Thềm lục địa (TLĐ) là đối tượng được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu biển hiện nay vì không những mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế như khoáng sản, nguồn lợi thủy sản, giao thông hàng hải ... mà còn là nơi thường xảy ra những tai biến thiên nhiên tiềm ẩn như bồi tụ, xói lở bờ; động đất, sóng thần... Với đặc trưng địa hình có độ dốc tương đối lớn, chiều rộng hẹp, TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận còn là đối tượng cần quan tâm về lĩnh vực anh ninh, quốc phòng. Trong các công trình nghiên cứu địa chấtkhoáng sản, địa kỹ thuậtđịa chất môi trường và tai biến địa chất, nghiên cứu tướng đácổ địa lý và tiến hóa trầm tích PliocenĐệ tứ được coi là cơ sở khoa học quan trọng. Tuy nhiên, trước đây mới chỉ dừng lại trên cơ sở số liệu rời rạc và chưa đầy đủ, đặc biệt là ở độ sâu từ 30m nước trở ra. Những năm gần đây, số liệu ở những vùng nước sâu hơn đã được cập nhật thêm nhiều thông qua các đề tài, dự án cho phép thực hiện nghiên cứu tiến hóa trầm tích PilocenĐệ tứ toàn TLĐ Nam Trung bộ bài bản hơn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Hà Nội - 2012
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Nghi
TS Doãn Đình Lâm
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Xuân Khiển
Phản biện 2: PGS.TS Chu Văn Ngợi
Phản biện 3: TS Nguyễn Xuân Huyên
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến
sĩ họp tại: Phòng Hội thảo (tầng 4, nhà T1), Trường đại học Khoa học
Tự nhiên - ĐHQGHN, số 334 Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi: 14giờ 00' ngày 01 tháng 02 năm 2012
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thềm lục đ ịa (TLĐ) là đối tượng được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu biển hiện nay vì không những mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế như khoáng sản, nguồn lợi thủy sản, giao thông hàng hải mà còn là nơi thường xảy
ra những tai biến thiên nhiên tiềm ẩn như bồi tụ, xói lở bờ; động đất, sóng thần Với đặc trưng địa hình có độ dốc tương đối lớn, chiều rộng hẹp, TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận còn là đối tượng cần quan tâm về lĩnh vực anh ninh, quốc phòng Trong các công trình nghiên cứu địa chất-khoáng sản, đ ịa kỹ thuật-địa chất môi trường và tai biến đ ịa chất, nghiên cứu tướng đá-cổ địa lý và tiến hóa trầm tích Pliocen-Đệ tứ được coi là cơ sở khoa học quan trọng Tuy nhiên, trước đây mới chỉ dừng lại trên cơ sở số liệu rời rạc và chưa đầy đủ, đặc biệt là ở độ sâu
từ 30m nước trở ra Những năm gần đây, số liệu ở những vùng nước sâu hơn đã được cập nhật thêm nhiều thông qua các đề tài, dự án cho phép thực hiện nghiên cứu tiến hóa trầm tích Pilocen-Đệ tứ toàn TLĐ Nam Trung bộ bài bản hơn
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
Luận án tập trung nghiên cứu đặc điểm tướng trầm tích và địa tầng phân tập (ĐTPT) với mục đích làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa các thành tạo trầm tích Pliocen-
Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận trong mối quan hệ với dao động mực nước biển (DĐMNB) và chuyển động kiến tạo (CĐKT) theo các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu đặc điểm và quy luật phân bố tướng trầm tích Pliocen-Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận,
