Các doanh nghiệp kinhdoanh xăng dầu cũng vậy đặc biệt với Việt Nam một đất nước phải nhập khẩu khốilượng lớn xăng dầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt.Chính vì thế tỷ giá luôn đúng mộtvai t
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2
I TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1 Khái niệm
2 Các phương pháp yết tỷ giá
3 Chức năng của tỷ giá hối đoái
4 Phân loại tỷ giá hối đoái
5 Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
5.1 Cung và cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái
5.2 Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá
5.3 Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá
5.4 Những nhân tố khác ảnh hưởng đến tỷ giá
PHẦN II: THỰC TRẠNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XĂNG DẦU Ở VIỆT N
I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM 1
1 Giai đoạn trước năm 2000
2 Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố
chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng
Trang 23 Giai đoạn từ cuối năm 2008 đến nay 14
II TÁC ĐỘNG CỦA TGHĐ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM 1
1 Tác động lên nhập khẩu
2 Tác động lên giá bán nội địa 19
III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG 2
1 Ưu điểm
2 Nhược điểm 2
3 Nguyên nhân
PHẦN III: CÁC KIẾN NGHỊ 24
1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lí vĩ mô 2
2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển và vai trò của tỷ giá hối đoái gắn liền với qúa trình lớn mạnhkhông ngừng của nền kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế Cũng giống nhưvai trò của giá cả trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọngtới những biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốcgia nói riêng Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến cácphạm trù kinh tế khác và đóng vai trị như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quảtrong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tốcực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia Trong điều kiện nền kinh tếthế giới nói chung và Việt Nam nói riêng khi mà quá trình quốc tế hoá đã bao trùmtất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống Các doanh nghiệp kinhdoanh xăng dầu cũng vậy đặc biệt với Việt Nam một đất nước phải nhập khẩu khốilượng lớn xăng dầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt.Chính vì thế tỷ giá luôn đúng mộtvai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đầu mối Việt
Nam Do đó em chọn đề tài đề án “Tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam” làm đề án môn học chuyên ngành QTKDTH.
Kết cầu của đề án gồm
Phần I : lý luận chung về tỷ giá hối đoái
Phần II : Tác động của TGHĐ đến hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam Phần III : Các kiến nghị
Trang 4PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Một điều hiển nhiên là, nếu tỷ giá hối đoái không biến động, mà luôn là mộtgiá trị cố định, thì chẳng ai cần phải bận tâm nghiên cứu Hơn nữa, nếu tỷ giá khôngthay đổi, thì các ngân hàng, các công ty và cá nhân không cần phải tốn kém nhiềuthời gian quý báu vào việc xử lý các giao dịch, quản trị rủi ro ngoại hối, các chínhphủ cũng chẳng cần phải quan tâm tới vấn đề này Tiếc thay, tỷ giá hối đoái lại làmột trong nhưng nhân tố hay biến động nhất, và trong nhiều giai đoạn sự biến độngcủa nó rất lớn
Trong phạm vi một bản đề án môn học, phần này chúng ta tập trung nghiêncứu những vấn đề liên quan tới tỷ giá hối đoái như tỷ giá hối đoái là cái gì? Phânloại, chức năng của tỷ giá hối đoái , Những nhân tố nào tác động đến sự thay đổicủa tỷ giá hối đói?
I TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.Khái niệm.
Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
Khái niệm 1: Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thịtrường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định Vìvậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kiagọi là tỷ giá hối đoái
Ví dụ: Một người nhập khẩu ở nước Mỹ phải bỏ ra 160.000 USD để mua một
tờ séc có mệnh giá 100.000 GBP để trả tiền hàng nhập khẩu từ nước Anh Như vậy,giá 1 GBP = 1,6 USD, đây là tỷ giá hối đoái giữa đồng bảng Anh và đồng đôla Mỹ Khái niệm 2: Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở một khía cạnh khác, đó làquan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau theo tiêu chuẩn nào đó
2 Các phương pháp yết tỷ giá
Đứng trên góc độ thị trường tiền tệ quốc gia thì có hai phương pháp yết giá:yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp
Trang 5a Phương pháp trực tiếp: là phương pháp biểu thị một đơn vị ngoại tệ bằngbao nhiêu đơn vị tiền tệ trong nước.
