếng nói, sai lệch giữa hai mẫu kế nhau thường khá
nhỏ so với giá trị của từng mẫu
2.3.2 Điều chế mã ung vi sai với bộ d đoán
Do độ tương quan giữa các mẫu tiếng nói khá lớn nên có thể thực hiện dự
đoán được một cách gần đúng một giá trị mẫu nào đó từ một số mẫu trước đó Một
vài phương pháp mã hóa với bộ dự đoán đã và đang được phát triển nhằm đạt được
hiệu quả phổ tần cao để truyền tín hiệu thoại cũng như các tín hiệu băng rộng như
Trang 36video Trong quá trình mã hóa có dự đoán, ước lượng về mẫu tiếp theo có thể dựa
trên mối tương quan giữa các phần tử, các đoạn hay các mẫu tín hiệu Khi ước
lượng này khá phù hợp thì sai lệch giữa một giá trị mẫu và giá trị mẫu dự đoán của
nó còn nhỏ hơn nữa so với sai lệch giữa các mẫu kế tiếp Vì vậy, bằng cách sử dụng
thêm bộ dự đoán ta có thể chỉ cần mã giá trị sai lệch giữa giá trị thực và giá trị dự
đoán của mẫu tín hiệu và số bit cần sử dụng để mã còn có thể giảm hơn nữa so với
DPCM không có bộ dự đoán Nhờ vậy có thể giảm hơn nữa tốc độ truyền và độ
rộng phổ chiếm
H.Q.Trung.ĐTTT
2 7
(Hình 2.11: Cấu trúc mã và giải mã DPCM với bộ dự đoán)
Theo cấu trúc mã và giải mã như trên, một bộ dự đoán được sử dụng để tạo ra
Trang 37Trong đó, chỉ số n phía trên biểu thị nhịp lấy mẫu thứ n.
Giá trị ước lượng của mẫu tiếp theo (tín hiệu lối ra của bộ dự đoán) được xác
định (ngoại suy) từ L mẫu trước đó theo biểu thức:
Trang 38(Hình 2.12: Bộ lọc giàn dùng làm mạch dự đoán)Bậc của bộ dự đoán thường được giới hạn tới 3 hoặc 4 và tăng ích của các bộ
dự đoán tiêu biểu là 15 dB Cần chú ý ở đây rằng cái giá phải trả cho sự giảm phổ
chiếm dụng của tín hiệu, có được nhờ giảm độ dư thừa trong tín hiệu, là mức độ
nhạy cảm đối với lỗi truyền dẫn tỷ lệ với mức giảm độ dư thừa Do tín hiệu thực sự
được mã chỉ là sai số giữa tín hiệu thực và tín hiệu dự đoán, nếu có sai lỗi trong
truyền dẫn thì sai lỗi này sẽ được cộng vào tín hiệu khôi phục trong suốt quá trình
khôi phục bởi vì máy thu chỉ thực hiện giải mã độ chênh lệch, tích phân lại và cộng
kết quả với mẫu tín hiệu đã được khôi phục trước đó, và cứ vậy sai lỗi đó sẽ lan ra
toàn tín hiệu được khôi phục
2.3.3 Hiện tượng quá tải sư n
DPCM dựa trên tiền đề là các mẫu tín hiệu liên tiếp nói chung có độ chênh
lệch nhỏ, vì vậy chỉ cần ít bit để mã Điều này đúng với các loại tín hiệu biến thiên
tương đối chậm Với các tín hiệu biến thiên khá nhanh thì việc sử dụng tương đối it
bit để mã độ chênh lệch sẽ gây méo tín hiệu Hiện tượng này được gọi là uá t
Trang 39được mã chỉ bằng một bit: khi độ chênh lệch dương thì bit mã là 1, ngược lại khi độ
chênh lệch âm, bit mã là 0 Tại phía thu, một lượng cố định được cộng vào hay
trừ đi với mức tín hiệu trước đó (tính tích lũy) tùy theo cực tính của bit nhận được là
H.Q.Trung.ĐTTT
2 9
1 hay 0, hình thành một tín hiệu dạng bậc thang Sau đó tín hiệu bậc thang được cho
qua lọc
H nh 2.13: Quá trình điều chế Delta
H nh 2.14: Bộ điều chế Delta
Trang 40Hình 2.15: Bộ giải điều chế Delta
2.4 ĐIỀU CHẾ MÃ XUNG VI SAI THÍCH ỨNG (ADPCM)
Như ta đã trong phần trền, tốc độ ký hiệu hoặc tốc độ bit của tín hiệu PCM
gồm các từ mã 8 bit và tín hiệu tiếng nói được lấy mẫu với tần số 8 kHz bằng 64
kbit/s Nếu số lượng bit của từ mã giảm còn 4 như trong điều chế mã xung vi sai
(DPCM) thì tốc độ bit giảm và chỉ bằng 32 kbit/s Có xu hướng tiêu chuẩn hóa quốc
H.Q.Trung.ĐTTT
3 0
tế tốc độ 32 kbit/s đối với tín hiệu mã tiếng nói nhờ sử dụng ADPCM Vấn đề này
được phản ánh trong khuyến nghị G.721 của CCITT, có liên quan đến điều chế mã
xung vi sai tự thích nghi 32 kbit/s và các tài liệu khác
Với một quá trình ngẫu nhiên dừng được xác định như một quá trình mà
những đặc tính thống kê của các phép đo quá trình không thay đổi theo thời gian
Nhiều nguồn tín hiệu thực tế là không dừng nhưng tựa dừng Qúa trình này được
thể hiện qua phương sai và hàm tự tương quan thay đổi chậm theo thời gian Các bộ
mã hóa trong các hệ thống PCM và DPCM được tính toán trên cơ sở tín hiệu vào
dừng và được mô hình hóa đối với các nguồn tín hiệu tựa dừng Nếu bộ lượng tử
đều PCM được sử dụng thì trị trung bình của tạp âm lượng tử bằng 0, phương sai
hoặc công suất tạp âm lượng tử bằng 2 12 Nếu phương sai thay đổi do sai số