- Ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm tin học: Để thực hiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu và đưa ra các phương án TKBG dạy học ĐLĐP ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang, tác gi
Trang 1Việc giảng dạy Địa lí địa phương sẽ góp phần bổ xung kiến thức về địa phương cho học sinh, tạo điều kiện cho các em tìm hiểu và đánh giá đúng tiềm năng các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thực trạng kinh tế
xã hội địa phương, từ đó giúp các em định hướng nghề nghiệp góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp hơn, đồng thời làm giàu tình yêu quê hương đất nước trong tâm hồn các em Tuyên Quang là một tỉnh miền núi Đông Bắc, đời sống kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn song lại là vùng đất có tài nguyên thiên nhiên phong phú, có bề dày truyền thống văn hoá lịch sử, là cái nôi của cách mạng với thủ đô của cuộc kháng chiến Tân Trào và nhiều di tích cách mạng gắn liền với cuộc chiến đấu chống thực dân của dân tộc ta Chính vì vậy, việc giáo dục tình yêu quê hương đất nước cho các em HS trong tỉnh càng trở nên quan trọng
Hiện nay, ở nước ta vấn đề dạy học địa lí địa phương trong các trường phổ thông đã được chú ý nhiều hơn trước, được đưa vào SGK thành một phần riêng tuy nhiên dung lượng kiến thức này còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong chương trình địa lí phổ thông Mặt khác, đội ngũ GV nắm kiến thức ĐLĐP còn chưa sâu, chưa rộng đã phần nào gây khó khăn cho việc thiết kế bài giảng và ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh
Trong thực tế, việc dạy học các bài ĐLĐP chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức, còn mang tính nặng tính hình thức, chưa kịp thời đổi mới, thậm trí còn bị xem nhẹ như là một nội dung phụ Do đó, kiến thức ĐLĐP của
Trang 2HS còn nghèo nàn, các em không hiểu biết về chính địa lí quê hương của mình Những kiến thức, sự vật, hiện tượng địa lí rất quen thuộc quanh cuộc sống thường nhật của các em mà lại trở nên lạ lẫm
Nội dung ĐLĐP được đưa vào trường phổ thông ở lớp 8 (1 bài), lớp 9 (4 bài), lớp 12 (ban cơ bản 2 bài, ban nâng cao 3 bài) Nhưng nội dung lại tuỳ từng GV thực hiện trên cơ sở tài liệu ĐLĐP của tỉnh (thành phố) do đó không xuyên xuốt, trùng lặp giữa các lớp, nhiều khi thừa vẫn thừa, thiếu vẫn thiếu
Vì vậy, việc thực hiện tính liên thông hợp lí khi dạy học nội dung ĐLĐP giữa các lớp để nâng cao hiệu quả dạy và học nội dung này là cần thiết
Để thực hiện tốt mục tiêu dạy học ĐLĐP là giúp cho HS có hiểu biết rõ hơn về ĐLĐP để từ đó giáo dục tình yêu quê hương, có ý thức đóng góp và xây dựng quê hương thì đội ngũ GV trước hết phải là những người có trình độ
về mặt khoa học địa lí và cần có khả năng sư phạm vững vàng mới có thể truyền thụ và hướng dẫn tốt kiến thức, kĩ năng học tập cho HS thông qua việc thiết kế giáo án ĐLĐP
Với ý nghĩa và sự cần thiết trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Thiết kế bài giảng địa lí địa phương ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang" làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng một số phương án TKBG địa lí địa phương cho HS phổ thông ở Tỉnh Tuyên Quang, góp phần đổi mới các phương án TKBG truyền thống, làm cho bài giảng có tính thiết thực, gây được niềm hứng thú, tính tích cực học tập của HS
- Đảm bảo tính liên thông của các bài ĐLĐP trong chương trình phổ thông (THCS và THPT )
- Bổ sung và làm phong phú kiến thức ĐLĐP cho HS các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
- Góp phần giáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho các HS trong tỉnh
Trang 33 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế bài giảng địa lí địa phương ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
- Khái quát nội dung ĐLĐP tỉnh Tuyên Quang làm tài liệu dạy học cho
4 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu và đưa ra phương án thiết kế bài giảng địa lí địa phương ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang Tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS và THPT trên địa bàn tỉnh
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu
Dựa vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài để xác định các nguồn tài liệu thu thập Tài liệu thu thập bao gồm sách báo, tạp trí chuyên ngành, các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu, các trang web cung cấp thông tin có liên quan đến đề tài Trong quá trình thu thập tài liệu, tác giả đã lựa chọn những thông tin có tính chân thực cao, để đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm của đề tài, trong quá trình thu thập tài liệu đặc biệt chú ý đến các tài liệu liên quan đến ĐLĐP tỉnh Tuyên Quang và chú ý đến nội dung chương trình phần ĐLĐP ở trường phổ thông trong SGK lớp 8, 9, 12, đảm bảo tính liên thông trong việc TKBG Địa lí điạ phương Ngoài ra còn có các sách hướng dẫn giảng dạy ĐLĐP, các giáo trình về PPDH Địa lí Sau đó sắp xếp các nội dung thông tin thu thập được sao cho phù hợp, chính xác với quá trình dạy học hiện nay cần khá nhiều thời gian và công sức của tác giả
Trang 4- Phương pháp điều tra, khảo sát
Để thực hiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đi khảo sát, điều tra thực tế dạy và học Địa lí địa phương ở các trường THCS và THPT của tỉnh Tuyên Quang Phỏng vấn, phát phiếu điều tra cho HS và GV, tiến hành dự giờ tiết dạy ĐLĐP của một số GV trong tỉnh Từ đó có cơ sở để rút những nhận xét chính xác, khách quan về thực trạng dạy và học ĐLĐP ở tỉnh Tuyên Quang nói chung và việc TKBG địa lí địa phương nói riêng Đồng thời đưa ra những kiến nghị cần thiết, giúp cho việc giảng dạy và học tập môn Địa
lí, trong đó có ĐLĐP tại các trường phổ thông trong tỉnh hiệu quả hơn
- Phương pháp phân tích hệ thống
Để đảm bảo tính khoa học và sư phạm của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài cần xem xét, phân tích các đối tượng nghiên cứu trong một hệ thống hoàn chỉnh Cụ thể, tác giả nghiên cứu việc TKBG địa lí địa phương trong mối quan hệ đa chiều với toàn bộ kiến thức địa lí phổ thông, tính liên thông giữa kiến thức ĐLĐP ở các cấp học, mối quan hệ với mục tiêu giáo dục phổ thông nói chung Hay như khi xem xét thực trạng TKBG địa lí địa phương của giáo viên và học tập ĐLĐP của học sinh phổ thông tỉnh Tuyên Quang cần nhìn nhận trên nhiều phương diện: nội dung kiến thức, phương pháp, phương tiện giáo viên sử dụng và nhu cầu nhận thức của học sinh, từ đó rút ra những kết luận khách quan, chính xác về vấn đề đưa ra
- Ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm tin học:
Để thực hiện đề tài, trong quá trình nghiên cứu và đưa ra các phương án TKBG dạy học ĐLĐP ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang, tác giả ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm tin học trong quá trình thiết kế một số giáo án điện tử, nhằm đổi mới PPDH và sử dụng phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học ĐLĐP, nâng cao chất lượng và hiệu quả bài giảng của GV
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của đề tài nhất định phải thực nghiệm sư phạm TN sư phạm thông qua việc trực tiếp giảng dạy hoặc
Trang 5nhờ một số GV có kinh nghiệm ở một số trường phổ thông giúp đỡ giảng dạy phần bài giảng do tác giả thiết kế Sau đó dùng phiếu thăm dò, lấy ý kiến của
GV và HS nhằm kiểm nghiệm các kết quả lí thuyết mà đề tài đưa ra Phân tích các kết quả thực nghiệm thu được, rút ra những nhận định khách quan về tính khả thi của đề tài và từ đó đưa ra một số đề xuất cho việc dạy học ĐLĐP tỉnh Tuyên Quang nói riêng, cũng như việc dạy học ĐLĐP ở nước ta nói chung
- Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng sau khi điều tra, khảo sát thực trạng TKBG của giáo viên và việc nắm kiến thức ĐLĐP của học sinh các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang, phương pháp này còn sử dụng để xử lí số liệu sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm Các kết quả thu được nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài, là căn cứ khoa học để xác định xu hướng phát triển của đối tượng để đề xuất những biện pháp thực hiện cho tốt hơn
6 Lịch sử nghiên cứu
Trên thế giới, nhiều nước rất coi trọng việc nghiên cứu và giảng dạy ĐLĐP trong nhà trường phổ thông Bởi vì, những kiến thức về ĐLĐP là cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, những tri thức đó còn được vào giảng dạy và học tập trong nhà trường
Việc dạy học ĐLĐP ở Nga và các nước Đông Âu cũng đã được chú trọng nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn Tổng kết vấn đề này, K.F.Stroev (1974) khẳng định: tài liệu địa lí địa phương là cơ sở tốt nhất để hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí cho HS và minh hoạ cho các bài giảng địa lí ĐLĐP là môi trường tốt nhất để HS có thể vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sinh động ở nơi các em đang sống
Ở Pháp, môn học này cũng được đưa vào chương trình phổ thông, bắt đầu từ việc tìm hiểu quê hương cho tới việc công bố các công trình nghiên cứu và hướng dẫn giảng dạy ĐLĐP Mục đích của việc giảng dạy ĐLĐP