Đối với phương pháp trực tiếp thì ngoại tệ là đồng tiền yết giá, tiền trong nước
là đồng tiền định giá
Đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng phương pháp trực tiếp
Ví dụ: Tại Hà Nội niêm yết USD/VND = 20.890/95
Có nghĩa là: Tại Hà Nội ngân hàng mua 1 USD trả 20.890 VND
Ví dụ: Tại London niêm yết GBP/USD = 1,835/15
Có nghĩa là: Tại London ngân hàng mua 1 GBP trả 1,835 USD
và bán 1 GBP thu 1,815 USD Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc gia, thì nước Anh và nước Mỹdựng cách yết giá gián tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối ở nước họ, các quốc gia cònlại thì dựng cách yết giá trực tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối
Ví dụ: Tại Hà Nội, TGHĐ được công bố như sau:
USD/VND = 20.890/20.895
Với cách yết giá trực tiếp này trên thị trường Hà Nội, giá một ngoại tệ USD đãthể hiện trực tiếp ra bên ngoài
Tỷ giá 1USD = 20.890 VND là tỷ giá ngân hàng mua USD vào Tỷ giá 1 USD
= 20.895 VND là tỷ giá ngân hàng bán USD ra
Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế thì trên thế giới chỉ có hai tiền tệquốc gia (USD, GBP) và hai tiền tệ quốc tế (SDR, EUR) là dựng cách yết giá trựctiếp, tiền tệ còn lại dựng cách yết giá gián tiếp
Trang 6Ví dụ: USD /VND = 20.890
Tức là giá 1 USD = 20.890 VND, còn giá 1 VND thì chưa thể hiện trực tiếp rabên ngoài, muốn tìm, chúng ta làm phép chia như sau:
1VND = 1USD/20.890 = 0,0000478USD
3 Chức năng của tỷ giá hối đoái
Chức năng so sánh sức mua: Thông qua TGHĐ ta có thể so sánh được giá
cả ở thị trường nội địa so với thị trường thế giới, từ đó thấy được mức chênh lệch vềnăng suất lao động ở trong nước với thế giới bên ngoài, biết được đồng tiền quốcgia này là bội số hay ước của số của đồng tiền quốc gia kia
Qua chức năng so sánh sức mua của các tiền tệ, TGHĐ trở thành công cụ quantrọng trong việc hoạch định các chính sách kinh tế đối ngoại, định hướng phát triểncác hoạt động ngoại thương, dịch vụ đối ngoại và các ngành kinh tế khác trongnước
Chức năng điều chỉnh xuất nhập khẩu và thu chi quốc tế: Thông qua việc ổnđịnh TGHĐ, Nhà nước sẽ có những tác động trực tiếp đến hoạt động xuất, nhậpkhẩu theo hướng khuyến khích hoặc hạn chế, từ đó điều chỉnh quan hệ thu chi quốc
tế, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế
Chức năng phân phối: Nhà nước có thể sử dụng TGHĐ như một công cụ đểđiều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại
Tóm lại, TGHĐ là một công cụ kinh tế hết sức quan trọng.Do đó, chính sách
tỷ giá đã trở thành một bộ phận cấu thành chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 74 Phân loại tỷ giá hối đoái
- Nếu dựa vào phương tiện chuyển hối:
+ Tỷ giá điện hối (T/T): Tức là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có giábằng ngoại tệ được chuyển bằng điện Đây là loại tỷ giá thường được niêm yết tạicác ngân hàng và là cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác
+ Tỷ giá thư hối (M/T): Tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư
- Nếu dựa vào phương tiện thanh toán quốc tế:
+ Tỷ giá séc và hối phiếu trả tiền ngay: được mua bán theo một tỷ giá mà cơ