- Nghiên cứu ĐTPT trầm tích Pliocen-Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận,
- Nghiên cứu tiến hóa trầm tích Pliocen-Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận trong mối quan hệ với DĐMNB và CĐKT
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ GIÁ TRỊ THỰC TIỄN
- Góp phần lựa chọn mô hình ĐTPT phù hợp áp dụng nghiên cứu trầm tích Pliocen-Đệ tứ TLĐ và các vùng đồng bằng ven biển
- Làm cơ sở khoa học phục vụ nghiên cứu địa chất khoáng sản, đ ịa kỹ thuật - địa chất môi trường và DĐMNB trong Pliocen-Đệ tứ
NHỮNG ĐIỂM MỚI CHỦ YẾU CỦA LUẬ N ÁN
- Phân tích, lựa chọn mô hình ĐTPT phù hợp cho nghiên cứu tiến hóa trầm tích Pliocen - Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận nói riêng và TLĐ Việt Nam nói chung
- Trầm tích Pliocen - Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận được phân chia thành 8 tập tương ứng với 8 chu kỳ trầm tích
Trang 4- Quy luật chuyển tướng theo không gian và thời gian trong các vùng đồng bằng ven biển và TLĐ và thực tế chuyển tướng ở vùng TLĐ nghiên cứu được xác lập gắn với các miền hệ thống trầm tích (MHTTT)
- Chu kỳ trầm tích cuối cùng của Đệ tứ ở Việt Nam có tuổi Pleistocen muộn, phần muộn - Holocen (Q1
3b
-Q2)
NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
Luận điểm 1 Trầm tích Pliocen - Đệ tứ vùng TLĐ từ Quảng Nam đến Bình
Thuận gồm 8 tập (sequence), 3 tập trong Pliocen: S1(N2
Luận điểm 2 Trầm tích Pliocen - Đệ tứ TLĐ từ Quảng Nam đến Bình Thuận
tiến hóa theo 8 chu kỳ (N2
1
, N2 2
, N2 3
, Q1 1
, Q1 2a
, Q1 2b
: Q1 3a
, Q1 3b
-Q2) tương ứng 8 chu kỳ DĐMNB tương đối Trầm tích có kích thước hạt mịn dần từ dưới lên trong mỗi chu kỳ và có xu hướng giảm dần từ chu kỳ 4 đến chu kỳ 8
CƠ SỞ TÀI LIỆU CỦA LUẬN ÁN
Luận án được xây dựng trên cơ sở các tài liệu NCS thu thập và trực tiếp thực hiện, bao gồm:
(1) Các đề tài, đề án, dự án các cấp NCS trực tiếp tham gia:
a Đề án “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ (0-30m
nước) Việt nam tỷ lệ 1/500.000” (1991-2000)
b Đề án “Điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa chất
vùng biển Nam Trung bộ từ 0-30m nước ở tỷ lệ 1/100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1/50.000" (2001-2005)
c Đề tài cấp nhà nước "Thành lập bản đồ địa chất Biển Đông và các vùng kế cận
tỷ lệ 1/1.000.000", mã số KC09-23 (2004-2006)
d Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đặc điểm địa chất - địa chất công trình TLĐ
miền Trung phục vụ cho việc xây dựng công trình và định hướng phát triển kinh tế biển”, mã số: KC.09.01/06-10 (2006-2009)
e Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu ĐTPT (Sequence stratigraphy) các bể trầm
tích sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn nhằm đánh giá tiềm năng khoáng sản”, mã số: KC.09.20/06-10 (2008-2010)
Trang 5f Dự án "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất
môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam từ 30m nước đến 100m nước, tỷ lệ 1:500.000" (2007-2011)
(2) Các kết quả, số liệu phân tích và mẫu NCS thực hiện gồm khoảng: 1.000 mẫu