Trang 6trong nhà trường ở nước ngoài là góp phần giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, bồi dưỡng cho HS khả năng tìm hiểu và năng lực tư duy tổng hợp đối với các vấn đề của địa phương
Ở Nước ta, Địa lí địa phương trong chương trình phổ thông là địa lí các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tài liệu được phổ biến rộng rãi và được đánh giá là đáp ứng tốt yêu cầu học tập của Địa lí địa phương trong nhà
trường hiện nay là bộ sách "Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam" gồm 5 tập
do PGS.TS Lê Thông chủ biên (Nhà xuất bản giáo dục, năm 2000) Để đáp ứng yêu cầu đưa kiến thức địa lí địa phương vào trong dạy học môn Địa lí ở các trường phổ thông, các tỉnh cũng đã chủ động tổ chức nghiên cứu và biên soạn tài liệu địa lí địa phương dùng riêng cho tỉnh mình như: Địa lí tỉnh Thái Nguyên, Địa lí Hoà Bình, Địa lí Hải Phòng, Địa lí - Lịch sử tỉnh Cao Bằng
Những công trình bàn về nghiên cứu và giảng dạy địa lí địa phương
tiêu biểu nhất là 2 tập "Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy ĐLĐP" của cố
GS Lê Bá Thảo (1967); ngoài ra còn có các cuốn: "Địa lí địa phương" (1999) của PGS PTS Lê Huỳnh và PGS TS Nguyễn Minh Tuệ biên soạn; cuốn "Địa
lí địa phương trong nhà trường phổ thông" tài liệu bồi dưỡng giáo viên
thường xuyên chu kì 1992 - 1996 cho giáo viên trường phổ thông của Bộ giáo
dục và đào tạo (1994); giáo trình "Giáo dục dân số - môi trường và giảng dạy địa lí địa phương" do PGS.TS Lê Huỳnh chủ biên năm (Nhà xuất bản Sư Phạm Hà Nội - 2005) cuốn "Một số vấn đề trong dạy học địa lí ở trường phổ thông" - Chương 5: Vấn đề giảng dạy địa lí địa phương ở trường phổ thông
(Tr165 - 218) của PGS TS Nguyễn Trọng Phúc;
7 Những đóng góp của luận văn
- Đề tài xây dựng được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế bài giảng Địa lí địa phương ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
- Xác định được nội dung liên thông khi dạy học địa lí tỉnh Tuyên Quang
Trang 7- Xác định một số nguyên tắc, phương pháp và nguồn tài liệu kiến thức địa lí địa phương trong tỉnh phục vụ giảng dạy ĐLĐP
- Đưa ra một số phương án TKBG địa lí tỉnh Tuyên Quang và giới thiệu một số giáo án minh hoạ
- Kết quả của đề tài có tính khả thi, sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên ở các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang trong việc dạy học ĐLĐP
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế bài giảng địa lí địa phương ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
- Chương 2: Thiết kế bài giảng địa lí tỉnh Tuyên Quang
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 8NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ
BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
sử và Địa lí", môn học này mới chỉ bước đầu cung cấp cho HS những biểu tượng về các sự vật, hiện tượng địa lí, địa danh nổi tiếng ở Việt Nam như dãy Trường Sơn, Sông Hồng, S Cửu Long và một số thông tin về Địa lí thế giới Địa lí chỉ thực sự trở thành môn học riêng từ lớp 6 cấp THCS và đến lớp
12 THPT
Địa lí đại cương được học ở các lớp đầu cấp (lớp 6 THCS và lớp 10 THPT) để làm cơ sở tiếp thu các kiến thức địa lí khác, tuy nhiên nó vẫn được học ở các lớp sau xen kẽ với Địa lí các châu lục và Địa lí Việt Nam
Chương trình Địa lí thế giới ở lớp 7 và đầu lớp 8 cấp THCS và lớp 11 cấp THPT sẽ cung cấp cho HS những kiến thức về các châu lục: điều kiện tự nhiên, dân cư, các hoạt động kinh tế của con người
Phần Địa lí Việt Nam được dạy tương đối hoàn chỉnh ở bậc THCS (cuối lớp 8 và lớp 9) bao gồm Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế xã hội Học sinh được trang bị những kiến thức khá đầy đủ về Địa lí Tổ Quốc để chuẩn bị tiếp thu những kiến thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn ở lớp 12 THPT
Trang 9Trong chương trình Địa lí phổ thông, vị trí của kiến thức địa lí địa phương trong nhà trường phổ thông được cụ thể hoá trong phân phối chương trình môn Địa lí ở từng cấp học riêng: Trung học cơ sở và trung học phổ thông Nội dung tìm hiểu địa lí địa phương, liên hệ với thực tế, khảo sát địa phương, nghiên cứu ĐLĐP là một bộ phận kiến thức không thể thiếu được ở
cả THCS và THPT Vì thế chương trình ĐLĐP đã được Bộ Giáo Dục và Đào tạo quy định đưa vào chương trình chính khoá và ngày càng được chú trọng
ĐLĐP được chính thức đưa vào giảng dạy và học tập ở lớp 8, 9 THCS
và lớp 12 THPT Cụ thể, bài học về ĐLĐP được giảng dạy ở cuối lớp 8 (bài 44: Thực hành tìm hiểu địa phương) tìm hiểu một địa điểm gần trường đóng, sau khi học xong phần địa lí tự nhiên Việt Nam Trong Địa lí lớp 9 ĐLĐP được trình bày thành một chương riêng gồm 4 bài là 41, 42, 43, 44 và giảng dạy 4 tiết theo phân phối chương trình, yêu cầu học sinh phải nắm được đặc điểm tự nhiên (vị trí địa lí; sự phân chia các đơn vị hành chính; đặc điểm địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, khoáng sản và các vấn đề khai thác bảo vệ môi trường tự nhiên) và các vấn đề kinh tế xã hội (dân cư, dân tộc, đặc điểm phân bố dân cư, dân tộc; sự phát triển của văn hoá, giáo dục, y tế; Các ngành nghề kinh tế chủ yếu; những khó khăn thuận lợi và phương hướng trong phát triển kinh tế - xã hội) của tỉnh (thành phố) Ở cấp THPT, kiến thức ĐLĐP được học ở lớp 12 chương trình chuẩn với kiến thức ĐLĐP được trình bày trong bài 44, 45 với thời lượng là 2 tiết (ban cơ bản) và trong 3 bài 60, 61, 62 với thời lượng 3 tiết (ban nâng cao) Yêu cầu ở mức độ cao hơn là các em phải viết được một bản báo cáo tổng hợp về địa lí tỉnh (thành phố) của mình trên tất cả các phương diện (tự nhiên và kinh tế xã hội)
Như vậy, số bài và số tiết dạy về kiến thức ĐLĐP ở Việt Nam còn quá
ít, bởi có nhiều khó khăn chưa được khắc phục như là: khó sắp xếp về mặt thời gian giảng dạy (vì khối lượng kiến thức lớn mà thời gian học tập ở trên lớp lại có hạn) điều kiện vật chất chưa đảm bảo (SGK, tài liệu tham khảo, đồ
Trang 10dùng dạy học không đầy đủ) Tuy nhiên, GV vẫn có thể linh động, sáng tạo nhiệm vụ này bằng cách ngoài các tiết dạy địa lí địa phương theo quy định của Bộ GD&ĐT có thể cung cấp và bổ xung kiến thức đó vào các tiết dạy địa
lí ở các lớp thông qua các ví dụ, các dẫn chứng, các câu hỏi gợi mở, thậm chí
là các bài tập, các bài kiểm tra có liên hệ đến địa phương GV nên khuyến khích các em lấy các ví dụ càng gần, càng cụ thể nơi các em sinh sống càng tốt Điều đó giúp cho việc học tập Địa lí nói chung và Địa lí địa phương nói riêng có hiệu quả, hấp dẫn và thiết thực hơn
Kiến thức ĐLĐP được bố trí ở các lớp cuối cấp (lớp 9 và 12), điều này
có những thuận lợi và hạn chế nhất định Những thuận lợi là HS dễ dàng phát hiện, giải thích, phân tích các kiến thức địa lí cụ thể dựa trên những kiến thức địa lí đại cương Nhưng có hạn chế là kiến thức ĐLĐP được bố trí ở các lớp cuối cấp nên khi học kiến thức đại cương, thế giới và ngay cả địa lí Tổ quốc các em thường rất mơ hồ, không có những kiến thức thực tế của địa phương
để liên hệ, chứng minh do đó dẫn đến tình trạng "học vẹt", chưa nắm rõ bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí
Chúng ta cần xác định rõ vai trò của việc giáo dục kiến thức ĐLĐP trong nhà trường phổ thông và đặc biệt là vai trò của GV trong việc tổ chức hướng dẫn HS tìm hiểu và nắm rõ các kiến thức ĐLĐP, tạo niềm say mê, hứng thú học tập và tình yêu quê hương của các em thông qua việc TKBG địa
lí địa phương
1.2 Vai trò của kiến thức ĐLĐP trong dạy học Địa lí
Trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong dạy học bộ môn Địa lí nói riêng việc nghiên cứu và giảng dạy ĐLĐP có vai trò rất quan trọng
Kiến thức ĐLĐP trong chương trình ở trường phổ thông nước ta là kiến thức địa lí tỉnh (thành phố) Vì vậy, việc nắm những kiến thức cơ bản về Địa
lí quê hương mình sẽ tạo cho các em có khả năng nhận biết, giải thích và phân tích được các hiện tượng Địa lí diễn ra ngay tại địa phương và góp phần bổ
Trang 11sung, nâng cao kiến thức địa lí tổ quốc và các kiến thức địa lí chung cho các
em Thông qua việc học tập, khảo sát, nghiên cứu ĐLĐP học sinh hiểu rõ thực tế địa phương (thuận lợi, khó khăn) và có ý thức tham gia cải tạo, xây dựng địa phương từ đó bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp với quê hương đất nước
Học tập ĐLĐP còn phát triển năng lực nhận thức và kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh, giúp HS bồi dưỡng thế giới quan khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và kĩ năng áp dụng thực tế
Kiến thức ĐLĐP là kiến thức về các sự vật, hiện tượng gần gũi, thân quen với các em học sinh vì vậy nó tạo điều kiện hình thành biểu tượng địa lí cho HS Các biểu tượng địa lí lại là cơ sở để tạo ra các khái niệm địa lí, vì nó phản ánh được những thuộc tính của khái niệm địa lí tương ứng Biểu tượng
về các sự vật, hiện tượng càng sáng và càng đầy đủ thì việc nhận thức càng đạt hiệu quả cao Chính quá trình nhận thức dựa trên hiểu biết ĐLĐP làm cho