sở để xác định nó bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi một đơn vị ngoại tệ trongtoàn bộ trị giá của séc và hối phiếu phát sinh theo số ngày cần thiết của bưu điện đểchuyển séc từ nước này sang nước khác và theo số ngày kể từ lúc ngân hàng bán hốiphiếu đến lúc hối phiếu được trả tiền
+ Tỷ giá hối phiếu có kì hạn: Bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh từlúc ngân hàng bán hối phiếu đến lúc hối phiếu đó được trả tiền Thời gian nàythường là bằng thời hạn trả tiền ghi trên hối phiếu cộng với thời gian chuyển tờ hốiphiếu đó từ ngân hàng bán hối phiếu đến ngân hàng đồng nghiệp của nó ở nước củangười có nghĩa vụ trả tiền hối phiếu.Thông thường lãi suất được tính theo lãi suấtcủa nước mà đồng tiền được ghi trên hối phiếu
Ví dụ: Tỷ giá điện hối ở New York đi Xingapo là 1USD =1,8 SGD và lãi suất
ở Cục dự trữ liên bang Hoa Kì là 2%/năm, thì giá của hối phiếu 1.000 USD có kìhạn 90 ngày là:
- Nếu căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh mua bán ngoại hối của ngân hàng:+ Tỷ giá mua: Là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào
+ Tỷ giá bán: Là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối ra
Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoản chênh lệch đó là lợinhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
Trang 8- Nếu căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại tệ:
+ Tỷ giá đóng cửa: Thông thường ngân hàng không công bố tất cả tỷ giá củacác hợp đồng đã kí kết trong một ngày mà chỉ công bố tỷ giá của hợp đồng kí cuốicùng trong ngày đó, người ta gọi là tỷ giá đóng cửa Tỷ giá đóng cửa được coi là chỉtiêu chủ yếu về tình hình biến động của tỷ giá trong ngày đó
+ Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá của chuyến giao dịch ngoại hối đầu tiên trong mộtngày
- Nếu căn cứ vào hình thức ngoại hối:
+ Tỷ giá tiền mặt
+ Tỷ giá chuyển khoản
Tỷ giá chuyển khoản bao giờ cũng cao hơn tỷ giá tiền mặt
- Nếu căn cứ vào phương thức giao nhận ngoại hối:
+ Tỷ giá giao nhận ngay: Tức là tỷ giá áp dụng khi bán ngoại hối thì đượcnhận tiền ngay vào ngày hôm đó hay trong vòng hai ngày làm việc sau đó
+ Tỷ giá giao nhận có kì hạn: Là tỷ giá áp dụng khi bán ngoại hối nhưng saumột thời gian nhất định mới nhận được tiền
- Nếu căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối:
+ Tỷ giá hối đoái chính thức: Do Nhà Nước qui định, áp dụng cho việc traođổi giữa chính phủ hoặc cơ quan Nhà Nước theo hiệp định hoặc nghị định thư.+ Tỷ giá tự do: Hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường
+ Tỷ giá chợ đen: Gắn với nạn đầu cơ, tích trữ ngoại tệ để buôn lậu, Nhà Nướckhông kiểm soát được
Tóm lại, tỷ giá là một trong những công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nềnkinh tế, điều tiết các hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước, vì vậy các nước đều
áp dụng chế độ nhiều tỷ giá chính thức để điều tiết nền kinh tế
Mục đích thi hành chế độ nhiều tỷ giá trước hết là để điều chỉnh cán cân ngoạithương, do đó điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái, đồng thờicòn có tác dụng như là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt hoặc làm tiền thưởng xuấtkhẩu, làm công cụ phục vụ chính sách bảo hộ mậu dịch và trong những trường hợp
Trang 9nào đó, làm tăng thu cho ngân sách nhà nước qua thu thuế bán ngoại hối.