độ hạt; 250 mẫu lát mỏng thạch học bở rời; 200 mẫu phân tích rơnghen định lượng; 200 mẫu phân tích hóa silicat; 200 mẫu các loại chỉ tiêu địa hóa môi trường: Eh, pH, Chc, Kt; 50 mẫu đồng vị phóng xạ C14; 2.500 km tuyến địa chấn dầu khí; 2.000 km tuyến địa chấn nông phân giải cao
(3) Các tài liệu tham khảo trong và ngoài nước liên quan đến luận án
BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm 180 trang đánh máy, 13 biểu bảng, 125 hình minh họa và
77 tài liệu tham khảo với bố cục như sau:
- Mở đầu
- Chương 1 Đặc điểm địa chất khu vực
- Chương 2 Lịch sử nghiên cứu, cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3 Đặc điểm tướng trầm tích Pliocen-Đệ tứ thềm lục địa từ Quảng Nam đến Bình Thuận
- Chương 4 Địa tầng phân tập trầm tích Pliocen-Đệ tứ thềm lục địa từ Quảng Nam đến Bình Thuận
- Chương 5 Tiến hóa trầm tích P liocen-Đệ tứ thềm lục đ ịa từ Quảng Nam đến Bình Thuận
- Kết luận
Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
Vùng nghiên cứu kéo dài từ 11o00’ đến 16o00’ vĩ độ bắc và từ 107o30’ đến
110o00’ kinh độ đông, là lãnh hải của các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận 1.1 ĐỊA TẦNG
1.1.1.Địa tầng trước Đệ tứ
Địa tầng trước Đệ tứ bao gồm các thành tạo có mặt từ Arkei đến Pliocen với các hệ tầng sau:
- Giới Arkei: Hệ tầng Kim Sơn (AR ks)
- Giới Paleozoi: Hệ tầng A Vương (2 - O1 av)
- Giới Mesozoi: Hệ tầng La Ngà (J2 ln), Hệ tầng Nha Trang (K nt)
- Các thành tạo Kainozoi phát triển khá rộng rãi ở vùng ven biển và biển Trên các đồng bằng ven biển, chỉ gặp các thành tạo Neogen - Đệ tứ Trong TLĐ vùng nghiên cứu, các thành tạo Kainozoi phát triển kéo dài từ phần phía nam bể
Trang 6Sông Hồng đến phần đông bắc bể Cửu Long Từ Paleogen đến Pliocen gồm các
Trong vùng ven biển và biển ven bờ gặp các thành tạo magma thuộc các phức
hệ sau: Phức hệ Đại Lộc (GD1đl), Phức hệ Vân Canh (GT2vc), Phức hệ Hải Vân
(GT3hv), Phức hệ Định Quán, pha 2 (GDi/J3đq2), Phức hệ Đèo Cả (G-GSy/Kđc),
Phức hệ Cà Ná (GK2cn), Phức hệ Bà Nà (GK-E bn)
1.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - KIẾN TẠO
Các yếu tố cấu trúc Kainozoi vùng nghiên cứu bao gồm: Thềm Đà Nẵng, Phụ
bể Huế - Đà Nẵng, Địa hào Quảng Ngãi, Địa lũy Tri Tôn, Bể Phú Khánh, Thềm Phan Rang, Đới cắt trượt Tuy Hòa và Bể Cửu Long
Chương 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực này bắt đầu từ trước năm 1975, tuy nhiên còn ở mức khái quát, rời rạc Chỉ sau 1975 và đặc biệt là sau năm 1980 mới
có nhiều công trình nghiên cứu chi tiết và có giá trị khoa học cao Đầu tiên phải
kể đến hàng loạt các tuyến địa vật lý và giếng khoan dầu khí được thực hiện với mục đích tìm kiếm và thăm dò dầu khí Những công trình nghiên cứu khoa học biển đầu tiên là "Chương trình Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải" năm 1977 - 1981 Tiếp theo là các chương trình "Dải ven bờ" (1981 - 1985),
"Chương trình 52-E" (1985-1990), "KT-01" (1991-1995), "KHCN-06" (1996-2000), KC-09 (2000-2005), KC-09/06-10 (2006-2010) và nhiều đề tài nghiên cứu độc lập khác Các đề án của ngành địa chất đầu tiên nhiên cứu một cách bài bản bắt đầu từ