HS hứng thú học tập, tính tự giác, tích cực, qua đó tạo niềm tin trong học tập môn Địa lí và nâng cao hiệu quả học tập của các em, đây là một động lực quan trọng giúp nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí
Đối với GV địa lí: việc nghiên cứu, giảng dạy ĐLĐP giúp họ có vốn kiến thức một cách cụ thể, sâu sắc, tạo điều kiện cho việc giảng dạy địa lí nói chung và ĐLĐP nói riêng trên lớp có hiệu quả cao Mặt khác, việc nghiên cứu ĐLĐP còn mang tính chất là một công tác nghiên cứu khoa học (về ĐLĐP),
từ đó nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời là cơ sở để đóng góp sức mình vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như phát triển được tư duy khoa học, tư duy địa lí cho chính bản thân mình
1.3 Đổi mới phương pháp dạy học và TK BG Địa lí
1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Việc đổi mới PPDH đặt ra đối với các trường phổ thông là vấn đề cấp bách, các bộ môn hiện nay đều đang có những chuyển biến về PPHD, trong
Trang 12đó tăng cường PPDH phát huy tích cực, chủ động nắm bắt kiến thức từ SGK,
phương tiện học tập của học sinh… Trong dạy học, GV không chỉ dạy học sinh nắm kiến thức mà còn dạy học sinh phương pháp học tập Các PPDH truyền thống vẫn được sử dụng nhưng được đổi mới, cải tiến, tăng cường tính
tự lực làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Hiện nay, trong quá trình đổi mới dạy học Địa lí đang diễn ra vấn đề đổi mới sách giáo khoa (Nội dung và phương pháp thể hiện), do vậy việc đổi mới của giáo viên cũng rất cần thiết, ngay cả phương tiện dạy học cũng đã được tăng cường để thực hiện quá trình đổi mới đó Tuy vậy, việc đổi mới tiến hành còn chậm, chỉ thực hiện tốt ở các trường thành phố, trường điểm, còn lại chất lượng còn yếu kém Muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải đổi mới toàn diện về nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học PPDH là công cụ của GV để trang bị cho HS các kiến thức và tổ chức quá trình nhận thức của HS Trong dạy học Địa lí hiện nay, cùng một phương pháp nhưng GV sử dụng theo các hướng khác nhau thì kết quả đạt được cũng
sẽ khác nhau Nếu GV coi trọng chức năng truyền thụ tri thức khi sử dụng PPDH, thì chúng được sử dụng theo hướng thông báo, liệt kê tri thức, ngay cả phương pháp đàm thoại khi nặng về câu hỏi nhằm tái hiện kiến thức, hoặc đọc trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi của GV chất lượng dạy học cũng sẽ bị hạn chế Ngược lại, nếu GV sử dụng PPDH với chức năng tổ chức quá trình nhận thức cho học sinh, thì học sinh phải hoạt động chủ động, tích cực với các nguồn tri thức (Sách giáo khoa, Atlat, sơ đồ…) để tìm tòi, lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng và phát triển tư duy, khi đó ngay cả những PPDH được xem là ít tác dụng đối với phát huy tính tích cực học tập như mô tả, thuyết trình cũng có nhiều tác dụng đối với phát huy tính tích cực học tập
PPDH tích cực tăng cường tính độc lập của HS, chuẩn bị cho HS dần dần làm chủ quá trình đào tạo mình ở bậc đại học và trong giáo dục thường xuyên Tuy nhiên không phải mọi kiến thức đều có thể cho HS tự chiếm lĩnh bằng
Trang 13hoạt động tích cực, PPDH tích cực đòi hỏi nhiều thời gian, không thể vận dụng ở mọi nơi, mọi lúc, cũng không phải tất cả HS đều tự nguyện, trong học tập đôi khi phải bắt buộc
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực đòi hỏi GV phải có trình độ, đầu óc sáng tạo, tính độc đáo để đóng vai trò người khởi xướng, động viên, trợ giúp,
cố vấn, hướng dẫn PPDH tích cực yêu cầu đủ các tài liệu, các phương tiện, thiết bị học tập cần thiết để HS được thao tác trực tiếp, PPDH này làm thay đổi không khí học tập, HS tranh luận, trao đổi, nghiên cứu tìm tòi kiến thức
1.3.2 Đổi mới các PPDH vào thiết kế bài giảng Địa lí địa phương
Do đặc điểm nội dung dạy học ĐLĐP là được bố trí vào cuối chương trình của lớp 8, 9, 12 bài học được tiến hành theo hình thức tăng cường tính độc lập của HS; vốn kiến thức thực tế của HS tương đối phong phú Vì vậy, một số PPDH sau đây cần được sử dụng trong việc dạy học nội dung này:
- Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (problem solving method),
hay dạy học dựa trên vấn đề hoặc dạy học đặt và giải quyết vấn đề là phương pháp, trong đó GV đặt ra trước HS một (hay hệ thống) vấn đề nhận thức, đưa
HS vào tình huống có vấn đề, sau đó GV phối hợp cùng HS (hoặc hướng dẫn, điều khiển HS) giải quyết vấn đề, đi đến kết luận Bản chất của phương pháp này là tạo nên một chuỗi những "tình huống có vấn đề", "tình huống học tập"
và hướng dẫn học sinh giải quyết những vấn đề đó Nhờ vậy nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững vàng những cơ sở khoa học, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan khoa học
Tình huống vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lý khi học sinh gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn biết; mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới Có thể phân ra nhiều tình huống có vấn đề, nhưng tựu chung có các loại tình huống sau: tình huống nghịch lý, tình huống bác bỏ, tình huống "tại sao?" Dạy học đặt và giải quyết
Trang 14vấn đề được tiến hành qua các bước, mỗi bước có tính mục đích chuyên biệt, thường có các bước sau:
Bước1: Đặt vấn đề và đưa HS vào tình huống có vấn đề: “Vấn đề là bài
làm, mà cách thức hoàn thành hay kết quả của nó chưa được HS biết trước, nhưng HS đã nắm được những kiến thức và kỹ năng xuất phát, để từ đó thực hiện sự tìm tòi kết quả hay cách thức hoàn thành bài làm Nói cách khác, đó là câu hỏi mà HS chưa biết câu trả lời, nhưng có thể bắt tay vào tìm kiếm lời giả đáp” (M.A Đanilôp và M.N Xcatkin, Lí luận dạy học ở trường phổ thông, tài liệu dịch, NXBGD, 1980)
Bước2: Giải quyết vấn đề: Đề xuất giả thuyết cho vấn đề đặt ra; thu
thập và xử lý thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất
Bước3: Kết luận: Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết; phát phiếu biểu quyết
- Phương pháp đàm thoại gợi mở: là phương pháp trong đó GV soạn
ra câu hỏi lớn thông báo cho HS Sau đó chia câu hỏi lớn ra thành một số câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ logic với nhau, tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn Đàm thoại gợi mở khác với đàm thoại tái hiện, hay đàm thoại vấn đáp (chỉ đòi hỏi HS nhớ lại những kiến thức đã có) ở một số đặc điểm sau: Mục đích của đàm thoại gợi mở là giúp HS giải quyết một vấn đề mới nào đó Câu hỏi yêu cầu HS tìm tòi một cách độc lập các câu trả lời để đi đến những kiến thức và phương pháp hành động mới; Giữa các câu hỏi có mối quan hệ với nhau để tạo thành một hệ thống câu hỏi, mỗi câu hỏi nhằm giải quyết một vấn đề bộ phận Giải quyết được hệ thống câu hỏi là đi tới giải quyết trọn vẹn vấn đề Do trật tự logic của các câu hỏi nhằm hướng dẫn HS từng bước khám phá, phát hiện ra bản chất sự việc, hiện tượng, nên phương pháp này có ý nghĩa tích cực trong việc gây hứng thú nhận thức và lôi cuốn sự tham gia tích cực, tự lực vào giải quyết vấn đề đặt ra, từ đó HS nắm bài khá vững Đồng thời qua các câu trả lời của HS, đánh giá được trình độ phát triển
Trang 15tư duy, trình độ nhận thức, hiểu được mức độ nắm vững kiến thức của HS; Ngoài ra đàm thoại gợi mở còn dạy cho HS trình tự giải quyết một vấn đề trong lúc gợi mở, giúp các em nắm vững các thao tác của riêng hoạt động sáng tạo trong học tập cũng như trong lao động khoa học
- Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ :
Bản đồ là phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng Qua bản đồ HS có thể nhìn một cách bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt trái đất Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và mối liên hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào khác có thể làm được Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lý được mã hoá, trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt, đó là ngôn ngữ bản
đồ Về mặt phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan giúp cho
học sinh khai thác, củng cố kiến thức và phát triển tư duy tích cực trong quá trình học địa lý Vì vậy việc hình thành kỹ năng sử dụng bản đồ trong học tập địa lý cho HS là một nhiệm vụ quan trọng đối với GV địa lý
Do bản đồ vừa có chức năng minh hoạ vừa có chức năng là nguồn tri thức, nên trong dạy học, GV có thể sử dụng theo 2 cách khác nhau Cách thứ nhất, sử dụng bản đồ để minh họa, hoặc giảng giải nội dung bài học Cách thứ hai, GV sử dụng bản đồ như một cơ sở để HS tìm tòi, khám phá kiến thức dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của GV Bằng cách đó, GV hình thành và rèn luyện cho HS phương pháp đọc bản đồ
- Phương pháp khảo sát, điều tra: Phương pháp khảo sát, điều tra là
một phương pháp đặc thù của việc dạy học địa lí Vì các đối tượng nghiên cứu của địa lí học là các thể tổng hợp tự nhiên hoặc kinh tế xã hội theo lãnh thổ Muốn cho học sinh hiểu được các thành phần và các mối quan hệ của các thành phần trong các thể tổng hợp đó thì GV phải hướng dẫn các em nghiên