Chế độ nhiều tỷ giá, dự hình thức muôn hình, muôn vẻ nhưng nhìn chung cónhững đặc điểm sau đây:
- Áp dụng TGHĐ cao đối với những hàng hoá xuất khẩu nào đó cần phải bánphá giá hàng hoá và áp dụng tỷ giá thấp đối với những hàng hoá không khuyếnkhích xuất khẩu
- Áp dụng TGHĐ cao đối với những hàng hoá cần phải hạn chế nhập khẩu,còn đối với hàng hoá cần khuyến khích nhập khẩu thì áp dụng TGHĐ thấp
- Áp dụng TGHĐ ưu đãi đối với khách du lịch, kiều hối và các tư nhân gửitiền vào trong nước
- Cần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào khu vực thị trường nào thì áp dụngTGHĐ cao
5 Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ
Sự hình thành TGHĐ là quá trình tác động của nhiều yếu tố chủ quan vàkhách quan Nhưng nhìn chung có ba yếu tố chính tác động đến tỷ giá Đó là mốiquan hệ cung cầu về ngoại tệ độ lệch về lãi suất và lạm phát giữa các nước
5.1 Cung và cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái
Các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối có thểbao gồm:
- Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế Nếu cán cânthanh toán quốc tế dư thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn cầungoại hối Ngược lại, thì cầu ngoại hối sẽ lớn hơn cung ngoại hối
- Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về hàng hoá và dịch vụnhập khẩu sẽ tăng do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu tănglên Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sảnxuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảmđi.Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong ngắn hạn việcgiảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao
Trang 10- Những nhu cầu ngoại hối bất thường tăng lên do thiên tai, hạn hán, lũ lụt, mấtmùa, chiến tranh cũng như do nạn buôn lậu gây ra.
5.2 Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá
Nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao hơn lãi suất tiền gửi của các nướckhác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do
đú sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống
5.3 Mức chênh lệch lạm phát của hai nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá
Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nướctương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giá biến động phụthuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền.Nước nào có mức độ lạm phátlớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền nước còn lại
Chênh lệch lạm phát dựa vào thuyết ngang giá sức mua của đồng tiền PPP Theo thuyết này, mức giá của một nước tăng lên tương đối so với mức tăng giá củanước khác trong dài hạn sẽ làm cho đồng tiền của nước đó giảm giá và ngượclại.Như vậy, yếu tố chênh lệch lạm phát chỉ có ảnh hưởng đến biến động của tỷ giátrong dài hạn.Việc nghiên cứu yếu tố này để làm cơ sở dự đoán biến động của tỷ giátrong ngắn hạn sẽ đem lại kết quả không đáng tin cậy
5.4 Những nhân tố khác ảnh hưởng đến tỷ giá
Ngoài những yếu tố nêu trên TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác,chẳng hạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền…Nhân tố quan trọng tác động đến tỷ giá hối đoái đó là tâm lý số đông.Ngườidân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh doanh ngoại tệ là các tácnhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối.Hoạt động mua bán của họ tạo nêncung cầu ngoại tệ trên thị trường.Các hoạt động đó lại bị chi phối bởi yếu tố tâm lý,các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai Điều này giải thích tại sao, giángoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai.Nếu mọi
Trang 11ngưòi kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi muangoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại; Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhậy cảmvới thông tin cũng như các chính sách của chính phủ.Nếu có tin đồn rằng Chính phủ
sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽđồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng
Nhìn chung, TGHĐ biến động tăng hoặc giảm là do tác động của nhiều yếu tốkhác nhau Do đó, để có một mức tỷ giá phù hợp cho từng thời kỳ, chúng ta cầnphải xác định được các yếu tố chủ quan, khách quan; trực tiếp và gián tiếp tác độnglên tỷ giá Trên cơ sở đó, mà đưa ra những quyết định chính sách đúng đắn trongviệc điều hành tỷ giá nhằm đạt các mục tiêu kinh tế cụ thể
TGHĐ chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau nhưng đồng thời nó cũng tácđộng tới nhiều mặt khác nhau của nền kinh tế trong đó quan trọng nhất là tới hoạtđộng xuất nhập khẩu và đầu tư, tín dụng quốc tế
Sự biến động của TGHĐ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thươngthông qua kênh giá cả.Dựa trên TGHĐ, chúng ta có thể tính được giá xuất nhậpkhẩu của một loại hàng hoá của một nước theo tiền tệ của một nước khác Vì vậy, tỷgiá thay đổi kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu Chẳng hạnkhi TGHĐ tăng, đồng nội tệ mất giá.Sự biến động này có lợi cho hoạt động xuấtkhẩu vì giá xuất khẩu của hàng hoá và dịch vụ của nước đó sẽ giảm đi tương đốitrờn thị trường nước ngoài, với điều kiện giá cả hàng hoá và dịch cụ đó giữ ở mức
ổn định trân thị trường nội địa Do đó, sẽ góp phần làm tăng khả năng cạnh tranhcủa hàng hoá, dịch vụ của nước đó.Khi TGHĐ tăng, giá cả hàng nhập khẩu sẽ đắtlên tương đối trờn thị trường nội địa với điều kiện giá nhập khẩu ổn định Chính vìvậy mà một số nước sử dụng chinh sách phá giá đồng nội tệ để hạn chế nhập khẩuNgoài ra, TGHĐ tăng hay giảm còn có ảnh hường không nhỏ tới dòng vốnngoại tệ lưu chuyển giữa các nước tức tới hoạt động đầu tư và tín dụng quốc tế.Tuynhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
Trang 12PHẦN II THỰC TRẠNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM
I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XĂNG DẦU VIỆT NAM
1 Giai đoạn trước năm 2000
Giai đoạn này kéo dài trên 10 năm, với sự gia tăng của các đầu mối nhập khẩu
từ một đầu mối duy nhất, tăng dần lên 5 và đến năm 1999, đã có 10 đầu mối thamgia nhập khẩu xăng dầu cho nhu cầu nội địa
Trong những năm từ 1989 đến 1992, khi không còn nguồn xăng dầu cung cấptheo Hiệp định với Liên xô (cũ), Nhà nước chuyển từ quy định "giá cứng" sang ápdụng giá chuẩn để phù hợp với việc hình thành nguồn xăng dầu nhập khẩu từ lượngngoại tệ do doanh nghiệp đầu mối tự cân đối, mua của các doanh nghiệp xuất khẩuqua ngân hàng hoặc hình thức uỷ thác bao tiêu xăng dầu cho doanh nghiệp có ngoại
tệ thu được từ xuất khẩu Vào giai đoạn này, nguồn ngoại tệ từ dầu thụ do Nhà nướcbảo đảm chỉ chiếm dưới 40% tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu Doanhnghiệp đầu mối được quyền quyết định giá bán +/- 10% so với giá chuẩn để bảođảm hoạt động kinh doanh
Từ năm 1993, để thống nhất quản lý giá bán, Nhà nước ban hành quy định giátối đa; doanh nghiệp tự quyết định giá bán buôn và bán lẻ trong phạm vi giá tối đa.Nhà nước xác định mức độ chịu đựng của nền kinh tế để xác định giá tối đa; việcđiều chỉnh giá tối đa ở giai đoạn này chỉ diễn ra khi tất cả các công cụ điều tiết đã sửdụng hết
Công cụ thuế nhập khẩu được sử dụng như một van điều tiết để giữ mặt bằnggiá tối đa, không tạo ra siêu lợi nhuận và doanh nghiệp cũng không phát sinh lỗ saumột chu kỳ kinh doanh
Phụ thu là một công cụ bổ sung cho thuế nhập khẩu khi mức thuế nhập khẩu
đã được điều chỉnh tăng hết khung, được đưa vào Quỹ Bình ổn giá do Nhà nướcquản lý
Lệ phí giao thông thu từ năm 1994 cũng được hình thành từ nguyên tắc tận thu
Trang 13cho ngân sách Nhà nước khi điều kiện cho phép, là khoản thu cố định và sau nàyđổi tên là phí xăng dầu.