1991 đến nay Đó là các đề án: “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (0-30m nước) tỉ lệ 1/500.000” do TSKH Nguyễn Biển chủ biên (1991-2001) Đề án “Điều tra địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường và tai
Trang 7biến địa chất vùng biển Nam Trung bộ từ 0-30m nước ở tỷ lệ 1:100.000 và một số vùng trọng điểm ở tỷ lệ 1:50.000” do TS Đào Mạnh Tiến chủ biên (2001-2006)
Dự án "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển từ 30 đến 100m nước, tỷ lệ 1/500.000"
do TS Đào Mạnh Tiến và ThS Trịnh Nguyên Tính đồng chủ biên
Như vậy, trong khu vực nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau được thực hiện Các công trình nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí chủ yếu tập trung vào phân chia chi tiết đ ịa tầng từ Oliocen đến Miocen trên cơ sở sinh đ ịa tầng và thạch đ ịa tầng Đề tài KC09.20/06.10 đã phân chia đ ịa tầng 3 bể Sông Hồng, Cửu Long và Nam Côn Sơn trên cơ sở ĐTPT
và phân tích tướng, tuy nhiên phần phía nam bể Sông Hồng và phía bắc bể Cửu Long ít được quan tâm nghiên c ứu chi tiết Các đề án, dự án do Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển chỉ mới dừng lại ở đ ộ sâu 100m nước, trong vùng nghiên cứu chỉ có một số ít các mặt cắ t đ ịa chất Đệ tứ được thành lập Mặt khác quan đ iểm phân chia đ ịa tầng Đệ tứ dưới biển chủ yếu kế thừa
tư duy nghiên cứu trên lục đ ịa, chưa sử dụng phương pháp ĐTPT Các đề tài cấp nhà nước nghiên cứu đ ịa chất và tướng đá-cổ đ ịa lý P liocen-Đệ tứ trên TLĐ đã bước đầu sử dụng phương pháp ĐTPT, tuy nhiên còn nhiều quan điểm chưa thống nhất giữa các nhà khoa học
2.2 CƠ SỞ TÀI LIỆU
Cơ sở tài liệu phục vụ luận án bao gồm các tài liệu địa chấn, địa chất được liệt
kê ở phần mở đầu
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp luận
Để nhận biết về lịch sử tiến hóa trầm tích P liocen-Đệ tứ TLĐ Nam Trung
Bộ, bắt buộc phải xem xét bản chất các thực thể trầm tích gắn liền với cơ chế
và quá trình thành tạo ra chúng dưới tác đ ộng đan xen của các yếu tố đ ộng lực nội, ngoại sinh quan trọng sau đây: CĐKT; Địa hình đáy bể; DĐMNB;
Cổ khí hậu; Môi trường trầm tích CĐKT đ ịa phương là yếu tố quan trọng quyết đ ịnh quá trình hình thành vật liệu vụn, hình thái đ ịa hình c ủa vùng xâm thực và đáy bể trầm tích, là một trong những nguyên nhân làm DĐMNB tương đối DĐMNB là nhân tố trực tiếp làm thay đ ổi môi trường trầm tích dẫn đến thay đổi thành phần và cấu trúc trầm tích Điều kiện cổ khí hậu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phương thức phong hóa thành tạo vật liệu, quá trình vận chuyển và lắng đ ọng trầm tích vô cơ và hình thành trầm tích hữu cơ
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp địa chất trầm tích bao gồm:
Trang 8- Phương pháp phân tích thành phần vật chất gồm các phương pháp xác định thành phần độ hạt; xác định cấu tạo, kiến trúc trầm tích; xác định thành phần khoáng vật, hóa học; các chỉ tiêu địa hóa môi trường trầm tích
- Phương pháp phân loại trầm tích
- Phương pháp xác định tuổi tuyệt đối: carbon 14 - (14C), nhiệt huỳnh quang (TL), nhiệt huỳnh quanh kích thích (OSL)
- Phương pháp phân tích tướng trầm tích
Phương pháp địa chấn - địa tầng