Trang 16cứu trên một lãnh thổ cụ thể - địa phương nơi các em đang sinh sống và học tập GV đề ra những vấn đề cần khảo sát và các cơ sở giả thuyết, đồng thời là người tổ chức, hướng dẫn, gợi ý để HS tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn bằng nhiều cách khác nhau Sau đó, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để xác định các giả thuyết đúng, rút ra kết luận, nêu các giải pháp, kiến nghị Phương pháp khảo sát, điều tra có thể được tiến hành rộng rãi dưới các hình thức dạy học nội khoá, ngoại khoá, với thời lượng khác nhau
Đặc biệt phương pháp này có ý nghĩa rất lớn trong dạy học phần ĐLĐP Thông qua việc tiếp xúc, tìm tòi, điều tra thực tế địa phương sẽ cung cấp cho
HS những biểu tượng, khái niệm, các mối quan hệ nhân quả về các đối tượng địa lí mà các em đang và sẽ học, phương pháp này giúp cho các em quan sát, tìm tòi, thu thập, phân tích, so sánh các đối tượng địa lí trong môi trường thực
tế, từ đó tìm ra cái mới cho mình Về mặt giáo dục, phương pháp này tạo điều kiện cho HS hiểu rõ thực tế địa phương mình (khó khăn, thuận lợi), phát triển thói quen thưởng thức sự hài hoà, tinh tế của tự nhiên Vì vậy đây là PPDH tốt nhất trong việc giáo dục môi trường cho HS, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, quan tâm đến môi trường xung quanh và góp sức mình vào việc bảo vệ, cải thiện môi trường địa phương Phương pháp khảo sát, điều tra còn cải thiện mối quan hệ giữa thầy và trò, cải thiện và làm phong phú nội dung bài học
- Phương pháp thảo luận: Là sự trao đổi ý kiến về một vấn đề được
đặt ra dưới dạng câu hỏi, bài tập giữa thầy - trò, cũng như giữa người học với nhau Trong đó HS giữ vai trò tích cực, chủ động tham gia thảo luận Để thảo luận đạt kết quả tốt giáo viên cần quan tâm đến các khâu quan trọng sau: chuẩn bị nội dung thảo luận, tiến hành thảo luận (tổ chức thực hiện), tổng kết thảo luận Phương pháp thảo luận ngoài việc giúp đánh giá được kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của HS, còn giúp cho GV hiểu được thái độ của
HS (tích cực, tự giác, tôn trọng, lắng nghe, chia sẻ, bổ sung ý kiến )
Trang 171.4 Các hình thức dạy học địa lí địa phương
Trong hướng dẫn thực hiện bộ chương trình mới, Bộ GD&ĐT đã coi việc học tập, tìm hiểu khảo sát và dạy ĐLĐP là một yêu cầu bắt buộc trong giảng dạy, học tập Địa lí Việc tìm hiểu điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội ở xung quanh làm cho HS hiểu biết sâu sắc hơn những kiến thức địa lí trong SGK, gắn việc học tập địa lí với cuộc sống ở địa phương và với việc giáo dục hướng nghiệp
Do thế mạnh của môn Địa lí có liên quan chặt chẽ với thiên nhiên, con người và xã hội, với các hoạt động sản xuất của con người nên việc dạy ngoài lớp mang lại hiệu quả về mặt giáo dục và giáo dưỡng Vì vậy, ngoài nội dung ĐLĐP được dạy thành bài theo hệ thống nhất định, phù hợp với cấu trúc chương trình của từng lớp, từng cấp học thì việc dạy ĐLĐP được tiến hành dưới dạng kết hợp liên hệ thực tiễn trong từng phần của nội dung bài giảng hoặc bằng hình thức dạy học ngoài lớp như thực hành ngoài trời, đi tham quan, du lịch
1.4.1 Giảng dạy ĐLĐP ở trên lớp
Để các giờ dạy ĐLĐP đạt hiệu quả, những tài liệu sử dụng phải được nghiên cứu đầy đủ, đảm bảo tính khoa học Điều này rất cần thiết, vì thông qua giờ dạy ĐLĐP (tỉnh, thành phố, huyện quê hương), HS cần nhận thức được những thuận lợi khó khăn của quê hương và thái độ đúng đắn trước thực
tế đó Kết hợp với những hoạt động thực hành tham quan, khảo sát địa phương, giờ học trên lớp phải hệ thống hoá được những điều mà HS đã biết một cách rời rạc, lẻ tẻ để khát quát thành những vấn đề mang tính quy luật, giúp các em hiểu sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng địa lí ở địa phương mình Dựa vào hệ thống câu hỏi ở chương 3 trong SGK Địa lý 9, GV xây dựng đề cương bài giảng
Trang 18- Ví trí, giới hạn lãnh thổ; Đánh giá điều kiện tự nhiên, nêu ý nghĩa kinh
tế và khả năng khai thác từng yếu tố; Những vấn đề về dân cư, xã hội; Hiện trạng phát triển kinh tế
- Phần kết luận: đánh giá chung về những thuận lợi, khó khăn của các điều kiện tự nhiên, dân cư xã hội đối với việc phát triển kinh tế địa phương Vị trí kinh tế của địa phương mình so với các tỉnh xung quanh và toàn quốc
Sử dụng các tài liệu nghiên cứu ĐLĐP trong bài giảng Địa lí có thể tiến
hành bằng hai cách: (1) tích hợp trong khi giảng đối với những bài có nội dung gần với nội dung của tài liệu ĐLĐP và (2) liên hệ thực tế quê hương với
nội dung tương ứng trong bài giảng
1.4.2 Giảng dạy ĐLĐP ở ngoài lớp
Song song với việc dạy trên lớp, có thể dạy ĐLĐP ở ngoài lớp với hình thức thực hành ngoài trời (hay ở trong vườn trường) như tham quan, cắm trại
Để giúp HS có những hiểu biết cụ thể về quê hương mình và gây được sự say
mê hứng thú học tập ĐLĐP, GV nên hướng việc dạy ngoài trời với các nội dung sau :
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên và môi trường ở địa phương
- Tìm hiểu các vấn đề về sử dụng đất và bảo vệ đất rừng, nước sạch và
MT sinh thái
- Tìm hiểu các vấn đề dân cư và những khía cạnh xã hội ở địa phương: phong tục tập quán, truyền thống văn hoá sản xuất, tình hình phát triển dân số
- Tìm hiểu sự hoạt động của các ngành kinh tế chủ yếu ở địa phương
Có một số hình thức dạy ĐLĐP ở ngoài lớp sau đây :
- Xây dựng một số bài thực hành ở vườn địa lí hay ngoài thực địa
- Tổ chức tham quan, quan sát địa phương
Trang 19- Khảo sát địa phương
*Tổ chức hoạt động ngoại khoá về những vấn đề của ĐLĐP:
Ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học ngoài lớp, không quy định bắt buộc trong chương trình, hoạt động dựa trên sự tự nguyện tham gia của một số hay số đông HS có hứng thú, yêu thích bộ môn và ham muốn tìm tòi, sáng tạo các nội dung học tập địa lý, dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đây là một hình thức có tác dụng rất to lớn trong việc nâng cao hiệu quả dạy học địa lí ở nhà trường, góp phần tích cực vào việc nâng cao, mở rộng cốn tri thức của các em, rèn luyện kỹ năng địa lí, tăng cường hứng thú học tập bộ môn và giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước
- Tổ chức dạ hội ĐLĐP
- Xây dựng góc ĐLĐP
- Hướng dẫn học sinh khai thác thông tin từ internet với các trang Web liên quan, yêu cầu học sinh viết báo cáo
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Điểm khác biệt giữa nội dung ĐLĐP trong chương trình Địa lí lớp 8,
9 và lớp 12
- Lớp 8: Địa lí địa phương được trình bày ở bài 44 (1 tiết), được cấu trúc dưới dạng bài thực hành tìm hiểu một địa điểm ở địa phương Giáo viên tổ chức cho học sinh đi thực địa trên một địa điểm ngay tại địa phương các em đang sinh sống, bước đầu cho các em làm quen với kiến thức thực tế tại quê hương, sau khi học xong những kiến thức cơ sở về Địa lí tự nhiên tổ quốc
- Lớp 9: phần ĐLĐP được giảng dạy với thời lượng 4 tiết (lý thuyết 3
và thực hành là 1 tiết) nội dung tìm hiểu địa lí cấp tỉnh (thành phố) với cấu trúc bài mang tính hướng dẫn học sinh học ĐLĐP Giáo viên phải tìm tòi, khai thác tài liệu nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về địa
Trang 20phương mình, từ đó giáo dục cho học sinh thái độ, trách nhiệm đúng đắn với quê hương
- Lớp 12: Phần ĐLĐP được giảng dạy với thời lượng 2 tiết đối với ban
cơ bản, 3 tiết đối với ban nâng cao Nhưng với yêu cầu tính độc lập cao hơn
là các em phải tìm hiểu và viết được một bản tổng hợp về địa lí tỉnh (thành phố) của mình trên tất cả các phương diện Từ đó, nâng cao kiến thức địa lí tổ quốc và các kiến thức địa lí chung cho các em
Yêu cầu đối với dạy học Địa lí địa phương cũng được nêu rõ trong tài liệu phân phối chương trình dạy học môn Địa lí, do bộ GD&ĐT quy định:
Ở cấp THCS:
- Để tiến hành một cách có hiệu quả tiết thực hành "tìm hiểu địa phương" ở lớp 8, giáo viên nên chọn một địa điểm có nhiều ý nghĩa đối với địa phương và có nhiều thuận lợi trong việc tìm tư liệu, yêu cầu các nhóm học sinh thu thập tư liệu về địa điểm đó theo các nội dung đã gợi ý trong SGK Giờ thực hành, giáo viên tổ chức cho học sinh các nhóm trình bày kết quả và xây dựng thành một bản báo cáo tương đối đầy đủ về địa điểm tìm hiểu
- Đối với các bài dạy về địa lí tỉnh (thành phố) ở lớp 9, GV cần dựa vào tài liệu ĐLĐP, sưu tầm thêm các tư liệu về địa lí tỉnh (thành phố) như Địa chí tỉnh (thành phố), bộ sách "Địa lí các tỉnh và thành phố Việt Nam" của nhà xuất bản Giáo dục, các cuốn niên giám thống kê của tỉnh (thành phố) hoặc tổng cục thống kê và các sách báo khác để biên soạn nội dung dạy học về địa lí tỉnh (thành phố) GV cũng nên huy động HS mua hoặc sưu tầm các tài liệu về ĐLĐP để làm phong phú thêm nội dung dạy học Địa lí tỉnh (thành
phố), hình thành ở HS phương pháp tìm hiểu ĐLĐP (trang 5, Tài liệu phân phối chương trình môn Địa lí THCS - Dùng cho các cơ quan quản lí giáo dục
và giáo viên, áp dụng từ năm học 2008 - 2009
Ở cấp Trung học phổ thông:
- Để thực hiện được tốt nội dung ĐLĐP ở lớp 12, GV cần giao nhiệm
vụ cho HS tìm hiểu các nội dung theo chủ đề trước giờ học khoảng 2 tháng
Trang 21Mỗi nhóm HS tìm hiểu một chủ đề theo gợi ý trong SGK Có thể áp dụng PPDH theo dự án để hướng HS hoàn thành chủ đề nghiên cứu Trong thời gian dạy học ĐLĐP, GV dành một tiết đầu để HS hoàn thiện báo cáo, sau đó