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là: nhờ quy định của Nhà nước về giáchuẩn, doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh giá bán xăng dầu nhập khẩu thuộcnguồn ngoại tệ tự huy động từ các doanh nghiệp xuất khẩu, đảm bảo quyền lợi cho
họ thông qua tỷ giá phù hợp nên đã huy động được số ngoại tệ nhập khẩu gần 60%nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế sau khi không còn nguồn xăng dầu theo Hiệpđịnh
Chính chủ trương không áp dụng cơ chế bù giá cho các đối tượng sử dụngxăng dầu thông qua doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là điều kiện quyết định đểViệt Nam có thể tự cân đối được ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu ngay cả khi nguồnngoại tệ tập trung của Nhà nước từ dầu thụ mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 50% sovới tổng nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu xăng dầu lúc đó
Giai đoạn này cũng là thời kỳ giá xăng dầu thế giới ở mức đáy (dầu thụ chỉ ởmức trên 10 usd/thăng), tương đối ổn định nên với cơ chế giá tối đa, Nhà nước đãđạt được mục tiêu đề ra, cụ thể là (1)/ Cân đối cung - cầu được đảm bảo vững chắc;(2)/ Các hộ sản xuất và người tiêu dùng lẻ được hưởng mức giá tương đối ổn định;biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song mức tăng đều, không gây khó khănnhiều cho sản xuất và tiêu dùng khi chủ động hoạch định được ngân sách cho tiêuthụ xăng dầu hàng năm; (3)/ Ngân sách Nhà nước tăng thu thông qua việc tận thuthuế nhập khẩu, phụ thu, phí xăng dầu; (3)/ Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư pháttriển, định hình hệ thống cơ sở vật chất, từ cầu cảng, kho đầu mối, kho trungchuyển, phương tiện vận tải đến mạng lưới bán lẻ
Mặc dự vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã bộc lộkhá rõ những nhược điểm mà nổi bật là tương quan giá bán giữa các mặt hàngkhông hợp lý dẫn đến tiêu dùng lãng phí, nhà đầu tư không có đủ thông tin để tínhtoán đúng hiệu quả đầu tư nên chỉ cần thay đổi cơ chế điều hành giá sẽ làm ảnhhưởng rất lớn sử dụng nhiên liệu, nhiều nhà sản xuất thậm chí đã phải thay đổi côngnghệ do thay đổi nhiên liệu đốt (thay thế madut, dầu hoả bằng than, trấu, gas); gian
Trang 14lận thương mại xuất hiện do định giá thấp đối với mặt hàng chính sách (dầu hoả);Nhà nước giữ giá ổn định trong một thời gian quá dài thoát ly giá thế giới tạo sức ỳ
và tâm lý phản ứng của người sử dụng về thay đổi giá mà không cần xét đến nguyênnhân và sự cần thiết phải điều chỉnh tăng giá
Ở cuối của giai đoạn này giá thế giới- nguồn-thị trường đã có dấu hiệu biếnđộng mạnh, ở mức cao hơn; các cân đối cung cầu và ngân sách, chỉ tiêu tăng trưởngkinh tế và lạm phát…đều có nguy cơ bị phá vỡ khi tình trạng đó kéo dài; trong khichưa tìm được cơ chế điều hành thích hợp, vì mục tiêu ổn định để phát triển kinh tế
xã hội, Nhà nước đã sử dụng biện pháp bình ổn giá, khởi đầu cho giai đoạn bù giácho người tiêu dùng qua doanh nghiệp nhập khẩu trong gần 10 năm tiếp theo
2 Giai đoạn từ năm 2000 đến trước thời điểm Nhà nước công bố chấm dứt bù giá, vận hành giá xăng dầu theo thị trường (tháng 9/2008)
Về cơ bản, nội dung và phương thức quản lý điều hành hoạt động kinh doanhxăng dầu vẫn chưa có sự thay đổi so với giai đoạn trước đó