Phương pháp đ ịa chấn địa tầng là phương pháp minh giải tài liệu địa chấn phản xạ dựa trên cơ sở nghiên cứu các mối tương quan giữa các đặc điểm trường sóng địa chấn với các đặc điểm địa chất như tính phân lớp, sự thay đổi thành phần thạch học, điều kiện lắng đọng trầm tích
Phương pháp ĐTPT
ĐTPT là phương pháp phân tích địa tầng mới cả về khoa học lẫn thực tiễn, phân chia đối sánh và liên kết địa tầng dựa trên mối quan hệ giữa tốc độ DĐMNB, CĐKT và cung cấp trầm tích
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG TRẦM TÍCH PLIOCEN - ĐỆ TỨ THỀM LỤC ĐỊA
TỪ QUẢNG NAM ĐẾN BÌNH THUẬN
3.1 ĐỘ SÂU VÀ BỀ DÀY CÁC THÀNH TẠO PLIOCEN-ĐỆ TỨ
3.1.1 Độ sâu và bề dày trầm tích Pliocen
Cấu trúc đáy Pliocen có tính phân dị rõ nét, kế thừa cấu trúc Kainozoi của 3
bể Sông Hồng, Phú Khánh và Cửu Long Khu vực Nam bể Sông Hồng đáy Pliocen sâu dần từ thềm Đà Nẵng về phía đông sau đó lại nâng dần trở lại Độ sâu đáy lớn nhất khoảng 1500m Khu vực bể Phú Khánh, mặt đáy Pliocen nghiêng thoải từ tây sang đông, độ sâu đáy Pliocen lớn nhất vào khoảng 5400m ở phía nam của bể Khu vực Đông bắc bể Cửu Long đáy Pliocen phân dị không rõ, độ sâu lớn nhất khoảng hơn 2000m
3.1.2 Độ sâu và bề dày trầm tích Đệ tứ
Trong khu vực nghiên cứu, tính từ đới bãi triều đến mép TLĐ hiện tại, độ sâu đáy và bề dày trầm tích Đệ tứ tăng dần Từ mép thềm trở ra, độ sâu đáy tăng dần nhưng bề dày lại giảm dần
3.2 ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG TRẦM TÍCH PLIOCEN – ĐỆ TỨ
3.2.1 Khái quát
Trang 9Nghiên cứu tướng trầm tích chứa đựng các nội dung hết sức phong phú phản ánh những đặc trưng về thành phần thạch học, cổ sinh vật và môi trường thủy động lực cũng như đặc trưng địa hoá môi trường vận chuyển và lắng đọng trầm tích v.v là một nội dung quan trọng bậc nhất phục vụ nghiên cứu lịch sử tiến hóa trầm tích
3.2.2 Đặc điểm tướng trầm tích giai đoạn Pliocen
Trong các mặt cắt địa chấn dầu khí, dựa trên đặc trưng của các trường sóng phản xạ đã xác định được 3 tập tương ứng với ba giai đoạn đó là Pliocen sớm (N2
Định, Phú Yên, Ninh Thuận và Bình Thuận
3.2.2.1 Giai đoạn Pliocen sớm (N 2
Hình 3.12 Mặt cắt địa chấn thể hiện các tướng trầm tích Pliocen
- Tướng cát sạn, cát, cát bùn, bùn cát sông biển (amN 2
1
)
Tướng sông biển phân bố dưới các thành tạo trẻ hơn, ở độ sâu lớn hơn 50m nước cho đến mép TLĐ, phát hiện trên các băng địa chấn, phản xạ với biên độ yếu-trung bình (hình 3.12) Tính từ mép thềm về phía bờ, bề dày trầm tích mỏng dần Vùng đồng bằng ven biển chỉ gặp chúng trong các lỗ khoan LKC2; LK704; LKC10 và BS.37 ở Quảng Nam, trầm tích là cát kết, cát bột kết, cát- sạn kết chứa cuội xen kẽ các lớp bột màu xám xanh, xám vàng chứa foraminifera
- Tướng trầm tích bùn cát biển (mN 2
1
)
Trang 10Tướng trầm tích biển phân bố rộng rãi trong vùng từ độ sâu khoảng 30m nước trở ra, bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn Gặp hầu hết trong các mặt cắt địa chấn, đặc trưng trường sóng liên tục, biên độ phản xạ mạnh, tần số thấp (hình 3.12) Trong vùng đồng bằng chỉ bắt gặp ở Quảng Nam trầm tích gồm: bột sét kết, sét bột kết xen cát kết chứa sạn màu xám xanh, xám vàng loang lổ chứa di tích foraminifera và rong biển
3.2.2.2 Giai đoạn Pliocen giữa (N 2