tổ chức cho HS trình bày báo cáo (Tiết 2 đối với chương trình chuẩn; tiết 2,3 chương trình nâng cao) Khi tổ chức cho HS báo cáo kết quả nghiên cứu, GV nên hướng dẫn các em trình bày, thảo luận theo kiểu một hội thảo khoa học, thông qua đó giúp HS hiểu và nắm vững các đặc trưng về địa lí tỉnh (thành phố), đồng thời biết cách tìm hiểu ĐLĐP, cách tổ chức một hội thảo khoa học (trang 6, tài liệu phân phối chương trình môn Địa lí THPT - Dùng cho các cơ quan quản lí giáo dục và GV, áp dụng từ năm học 2008 - 2009)
Trên cơ sở khác biệt đã được phân tích, cho thấy tính liên thông trong quá trình dạy học kiến thức địa lí địa phương Nhưng qua nghiên cứu thực tế dạy học kiến thức ĐLĐP ở các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang cho thấy phần lớn không đảm bảo tính chất này, thể hiện rất rõ qua các hiện tượng sau:
- Quá trình dạy học kiến thức ĐLĐP thường bị trùng lặp ở lớp 9 và lớp 12
- Tính độc lập trong học tập kiến thức này ở lớp 12 rất hạn chế, ở một vài trường được tiến hành mang tính hình thức, chất lượng bài học rất thấp Đây là những vấn đề cần nghiên cứu khắc phục
2.2 Một số đặc điểm dạy và học nói chung của giáo viên và học sinh phổ thông của tỉnh Tuyên Quang
- Đặc điểm đặc trưng của học sinh tỉnh Tuyên Quang trong hoạt động học tập
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi Đông Bắc nước ta, kinh tế xã hội còn kém phát triển đại bộ phận dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí chưa cao, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp là chính, Công nghiệp, dịch vụ chưa thật sự phát triển mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn do vậy ảnh hưởng lớn
Trang 22đến việc giao lưu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Những điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập và ý thức học tập của học sinh trong tỉnh
Đối với HS, phần lớn là người dân tộc thiểu số, về nhân cách đa số các
em được đánh giá là ngoan, có đạo đức tốt, lễ phép với thầy cô giáo và có lòng tự trọng cao Tuy vậy trong giao tiếp các em hay rụt rè, tự ti, ít cởi mở Trong học tập, rèn luyện các mặt chưa thể hiện sự phấn đấu rõ ràng, còn trầm, chưa hăng hái xây dựng bài, còn thụ động trong việc học những bài tập hợp tác nhóm nhỏ đối với các em thường không hiệu quả và làm mất thời gian do chưa mạnh dạn thể hiện suy nghĩ và sẵn sàng trao đổi với bạn bè Về tư duy, các em thiên về tư duy cụ thể, máy móc hạn chế tư duy trừu tượng, khái quát, lười suy nghĩ, khi gặp bài tập khó thường nản trí không cố gắng học hỏi để tìm cách giải quyết mà thường trông chờ vào sự giúp đỡ của thầy cô Do vậy
mà kết quả học tập các môn tự nhiên của học sinh không cao, các em thường thích các môn khoa học xã hội nhưng hiệu quả học tập cũng chưa đạt kết quả cao do các em không hiểu bản chất của kiến thức, phần lớn là học vẹt nên khi kiểm tra kiến thức các em hay quên Khi GV tóm tắt, khái quát thì HS khó nắm bắt, hình dung và tiếp thu tri thức, GV phải giảng bài thật kĩ, chậm và lấy
ví dụ thật cụ thể, gần gũi với các em thì các em mới hiểu bài Cách trình bày bài tập viết hoặc bằng lời thường diễn đạt chưa mạch lạc, rõ ràng, logic, thường học sinh chỉ ghi được những gì thầy cô đọc chậm hoặc viết trên bảng theo gạch đầu dòng mà chưa có sự kết nối logic giữa các nội dung như các em học sinh ở miền xuôi, nhìn chung khả năng mở rộng kiến thức của các em rất hạn chế Tuy nhiên, đối với các em học sinh ở thị xã, thị trấn thì mạnh dạn trong tính cách Ở các em học sinh khá, giỏi đã có tư duy phức tạp đặc biệt là các thao tác như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa
Học đến THPT, đa phần các em tự tin và mạnh dạn hơn, đã có sự thể hiện cá tính, suy nghĩ của mình trong học tập và rèn luyện về các mặt trong các phong trào chung Tích cực hơn trong học tập thể hiện ở các hoạt động
Trang 23GV tổ chức trong giờ học các em tham gia sôi nổi hơn, hiệu quả Một số HS ham học và có năng lực học tập tốt rất chịu khó nêu câu hỏi, thắc mắc cho GV giải đáp điều này đã kích thích tinh thần học tập của các bạn khác trong cả lớp Bên cạnh đó vẫn có nhiều HS lười học, nhận thức chậm do các em rỗng kiến thức, vì vậy ở các trường THPT trong tỉnh đã có các biện pháp bù rỗng, bồi dưỡng kiến thức cho các HS yếu kém nhằm nâng cao chất lượng học tập
Để khắc phục những hạn chế về đặc điểm tâm lí của HS trong học tập
GV cần tăng cường các phương tiện trực quan, tranh ảnh, mẫu vật, hình vẽ trong bài giảng, có phương pháp hướng dẫn HS làm việc một cách khoa học với các phương tiện đó để tiếp thu kiến thức tốt hơn Hoặc GV sử dụng các hình ảnh, sự vật, hiện tượng gần gũi với cuộc sống xung quanh mà các em biết để làm ví dụ, làm rõ kiến thức của bài học
- Đặc điểm của giáo viên các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
Đội ngũ GV hiện nay ở bậc THCS và THPT của tỉnh Tuyên Quang đều được đào tạo đúng chuyên ngành sư phạm tại các trường Đại học sư phạm Hà Nội, Thái Nguyên và ở trường cao đẳng sư phạm của tỉnh Hầu hết các GV đã được tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về chương trình SGK mới và đổi mới PPDH theo hướng tích cực, nhiều GV có năng lực sư phạm tốt, nhiều năm liền là GV dạy giỏi Tuy nhiên phần lớn lực lượng này ở các trường thị xã, thị trấn còn ở những vùng sâu, vùng xa, điều kiện khó khăn thì đội ngũ GV còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ Qua điều tra, khảo sát ở một số trường THCS của tỉnh nhận thấy: một số GV kiến thức chưa vững, nắm kiến thức chưa sâu (dễ hiểu sai kiến thức), kĩ năng làm các dạng bài thực hành của GV còn chưa thật đầy đủ, một số GV chưa biết áp dụng tốt các PPDH nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS trong học tập như: ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, hướng dẫn HS thảo luận nhóm chưa hiệu quả Trong bài soạn, bài giảng chưa có sự đầu tư, nhiều GV còn lặp lại ý nguyên văn trong SGK, phụ thuộc vào SGK quá nhiều dẫn đến việc HS chủ quan,
Trang 24lười suy nghĩ và hạn chế tính sáng tạo của HS Những hạn chế trên ngoài nguyên nhân chủ quan là GV chưa tích cực trau dồi kiến thức, tự học, tự bồi dưỡng, còn có nguyên nhân khách quan là: do dân cư phân bố không đều, trường học phân tán theo địa bàn dân cư nên số lớp của một trường không nhiều, khoảng trên dưới 10 lớp, số GV dạy địa lí ở một trường THCS thường rất ít, chỉ có từ 1 đến 2 GV, đa số là một người do vậy việc dự giờ đồng nghiệp, học hỏi, trao đổi chuyên môn nghiệp vụ với nhau rất hạn chế Điều này dẫn đến GV nghèo nàn về kiến thức và cả kĩ năng nghiệp vụ sư phạm Các trường THPT thường phân bố tập trung hơn, số lượng HS và số lớp cao hơn các trường THCS do đó số lượng GV địa lí cũng nhiều hơn, GV thường xuyên được trau dồi, học hỏi, bổ xung kiến thức và rút kinh nghiệm cho nhau
để nâng cao tay nghề
Hiện nay tỉ lệ giáo viên THCS và THPT trong tỉnh đạt trên chuẩn còn chưa cao song cũng đã có những thay đổi đáng kể so với thời gian trước (giáo viên THCS đạt trên chuẩn chiếm 11,1%, giáo viên THPT đạt trên chuẩn là 2,8%), trong thời gian hiện nay và tiếp theo tỉnh tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên đi học tập, nâng cao trình độ chuyên môn Tăng đần tỉ
lệ giáo viên trên chuẩn và nâng cao chất lượng giáo dục
2.3 Thực trạng dạy và học ĐLĐP của GV và HS ở các trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang
Để tìm hiểu rõ thực trạng hiểu biết kiến thức ĐLĐP của GV và HS trong tỉnh, tác giả đã sử dụng 4 loại phiếu điều tra:
- Loại 1: Phiếu Khảo sát về thực trạng hiểu biết kiến thức ĐLĐP cúa học sinh THPT tỉnh Tuyên Quang dành cho học sinh lớp 10,11 THPT (xem
phụ lục)
- Loại 2: Phiếu Thăm dò ý kiến về việc thiết kế bài giảng ĐLĐP ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang dành cho giáo viên dạy Địa lí lớp 8 các
trường THCS trong tỉnh (xem phụ lục)
Trang 25- Loại 3: Phiếu Thăm dò ý kiến về việc thiết kế bài giảng ĐLĐP ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang Dành cho giáo viên dạy Địa lí lớp 9 các
trường THCS trong tỉnh (xem phụ lục)
- Loại 4: Phiếu Thăm dò ý kiến về việc thiết kế bài giảng ĐLĐP ở trường phổ thông tỉnh Tuyên Quang đành cho giáo viên dạy Địa lí lớp 12
các trường THPT trong tỉnh (xem phụ lục)
Các phiếu được gửi tới các trường THCS và THPT trong tỉnh như sau:
- Loại phiếu 1,2 dành cho đối tượng học sinh lớp 10, 11 THPT được gửi tới 3 trường THPT gồm: Trường THPT Tân Trào (Tx Tuyên Quang), Trường THPT Thái Hoà ( H Hàm Yên), Trường THPT Chiêm Hoá ( H Chiêm Hoá)
- Loại phiếu 3,4 gửi tới giáo viên 14 trường THCS trong tỉnh bao gồm: các trường THCS trong phạm vi thị xã là Trường THCS Hồng Thái, Trường THCS Bình Thuận, Trường THCS Phan Thiết, Trường THCS Ỷ La Các trường THCS ở các huyện: Trường THCS Kim Phú, THCS Mỹ Bằng, THCS Phú Lâm (H Yên Sơn) Trường THCS Nhân Mục, THCS Yên Lâm, THCS Thành Long (H Hàm Yên) Trường THCS thị trấn Na Hang (H Na Hang) Trường THCS Vinh Quang, Trường THCS Kim Bình (H.Chiêm Hoá)