Trong khi đó, từ đầu những năm 2000, biến động giá xăng dầu thế giới đã cónhững thay đổi căn bản; mặt bằng giá mới hình thành và liên tiếp bị phá vỡ để xáclập mặt bằng mới trong các năm tiếp theo Do tiếp tục chính sách bù giá cho ngườitiêu dùng thông qua doanh nghiệp nhập khẩu khi cố gắng giữ mức giá nội địa ở mứcthấp nên số tiền ngân sách bù giá ngày càng gia tăng, từ 1000 tỷ (năm 2000) lên đến
22 nghìn tỷ đồng năm 2008; loại trừ yếu tố trượt giá thì đây cũng là một tốc tộ tăngquá cao; chưa có đánh giá nào đề cập đến khía cạnh này song xét đơn thuần trên sốliệu, nếu đầu tư hàng ngàn tỷ đồng này cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinhdoanh xăng dầu, đã có thể tạo lập một hệ thống kinh doanh xăng dầu đủ lớn và hiệnđại, có khả năng cạnh tranh khi mở cửa thị trường xăng dầu trong tương lai gần.Cũng trong giai đoạn này, sau khi nổ ra cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 2;giá xăng dầu đã dịu lại song cũng đã hình thành một mặt bằng mới; trước nguy cơkhông thể cân đối ngân sách cho bù giá xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg ngày 15/9/2003 về kinh doanh xăng dầu Cho đến thời điểm này, sự đổi mới cơ chế quản lý, chủ yếu là quản lý giá theo
Trang 15Quyết định 187 vẫn được coi là mạnh mẽ nhất với các tư tưởng cơ bản bao gồm:
- Nhà nước xác định giá định hướng; doanh nghiệp đầu mối được điều chỉnh tănggiá bán trong phạm vi + 10% (đối với xăng) và + 5% (đối với các mặt hàng dầu)
- Hình thành 2 vùng giá bán; giá bán tại vùng xa cảng nhập khẩu, doanhnghiệp được phép cộng tới vào giá bán một phần chi phí vận tải nhưng tối đa khôngvượt quá 2% so với giá bán ở vùng gần cảng nhập khẩu
- Chỉ thay đổi giá định hướng khi các yếu tố cấu thành giá thay đổi lớn, Nhànước không còn công cụ điều tiết, bảo đảm các lợi ích của người tiêu dùng - Nhànước và doanh nghiệp
Tuy nhiên, vì những lý do khách quan, sự đột phá cơ chế điều hành giá trong
QĐ 187 chưa được triển khai trên thực tế; cho đến hiện nay, Nhà nước tiếp tục điềuhành và can thiệp trực tiếp vào giá bán xăng dầu, kể cả chiều tăng và giảm
Trong giai đoạn này, mặc dự chưa vận hành điều khoản về giá xong sự ra đờicủa QĐ 187 năm 2003 và NĐ 55 năm 2007 đã tạo ra một hệ thống phân phối rộngkhắp với gần 10.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước, góp phần ổn định, lành mạnhhóa thị trường trước đây khá lộn xộn khi thiết lập quan hệ giữa người nhập khẩu vàcác đại lý, tổng đại lý khi gắn trách nhiệm, quyền lợi của doanh nghiệp đầu mối vớicác đại lý, tổng đại lý cũng như giúp cơ quan quản lý chức năng, người tiêu dùngcùng tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các đại lý, tổng đại lý trong việcchấp hành quy định kinh doanh xăng dầu
Đánh giá chung cho giai đoạn này, có thể thấy quyết tâm rất cao để đổi mới cơchế quản lý kinh doanh xăng dầu thể hiện qua 2 văn bản pháp quy là QĐ 187 và NĐ
55 song cho đến hiện nay, văn bản đã không đi vào thực tế kinh doanh (trừ hệ thốngphân phối được thiết lập nhưng việc kiểm soát tính tuân thủ hầu như chưa thực hiệnđược) Yếu tố ổn định giá vẫn được đặt lên hàng đầu và chính nó đã làm cho các cơquan quản lý Nhà nước lúng lúng khi phải điều hành đạt các mục tiêu dường nhưmâu thuẫn nhau ở cùng một thời điểm
Việc áp dụng một biện pháp duy nhất (biện pháp bù giá), làm cho giá nội địa