là kiểu xich ma tăng trưởng (hình 3.12) Tướng trầm tích này bắt gặp trong các lỗ khoan máy đồng bằng Quảng Nam và Phan Thiết bao gồm: cát sét lẫn sạn sỏi có chứa di tích tảo biển và tảo nước ngọt
- Tướng bùn cát biển nông (mN 2
2
)
Tướng trầm tích này cũng bắt gặp trong hầu hết các mặt cắt địa chấn với đặc trưng trường sóng song song, liên lục, biên độ phản xạ mạnh, tần số cao đặc trưng cho trầm tích hạt mịn phân lớp ngang song song thành tạo trong môi trường biển TLĐ Ngoài ra còn gặp trong các lỗ khoan đồng bằng Quảng Nam và Phan Thiết Tại Phan Thiết, tướng trầm tích này gặp ở độ sâu 59,4 - 64m là bột sét pha cát màu sắc loang lổ chứa di tích tảo biển
3.2.2.3 Giai đoạn Pliocen muộn (N 2
- Tướng cát, cát sạn chứa cuội sông biển (amN 2
3
)
Tướng trầm tích này phát hiện khá phổ biến, đặc biệt là mép phía đông của địa hào Quảng Ngãi và mép TLĐ Phú Khánh dưới dạng cấu tạo xích ma tăng
Trang 11trưởng, trong đồng bằng Quảng Nam và Phan Thiết trầm tích là cát lẫn sạn sỏi màu xám chứa di tích tảo nước ngọt và nước mặn
- Tướng bùn,bùn cát biển nông (mN 2
3.2.3 Đặc điểm tướng trầm tích giai đoạn Đệ tứ
3.2.3.1 Giai đoạn Pleistocen sớm (Q 1
Hình 3.17 Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến MĐC 89-90
- Tướng bùn cát, cát bùn sạn sông biển (amQ 1
1
)
Tướng trầm tích bắt gặp tương đối phổ biến Trên các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, đặc trưng của trường sóng là biên độ phản xạ yếu-trung bình, tần số thấp và đứt đoạn phản ánh trầm tích không đồng nhất, thành phần chủ yếu là hạt mịn: bùn cát, cát bùn lẫn sạn
- Tướng bùn, bùn cát, cát biển nông (mQ 1
1
)
Phân bố rộng rãi trong khắp vùng biển nghiên cứu Trường sóng phản xạ song song, liên tục, biên độ mạnh, tần số cao đặc trưng cho trầm tích hạt mịn-
Trang 12trung phân lớp ngang song song Bề dày trung bình khoảng 10m, nghiêng dần từ ven bờ đến mép thềm
3.2.3.2 Giai đoạn Pleistocen giữa, phần sớm (Q 1
2a
)
Đầu Pleistocen giữa là giai đoạn biển thoái, trong cột địa tầng trầm tích xuất hiện các tướng hạt thô lòng sông phổ biến trên các đồng bằng ven biển và tướng sông biển phổ biến trên TLĐ hiện tại Cuối Pleistocen giữa, phần sớm, quá trình biển tiến đã hình thành các tướng sông biển phổ biển trên lục địa và tướng biển nông trên cả thềm và lục địa hiện tại
- Tướng sạn cát bùn sông (aQ 1
2a
)
Trầm tích tướng này chỉ bắt gặp trong các lỗ khoan bãi triều và đồng bằng ven biển Tại lỗ khoan LK2-KH Khánh Hòa, gặp ở độ sâu từ 18,0 - 19,8m, trầm tích là sạn cát bùn màu xám sáng đến xám vàng, đáy có lớp cuội granit kích thước 2-3cm phủ BCH trên granit phức hệ Định Quán
- Tướng cát sạn, cát bùn lẫn sạn sông biển (amQ 1
2a
)
Trên TLĐ vùng nghiên cứu tướng trầm tích này bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn, phân bố rất phổ biến, cấu tạo đặc trưng trên các băng địa chấn là dạng đơn nghiêng, biên độ phản xạ yếu-trung bình, kết thúc phản xạ dạng phủ đáy và chống nóc, đặc trưng cho tướng châu thổ ngập nước, đôi nơi bị bào mòn cắt cụt do đào khoét lòng sông cổ Tại lỗ khoan bãi triều LK4-BT (Bình Thuận), trầm tích bắt gặp ở độ sâu 43-47,2m là cát sạn đa khoáng màu xám nâu vàng chứa vụn vỏ sò
- Tướng bùn, bùn cát lẫn sạn biển nông (mQ 1
2a
)