- Loại phiếu 5 gửi tới giáo viên 11 trường THPT trong tỉnh gồm có các trường THPT trong phạm vi thị xã là THPT Tân Trào, trường THPT Ỷ La Các trường THPT ở các huyện có: Trường THPT Chiêm Hoá, trường THPT Đầm Hồng (H Chiêm Hoá), Trường THPT Hàm Yên, trường THPT Thái Hoà (H Hàm Yên), Trường THPT Na Hang, Trường THPT Thượng Lâm (H
Na Hang), Trường THPT Nguyễn Văn Huyên, THPT Tháng 10 (H Yên Sơn) Trường THPT Sơn Nam (H Sơn Dương)
Các phiếu được gửi tới các trường THCS và THPT trong tỉnh cụ thể là:
Số phiếu phát ra là 600 phiếu, trong đó: Phiếu 1,2 là 500 phiếu, phiếu 3 là 30 phiếu, phiếu 4 là 30 phiếu, phiếu 5 là 40 phiếu Số phiếu thu vào là 550 trong đó: phiếu 1, 2 là 424 phiếu, phiếu 3 là 25 phiếu, phiếu 4 là 25 phiếu, phiếu 5
là 35 phiếu
Trang 26Trên cơ sở điều tra khảo sát và tổng hợp kết quả, tác giả nhận thấy thực trạng TKBG của GV và thực trạng nắm kiến thức ĐLĐP của HS phổ thông trong tỉnh còn rất hạn chế và nhiều bất cập
Đối với thực trạng TKBG địa lí địa phương của giáo viện Địa lí lớp 8 THCS: các thầy cô giáo đều đánh giá được sự cần thiết của bài thực hành tìm hiểu địa phương, bước đầu hình thành cho các em hứng thú học tập, tìm hiểu
về địa lí nơi mình sống Đa số giáo viên TKBG bài thực hành tìm hiểu địa phương theo hình thức dạy học trên lớp mà không tuân theo yêu cầu nội dung của bài học trong SGK là tổ chức cho HS đi thực địa tìm hiểu một địa điểm ở gần trường Thực tế đây là công việc rất thuận lợi đối với một tỉnh miền núi như Tuyên Quang Theo ý kiến của đa số GV được thăm dò ý kiến thì vấn đề trở ngại lớn nhất cho việc tổ chức thực địạ là hạn chế về mặt thời gian Do đó,
GV thường lựa chọn phương án dạy học ngay tại lớp trên cơ sở hướng dẫn
HS tìm hiểu tài liệu liên quan đến địa điểm cần tìm hiểu, trong thực tế dạy học ĐLĐP lớp 8 ở các trường THCS ở Tuyên Quang đây là phương án TKBG phổ biến nhất Tuy nhiên khi phỏng vấn trực tiếp một số GV về các phương tiện dạy học trên lớp cho bài thực hành tìm hiểu địa lí địa phương, tác giả được biết rằng nhiều GV không sử dụng băng hình, tranh ảnh minh hoạ về địa điểm, không tổ chức chia nhóm và giao nhiệm vụ trước tiết học, GV có sưu tầm và soạn riêng cho mình tài liệu về địa điểm được lựa chọn và GV đóng vai trò là người thuyết trình về địa điểm thực hành trên lớp học, HS lắng nghe
và ghi chép những thông tin chính, như vậy hiệu quả của bài học chưa cao, chưa đổi mới PPDH, chưa phát huy được tính tích cực và hứng thú học tập của HS cũng như tình cảm đối với quê hương của các em Để tiết học trên lớp đạt được mục tiêu của bài học cả GV và HS cần phải có sự chuẩn bị chu đáo
để thu thập thông tin, tài liệu, tranh ảnh có liên quan đến địa điểm nghiên cứu Phương án đi thực địa ít được các GV thực hiện song đây là hình thức học tập đặc trưng trong bộ môn Địa lí, qua chuyến thực địa các em được trực tiếp
Trang 27quan sát, lắng nghe và tìm hiểu, hình thành tư duy logic và ghi nhớ lâu, bước đầu tìm hiểu về địa phương nơi mình sinh sống, các em biết trân trọng và có ý thức giữ gìn, bảo vệ, phấn đấu học tập tốt để góp phần xây dựng quê hương đất nước Chính vì vậy, GV địa lí cần có sự phối hợp của ban giám hiệu nhà trường, của bộ môn khác có liên quan như môn Lịch sử để tổ chức cho HS đi thực tế tìm hiểu địa phương, nhằm nâng cao chất luợng học tập và cải tiến phương án TKBG của GV hiện nay
Đối với thực trạng TKBG địa lí địa phương của GV Địa lí lớp 9 THCS: qua điều tra, thăm dò cho thấy các thầy cô giáo đều đồng ý cho rằng kiến thức ĐLĐP có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, các thầy cô cũng cho rằng việc phân phối chương trình ĐLĐP hiện nay là hợp lí, tất cả các thầy cô đã sử dụng đa dạng các nguồn tài liệu để thu thập thông tin về ĐLĐP cho việc TKBG như: tài liệu về ĐLĐP, phát thanh, truyền hình, báo chí, internet Tuy nhiên, khó khăn lớn về tài liệu ĐLĐP hiện nay là chưa có tài liệu ĐLĐP chính thức ban hành cho các trường phổ thông phục vụ dạy học ĐLĐP tỉnh Tuyên Quang nên GV thường sưu tầm và sử dụng các tập tài liệu
do nhiều tác giả viết khác nhau, chưa cập nhật số liệu mới, trong khi đó rất ít các thầy cô tự tìm hiểu niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang năm gần nhất
để cập nhật số liệu Vì thế chưa có sự thống nhất về nội dung kiến thức ĐLĐP
ở mỗi GV Khi được hỏi về: Khó khăn hiện nay thầy (cô) thường gặp khi TKBG địa lí địa phương là gì? Có 30% GV trả lời: thiếu tài liệu chuẩn để tham khảo, có trên 50 % GV trả lời: thiếu phương tiện thiết bị dạy học (cụ thể: chưa có bản đồ Địa lí Tuyên Quang, một số trường ở huyện còn chưa có máy chiếu đa năng) khoảng 20% là các ý kiến khác Như vậy, thiếu phương tiện thiết bị dạy học là khó khăn lớn nhất hiện nay của GV Tuy nhiên, tác giả nhận thấy những khó khăn trên có thể khắc phục được nếu GV tích cực hơn nữa trong việc thu thập thông tin, tranh ảnh, bản đồ Hiện nay, trên mạng internet lượng thông tin truyền thông về tất cả các lĩnh vực của đời sống vô
Trang 28cùng phong phú, đa dạng Khi được hỏi về số lần dự hội thảo khoa học hay hội giảng chủ đề về ĐLĐP, đa số GV được điều tra đều trả lời: chưa bao giờ, điều đó cho thấy việc tập huấn sư phạm, bổ xung kiến thức ĐLĐP cho đội ngũ
GV trong tỉnh còn chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến việc giảng dạy ĐLĐP nói chung và TKBG địa lí địa phương nói riêng còn nhiều hạn chế ĐLĐP có vai trò quan trọng nhưng lại chưa được chú trọng ở cả phía GV và HS nên nó lại trở thành thứ yếu, nội dung phụ Qua điều tra tác giả khẳng định thực tế của việc dạy học ĐLĐP hiện nay ở tỉnh Tuyên Quang còn có nhiều bất cập cần phải có sự đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ cải thiện thực tế này
Đối với thực trạng TKBG địa lí địa phương của GV Địa lí lớp 12 THPT: Phần ĐLĐP lớp 12 có yêu cầu cao hơn là các em phải tìm hiểu và viết được một bản tổng hợp về địa lí tỉnh (thành phố) của mình trên tất cả các phương diện GV cần chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm trước tiết học từ 1 đến 2 tháng thì mới thực hiện được mục tiêu của bài học Qua thực tế thăm dò, phỏng vấn GV và HS lớp 12 của một số trường trong tỉnh cho thấy: Khoảng 85% GV giao nhiệm vụ tìm hiểu các vấn đề ĐLĐP cho các nhóm sau khi học xong bài trước ( Bài 43: Các vùng kinh tế trọng điểm) hoặc tiết đầu tiên của “Bài 44: Tìm hiểu địa lí tỉnh, thành phố” sau đó GV mới phân nhóm nghiên cứu, điều đó cho thấy hầu hết các giáo viên chưa có sự sáng tạo Vì vậy, HS sẽ có rất ít thời gian chuẩn bị, tổng hợp kết quả Tất cả các thầy cô đều giới thiệu cho HS tìm đọc thêm những tài liệu khác để khai thác kiến thức ĐLĐP nhưng số lượng tài liệu chưa phong phú, chưa chỉ ra những phần cụ thể để HS đọc trước do đó HS không có thời gian cũng như khả năng tìm hiểu kiến thức ĐLĐP qua các tài liệu quá dài
Việc tổ chức cho HS báo cáo kết quả nghiên cứu, GV còn thiết kế bài giảng sơ sài, mang tính hình thức, không tạo được hứng thú học tập cho HS, chưa thu hút được sự tham gia đồng đều của tất cả HS trong lớp mà chỉ có một số em yêu thích môn học là tích cực GV nên hướng dẫn các em trình
Trang 29bày, thảo luận theo kiểu một hội thảo khoa học, thông qua đó giúp học sinh hiểu và nắm vững các đặc trưng về địa lí tỉnh (thành phố), đồng thời biết cách tìm hiểu ĐLĐP, cách tổ chức một hội thảo khoa học
Khi điều tra thực trạng nắm kiến thức ĐLĐP của học sinh THPT trong tỉnh, tác giả đã phát phiếu điều tra cho 424 học sinh lớp 10, 11, Mục đích nhằm tìm hiểu thực trạng nắm kiến thức ĐLĐP của các em lớp 10 (Do các em
đã được học về ĐLĐP ở cuối năm lớp 9), đối với lớp 11 tác giả cần biết thực trạng nắm kiến thức ĐLĐP của các em trước khi học ĐLĐP ở lớp 12 Từ kết quả tổng hợp phiếu điều tra tác giả có thể kết luận như sau:
Với đối tượng HS lớp 10, mặc dù các em đã được học về ĐLĐP cuối lớp 9 nhưng tình trạng HS nắm kiến thức không sâu, không hiểu rõ đặc điểm, bản chất sự vật hiện tượng ĐLĐP mình Ví dụ, khi được hỏi: “Tuyên Quang nằm ở vùng nào ở nước ta? Kể tên các tỉnh tiếp giáp với Tuyên Quang?” thì
có 95% HS trả lời đúng là Tuyên Quang nằm ở vùng Đông Bắc nhưng lại có 92% HS trả lời thiếu hoặc sai Đây là kiến thức đơn giản nhất về vị trí địa lí của tỉnh mà các em lại chưa xác định đúng Hay như: “Thung lũng sông Lô được hình thành do nguyên nhân nào?” chỉ có 35% HS trả lời đúng là do đứt gãy kiến tạo, có tới 65% HS trả lời sai, có em cho rằng nguyên nhân hình thành do xói mòn, có em lại cho là nhân tạo Khi hỏi “Tỉnh Tuyên Quang chịu ảnh hưởng của những loại gió nào ? 23% HS trả lời đúng là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, còn lại là trả lời sai hoặc không trả lời được Hoặc đơn giản như hỏi về: “Em hãy kể tên 3 con sông lớn ở tỉnh Tuyên Quang?” thì có 30% HS trả lời đầy đủ là Sông Lô, Sông Gâm, sông Phó Đáy,
có tới 70% HS trả lời thiếu hoặc sai, có em còn xác định sông Đà, Sông Cả, sông Gianh Khi hỏi: “Cánh cung núi nào ở vùng núi Đông Bắc có bộ phận thuộc tỉnh Tuyên Quang?” chỉ có khoảng 30% HS trả lời đúng là cánh cung sông Gâm, còn 70% HS trả lời sai hoặc không có câu trả lời Thậm chí khi hỏi: “Tuyên Quang có những quốc lộ nào chạy qua?” chỉ có 20% HS trả lời