Phân bố rất phổ biến trong vùng nghiên cứu, bắt gặp trong tất cả các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao với kiểu phản xạ song song, liên tục, biên độ mạnh, tần số cao Chúng thường phủ trên trầm tích sông biển cùng tuổi và kéo dài liên tục từ lục địa ra mép thềm Trong đới bãi triều, đặc trưng của tướng trầm tích này
là hạt mịn, màu sắc loang lổ, đôi nơi chứa kết vón laterit
3.2.3.3 Giai đoạn Pleistocen giữa, phần muộn (Q 1
- Tướng sạn cát, cát sạn, sạn cát bùn sông biển (amQ 1
2b
)
Phân bố rất phổ biến, thường từ thềm ngoài đến mép thềm Đặc trưng cho tướng này là kiểu phản xạ đơn nghiêng hoặc xích ma tăng trưởng, kết thúc phản xạ kiểu phủ đáy về phía biển, gá đáy về phía lục địa và chống nóc hoặc bào mòn phía trên tập Phản xạ trong tập với biên độ yếu, độ liên tục kém
Trang 13- Tướng cát bùn, cát bùn sạn biển nông (mQ 1 )
Tướng trầm tích này phân bố rộng rãi trong vùng nghiên cứu, bắt gặp trong các băng địa chấn nông phân giải cao, lỗ khoan bãi triều và đồng bằng ven biển (hình 3.17) Trong các băng địa chấn, trầm tích tướng này có kiểu phản xạ song song, liên tục, biên độ phản xạ mạnh, phân bố gần như liên tục từ bờ ra mép thềm
Ở đới biển nông ven bờ (0-50m nước) trầm tích tướng này phủ BCH trên trầm tích biển Pleistocen giữa, phần sớm (mQ1
Chỉ bắt gặp trong một số mặt cắt địa chấn nông phân giải cao dạng đào khoét
và lấp đầy kiển phân kỳ hoặc gá đáy song song Biên độ phản xạ yếu, không liên tục
- Tướng sạn cát bùn, cát bùn lẫn sạn, bùn cát sông biển (amQ 1
3a
)
Trầm tích tướng sông biển phổ biến trên khắp vùng biển nghiên cứu Trong các băng địa chấn nông phân giải cao, phản xạ đặc trưng của tướng này có dạng tăng trưởng xiên chéo, kết thúc phản xạ dạng phủ đáy và có xu hướng chụm lại ở phía biển (cuối nguồn trầm tích) biên độ phản xạ trung bình - yếu, liên tục hoặc đứt đoạn đặc trưng cho tướng châu thổ ngập nước Trong đới biển nông ven bờ trầm tích gặp trong các lỗ khoan Ở lỗ khoan LK1-TH, độ sâu 51,0 - 55m là sạn cát bùn đa khoáng giàu felspat sắc cạnh màu xám
- Tướng trầm tích cát bùn, bùn cát lẫn sạn biển nông (mQ 1
3a
)
Thường lộ ra thành từng diện nhỏ ở độ sâu từ 20 - 50m nước và độ sâu lớn hơn 120m nước Ở đới trong (20-50m nước) trầm tích biển thường bị phong hóa loang lổ Ở đới ngoài trầm tích vẫn giữ nguyên màu sắc nguyên sinh do không lộ
ra trong điều kiện lục địa Trong các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, trầm tích thường có dạng phản xạ ngang song song, liên tục, biên độ phản xạ mạnh
3.2.3.5 Giai đoạn Pleistocen muộn, phần muộn - Holocen (Q 1
3b
-Q 2 )
Đầu giai đoạn này (khoảng 40.000 - 18.000 năm cách ngày nay) biển rút xuống đến độ sâu từ 100 - 120 m so với mực biển hiện tại Sau đó mực nước biển dâng trở lại từ độ sâu này đến độ cao khoảng 5 m trong khoảng thời gian từ 18.000 - 5.000 năm cách ngày nay Từ 5.000 - 1.000 năm trước mực nước biển lại
hạ xuống độ sâu - 1m, sau đó lại dâng trở lại đến mực biển hiện tại Như vậy, Trong giai đoạn này có hai lần mực nước biển dâng và hai lần mực nước biển hạ, tuy nhiên biên độ giao động mực nước biển trong lần giao động thứ nhất lớn hơn nhiều so với lần thứ hai do đó đối với nghiên cứu tiến hóa trầm tích Đệ tứ ở TLĐ
có thể xếp hai thời kỳ này vào cùng một giai đoạn