Trang 30đúng là QL 2, 2C, 37, 297, có tới 80% trả lời sai và không đầy đủ thậm chí có
em còn xác định quốc lộ 1A, quốc lộ 3, quốc lộ 6 chạy qua địa phận tỉnh Tuyên Quang Như vậy thấy rõ là các sự vật, hiện tượng địa lí ở địa phương các em còn chưa nắm chắc Kết quả điểm trung bình kiểm tra của HS lớp 10 không cao, chỉ đạt 5,7 điểm, trong đó điểm của HS ở thị xã là 6.5, của huyện Hàm Yên chỉ đạt 5.0, của huyện Chiêm Hoá đạt 5.6 điểm
Với đối tượng HS lớp 11, các em được học ĐLĐP từ năm lớp 9 nên khi điều tra thực trạng tác giả nhận thấy việc nắm kiến thức ĐLĐP của các em chưa tốt, so sánh với kết quả của các em lớp 10 thì tỉ lệ HS đưa ra các phương
án trả lời đúng không cao bằng Ví dụ như: khi hỏi: “Cánh cung núi nào ở vùng núi Đông Bắc có bộ phận thuộc tỉnh Tuyên Quang?” chỉ có khoảng 25%
HS trả lời đúng là cánh cung sông Gâm, còn 75% HS trả lời sai hoặc không
có câu trả lời Nhưng cũng có những câu hỏi tỉ lệ HS trả lời đúng cao hơn HS lớp 10, đã chứng tỏ các em lớp 11 có sự hiểu biết rộng hơn như khi được hỏi:
Kể tên các tỉnh tiếp giáp với Tuyên Quang?” thì có 25 % HS trả lời đúng các tỉnh tiếp giáp với Tuyên Quang (lớp 10 chiếm 8%) Hay như: “Thung lũng sông Lô được hình thành do nguyên nhân nào?” chỉ có 25% HS trả lời đúng
là do đứt gãy kiến tạo, có tới 75% HS trả lời sai, Hoặc hỏi về : “Tỉnh Tuyên Quang chịu ảnh hưởng của những loại gió nào?” 30% HS trả lời đúng là gió mùa Đông Bắc và Đông Nam còn 70% trả lời sai hoặc không trả lời được Điểm trung bình kiểm tra của khối 11 đạt 5,4 điểm, trong đó điểm của HS thị
xã là 6 điểm, của H hàm Yên là 5,0 điểm, H Chiêm Hoá là 5,2 điểm
Trình độ hiểu biết kiến thức ĐLĐP không đều giữa các huyện thị Khi hỏi đến phạm vi hành chính cấp huyện thị nơi các em sống, là không gian lãnh thổ quen thuộc với HS hơn so với cấp tỉnh nhưng các kiến thức cơ bản nhất các em cũng không biết rõ Ví dụ hỏi HS ở thị xã Tuyên Quang: “Em hãy kể tên các huyện giáp ranh với thị xã Tuyên Quang, sau năm 2009?” 40%
HS trả lời đúng các huyện: Yên Sơn Sơn Dương, 60% còn lại trả lời thiếu H
Trang 31Sơn Dương, (Sau khi thay đổi đơn vị hành chính, thị xã Tuyên Quang thêm các xã của H Yên Sơn giáp với H Sơn Dương) Như vậy đa số HS ở thị xã được điều tra chưa cập nhật được kiến thức này Hỏi HS huyện Hàm Yên “Kể tên đỉnh núi cao nhất H Hàm Yên?” thì có 30% trả lời đúng là đỉnh Chạm Chu ( 1587m) còn lại 70% trả lời sai, đa số các em xác định núi cô Tiên Hỏi
HS huyện Chiêm Hoá “H Chiêm Hoá có những loại khoáng sản chính nào?”chỉ có 58% HS trả lời đúng là Barit, Mangan, ăngtimoan, đất sét, còn lại 42% HS trả lời sai hoặc thiếu Như vậy, qua điểm số các bài trắc nghiệm trong phiếu điều tra cho thấy có sự phân hoá giữa các trường thị xã với các trường huyện
Bảng 1.1: Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng nắm kiến thức địa lí
địa phương của học sinh phổ thông tỉnh Tuyên Quang
điều tra
kiểm tra Dưới TB T Bình Khá Giỏi
Trang 32Chương 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG 2.1 Cở sở để thiết kế bài giảng Địa lí tỉnh Tuyên Quang
Để thiết kế một bài giảng trong dạy học người giáo viên phải dựa vào những cơ sở lý luận nhất định Đối với môn học Địa lí nói chung và ĐLĐP nói riêng, việc thiết kế bài giảng thường phải dựa vào một số vấn đề sau:
2.1.1 Dựa vào chương trình và SGK Địa lí
Phần ĐLĐP được thực hiện trong chương trình THCS ở lớp 8 và lớp 9 Trong CT&SGK Địa lí lớp 8 được thực hiện trong bài 44: Thực hành tìm hiểu địa phương (1 tiết), trong chương trình và SGK lớp 9 (4 tiết) có hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu về địa phương nơi mình sinh sống, giới hạn nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Đối với Địa lí lớp 12 (2 tiết ban cơ bản, 3 tiết ban nâng cao) phần ĐLĐP hướng dẫn HS tìm hiểu quê hương thông qua hình thức thu thập tài liệu, thảo luận về ĐLĐP giới hạn trong phạm vi tỉnh, huyện, xã, phường… Trong quá trình dạy học giáo viên phải làm nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, những nét khái quát nhất về tự nhiên, kinh
tế - xã hội địa phương Ngoài ra, GV cần cung cấp cho HS tài liệu tham khảo, hoặc hướng dẫn HS thu thập tài liệu từ các nguồn thông tin khác nhau
2.1.2 Dựa vào mục đích yêu cầu của bài học
Chương trình ĐLĐP trong nhà trường phổ thông hiện nay phải đảm bảo được tính liên thông giữa các cấp học, tránh trồng chéo nội dung Chính vì vậy, để việc TKBG được hiệu quả người GV cần xác định rõ mục đích yêu cầu của từng bài học đối với từng khối lớp
Đối với lớp 8, HS cần nắm được những đặc điểm chính của địa điểm cần tìm hiểu và ý nghĩa của địa điểm đó đối với địa phương Các em biết cách thức tìm hiểu, nghiên cứu một địa điểm cụ thể cả về mặt lịch sử, địa lí nên
Trang 33vấn đề được phân tích toàn diện hơn, có khả năng điều tra, thu thập thông tin,
vẽ sơ đồ, viết và trình bày báo cáo Từ đó, có ý thức giữ gìn và bảo vệ những
di tích văn hoá lịch sử của địa phương
Mục tiêu của bài học ĐLĐP ở lớp 9 được xác định khác nhau theo từng vấn đề nghiên cứu: Vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên; Dân cư, lao động và đặc điểm phát triển kinh tế; Sự phát triển các ngành kinh tế Khi tiến hành bài giảng GV cần làm rõ mục đích, ý nghĩa của các nội dung này trong bài học, yêu cầu HS nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy học tập tích cực, hình thành thái độ tích cực cho các em Như vậy, vai trò của GV trong việc hướng dẫn HS nắm kiến thức ĐLĐP là hết sức quan trọng
Đối với lớp 12, mục tiêu được đặt ra cao hơn đó là: nắm vững được một số đặc điểm nổi bật về vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội, một số ngành kinh tế tỉnh Tuyên Quang Ngoài các kĩ năng địa lí cơ bản như phân tích bản đồ, biểu đồ, số liệu thống
kê Học sinh cần biết cách thu thập, xử lí các thông tin, viết và trình bày báo cáo về một vấn đề của địa lí tỉnh Tuyên Quang và bước đầu biết tổ chức hội thảo khoa học Như vậy, đối với lớp này việc hướng dẫn để học sinh độc lập tìm hiểu khai thác các phương tiện để hình thành kiến thức ĐLĐP và việc trình bày những kiến thức đó là nhiệm vụ trọng tâm của bài học
2.1.3 Dựa vào đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh
Trong quá trình dạy học, người GV phải sử dụng phương pháp dạy một cách linh hoạt phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh THCS và THPT, bởi mỗi lứa tuổi có đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức khác nhau Vì vậy trong việc TKBG và lựa chọn các phương pháp dạy học ĐLĐP người GV phải lựa chọn hợp lí, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh có thể dạy bằng nhiều hình thức dạy học, ngoài hình thức dạy học trên lớp có thể hướng dẫn HS tham quan thực tế, giúp HS hiểu sâu sắc về sự phát triển kinh tế xã
Trang 34hội của địa phương mình Như vậy, tuỳ vào đối tượng HS mà GV thiết kế các PPDH tích cực sao cho phù hợp
2.1.4 Vốn kiến thức của học sinh khi học ĐLĐP
Trước khi học ĐLĐP, học sinh lớp 8, 9, 12 được học các kiến thức về Địa lí đại cương, Địa lí thế giới, Địa lí tổ quốc đặc biệt là các kiến thức thực
tế là cơ sở để các em dễ dàng nắm bắt các kiến thức địa lí quê hương mình Trong thực tế việc nắm kiến thức ĐLĐP của học sinh còn nhiều hạn chế, kể
cả đối với học sinh THPT, là những em đã được học về ĐLĐP ở cuối lớp 9 Chính vì vậy, việc TKBG địa lí địa phương ở bất cứ lớp học và cấp học nào
GV cũng cần dựa trên cơ sở vốn kiến thức của học sinh khi học ĐLĐP
2.1.5 Trình độ chuyên môn, sư phạm của giáo viên
Thực tế hiện nay cho thấy rằng, năng lực của người GV còn hạn chế và có chênh lệch Vì vậy, TKBG đạt hiệu quả cao không phải là điều dễ dàng mà bất kì
GV nào cũng làm được Có nhiều GV có năng lực để TKBG theo hướng tích cực nhưng HS lại khó nhận thức Vì vậy, đòi hỏi ở GV khả năng vận dụng các phương pháp một cách khéo léo, linh hoạt trong dạy học
Đối với người GV, để hoàn thành tốt một bài giảng thì đòi hỏi bản thân người GV phải có trình độ chuyên môn vững vàng về môn học nói chung và ĐLĐP nói riêng Để giảng dạy ĐLĐP tốt GV cần nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo thực tế địa phương mình Trong quá trình lên lớp GV cần hướng dẫn để
HS nhận thức chính xác, khoa học, dễ hiểu, có khả năng liên hệ thực tế tốt
2.1.6 Điều kiện trường lớp, cơ sở vật chất kĩ thuật
Điều kiện về trường lớp - cơ sở vật chất kĩ thuật là môi trường sư phạm quan trọng và cần thiết phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của GV và
HS So với trước đây, hiện nay cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho dạy học Đia lí nói chung đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó thì phương tiện
Trang 35dạy học là một nhân tố quan trọng và là một bộ phận không thể thiếu được trong khi tiến hành TKBG Địa lí địa phương, nó giúp cho GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với HS là phương tiện lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng khi tiếp thu bài giảng, đáp ứng với yêu cầu của bài học ĐLĐP trong đó đặc biệt là khả năng độc lập sáng tạo trong học tập
Hiện nay, với xu thế tiến bộ của KHKT, các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại ngày càng xâm nhập sâu vào nhà trường Chúng không những đã làm thay đổi các PPDH truyền thống mà còn làm thay đổi quan niệm về nhiều vấn đề trong dạy học như nội dung dạy học, tiến trình dạy học trong đó tác động trực tiếp đến TKBG, cụ thể là vai trò của GV và HS sẽ có những điểm khác so với cách thiết kế trước đây Do đặc điểm các bài học ĐLĐP như đã trình bày ở các phần trên, thì việc ứng dụng phần mềm tin học trong dạy học
sẽ nâng cao hiệu quả dạy học ĐLĐP
2.2 Khái quát nội dung địa lí địa phương tỉnh Tuyên Quang
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, đa dân tộc cho nên đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội rất phong phú và phức tạp, tính phân hoá rất lớn Vì vậy việc lựa chọn kiến thức địa lí để dạy học cho học sinh lớp 8, 9, 12 phải phù hợp với khả năng của HS từng lớp, hơn nữa vừa phải đảm bảo yêu cầu chung, vừa đảm bảo tính thiết thực cho HS từng vùng, từng huyện, thậm chí đến từng
xã Chính vì vậy việc lựa chọn kiến thức khái quát địa lí tỉnh Tuyên Quang là rất quan trọng
2.2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tuyên Quang tiếp giáp với các tỉnh sau: Phía Bắc và phía Tây Bắc giáp Hà Giang; phía Đông và Đông Bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng, phía Tây giáp Yên Bái, phía Nam giáp Phú Thọ, Vĩnh Phúc Tuyên Quang có toạ độ địa lí như sau:
Trang 36105o35’ Đ, thuộc xã Hồng Thái, Huyện Na Hang; Điểm cực Tây: 104o50’
Đ, thuộc xã Yên Thuận, Huyện Hàm Yên Tuyên Quang có tổng diện tích
Theo trục Đông - Tây, Tuyên Quang cũng có điều kiện trao đổi kinh tế với một số tỉnh thuộc vùng núi Bắc Bộ, trước hết là với Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn Tuy nhiên, là một tỉnh miền núi lại nằm sâu trong nội địa, không có cảng biển, cửa khẩu, nền kinh tế còn chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém nên việc giao lưu, mở rộng phát triển kinh tế với các tỉnh khác được thực hiện chủ yếu bằng đường bộ và một phần đường sông, việc trao đổi hàng hóa, liên kết kinh tế còn gặp nhiều khó khăn hạn chế
Bảng 2.1: Diện tích và các đơn vị hành chính tỉnh Tuyên Quang
Trang 372.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.2.2.1 Địa hình
Địa hình Tuyên Quang tương đối đa dạng và phức tạp với hơn 73% diện tích là đồi núi Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ Bắc - Tây Bắc xuống Nam - Đông Nam Địa hình Tuyên Quang có thể chia thành 3 tiểu vùng như sau:
* Vùng đồi núi phía Bắc: gồm huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang và phía Bắc huyện Yên Sơn Độ cao phổ biến là 200 - 600m và thấp dần từ Bắc xuống Nam, địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại khó khăn
* Vùng đồi núi trung tâm: gồm Thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn và phía Bắc Sơn Dương Độ cao trung bình 500m, giảm dần từ Bắc xuống Nam Nằm xen kẽ giữa các khu vực đồi núi là các thung lũng, các bãi bồi với đất đai màu mỡ, địa hình khá bằng phẳng
* Vùng đồi núi phía Nam: gồm phần lớn huyện Sơn Dương có địa hình
là vùng đồi bát úp kiểu trung du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, đôi chỗ
có dạng lòng chảo Là vùng giàu tiềm năng, nhất là khoáng sản (thiếc, kẽm, ăngtimoan, von fram )
2.2.2.2 Khí hậu
Tuyên Quang nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 22-240C, tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1276 giờ, tổng bức xạ lên tới 100 - 120 kcal/cm2/năm, tổng lượng nhiệt khoảng 8000 - 8500 giờ, thời kỳ nóng nhất là vào tháng VI, VII (có ngày lên tới 39-400C); thời kỳ lạnh nhất thường là các tháng XII, I, nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 50
C Lượng mưa trung bình năm của tỉnh ở mức 1500 -1800mm, năm cao nhất có lượng mưa lớn hơn mức trung bình khoảng 400 - 420mm Lượng mưa tập trung chủ yếu trong mùa hạ, mưa ít nhất vào tháng XII, tháng I
Trang 38Chế độ gió ở Tuyên Quang thay đổi theo mùa Về mùa hạ (kéo dài từ tháng V đến tháng X), hướng gió thịnh hành là đông nam và nam, mang theo khối không khí nóng ẩm mưa nhiều Về mùa đông (từ tháng XI đến tháng IV năm sau), gió mùa Đông Bắc mang theo khối không khí lạnh tràn về, hướng gió chủ yếu là Bắc và Đông Bắc
Nhìn chung khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đã tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc, bão đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp
2.2.2.3 Thuỷ văn
a Nước trên mặt: Nguồn nước trên mặt của Tuyên Quang khá phong
phú và có mật độ sông suối dày đặc (vào khoảng 0,9km/km2), được phân bố hầu khắp trong tỉnh Các sông lớn chảy qua địa phận tỉnh có một số phụ lưu
Do chảy trên địa hình đồi núi nên lòng sông dốc, nước chảy xiết và có khả năng tập trung nước nhanh vào mùa lũ, hướng dòng chảy là Bắc - Nam (sông Gâm) hoặc Tây Bắc - Đông Nam (sông Lô)
Thuỷ chế chia làm 2 mùa rõ rệt, phù hợp với 2 mùa của khí hậu Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lượng nước trong năm và thường gây ngập lụt ở một
số vùng Ba sông lớn chảy qua Tuyên Quang là sông Lô, sông Gâm và sông Phó Đáy Ngoài 3 sông chính, Tuyên Quang còn có các sông nhỏ (sông Năng - Na Hang) và hàng trăm ngòi lạch cùng nhiều suối nhỏ len lỏi giữa vùng đồi núi trùng điệp thuận lợi cho việc trồng trọt Tuy nhiên, sông ngòi dốc, lắm thác ghềnh cùng với chế độ khí hậu 2 mùa dẫn đến ngập lụt nghiêm trọng trong mùa mưa Tuyên Quang không có hồ lớn, chỉ có hồ nhân tạo có tiềm năng du lịch (hồ thuỷ điện Na Hang có diện tích 8000ha)
Trang 39b Nước dưới đất (nước ngầm):
Tuyên Quang còn là tỉnh có nguồn nước dưới đất khá phong phú Nguồn nước khoáng Mỹ Lâm (huyện Yên Sơn) khá nổi tiếng và đang được khai thác
sử dụng vào mục đích dưỡng bệnh Nhiệt độ nước khoáng ở đây khoảng 60 -
700, chất lượng tốt có chứa nhiều SO2, với công dụng chủ yếu là điều hoà chức năng tiêu hoá, chữa các bệnh khớp, xương, viêm đại tràng, phụ khoa…
2.2.2.4 Thổ nhưỡng
Tuyên Quang có 2 loại đất chính: Đất feralit chiếm 89% diện tích, còn lại
là đất phù sa sông, suối và đất lầy thụt ở các thung lũng
Ở vùng núi cao gồm huyện Na Hang và phía bắc các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá: đất được hình thành trên đá biến chất và trầm tích, tiêu biểu là nhóm đất đỏ vàng và vàng nhạt trên núi hình thành ở độ cao 700 - 1.800m Nhóm đất này cần được bảo vệ thông qua việc giữ gìn vốn rừng và chấm dứt tình trạng phá rừng làm rẫy
Ở vùng núi thấp bao gồm phía nam các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, phía bắc các huyện Hàm Yên, Yên Sơn và một phần thị xã Tuyên Quang Đất được hình thành chủ yếu trên đá mẹ là đá biến chất, tiêu biểu là nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thấp Đây là nhóm đất có giá trị đối với sản xuất nông - lâm nghiệp của tỉnh
Ở các vùng còn lại có đất thung lũng do sản phẩm tích tụ các phù sa sông suối chủ yếu ở phía nam các huyện Yên Sơn, Sơn Dương và rải rác ở một số nơi khác Nhóm đất này có khả năng trồng cây lương thực cho năng suất cao Hiện nay, diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp mới chiếm 11,8% tổng diện tích đất tự nhiên của cả tỉnh; đất lâm nghiệp 76%; đất chuyên dùng 2,3% và đất thổ cư 0,9% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 4,6% tổng diện tích
Trang 402.2.2.5 Tài nguyên sinh vật
a Rừng và tài nguyên rừng: Rừng sinh trưởng và phát triển nhanh, thành
phần loài phong phú Diện tích đạt 386.382 ha (năm 2008), trong đó rừng tự nhiên là 284.600 ha, rừng trồng 101.700 ha Độ che phủ của rừng năm 2005 đạt mức 63,08%, là một trong những tỉnh có độ che phủ cao nhất cả nước
Đặc biệt, rừng của Tuyên Quang có một hệ thực vật khá phong phú với
760 loài của 349 chi, 126 họ thuộc 8 ngành thực vật bậc cao, ngoài ra còn có
207 loài cây gỗ cao từ 10 m trở lên thuộc 60 họ, các loài dây leo thuộc 17 họ
và trên 20 loài thực vật bậc cao, thủy sinh thuộc các họ hòa thảo, cói, rong tóc tiên, rong mái chèo…Theo danh mục trong sách đỏ Việt Nam, tỉnh Tuyên Quang có 18 loài thực vật quí hiếm, điển hình như: Trầm Hương, Nghiến, Lát Hoa, Tuế đá vôi, Hoàng Đàn, Pơ Mu
b Động vật: Động vật ở Tuyên Quang khá phong phú và đa dạng Tính
riêng các loài thú rừng đã có tới 47,8% số loài thú có ở miền Bắc nước ta Có
46 loài động vật quí hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và 5 loài được ghi vào sách đỏ thế giới Ở vùng bảo tồn Tát Kẻ - Bản Bung (huyện Na Hang) có trên 40 loài thú, điển hình là voọc mũi hếch, voọc má trắng, culy, gấu Có 70 loài chim đặc biệt là trĩ, gà lôi trắng, phượng hoàng; nhóm bò sát và lưỡng cư
có trên 20 loài như rùa, baba trơn, nhông xám, nhông xanh Khu bảo tồn này
có giá trị không chỉ đối với nghiên cứu về môi trường sinh thái mà còn là nơi bảo tồn nguồn gen đa dạng của khu hệ động thực vật vùng núi cao của nước ta 2.2.2.6 Khoáng sản
Tuyên Quang có nhiều loại khoáng sản nhưng phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán, khó khai thác Tuy vậy, trong số này nổi lên một số loài có giá trị kinh tế đã và đang được khai thác phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh